1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Bài giảng An toàn và vệ sinh lao động: Phần 2 - Trường ĐH Lâm nghiệp

71 38 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề An Toàn Điện
Trường học Trường ĐH Lâm nghiệp
Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 1,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài giảng An toàn và vệ sinh lao động gồm có 8 chương, trình bày cụ thể như sau: Những vấn đề chung về an toàn lao động; luật pháp, chề độ chính sách về an toàn và vệ sinh lao động; kỹ thuật vệ sinh lao động; các giải pháp kỹ thuật an toàn; an toàn điện; an toàn trong xây dựng;... Mời các bạn cùng tham khảo nội dung phần 2 dưới đây để nắm chi tiết nội dung.

Trang 1

Chương 5

AN TOÀN ĐIỆN

5.1 Những vấn đề cơ bản về an toàn điện

5.1.1 Tác động của dòng điện đối với cơ thể người

Người bị điện giật là do tiếp xúc với mạch điện có điện áp hay nói một cách khác là do có dòng điện chạy qua cơ thể con người Dòng điện chạy qua cơ thể con người sẽ gây ra các tác dụng sau đây:

- Tác dụng nhiệt: Làm cháy bỏng thân thể, thần kinh tim não và các cơ quan nội tạng khác gây ra các rối loạn nghiêm trọng về chức năng;

- Tác dụng điện phân: Biểu hiện ở việc phân ly máu và các chất lỏng hữu cơ dẫn đến phá hủy thành phần hóa lý của máu và các tế bào;

- Tác dụng sinh lý: Gây ra sự hưng phấn và kích thích các tổ chức tế bào kèm theo sự co giật các cơ bắp trong đó có tim và phổi Kết quả có thể đưa đến phá hoại, thậm chí làm ngừng hẳn hoạt động hô hấp và tuần hoàn

5.1.2 Một số yếu tố quyết định mức độ tai nạn điện

- Điện trở của người: Điện trở cơ thể người được hình thành bởi điện trở da và điện trở bên trong cơ thể Điện trở cơ thể người phụ thuộc vào các yếu tố:

+ Tình trạng da sạch, khô ráo thì điện trở lớn hơn khi da bẩn và ẩm ướt;

+ Các vị trí khác nhau trên cơ thể thì điện trở khác nhau;

+ Khi tính toán người ta thường lấy giá trị điện trở trung bình của người là 1.000 Ω

- Loại và trị số dòng điện (bảng 5.1): Dòng điện không nguy hiểm đối với con người được xem là Ing ≤ 10 mA (đối với dòng điện xoay chiều có tần số 50 ÷ 60 Hz)

và Ing ≤ 50 mA đối với dòng điện một chiều

- Thời gian dòng điện đi qua người: Thời gian dòng điện qua người ảnh hưởng gián tiếp đến điện trở cơ thể con người Thời gian dòng điện tác động càng lớn thì điện trở của người càng giảm Điện trở cơ thể càng giảm thì dòng điện chạy qua cơ thể càng tăng Do đó, thời gian tác động dòng điện càng lâu, càng nguy hiểm

- Đường đi của dòng điện qua cơ thể: Nếu dòng điện đi qua tim hay vị trí có

hệ thần kinh tập trung hoặc vị trí các khớp nối ở tay… thì mức độ nguy hiểm càng

Trang 2

cao Những vị trí nguy hiểm: vùng đầu (đặc biệt là vùng não, gáy, cổ, thái dương), vùng ngực, vùng bụng…

- Môi trường xung quanh: Độ ẩm của môi trường xung quanh càng tăng, sẽ tăng mức độ nguy hiểm Đại đa số các trường hợp điện giật chết người, độ ẩm góp phần khá quan trọng trong việc tạo ra những điều kiện tai nạn Độ ẩm càng lớn thì

độ dẫn điện của lớp da sẽ tăng lên, tức là điện trở da càng giảm Bên cạnh độ ẩm thì

mồ hôi, các chất hóa học dẫn điện, bụi hay những yêu tố khác sẽ tăng độ dẫn diện của da, cuối cùng sẽ đưa đến làm giảm điện trở của người

- Tình trạng sức khỏe: Người đang mệt mỏi hay đang trong tình trạng say rượu

sẽ gây ra hiện tượng choáng điện (hay còn gọi là sốc điện) Tương tự, người ta còn thấy phụ nữ và trẻ em rất nhạy cảm với hiện tượng chóang điện hơn là nam giới Người ta bị đau tim và người bị suy nhược sẽ rất nhạy cảm khi có dòng điện chạy qua cơ thể

Bảng 5.1 Tác động của dòng điện lên cơ thể người Trị số dòng

điện (mA)

Tác dụng của dòng điện xoay chiều

Tác dụng của dòng điện một chiều

0,6 - 1,5 Bắt đầu thấy tê ngón tay Không có cảm giác gì

2 - 3 Ngón tay tê rất mạnh Không có cảm giác gì

3 - 7 Bắp thịt co lại và rung Đau như kim châm cảm thấy

Nóng tăng lên

20 - 25 Tay không rời khỏi vật có điện,

đau khó thở

Nóng càng tăng lên thịt co quắp lại nhưng chưa mạnh

50 - 80 Cơ quan hô hấp bị tê liệt Tim

Trang 3

5.1.3 Phân bố áp trong đất tại vùng dòng điện rò

- Hiện tượng dòng điện đi trong đất: Trong tất cả thiết bị điện giữa phần có điện và bộ phận nối đất, các bộ phận người có thể chạm vào đều được ngăn cách với nhau bằng chất cách điện Khi lớp cách điện này bị chọc thủng, phần mang điện tiếp xúc với phần nối đất và có dòng điện chạy từ mạng điện xuống đất qua chỗ nối đất Trên vùng đất xung quanh vị trí nối đất sẽ xuất hiện các vòng tròn đẳng thế Mặt đất tại chỗ đặt điện cực có điện có điện thế lớn nhất, càng xa điện cực điện thế giảm dần Ở khoảng cách 15 - 20 m, điện thế nhỏ đến mức không đáng kể, có thể coi như bằng không

- Điện áp tiếp xúc: Trong quá trình tiếp xúc với thiết bị điện, nếu có mạch điện khép kín qua người thì điện áp giáng lên người lớn hay nhỏ là tùy thuộc vào điện trở khác mắc nối tiếp với người

Điện áp tiếp xúc xuất hiện khi người chạm vào vật mang điện sẽ có điện áp tiếp xúc Utx đặt vào cơ thể Dưới tác dụng của Utx sẽ sinh ra dòng điện Ing chạy qua

- Điện áp bước: Khi dây dẫn mang điện bị đứt và rơi xuống đất hay cách điện một pha của thiết bị điện bị chọc thủng… sẽ có dòng điện chạm đất và tạo ra ở điểm chạm đất và xung quanh nó một vùng dòng điện rò Nếu người đi vào vùng đất này thì giữa hai chân người có một điện áp, gọi là điện áp bước

Dòng điện chạm đất tản đều vào trong đất về các phía theo hình bán cầu Càng

ở gần điểm chạm đất, điện áp bước càng lớn, càng nguy hiểm, càng ra xa điểm chạm đất, mật độ dòng điện giảm dần và điện thế cũng giảm đi, đến khoảng 15 – 20

m thì điện thế = 0

Trong phạm vi khu vực bị chạm đất, nếu có người đi lại trong đó, ứng với mỗi bước chân (từ 0,5 - 0,8 m) có một hiệu điện thế là Ub = φa - φb, (Ub là điện áp bước) đặt vào cơ thể Dưới tác dụng của điện áp bước sẽ có dòng điện đi qua cơ thể người (từ chân nọ sang chân kia) làm cho người bị điện giật

Hình 5.1 Phân bố điện thế trên đất và điện áp bước

Trang 4

Nhằm hạn chế nguy hiểm của điện áp bước, người hoặc gia súc không nên đến gần các bãi chôn cọc nối đất của các trạm điện hay gần các chân cột điện cao thế Khi thấy dây dẫn đứt, rơi xuống đất nếu đang đứng trong phạm vi nhỏ hơn 10 m thì hai chân phải đứng trên vòng tròn đẳng thế, muốn di chuyển ra ngoài phải tiến hành nhảy lò cò hay chụm 2 chân lại với nhau để đảm bảo an toàn

5.2 Các nguyên nhân dẫn đến tai nạn điện giật

- Do tiếp xúc và chạm trực tiếp vào các bộ phận đang mang điện như:

+ Dây điện trần không có vỏ bọc, không đảm bảo cách điện an toàn;

+ Do dây điện, dây cáp trên mặt đất, sàn nhà bị hư hỏng vỏ bọc và cách điện;

+ Sử dụng không đúng điện áp an toàn theo quy định ở những nơi nguy hiểm;

+ Khi sửa chữa, lắp đặt điện không có biển báo nên điện đóng bất ngờ dẫn đến tai nạn điện (LOTO)

- Do chạm gián tiếp với vật đang mang điện: Tiếp xúc với các bộ phận kim loại của máy móc, thiết bị lúc bình thường không mang điện, nhưng dòng điện có thể xuất hiện bất ngờ dẫn đến tai nạn điện (hay do điện bị rò điện chạm vỏ)

Hình 5.2 Chạm gián tiếp với vật đang mang điện

- Do điện áp bước: Người đi vào vùng có dòng điện loang tản trong đất như

khi dây điện đứt một đầu rơi chạm đất, dây điện cáp ngầm bị hở… (hình 5.1)

- Do phóng điện hồ quang: Nếu người đến gần thiết bị hoặc đường dây có điện

áp (15 KV, 35 KV, 110 KV…) dù người không trạm vào thiết bị hay đường dây điện nhưng vẫn có thể bị tai nạn do hồ quang điện Vì khi khoảng cách giữa người

và vật mang điện nhỏ hơn khoảng cách an toàn tối thiểu, sẽ xuất hiện sự phóng điện qua không khí đến cơ thể con người, gây nên sự đốt cháy cơ thể con người do hồ quang điện

Trang 5

5.3 Xử lý và cấp cứu người bị tai nạn điện

Khi có người bị tai nạn điện bất cứ ai nhìn thấy cũng phải có trách nhiệm tìm mọi biện pháp để cứu người bị nạn Việc cứu người cần được tiến hành nhanh chóng, kịp thời và có phương pháp, bởi nó là yếu tố quyết định đến tính mạng của nạn nhân

Những thống kê về tai nạn điện cho thấy, nếu việc xử lý, cấp cứu được tiến hành càng nhanh thì tỷ lệ nạn nhân được cứu sống càng cao, trong 1 phút nếu được tách khỏi nguồn và được sơ cấp cứu thì tỷ lệ được cứu sống khoảng 98%, còn nếu kéo dài đến 6 phút thì tỷ lệ được cứu sống chỉ còn 10%

Nguyên tắc chung khi sơ, cấp cứu tai nạn điện là phải nhanh nhẹn, bình tĩnh và đúng phương pháp Cấp cứu người bị điện giật cần thực hiện theo trình tự hai bước

cơ bản sau:

5.3.1 Tách nạn nhân ra khỏi nguồn điện

- Nguồn cao áp (U ≥ 1.000 V): Người sơ cứu phải mang găng, ủng và sào cách điện chuyên dùng để gạt nạn nhân ra khỏi mạch điện Nếu không có phương tiện an toàn trên thì phải thông báo khẩn cấp cho nhân viên trực trạm đầu nguồn để cắt điện cao áp Biện pháp gây ngắn mạch đường dây cao áp cũng có thể thực hiện được nhưng người sơ cứu phải có kiến thức tốt về điện và biết cách đề phòng cho chính bản thân mình Cách làm ngắn mạch như sau: Lấy dây kim loại (đồng, nhôm hoặc dây thép) ném lên đường dây tạo ngắn mạch các pha) Trong trường hợp người bị nạn chỉ chạm vào một pha thì cần nối đất một đầu dây, còn đầu kia ném vào pha đó, nhưng tránh ném vào người bị nạn

- Nguồn hạ áp ( U < 1.000 V): Cần nhanh chóng cắt nguồn điện bằng cách cắt các thiết bị đóng cắt gần nạn nhân nhất như công tắc, cầu dao, aptomat, mát cắt điện… Khi cắt cần chú ý:

- Nếu người bị nạn đang ở trên cao thì cần có biện pháp hứng đỡ khi người đó rơi xuống

Trường hợp không có thiết bị đóng cắt thì có thể dùng dao, búa, rìu… có cán cách điện để chặt đứt dây điện Hoặc dùng gậy, đòn gánh, cán cuốc xẻng khô… để gạt dây điện ra khỏi nạn nhân; đi giày dép khô hoặc đứng trên bàn, ghế gỗ túm áo kéo nạn nhân ra khỏi nguồn điện

Trang 6

Hình 5.3 Các phương pháp tách nạn nhân ra khỏi nguồn điện hạ áp

- Trường hợp nạn nhân bị mất tri giác nhưng vẫn còn thở nhẹ, tim đập yếu: Đưa nạn nhân đến chỗ bằng phẳng, thoáng mát (nếu trời rét thì phải đưa vào nơi kín gió, ấm áp) Đặt nạn nhân nằm ngửa, nới rộng quần áo, thắt lưng Quan sát nạn nhân, nếu khó thở do dị vật thì moi dị vật, rớt rãi trong miệng nạn nhân ra Khi nạn nhân có thể thở bình thường thì tiếp tục bấm và day huyệt nhân trung của nạn nhân

Có thể cho nạn nhân ngửi amôniăc, nước tiểu, xoa bóp toàn thân cho nóng lên, đồng thời cử người đi mời y, bác sĩ ngay;

- Trường hợp nạn nhân không thở, tim ngừng đập: Khẩn trường đưa nạn nhân đến chỗ bằng phẳng, nới rộng quần áo, thắt lưng, moi rớt rãi trong miệng nạn nhân

và tiến hành hô hấp nhân tạo hoặc hà hơi thổi ngạt ngay

- Phương pháp hô hấp nhân tạo:

+ Đặt nạn nhân nằm ngửa, kê gáy bằng vật mềm và để ngửa đầu về phía sau kiểm tra khí quản có thông suốt không và lấy các dị vật ra Nếu hàm bị co cứng phải

mở miệng bằng cách để tay áp vào phía dưới của góc hàm dưới, tỳ ngón tay cái vào mép hàm để đẩy hàm dưới ra;

+ Kéo ngửa nạn nhân về phía sau sao cho cằm và cổ trên một đường thẳng đảm bảo cho không khí vào miệng được dễ dàng Đẩy hàm dưới về phía trước, đề phòng lưỡi rơi xuống đóng thanh quản;

Trang 7

+ Mở miệng và bịt mũi nạn nhân Người cấp cứu hít hơi, một tay bịt mũi nạn nhân, úp miệng mình vào miệng nạn nhân cho thật kín, thổi mạnh vào miệng nạn nhân (nên đặt gạc sạch lên miệng nạn nhân) Việc thổi khí cần nhịp nhàng và liên tục 10 - 12 lần/phút với người lớn, 20 lần/phút với trẻ em Lặp lại các thao tác trên trong nhiều lần Nếu không thể thổi vào miệng được thì có thể bịt kín miệng nạn nhân và thổi vào mũi

- Phương pháp ép tim ngoài lồng ngực:

Nếu có hai người cấp cứu thì một người hà hơi thổi ngạt, còn người kia xoa bóp nhịp tim Người xoa bóp nhịp tim đặt hai tay chồng lên nhau và đặt ở 1/3 dưới xương ức, ấn khoảng 4 - 6 lần thì dừng lại 2 giây để người kia thổi không khí vào phổi nạn nhân Khi ấn, cần ép mạnh lồng ngực xuống khoảng 4 - 6 cm, sau đó giữ tay lại khoảng 1/3 giây rồi mới để tay trở về vị trí ban đầu

Các thao tác phải được thực hiện liên tục cho đến khi có y - bác sĩ đến và có ý kiến quyết định mới thôi

Hình 5.4 Sơ cứu nạn nhân bị điện giật 5.4 Các biện pháp cần thiết để bảo đảm an toàn điện

5.4.1 Quy tắc chung đảm bảo an toàn điện

- Phải che chắn các thiết bị và bộ phận mang điện để tránh nguy hiểm khi tiếp xúc bất ngờ vào vật dẫn điện Ví dụ: Cầu dao phải đặt trong hộp kín, chỉ để chuôi thò ra ngoài; cầu chì, ổ cắm điện phải có nắp đậy, các đầu dây nối phải bọc kín bằng vật liệu cách điện…

- Phải chọn đúng điện áp sử dụng và thực hiện nối đất hoặc nối dây trung tính các phần tử bình thường không mang điện nhưng có nguy cơ bị rò điện theo đúng quy chuẩn

Trang 8

Hình 5.5 Nối đất thiết bị điện

- Nghiêm chỉnh sử dụng các thiết bị, dụng cụ và bảo vệ khi làm việc

- Nghiêm chỉnh thực hiện, chấp hành các quy định, các quy trình, quy phạm về

an toàn điện

- Tổ chức, kiểm tra, vận hành theo đúng quy tắc an toàn

- Thường xuyên kiểm tra dự phòng cách điện của các thiết bị điện và hệ thống

5.4.2 Các biện pháp kỹ thuật an toàn điện

a Các biện pháp chủ động đề phòng xuất hiện tình trạng nguy hiểm có thể gây tai nạn

- Đảm bảo tốt cách điện: Đối với các thiết bị điện và các đường dây điện

- Đảm bảo khoảng cách an toàn, bao che, rào chắn, ngăn cách các bộ phận mang điện tránh người va chạm phải Đề phòng bị phóng điện hồ quang, khi người hoặc máy móc làm việc ở gần hay đi lại phía dưới đường dây tải điện cao áp phải tuân theo khoảng cách an toàn tối thiểu theo phương ngang và phương đứng đến dây gần nhất như sau:

Điện áp

(KV) 1 ÷ 20 35 ÷ 110 150 ÷ 200 Đến 300 Đến 500

Khoảng cách

Trang 9

- Ở những nơi nguy hiểm về điện phải sử dụng điện áp theo quy định an toàn Nơi nguy hiểm điện áp sử dụng không quá 45 V, nơi rất nguy hiểm không quá 12 V

- Sử dụng tín hiệu, biển báo, khóa liên động đề phòng dẫn điện bất ngờ: Cấm đóng điện khi có người đang làm việc (sửa chữa, lắp đặt…)

b Các biện pháp để ngăn ngừa, hạn chế tai nạn điện khi xuất hiện tình trạng

nguy hiểm

- Thực hiện nối dây trung tính bảo vệ (nối không)

- Thực hiện nối đất bảo vệ

- Sử dụng máy cắt điện an toàn, thiết bị chống rò điện (máy cắt vi sai)

- Sử dụng các phương tiện bảo vệ, dụng cụ phòng hộ

Các mục tiếp theo của chương này sẽ giới thiệu cách thực hiện một số biện

pháp kỹ thuật an toàn cơ bản hay dùng trong thực tế

5.5 Nối đất bảo vệ thiết bị

Bảo vệ bằng cách nối đất được xem như một trong những biện pháp bảo vệ rất

cổ điển nhưng lại là một biện pháp rất hay dùng để bảo vệ điện giật do tiếp xúc gián tiếp vì nó rất đơn giản và đại đa số trong các trường hợp lại ít tốn kém

Tác dụng của nối đất bảo vệ là để tản dòng điện và giữ mức điện thế thấp trên các vật được nối đất Trong thực tế có 3 dạng nối đất, đó là:

a Nối đất làm việc

Là nối điện một số điểm của mạng điện (thường là các điểm trung tính) với hệ thống nối đất, nhằm nâng cao độ tin cậy cung cấp điện, kinh tế khi vận hành hệ thống điện cả trong chế độ làm việc bình thường cũng như khi xảy ra sự cố

b Nối đất an toàn (hay nối đất bảo vệ)

Khi cách điện bị hư hỏng, những phần kim loại của thiết bị điện hay các máy, thiết bị khác thường trước kia không có điện áp, bây giờ có thể mang hoàn toàn điện

áp làm việc Khi người chạm vào, có thể bị tai nạn điện

Nối đất bảo vệ là dùng dây dẫn điện nối vỏ kim loại của máy, thiết bị (bình thường không có điện) với vật nối đất bằng sắt thép chôn dưới đất

Nối đất bảo vệ được áp dụng trong mạng điện ba pha có trung tính cách ly, có tác dụng làm cho dòng điện khi chạm vỏ, do lớp cách điện bị hỏng (chập mạch một pha), sẽ truyền xuống đất nhờ dây dẫn nối liên vỏ thiết bị với vật nối đất Khi chạm vào vỏ thiết bị đã bị chạm mát, thân người khi đó được coi như mắc song song với

Trang 10

vật nối đất có điện trở nhỏ do đó sẽ làm giảm giá trị số dòng điện đi qua người nên không gây nguy hiểm

- Cách nối đất thiết bị an toàn, đơn giản:

So với điện trở của cơ thể con người thì điện trở của dây tiếp đất nhỏ hơn rất nhiều vì vậy dòng điện sẽ qua đó và truyền xuống đất Để phát huy tốt nhất tác dụng tiếp đất của dây tiếp đất thì dây tiếp đất phải được tiếp xúc tốt khoảng đất rộng, điện trở của dây không quá 4 ôm

Nếu ở chung cư hoặc nhà riêng nhưng không có sẵn hệ thống tiếp đất (ổ cắm 3 chấu), ta có thể tận dụng chính khung cửa bằng kim loại (có thể là khung cửa sổ, cửa ra vào, khung nhôm, khung sắt…) hoặc bất kỳ phần kim loại nào có chân chôn vào tường/sàn vài cm

Lấy 1 sợi dây kim loại (không cần to, thậm chí cả dây con chuột máy tính/cục sạc bị hư cũng được nhưng phả có vỏ bọc) nối từ vỏ các thiết bị điện rồi cho tiếp xúc trực tiếp với phần kim loại của vật đó

Lưu ý: Nếu có lớp sơn thì phải cạo đi, nếu có lớp bụi bẩn, keo… phải lau

chùi/cạo cho lộ hẳn phần kim loại ra, và phải chắc chắn chân của vật này tiếp xúc trực tiếp vào tường (có những khung cửa được bắt khoan vào tường thông qua những con ốc đã bọc nhựa bên ngoài thì sẽ mất tác dụng dẫn điện)

Hình 5.6 Nối đất bảo vệ thiết bị

c Nối đất chống sét

Là nối điện thiết bị chống sét (kim thu lôi, dây thu sét, lưới thu sét…) với hệ thống nối đất nhằm tản dòng điện sét vào trong đất và giữ cho điện áp tại mọi điểm không quá lớn, đảm bảo an toàn cho các công trình, thiết bị và con người khi

có sét đánh

- Nội dung chống sét bao gồm:

+ Chống sét đánh thẳng;

Trang 11

+ Chống sét lan truyền từ đường dây hoặc ống dẫn kim loại vào công trình

Hình 5.7 Cấu tạo hệ thống chống sét

Trang 12

- Chống sét lan truyền:

Dòng điện sét có thể lan truyền theo đường cáp điện cung cấp cho sản xuất và sinh hoạt hoặc có thể lan truyền theo đường truyền thông tin, dữ liệu như đường dây điện thoại, đường nối mạng của các máy vi tính… do vậy ta phải thực hiện biện pháp an toàn trên cả hai đường mà sét có thể lan truyền:

+ Chống sét lan truyền trên đường cấp nguồn điện cho thiết bị;

+ Chống sét lan truyền trên đường truyền thông tin, dữ liệu

5.6 Bảo vệ nối dây trung tính

Bảo vệ nối dây trung tính là dùng dây dẫn điện nối các phần kim loại của thiết

bị (bình thường không có điện) với dây trung tính hay dây không

Mục đích dùng bảo vệ nối dây trung tính nhằm biến sự cố chạm vỏ thiết bị điện thành sự cố ngắn mạch pha - trung tính làm tăng dòng điện sự cố, giúp các thiết bị bảo vệ (cầu chì, aptomat, máy cắt điện…) tác động nhanh cắt thiết bị điện có

sự cố cách điện ra khỏi nguồn điện, tránh nguy hiểm cho con người trong các mạng điện hạ áp trung tính nối đất trực tiếp mà người hay chạm phải

Hình 5.8 Bảo vệ nối dây trung tính

Lưu ý: Trong hệ thống mạng có dây trung tính nối đất, không được phép áp

dụng hình thức nối đất bảo vệ nào khác có thể được giải thích như sau:

Khi cách điện của thiết bị điện bị chọc thủng, sẽ có dòng điện chạm vỏ rồi đi xuống đất - Id được tính gần đúng:

d

p d

R r

U I

0

Trong đó:

Up: Điện áp pha;

r0, Rd: Điện trở nối đất làm việc và điện trở nối đất an toàn

Trang 13

Giả sử, khi điện áp dưới 1.000 V, dòng điện Id không phải lúc nào cũng đủ lớn để dây chảy hoặc các thiết bị bảo vệ khác làm việc để loại trừ thiết bị hư hỏng cách điện

Ví dụ: Với mạng 380/220 V; r0 = Rd = 4 Ω thì A

R r

U I

d

p

44

2200

A

5,22

5,

p d

d vo

R r

U R

I U

txcp d

d

p

R r

Ví dụ: Mạng 380/220 V, Ud = Dvỏ = 40 V (điện áp an toàn) thì:

V U

V U

U U U

U ngp2 o2 p o 347  p 220

5.7 Các đối tượng thiết bị cần nối đất, nối không

- Các thiết bị điện một chiều với điện áp 500 V trở lên cũng như các thiết bị điện xoay chiều điện áp 36 V trở lên làm việc ở những nơi có mức độ nguy hiểm và rất nguy hiểm về điện

- Vỏ máy điện và dụng cụ chạy điện: Máy biến áp, thiết bị chiếu sáng và các thiết bị điện khác

Trang 14

- Hộp kim loại của cầu dao và ổ cắm, khung kim loại của bảng phân phối và bảng điều khiển

- Vỏ và khung kim loại của các máy dao động có dây dẫn điện

- Vỏ bọc kim loại của cáp điện, đường ray của cần trục và palăng điện

- Dàn giáo bằng kim loại, các kết cấu kim loại của nhà cửa, công trình, cũng như các bộ phận khác bằng kim loại có thể bất ngờ có điện

Trang 15

Chương 6

AN TOÀN TRONG XÂY DỰNG

6.1 Phân tích điều kiện lao động và những tai nạn thường gặp trong xây dựng

6.1.1 Điều kiện lao động của ngành xây dựng

Ngành xây dựng có đặc thù là công việc thường được tiến hành ngoài trời, trên cao hoặc dưới sâu, sản phẩm đa dạng, phức tạp, địa bàn lao động thay đổi, do đó điều kiện lao động của công nhân có những đặc điểm sau:

- Công việc lao động thường tiến hành ngoài trời do đó chịu sự chi phối của yếu tố thời tiết, sự chi phối này không những ảnh hưởng đến năng suất, tiến độ thi công, chất lượng công trình mà còn ảnh hưởng tới sức khỏe và sự an toàn của người lao động Đã có rất nhiều vụ tai nạn xảy ra như đổ tường, sập hầm hố… do nguyên nhân thời tiết;

- Công việc xây dựng rất đa đạng, bao gồm nhiều việc khác nhau, trong đó có rất nhiều công việc nặng nhọc (thi công đất đá, vận chuyển vật liệu, phá dỡ…) mà mức độ cơ giới hóa còn thấp hoặc chưa có Điều kiện lao động đó đã khiến người thợ phải làm thủ công, năng suất thấp, yếu tố rủi ro nhiều;

- Quá trình lao động phức tạp, có nhiều công việc khiến người công nhân phải làm việc ở tư thế gò bó, không thỏai mái: Khi quỳ, khi thì khom lưng, ngồi xổm, khi thì nằm ngửa hay ngửa mặt (thợ hàn kết cấu, thợ nề xây trát các bộ phận công trình…) hay làm việc ở những không gian phức tạp (làm việc trong các đường hầm, công trình dưới nước, trên cao…) là những nơi có nhiều nguy cơ tai nạn;

- Nhiều công việc được tiến hành trong môi trường độc hại, ô nhiễm (bụi, khí độc, tiếng ồn lớn như công nhân sản xuất vật liệu xây dựng nói chung, điển hình là sản xuất xi măng, khai thác cát đá sản xuất gạch chịu lửa, trộn bê tông và ngay cả trên mặt bằng công trường), tiềng ồn và rung động lớn (các máy đầm, máy đóng cọc, gia công cơ khí, các dụng cụ khoan phá cầm tay…) hoặc phơi khí độc (các vật liệu trang trí sơn…) làm ảnh hưởng đến sức khỏe người lao động;

- Do địa bàn luôn luôn thay đổi nên điều kiện nơi ăn ở, sinh hoạt khó khăn, thường là tạm bợ Công tác vệ sinh lao động không được quan tâm đúng mức Chính những yếu tố đó cũng là những nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp gây ốm đau, bệnh tật và tai nạn lao động;

Trang 16

- Công nhân xây dựng chưa được đào tạo một cách có hệ thống nên trong

xử lý công việc, tình huống còn lúng túng, thậm chí thao tác sai dẫn đến tai nạn lao động

6.1.2 Các tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp thường gặp trong xây dựng

a Tai nạn lao động

Do tính chất và đặc điểm công việc trong xây dựng, tai nạn lao động hàng năm

xảy ra rất nhiều, có thể liệt kê một số dạng tai nạn sau đây:

- Ngã từ trên cao:

Do làm việc trên cao trong điều kiện thiếu trang bị an toàn như dây an toàn, vì một lý do nào đó như trượt chân, gẫy thang, sập giàn giáo… sẽ bị rơi xuống đất, gây tai nạn Những tai nạn này thường là rất nặng như gẫy xương, chấn thương nội tạng,

tử vong

- Rơi vật vào người:

Vật liệu như gạch, ngói, gỗ, dụng cụ xây dựng ở trên cao khi làm việc sơ ý để rơi xuống trúng người bên dưới, gây tai nạn lao động Những tai nạn này gây chấn thương, gây chảy máu và đặc biệt khi rơi vào đầu sẽ gây chấn thương sọ não, có thể

làm chết người

- Dẫm phải đinh:

Trong các công trình xây dựng sử dụng rất nhiều đinh, nếu để đinh rơi vãi trên khu vực làm việc, đặc biệt là đinh ở các tấm cán lót (cốt pha) không được để gọn một nơi thì người cá nhân do mải chú ý đến công việc nên dễ dẫm phải đinh gây chảy máu Ngoài ra, còn một số trường hợp nếu không được chữa trị kịp thời, đúng

mức thì có thể gây chết người

- Sập hầm, hố:

Khi thi công các công trình ở sâu như đào móng, đào đường hầm… do đặc điểm địa chất phức tạp, dễ sụt lở, nếu không có các biện pháp an toàn thích hợp có thể sẽ gây sự cố sập hầm, hố… Tai nạn trong các trường hợp này rất lớn và trầm

trọng vì thường có đông người

- Sập đổ công trình:

Công trình đang xây dựng, độ ổn định chưa cao, nếu kỹ thuật không tốt, thời

tiết bất lợi thường có thể gây ra sự cố sụp đổ công trình, gây tai nạn lao động

- Điện giật:

Thông thường nơi xây dựng ban đầu chưa có hệ thống đường dây điện an toàn

mà chỉ có hệ thống đường dây tạm bợ, cũ nát nên gây sự cố rò điện, chập điện trong

Trang 17

điều kiện ẩm ướt nên dẫn đến người cá nhân bị điện giật gây tử vong Đặc biệt một

số công trình xây dựng hiện nay (chủ yếu là nhà tư nhân) không tuân thủ nguyên tắc

an toàn điện, xây dựng gần đường điện cao áp nên trong quá trình xây dựng, do sơ ý

người công nhân bị điện giật chết

- Trượt ngã hay rơi xuống hố sâu:

Ở mỗi công trình xây dựng đều có các hố sâu (hố móng, bể chứa…) nếu không được che chắn cẩn thận, có hệ thống biển báo nguy hiểm thì người công nhân

khi đi vào khu vực đó dễ bị rơi xuống hố, gây tai nạn

Ngoài ra còn có thể xảy ra một số tai nạn nhưng mức độ nghiêm trọng không

cao như đứt chân, tay gây chảy máu

b Bệnh nghề nghiệp

Bệnh nghề nghiệp là bệnh phát sinh do tác động một cách từ từ của các yếu tố độc hại tạo ra trong sản xuất lên cơ thể con người trong quá trình lao động Bệnh nghề nghiệp gây hủy hoại sức khỏe hoặc gây chết người Khác với tai nạn lao động gây chấn thương hay chết người một cách đột ngột, bệnh nghề nghiệp thì gây suy giảm sức khỏe một cách từ từ trong một thời gian nhất định Trong xây dựng có thể

một số bệnh nghề nghiệp như:

- Bệnh bụi phổi: Do làm việc ở nơi có bụi cao (thi công đường, nhà máy sản

xuất xi măng…);

- Bệnh dị ứng da: Do tiếp xúc với vôi, xi măng, sơn tường…;

- Bệnh vẹo xương: Do làm việc ở tư thế gò bó dài ngày

Trong điều kiện lao động ở nước ta hiện nay, việc đưa máy móc thiết bị thay thế con người ở những nơi làm việc khó khăn, độc hại còn hạn chế thì vấn đề bệnh nghề nghiệp vẫn còn ở mức cao Để đảm bảo sức khỏe của người lao động thì các nhà quản lý phải hết sức quan tâm đến việc cải thiện điều kiện lao động, đảm bảo an

toàn và vệ sinh lao động

6.2 Những nguyên nhân gây ra tai nạn trong xây dựng

6.2.1 Những nguyên nhân về thiết kế và thi công công trình

a Nguyên nhân do thiết kế

Thông thường tai nạn xảy ra do nguyên nhân này là rất ít nhưng khi xảy ra lại

có cực kỳ nghiêm trọng, có thể làm chết người hoặc tai nạn hàng loạt Những thiếu sót khi thiết kế như tính toán sai, bố trí kết cấu không hợp lý, lựa chọn vật liệu

Trang 18

không hợp lý… có thể dẫn đến tai nạn ngay trong khi tiến hành chế tạo kết cấu hay khi thi công công trình Tai nạn thường xảy ra như sụp đổ bộ phận công trình khi tháo dỡ ván khuôn, đổ các bức tường lớn do không có giằng cột khi có gió lớn…

b Nguyên nhân do thiết kế biện pháp công nghệ

Để tạo ra bộ phận công trình nào đó cần phải thết kế biện pháp công nghệ như biện pháp chống dỡ các công trình khuôn đúc bê tông dầm, cột, sàn; biện pháp chống sụt lở thi công đào các hầm, hố Sự thiếu sót trong thiết kế biện pháp công nghệ có thể dẫn đến sập công trình gây tai nạn lao động

c Nguyên nhân do kỹ thuật thi công

Đây là nguyên nhân phổ biến xây trong dựng Do tính phức tạp đa dạng của công việc, do sự thiếu hụt kiến thức chuyên môn, do trình độ nghiệp vụ của người thực hiện công việc thấp, không nắm vững quy trình làm việc đảm bảo an toàn… chẳng hạn như sử dụng hệ thống cột chống, ván lót đã cũ nát, đưa máy trục vào nơi có nền đất yếu, trộn bê tông không kỹ chất lượng bê tông từng chỗ khác nhau, không đúng tiêu chuẩn đã thiết kế… những yếu tố này trực tiếp gây

ra tai nạn lao động

d Nguyên nhân do tổ chức thi công

Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản gây ra sự cố và tai nạn lao động hiện nay ở các công trình xây dựng Việc tổ chức thi công một cách khoa học không những góp phần nâng cao năng suất lao động, chất lượng công trình mà còn liên quan rất nhiều đến vấn đề an toàn và vệ sinh lao động Biểu hiện của công tác này như sau:

- Bố trí ca kíp làm việc không hợp lý hay kéo dài thời gian làm việc của công nhân, dẫn đến tình trạng sức khỏe giảm sút, thao tác mất chính xác, xử lý tình huống

sự cố kém, do đó gây ra tai nạn lao động;

- Sử dụng công nhân không đúng trình độ nghiệp vụ làm sai quy trình (đá

chưa làm sạch đã cho vào trộn bê tông, dỡ ván quá sớm…) dẫn đến gây ra sự cố;

- Thiếu nơi nghỉ ngơi cho công nhân (lán tránh nắng, nơi nghỉ trưa), làm ảnh

hưởng đến sức khỏe của công nhân;

- Bố trí công việc chồng chéo, tại một nơi nhiều người thực hiện nhiều công việc khác nhau, vật liệu để ngổn ngang, hạn chế tầm hoạt động của công nhân

Những yếu tố đó chắc chắn dẫn đến xảy ra tai nạn lao động;

Trang 19

- Ý thức trách nhiệm kém, làm ẩu, ăn bớt nguyên vật liệu, sử dụng vật liệu không đúng tiêu chuẩn, cắt bớt quy trình thi công (ví dụ: Không hàn nối các thép dầm, cột…) làm cho chất lượng công trình kém, tự sụp đổ ngay trong quá trình thi

công, gây tai nạn lao động

6.2.2 Nguyên nhân về kỹ thuật

a Do dụng cụ, phương tiện, thiết bị, máy móc sử dụng không hoàn chỉnh

Máy móc, phương tiện, dụng cụ thiếu, không hoàn chỉnh hay hư hỏng như thiếu cơ cấu an toàn, độ tin cậy không cao, đã cũ nát, thiếu bao che chắn, thiếu hệ thống báo hiệu phòng ngừa… nếu vẫn sử dụng có thể xảy ra sự cố như: đứt cáp,

hỏng phanh, gẫy thang, sập giàn giáo, chập điện… sẽ dẫn đến tai nạn lao động

b Do vi phạm quy trình, quy phạm kỹ thuật an toàn

- Vi phạm trình tự tháo dỡ các cột chống, ván sàn trong các kết cấu bê tông

cốt thép

- Đào hố móng sâu theo kiểu hàm ếch, hay đào thành đứng ở nơi nền đất yếu

mà không có hệ thống chống đỡ dẫn đến sạt lở công trình

- Làm việc trên cao không có dây đai an toàn, làm việc trong hầm sâu, dưới

nước không có bình khí ôxy

- Sử dụng phương tiện chuyên chở vật liệu để chở người

6.2.3 Nguyên nhân về tổ chức

a Thiếu kiểm tra giám sát thường xuyên

Việc kiểm tra giám sát nhằm mục đích phát hiện và xử lý những sai phạm trong quá trình thi công, nếu không làm thường xuyên sẽ dẫn đến thiếu ý thức thực hiện các yêu cầu về công tác an toàn hay các sai phạm không phát hiện một cách

kịp thời dẫn đến xảy ra sự cố gây tai nạn lao động

b Không thực hiện nghiêm chỉnh các chế độ bảo hộ lao động

Chế độ bảo hộ lao động rất nhiều vấn đề như chế độ làm việc, nghỉ ngơi, trang

bị các phương tiện bảo vệ cá nhân (quần áo, găng tay, dây đai an toàn, giày…) chế

độ bồi dưỡng, độc hại… nếu không thực hiện một cách nghiêm chỉnh sẽ làm giảm

sức khỏe người lao động, không hạn chế được tai nạn và mức độ nguy hiểm

6.2.4 Nguyên nhân do môi trường và điều kiện làm việc

- Làm việc trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt, nắng nóng, mưa bão, gió rét

sương mù…

Trang 20

- Môi trường làm việc bị ô nhiễm, chứa nhiều yếu tố độc hại

- Làm việc trong điều kiện áp suất cao hay quá thấp, trong hầm sâu hay

dưới nước

- Làm việc trong tư thế gò bó, chênh vênh

- Công việc đơn điệu, buồn tẻ hay nhịp điều lao động quá khẩn trương

Những điều kiện làm việc và môi trường như trên không những làm ảnh hưởng đến sức khỏe người lao động mà còn là nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp

dẫn đến tai nạn lao động

6.2.5 Nguyên nhân do bản thân người lao động

- Thao tác vận hành không đúng: Người công nhân không được đào tạo đúng chuyên môn mà sử dụng máy móc và thiết bị trên các công trình xây dựng thì thao

tác sai, xử lý tình huống kém dẫn đến xảy ra sự cố mất an toàn

- Vi phạm kỷ luật lao động: Ngoài việc vi phạm các quy định về an toàn trong quá trình làm việc, người công nhân nếu thiếu ý thức, đùa nghịch trong khi làm việc, xâm phạm vùng nguy hiểm, không sử dụng các phương tiện bảo vệ cá nhân, tự

ý làm các công việc không phải là nhiệm vụ của mình… sẽ gây ra sự cố dẫn đến tai

nạn lao động

- Sức khỏe và trạng thái thần kinh tâm lý: Tuổi tác, trạng thái sức khỏe (ốm đau, mệt mỏi, đói…) trạng thái thần kinh (vui, buồn, căng thẳng, tính khí bất thường…) có ảnh hưởng rất lớn dẫn đến vấn đề an toàn vì khi đó khả năng làm chủ

thao tác kém, thao tác sai hoặc nhầm lẫn, làm liều, làm ẩu

6.3 Những yêu cầu đảm bảo an toàn khi thiết kế xí nghiệp công nghiệp (Theo QCVN 06-2010/BXD)

6.3.1 Những yêu cầu về an toàn và vệ sinh công nghiệp khi thiết kế tổng thể mặt bằng

Xí nghiệp công nghiệp là nơi sử dụng máy và thiết bị làm ra sản phẩm phục vụ cho nhu cầu sản xuất và đời sống con người Một điểm chung nhất của các xí nghiệp hiện nay là sản phẩm đa dạng, mặt bằng và không gian chật hẹp (do trước đây khi xây dựng xí nghiệp chỉ chú ý đến nơi sản xuất, ít chú ý đến vấn đề vệ sinh môi trường, mặt khác do mở rộng sản xuất nhưng mặt bằng không có nên buộc phải xen lấn) Chính những vấn đề đó đã gây ra do rất nhiều trở ngại trong sản xuất nói chung và trong công tác an toàn lao động nói riêng Vì vậy, trước khi xét tới những yêu cầu về an toàn khi thiết kế mặt bằng tổng quát, ta cần biết trước được xí nghiệp

thuộc loại hình nào, làm cơ sở cho việc thiết kế tổng mặt bằng

Trang 21

Khi thiết kế mặt bằng thi công, phải xác định các vị trí nhà làm việc, lán trại công nhân, các công trình tạm, kho hoặc bãi vật liệu, vị trí đặt máy và thiết bị thi công, đường ra vào công trường cho người, cho máy, đường cung cấp điện, nước…

khiến cho xe hoặc máy thi công đi lại khó khăn, dẫn tới có khả năng va chạm giữa chúng với nhau hoặc va chạm với các bộ phận của công trình và gây tai nạn lao động Do đó, thiết kế mặt bằng thi công hợp lý cũng là một trong những biện pháp

để đảm bảo an toàn lao động

* Một số điểm cần chú ý khi thiết kế mặt bằng thi công công trình là:

- Công trường phải có hàng rào để ngăn cách với bên ngoài, đảm bảo an ninh bên trong phạm vi công trường Khi công trường gần đường giao thông thì hàng rào phải là loại kín để người từ trong công trường không nhìn được ra ngoài và người từ bên ngoài cũng không nhìn được vào bên trong công trường - là nguyên nhân gián tiếp gây tai nạn lao động và tai nạn giao thông do họ mất tập trung khi làm việc và khi đi đường;

gió chủ đạo (Đông Bắc - Tây Nam) Còn các kho, bãi vật liệu, xưởng gia công phụ trợ và khu vệ sinh nên đặt ở cuối hướng gió này;

- Đường đi lại cho xe và thiết bị thi công phải đủ rộng và nên bố trí thành các đường một chiều có bề rộng tối thiểu là 4 m, còn nếu bố trí đường hai chiều thì tối thiểu là phải rộng 7 m Các đường đi lại hạn chế giao nhau;

nước tốt Cần phải có những vị trí để phục vụ công tác bốc dỡ;

- Bãi vật liệu rời trên công trường phải được xếp gọn gàng, không gây cản trở

đi lại - tốt nhất là nên phân thành từng khu riêng biệt;

dao điện, cầu chì hoặc thiết bị đóng cắt điện phải có hộp, khóa và được đặt ở nơi khô ráo Đường dây điện phải được treo cách mặt đường đi lại ít nhất là 5 m Điện động lực và điện sinh hoạt phải tách thành hai hệ thống riêng;

- Cần phải có bể chứa và đường ống cung cấp đủ nước cho sinh hoạt, phục vụ các công việc như đổ bê tông, xây hoặc trát… và chữa cháy;

- Ban đêm phải bố trí đèn bảo vệ, đặc biệt là tại các kho bãi, hoặc đèn báo tại khu vực có các hố đào, mương hoặc rãnh…;

Trang 22

- Hệ dàn giáo phải có hệ thống thu sét nếu không được liên kết với hệ thống tiếp đất của công trình;

- Phải có các thiết bị chữa cháy như bình cứu hỏa tại văn phòng làm việc, lán trại, các kho vật liệu và ngay tại công trình đang được xây dựng

6.3.2 Những yếu tố cần thiết đảm bảo an toàn khi thiết kế phân xưởng sản xuất

a Yêu cầu chung

Để đảm bảo yêu cầu kỹ thuật an toàn vệ sinh lao động, khi thiết kế bất kỳ nhà xưởng nào cũng cần chú ý tới các yêu cầu sau:

- Diện tích nhà xưởng, chiều cao nhà xưởng, cấu tạo mặt bằng (bố trí nơi làm việc, nơi đặt máy và thiết bị, khoảng cách giữa các thiết bị…) phải thỏa mãn các yêu cầu tối thiểu;

- Nhà xưởng phải cao ráo, sáng sủa, thông thoáng và tận dụng triệt để ánh sáng thiên nhiên;

- Cách âm, cách rung tốt, đặc biệt đối với các máy có rung động lớn cần phải giảm sự lan truyền của âm thanh và rung động;

- Cách nhiệt tốt có khả năng chống nóng về mùa hè, giữ nhiệt về mùa đông;

- Kết cấu phải bền vững không chỉ về phương diện chịu lực và còn cả chịu nhiệt, chịu ăn mòn…

b Kích thước phòng - xưởng nơi sản xuất

Xuất phát từ yêu cầu chung, kích thước phòng phải đảm bảo cho nơi sản xuất thuận tiện, sạch sẽ, thoáng mát, không gây khó khăn cho công việc thực hiện sản xuất, cho công tác đảm bảo an toàn vệ sinh lao động Vì vậy, thi thiết kế cần thực hiện tốt các yêu cầu sau:

- Phải đảm bảo đủ không khí cho công nhân trong phân xưởng, dung tích không ít hơn 14 m3 không khí cho một người;

- Chiều cao phòng xác định tùy theo tính chất và công việc sản xuất nhưng không nhỏ hơn 2,6 m tính đến dầm 3,2 m tính đến sàn;

- Khoảng cách giữa các máy, giữa máy với tường của từng loại máy được thực hiện theo quy định sao cho vị trí làm việc của công nhân thỏai mái, không gây khó khăn hay mất an toàn cho máy khác Theo quy định này thì khoảng cách tối thiểu không nhỏ hơn 1 m, đặc biệt đối với máy hay thiết bị có mức độ nguy hiểm cao như nồi hơi, lò thì không nhỏ hơn 1,5 m;

Trang 23

- Hành lang đi lại, nhà kho và những nơi điều khiển thiết bị không thấp hơn 2,2 m;

- Diện tích làm việc của một công nhân không ít hơn 4 m

Ngoài ra, cần chú ý lối đi của cần trục hay băng chuyền không được bố trí trên các lối qua lại giành cho người

c Bố trí phòng và thiết bị sản xuất

Bố trí phòng và thiết bị cần chú ý đến vấn đề thông hơi, thoáng khí, đặc biệt cần chú ý khi thiết bị có thoát ra các hơi và khí độc hại Để đảm bảo điều kiện thông gió tốt, trục dọc nhà nên bố trí xiên góc 450 so với hướng gió chính

Các nhà sản xuất không nên bố trí có trần để đảm bảo thông gió và chiếu sáng

tự nhiên Các tầng hầm và kho nửa chìm nửa nổi có thể là nơi tích lũy hơi và khí độc, vì vậy đối với các ngành sản xuất thuộc hạng A không được bố trí kiểu này

Đối với các thiết bị có độ rung động lớn, có tiếng ồn trên 90 dB hay thoát ra nhiều chất độc hại thì phải bố trí cách ly và nền xưởng phải có kết cấu vững chắc

Các thiết bị cùng chủng loại nên bố trí ở một chỗ và thứ tự các vị trí tiếp theo cần ưu tiên theo thứ tự dây chuyền công nghệ để đảm bảo việc vận chuyển gần nhất Nguyên lý này được thực hiện không chỉ riêng trong một xưởng mà còn giữa các xưởng với nhau

Đối với các xưởng có chất dễ cháy nổ thì nên bố trí cách ly theo quy định, nếu lượng chất dễ cháy, nổ ít, ngoài quy định thì cũng cần bố trí ở phía ngoài cùng nơi

dễ thực hiện công việc chữa cháy và ít ảnh hưởng đến xưởng bên cạnh (xa nơi làm việc đông người càng tốt)

d Kết cấu nhà sản xuất

Kết cấu phòng sản xuất cần đảm bảo độ bền chịu lực, chịu tác động ăn mòn, chịu nhiệt… cho nên tùy thuộc vào tính chất công việc (có thải ra chất ăn mòn không, độ rung động lớn hay nhỏ…) và điều kiện khí hậu (nhiệt độ, không khí, độ ẩm…) để bố trí kết cấu phù hợp

Nền nhà sản xuất phải làm từ các vật liệu chống ẩm, chống thấm khí, bằng phẳng, không trơn trượt, dễ cọ rửa Đặc biệt cần chú ý nền nhà phải cao ráo, không

ẩm ướt để tránh truyền điện từ máy vào nền gây nguy hiểm cho người lao động

Đối với nơi sản xuất có chứa chất dễ cháy, nổ thì kết cấu nhà làm việc cần được trang bị hệ thống báo cháy, chữa cháy phù hợp

Trang 24

6.4 Những yêu cầu an toàn khi tổ chức thi công

6.4.1 Yêu cầu an toàn tối thiểu khi lựa chọn giải pháp công nghệ xây dựng

Giải pháp công nghệ khi thi công có rất nhiều giải pháp khác nhau, việc lựa chọn giải pháp nào cần chú ý đến các vấn đề như tính khả thi (được xem là yêu cầu đầu tiên), chất lượng thi công công trình, thời hạn hoàn thành, giá thành… và yếu tố không thể thiếu được đó là an toàn, vệ sinh lao động và vệ sinh môi trường

Trên quan điểm coi vấn đề an toàn và vệ sinh lao động, vệ sinh môi trường

là yếu tố quan trong nhất thì việc lựa chọn giải pháp công nghệ nên giải quyết theo hướng:

- Áp dụng các biện pháp thi công tiên tiến, sử dụng các phương tiện cơ giới hóa đến mức cao nhất, công xưởng hóa việc chế tạo và chuẩn bị vật liệu, tạo điều kiện nâng cao năng suất, đảm bảo an toàn vệ sinh lao động;

- Việc tính toán độ bền, độ ổn định của các hệ thống kết cấu như giàn giáo, cột chống, ván khuôn… phải hết sức chính xác và an toàn;

- Tổ chức lao động và chuẩn bị điều kiện lao động một cách khoa học, trang bị bảo vệ cá nhân đầy đủ, góp phần cải thiện điều kiện làm việc của người lao động, hạn chế tai nạn rủi ro và bệnh nghề nghiệp phát sinh;

- Đảm bảo an toàn cho các quá trình xây dựng công trình trên cao, công trình ngầm, công trình thi công đất đá…;

- Đảm bảo an toàn trong quá trình vận chuyển nguyên vật liệu, trong việc đi lại của công nhân trên công trường;

- Lựa chọn bố trí máy móc phù hợp, đặc biệt chú ý bố trí hệ thống chuyên trở vật liệu bằng băng tải và cầu trục;

- Đảm bảo an toàn khi sử dụng điện trên công trường;

- Đảm bảo an toàn phòng cháy, chữa cháy, chuẩn bị mọi phương án, phương tiện phòng chữa cháy khi có sự cố

6.4.2 Yêu cầu an toàn khi lập tiến độ thi công

Tiến độ thi công có vai trò quan trọng trong công tác bảo hộ lao động bởi nó liên quan đến mức độ huy động máy móc, thiết bị, vật liệu, con người và đặc biệt là nhịp độ lao động, chính những yếu tố này có ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng xảy ra và mức độ của tai nạn lao động Vì vậy, khi lập tiến độ thi công cần chú ý đến các vấn đề sau:

Trang 25

- Trình tự và thời gian thi công các công việc phải xác định trên cơ sở yêu cầu

và điều kiện kỹ thuật để đảm bảo sự ổn định từng bộ phận hay toàn bộ công trình tại bất kỳ thời điểm nào, tránh tình trạng chồng chéo, nhịp độ lao động thay đổi một cách bất bình thường;

- Khi tổ chức thi công xen kẽ (tại một nơi tiến hành cùng lúc nhiều công việc khác nhau), không được phép bố trí người làm việc ở nhiều độ cao khác nhau trên cùng một trục thẳng đứng nếu không có sàn, lưới bảo vệ (tránh rơi vật liệu, dụng cụ xuống người phía dưới);

- Không bố trí làm việc trong tầm hoạt động của thiết bị nâng;

- Xác định kích thước các công đoạn, tuyến công tác hợp lý sao cho việc di chuyển của toàn đội nói chung và cá nhân nói riêng trong một ca làm việc là ít nhất;

- Khi tổ chức thi công theo dây chuyền phải đảm bảo sự nhịp nhàng giữa các

bộ phận, tránh chồng chéo nhau làm giảm năng suất và dễ gây tai nạn lao động;

- Khi công việc đòi hỏi thực hiện trong thời gian ngắn thì việc lập tiến độ cần khai thác tối đa về lực lượng lao động, về máy móc thiết bị, không nên kéo dài thời gian làm việc của công nhân quá mức Trong trường hợp yêu cầu công việc đòi hỏi mức độ lao động khẩn trương cao (chẳng hạn do yếu tố thời tiết chi phối nên tiến độ thi công bị dồn ép hay khi đổ bê tông sàn…) thời gian làm việc của công nhân buộc phải kéo dài thì cần bố trí ca, kíp hợp lý để công nhân có điều kiện nghỉ ngơi tại chỗ một cách tốt nhất, tránh tình trạng công việc quá căng thẳng dễ dẫn đến xảy ra tai nạn lao động

6.4.3 Yêu cầu an toàn trong việc bố trí mặt bằng thi công

Thiết kế tổng thể mặt bằng thi công không chỉ đơn phương chú ý đến dây chuyền sản xuất, sự thuận tiện cho thi công mà còn phải chú ý đến vấn đề an toàn,

vệ sinh lao động và vệ sinh môi trường, bởi vậy nếu việc bố trí không phù hợp có thể dẫn đến xảy ra tai nạn lao động, phát sinh bệnh nghề nghiệp, giảm năng suất, gây ô nhiễm môi trường… Vì vậy, khi thiết kế tổng thể mặt bằng thi công cần phải xem xét các vấn đề liên quan đến công tác an toàn và vệ sinh lao động sau:

- Bố trí hợp lý hệ thống kho, bãi chứa vật liệu Đối với kho phải bằng phẳng, khô ráo, thuận lợi cho việc vận chuyển, xếp dỡ Đối với bãi chứa và sản xuất vật liệu có bụi, tiếng ồn lớn nên đặt ở cuối hướng gió;

- Thiết kế các phòng sinh hoạt cho công nhân (nhà ăn ca, lán tránh nắng, phòng tắm giặt, vệ sinh…) cần được thiết kế đầy đủ, đúng quy định vì đây chính là

Trang 26

vấn đề nếu không quan tâm đúng mức sẽ gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng sức khỏe và phát sinh bệnh nghề nghiệp;

- Thiết kế đường vận chuyển và đi lại trên công trường một cách hợp lý, rộng rãi, tránh tình trạng phương tiện đi lại một cách khó khăn, dễ va quệt vào nhau Nền đường cần được gia cố để phương tiện đi lại an toàn;

- Thiết kế hệ thống chiếu sáng cho tổng thể mặt bằng nói chung và nơi làm việc ban đêm nói riêng phải đảm bảo độ soi rọi tối thiểu;

- Vùng nguy hiểm như trạm biến thế, vùng cần trục hoạt động, kho chứa vật liệu dễ cháy, nổ… cần được làm rào chắn và có biển báo nguy hiểm;

- Thiết kế biện pháp chống ồn ở các khu vực có mức ồn lớn;

- Thiết kế hệ thống thu lôi chống sét cho giàn giáo kim loại, cần trục, các công trình cao, các công trình độc lập…

Ngoài ra, khi thiết kế tổng thể mặt bằng thi công cũng cần xem xét tới yếu tố tác động của phế thải sản xuất đến môi trường để có biện pháp thu gom, xử lý tránh

sự lan tỏa của phế thải độc ra môi trường xung quanh

6.5 Kỹ thuật an toàn trong một số lĩnh vực

6.5.1 Kỹ thuật an toàn khi làm việc trên cao

a Nguyên nhân gây tai nạn

Trong các công trường xây dựng, tai nạn xảy ra do ngã từ trên cao xuống rất nhiều và có xu hướng ngày càng tăng Theo số liệu thống kê thì dạng tai nạn này chiếm tỷ lệ cao nhất so với các tai nạn khác trong xây dựng Về nguyên nhân gây tai nạn có rất nhiều và đa dạng, song có thể quy về những nguyên nhân chủ yếu sau:

* Nguyên nhân về tổ chức

- Bố trí công nhân không đủ điều kiện: Chưa qua đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện về chuyên môn, về an toàn; sức khỏe kém, người có bệnh tim mạch, huyết áp, thị lực, thính lực kém… để tiến hành các công việc trên cao

- Thiết các phương tiện bảo vệ khi làm việc trên cao: dây an toàn, lan can, lưới đỡ…

- Hệ thống đường đi lối lại trên cao không đủ yêu cầu: chật hẹp, thiếu lan can,

độ đốc lớn…

- Bố trí dây chuyền sản xuất không hợp lý, công việc chồng chéo, vướng mắc nhau

Trang 27

- Thiếu kiểm tra giám sát thường xuyên để ngăn chặn, khắc phục kịp thời các hiện tượng không an toàn

- Sử dụng hệ thống giàn giáo kém chất lượng: yếu, không chắc chắn nên sập gẫy hoặc đung đưa làm cho công nhân mất thăng bằng

- Ý thức thực hiện quy trình kỹ thuật, kỷ luật lao động và nội quy an toàn của công nhân kém, đùa nghịch khi làm việc

* Nguyên nhân kỹ thuật

- Do thiết kế: Xác định sơ đồ tải trọng và tính toán sai, không đúng với điều kiện làm việc thực tế dẫn đến đổ, vỡ, gẫy làm cho công nhân bị ngã trong khi làm việc trên cao Các chi tiết hay kết cấu liên kết, bộ phận hợp thành không phù hợp với khả năng và điều kiện gia công chế tạo

- Do gia công chế tạo chi tiết: Vật liệu sử dụng không đáp ứng yêu cầu tối thiểu (mục nát, cong vênh…) gia công không chính xác, các mối liên kết không

đủ độ bền nên đã xảy ra tình trạng sập đổ giàn giáo, gẫy thang, trơn trượt… gây tai nạn

- Do tháo lắp: Khi lắp không đúng thiết kế, thiếu hệ thống giằng, cột giàn giáo bị nghiêng, giáo cao không có hệ thống chống đỡ đầy đủ… nên độ ổn định không cao

- Do sử dụng: Chất vật liệu quá nhiều hay quá nhiều người cùng làm việc trên giàn giáo gây quá tải Thiếu kiểm tra tình trạng giàn giáo để phát hiện ra các bộ phận, chi tiết bị hỏng để sửa chữa thay thế kịp thời

b Các biện pháp an toàn chủ yếu

Để ngăn ngừa và hạn chế tai nạn khi làm việc trên cao, tùy theo tính chất và đặc điểm công việc thực hiện trên công trình, theo điều kiện và khả năng cụ thể của từng công trường để nghiên cứu, lựa chọn chọn, áp dụng các biện pháp tổ chức và công nghệ xây dựng khác nhau sao cho đảm bảo an toàn nhất Phương hướng chung

là cố gắng hạn chế công việc tiến hành trên cao bằng cách nghiên cứu thay đổi biện pháp công nghệ để có thể tiến hành dưới đất, thay cho công việc trên cao và thực hiện đầy đủ các biện pháp an toàn khi làm việc trên cao Các biện pháp đó bao gồm:

* Biện pháp về tổ chức

- Các yêu cầu đối với lao động làm việc trên cao

Người làm việc trên cao phải thỏa mãn các yêu cầu sau:

Trang 28

+ Có sức khỏe tốt không có các bệnh về tim mạch huyết áp thị lực và thính lực;

+ Đã được đào tạo về chuyên môn được học tập và kiểm tra đạt yêu cầu về

an toàn;

+ Chấp hành nghiêm chỉnh những nội quy về an toàn như đeo dây đai an toàn làm việc đúng nơi quy định không đi lại ở những nơi có không có hệ thống lan can…; + Có đầy đủ trang bị bảo vệ cá nhân: mũ chống chấn thương sọ não, dây đai

* Biện pháp về kỹ thuật

- Yêu cầu chung khi làm việc trên cao:

+ Trước hết cần tạo ra một không gian làm việc an toàn bao gồm: Mặt bằng để thao tác thuận lợi, có hệ thống lan can hoặc lưới chắn bảo vệ Ở những nơi không có lan can hay lưới chắn thì phải có dây đai an toàn Riêng đối với việc xây dựng các ống khói có độ cao từ 3 m trở lên phải làm sàn hoặc lưới bảo vệ rộng từ 2 - 3 m và đặt nghiêng về phía thân ống một góc tối thiểu 180;

+ Phải đảm bảo đầy đủ ánh sáng để đi lại và làm việc trên cao

- Yêu cầu đối với phương tiện làm việc trên cao:

Phương tiện làm việc trên cao gồm có giàn giáo, thang… Yêu cầu chung đối với các phương tiện này là:

+ Về mặt kết cấu phải đủ bền không biến hình trong quá trình sử dụng Mặt sàn phải bằng phẳng, không trơn trượt, không có phần lồi (gây vấp cho công nhân), khe hở ván sàn nhỏ hơn 10 mm, nếu là ván gỗ phải dài ít nhất 3 cm và không mục, mọt Giàn giáo cao từ 1,5 m trở lên so với sàn hoặc nền phải có lan can tối thiểu 1 m

Trang 29

Hình 6.1 Một số chân thang và góc nghiêng khi bắc thang

+ Thang lên xuống giữa các tầng phải chắc chắn và độ dốc không quá lớn, nếu thang cao phải có lan can bảo vệ, riêng thang có độ cao trên 12 m phải có lồng cầu riêng Thang leo trèo, làm việc không cố định phải có hệ thống chân chống trượt và

độ nghiêng theo tiêu chuẩn (hình 6.1)

Theo tiêu chuẩn này, để đề phòng thang bị trượt thì nền bắc thang phải bằng phẳng, ổn định độ nghiêng thang trong khoảng 45- 700 và tổng thể chiều dài thang không quá 5 m Đối với thang đôi, khi dựng phải đảm bảo chắc chắn và có thanh khóa góc mở giữa hai cánh thang Trường hợp đặt thang với góc nghiêng trái với quy định thì phải có người giữ thang cẩn thận hoặc có biện pháp buộc thang vào một bộ phận chắc chắn của công trình

- Yêu cầu khi dựng và tháo lắp:

+ Khi tháo lắp giàn giáo phải đảm bảo mặt nền không bị lún, nếu nền đất yếu phải có tấm kê;

+ Các cột phải thẳng đứng và có đầy đủ hệ thống giằng néo như trong thiết kế; + Giữa sàn và tường chừa khe hở không quá 5 cm;

+ Các thanh giáo côngxôn phải có cơ cấu neo bám chắc chắn;

+ Giàn giáo cao phải có thiết kế kết cấu neo bám vào phần vững chắc của công trình tuyệt đối không được sử dụng neo bám vào phần tường đang xây;

+ Khi tháo dỡ hệ thống giàn giáo phải tuân theo nguyên tắc: Bộ phận không chịu lực tháo trước, bộ phận chịu lực tháo sau; bộ phận lắp sau tháo trước, bộ phận lắp trước tháo sau và tránh để rơi chi tiết hay dụng cụ xuống dưới

Trang 30

- Yêu cầu khi sử dụng:

+ Chỉ được phép sử dụng giàn giáo khi đã nghiệm thu;

+ Trước khi leo lên giàn giáo làm việc phải kiểm tra xem xét lại các yêu cầu của giàn giáo như khi nghiệm thu;

+ Không để quá nhiều vật liệu lên giàn giáo;

+ Không sử dụng giàn giáo làm nơi đặt thiết bị nhỏ như cẩu thiếu nhi, nếu có nhu cầu đặt thì phải thiết kế giàn giáo riêng;

+ Cấm làm việc đồng thời trên hai sàn liền kề theo phương thẳng đứng mà ở giữa không có sàn bảo vệ;

+ Trong quá trình sử dụng phải thường xuyên kiểm tra độ an toàn của giàn giáo nếu thấy chi tiết hai bộ phận nào không đáp ứng yêu cầu thì phải thay thế ngay; + Hết ca làm việc phải thu dọn vật liệu thừa, dụng cụ đồ nghề sạch sẽ

6.5.2 Kỹ thuật an toàn khi thi công ở độ sâu

Khi thi công ở độ sâu thường xảy ra một số tai nạn như: sụt lở thành móng, rơi vật liệu vào người… Do đó, để đảm bảo an toàn cần thực hiện tốt một số công việc sau:

- Trước khi xây móng và quá trình thi công phải thường xuyên kiểm tra tình trạng của thành hố móng;

- Khi có người đang làm việc ở dưới hố móng thì không được vận chuyển vật liệu trên miệng hố;

- Khi xây dựng các móng ở độ sâu dưới 2 m hay hố móng ở trên núi, đồi nếu gặp mưa to phải ngừng ngay công việc;

- Các hố móng sau khi xây lên cao cũng phải bắc giàn giáo;

- Phải có đầy đủ đèn chiếu sáng khi xây trát ở hố sâu Xung quanh miệng hố nên có hàng rào chắn bảo vệ;

- Khi thi công công trình dưới nước phải sử dụng đội ngũ thợ chuyên nghiệp

đã qua đào tạo, có trang bị an toàn cá nhân như bình ôxy, áo lặn, chân vịt để bơi và thời gian làm việc liên tục dưới nước theo quy định

6.5.3 Kỹ thuật an toàn khi thi công bê tông cốt thép

Công tác bê tông cốt thép có ba công đoạn chính: làm ván khuôn, làm cốt thép trộn và đổ bê tông

Trang 31

* Công đoạn làm ván khuôn

Đối với công đoạn làm ván khuôn, ngoài việc đảm bảo yêu cầu kỹ thuật theo thiết kế để khuôn vững chắc, ổn định trong quá trình đổ bê tông sau này phải chú ý đến công tác an toàn an toàn Công tác an toàn chủ yếu như khi làm việc trên cao nhưng cần chú ý thêm một số yếu tố sau:

- Phải có cột chống và dầm đỡ chắc chắn mới được đặt ván sàn;

- Ván thành khuôn phải có gông giữ chắc chắn;

- Khi sử dụng ván gỗ cần loại bỏ những tấm ván đã mục nát, mối mọt;

- Không đi lại ở bên dưới khu vực đang ghép sàn;

- Không sử dụng các dụng cụ khác búa để đóng đinh vì dễ gây tai nạn;

- Đinh sử dụng phải để gọn gàng, nên sử dụng giày có đế cứng để tránh bị đinh đâm vào chân

* Công đoạn làm cốt thép

Khi gia công cốt thép cần làm tốt các vấn đề sau:

- Nếu gia công cốt thép (nắn thẳng, cắt đứt…) trong các xưởng cơ khí thì thực hiện quy định an toàn trong cơ khí;

- Nếu gia công cốt thép tại công trường thì phải tiến hành tại khu vực riêng, không được thực hiện ngay dưới chân các công trình đang thi công;

- Sử dụng các thiết bị như kéo cắt thép, máy cắt bằng đá, chạm chặt phải chú ý đến công tác an toàn để phòng kẹt tay, chạm văng vào người và đặc biệt chú ý khi làm hai người thì búa phải chắc chắn và hướng đánh búa không được hướng vào người cùng làm việc

* Khi dựng cốt thép

- Buộc cốt thép phải bằng dụng cụ chuyên dùng, cấm buộc bằng tay

- Khi dựng cốt thép gần đường dây tải điện thì phải cắt điện hoặc có biện pháp phòng điện giật

- Khi dựng cốt thép ở trên cao phải có sàn thao tác dụng ít nhất 0,8 m

- Cấm đi lại trực tiếp trên khung cốt thép, lối qua lại phải có ván lót rộng ít nhất 0,4 m

- Kiểm tra các tấm cốt thép trước khi lắp ghép

Trang 32

* Công đoạn đổ bê tông

- Trước khi đổ bê tông phải kiểm tra tình trạng của giàn giáo, của hệ thống ván khuôn, cốt thép, đường dây tải điện, máy trộn bê tông…

- Khi máy trộn bê tông đang quay không được dùng que, sào thọc vào máy

- Cơ giới hóa việc vận chuyển bê tông lên cao:

+ Nếu sử dụng hệ thống cần trục thì thực hiện công tác an toàn khi sử dụng thiết bị nâng chuyển;

+ Nếu sử dụng hệ thống ròng rọc dây kéo thì phải thật chắc chắn và có người chỉ huy tại vị trí lên xuống;

+ Nếu sử dụng dầm bê tông thì phải kiểm tra hệ thống cách điện, tránh để điện

rò ra nơi làm việc và khi không sử dụng phải tắt máy

- Những người tham gia đổ bê tông phải có trang bị đầy đủ dụng cụ phòng hộ

cá nhân

- Khi bảo dưỡng bê tông không được đứng lên các cột chống hoặc cạnh ván khuôn

6.5.4 Kỹ thuật an toàn khi sử dụng máy móc trong xây dựng

a Khái niệm chung

Hiện nay, trong xây dựng ở nước ta đang thực hiện hướng cơ giới hóa khi thi công các dạng công tác có khối lượng lớn, nhằm mục đích nâng cao năng suất, cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động Bên cạnh những mặt tích cực, còn có một vấn đề cần được quan tâm đúng mức, đó là do có nhiều máy móc trong thi công nên đã và đang xảy ra tai nạn lao động do việc sử dụng máy móc gây ra

Máy móc trong xây dựng rất phong phú và đa dạng về chủng loại, tính năng

kỹ thuật ngày càng tinh vi hiện đại Các máy và thiết bị thường được sử dụng bao gồm:

- Các loại máy thi công đất như máy đào, xúc, san gạt, đầm, đóng cọc…;

- Các thiết bị nâng chuyển như băng tải, trục nâng, cần trục…;

- Các loại máy dùng gia công chi tiết như máy cắt, uốn, kéo sắt thép; máy cưa bào gỗ…;

- Các máy để sản xuất vật liệu xây dựng như máy trộn bê tông, máy nghiền sàng đá…;

Trang 33

- Các loại máy cầm tay như máy mài, máy khoan, máy đánh bóng, máy phun sơn…

- Các thiết bị điện như máy phát điện, máy biến áp…;

- Các thiết bị chịu áp lực như nồi hơi, máy nén khí…;

- Các phương tiện vận chuyển như xe ôtô, xe goòng…

Nếu không hiểu biết về cơ cấu và tính năng hoạt động của máy, không nắm vững quy trình vận hành, không tuân thủ các nội quy an toàn khi sử dụng sẽ có thể gây ra sự cố và tai nạn lao động

b Những nguyên nhân gây tai nạn

* Máy móc không hoàn chỉnh hay hư hỏng

- Máy móc không hoàn chỉnh, thiếu các thiết bị an toàn hoặc đã có những hư hỏng hay mất tác dụng như không có bao che chắn bộ phận chuyển động ở tất cả các loại máy; thiếu cơ cấu khống chế quá tải, quá tầm ở cần trục; thiếu cơ cấu van

an toàn ở thiết bị chịu áp lực; thiếu rơle, cầu chì ở thiết bị điện…

- Thiếu các thiết bị phòng ngừa như áp kế, vôn kế

- Thiếu hệ thống báo biển báo, tín hiệu như còi, chuông trên máy

- Các bộ phận chi tiết đã bị biến dạng (cong vênh), rạn nứt, sơ, gẫy, mòn quá…

- Các cơ cấu điều khiển không còn chính xác

- Hệ thống phanh, cóc hãm hư hỏng, khả năng hãng kém…

Những thiếu sót hư hỏng đó nếu không được sửa chữa thay thế kịp thời sẽ gây

ra sự cố

* Máy bị mất cân bằng

Mất ổn định đối với máy đặt cố định hay di động cũng là nguyên nhân thường xuyên gây ra sự cố và tai nạn Việc máy bị mất cân bằng làm cho thao tác mất chính xác, thậm chí máy còn bị xê dịch khỏi vị trí ổn định, hay bị lún sâu một phía, kết quả làm cho máy bị nghiêng, nếu mức độ lớn có thể làm lật đổ máy

Nguyên nhân gây mất ổn định thường là:

- Nền đặt máy không chắc hoặc độ nghiêng mặt nền lớn hơn độ ngh iêng cho phép;

- Cẩu nâng vật có tải trọng quá lớn;

- Không quan tâm đến sự ảnh hưởng của tốc độ di chuyển, tốc độ quay và cả mômen phanh dẫn đến sự ổn định của máy, đặc biệt khi di chuyển hay quay vật

Trang 34

với tốc độ lớn mà phanh đột ngột, lực quán tính gây mất ổn định có thể gây ra lật

đổ máy;

- Bị va quệt với phương tiện khác hay làm việc ở nơi có gió lớn, nhất là đối với máy có trọng tâm ở cao

* Thiếu thiết bị che chắn, rào vùng nguy hiểm

Vùng nguy hiểm trên các máy là nơi thường xuyên xuất hiện các mối nguy hiểm cho sức khỏe và tính mạng con người, nếu không có các thiết bị che chắn hay rào cách biệt vùng nguy hiểm có thể dẫn đến các tai nạn sau:

- Máy cuốn kẹp vào quần áo hay các bộ phận cơ thể (tóc, chân, tay) ở các bộ phận chuyển động như vùng giữa cáp và tang, giữa các bánh răng, giữa dây đai với puly…;

- Các mảng dụng cụ và phôi gia công bắn vào người như mảnh vỡ đá mài, các mẫu gỗ…;

- Các bộ phận máy va vào người, tai nạn với xe vận chuyển, rơi vật cẩu…;

- Nhiễm phải khí độc, bụi ở các máy đập đá, nghiền đá, phun sơn…

* Sự cố tai nạn điện

Thông thường hệ thống đường dây tải điện vào các máy thi công trên các công trường xây dựng ít được quan tâm chú ý đúng mức, đường dây cũ và nhiều chỗ đứt nối dẫn đến chập điện, điện rò ra vỏ máy, dây điện đặt dưới đất nên ẩm ướt, bị các phương tiện vận chuyển đè lên… Tất cả các yếu tố đó là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tai nạn về điện

- Không đảm bảo yêu cầu về sức khỏe

- Vi phạm kỷ luật lao động, rời máy khi máy còn hoạt động, điều khiển máy trong tình trạng thần kinh không tốt (uống rượu, bia, căng thẳng thần kinh), giao máy cho người không có nhiệm vụ điều khiển…

Các yếu tố trên là nguyên nhân dẫn đến tai nạn trong quá trình vận hành máy móc và sử dụng thiết bị

Trang 35

* Thiếu sót trong quá trình quản lý

- Thiếu hoặc không có hồ sơ, lý lịch tài liệu hướng dẫn về lắp đặt, sử dụng

và bảo quản dẫn đến lắp đặt sai, vận hành và thực hiện các quy định an toàn không đúng

- Không thực hiện chế độ đăng kiểm, khám nghiệm, chế độ bảo tu bảo dưỡng

- Việc phân công, giao trách nhiệm không rõ ràng (không có văn bản cụ thể) trong quản lý và sử dụng dẫn đến thiếu trách nhiệm, buông lỏng quản lý

Những thiếu sót như vậy là nguyên nhân gián tiếp dẫn đến xảy ra sự cố gây ra tai nạn Tuy chỉ là nguyên nhân gián tiếp nhưng trong nhiều năm qua, những yếu tố này ngoài việc làm cho máy móc, thiết bị nhanh xuống cấp, mất mát nhiều còn góp phần gia tăng tai nạn lao động

* Thiếu ánh sáng

Thiếu ánh sáng cần thiết khi làm việc vào ban đêm, khi trời có sương mù, khi làm việc trong các hầm sâu… khiến cho người sử dụng máy không nhìn rõ các bộ phận trên máy và các khu vực xung quanh dẫn đến gây tai nạn

c Các biện pháp phòng ngừa

* Biện pháp đảm bảo chất lượng và độ ổn định máy

- Biện pháp đảm bảo chất lượng máy tốt, an toàn khi vận hành:

+ Đảm bảo cho máy móc có đầy đủ thiết bị an toàn, phù hợp với hoạt động, độ tin cậy cao;

+ Theo chức năng, công dụng, các thiết bị an toàn được chia thành nhóm như: Thiết bị an toàn tự động có tác dụng làm ngừng hoạt động của một số bộ phận nào

đó khi nó làm việc đến mức giới hạn cho phép (ví dụ thiết bị khống chế quá tải ở cần trục); thiết bị phòng ngừa có tác dụng chỉ báo cho biết mức độ làm việc đã đạt đến ngưỡng của máy (ví dụ như áp kế ở thiết bị áp lực, thiết bị chỉ mức nâng tương ứng với tầm với ở cần trục…); thiết bị tín hiệu ánh sáng, màu sắc thông báo tình trạng tại khu vực đang thi công…

Các thiết bị này phải có chất lượng tốt, làm việc với độ tin cậy cao sẽ góp phần ngăn ngừa tai nạn xảy ra

- Đảm bảo sự ổn định của máy:

Sự ổn định của máy là điều kiện cần thiết để sử dụng máy an toàn Sự ổn định cần được đảm bảo đối với cả máy đặt cố định và cả máy di chuyển, lúc hoạt động cũng như lúc không hoạt động

Ngày đăng: 16/07/2022, 14:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Hoàng Xuân Nguyên (2009). Kỹ thuật An toàn và Bảo hộ lao động. NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật An toàn và Bảo hộ lao động
Tác giả: Hoàng Xuân Nguyên
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
7. Trịnh Khắc Thẩm (Chủ biên) (2010). Giáo trình Bảo hộ lao động. NXB Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Bảo hộ lao động
Tác giả: Trịnh Khắc Thẩm (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Lao động - Xã hội
Năm: 2010
2. Luật số 27/2001/QH10 của Quốc hội. Luật Phòng cháy và Chữa cháy Khác
3. Luật số 84/2015/QH13 ngày 25/6/2015 của Quốc hội. Luật An toàn - Vệ sinh lao động Khác
5. Quy chuẩn số QCVN 06: 2010/BXD. Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn cháy cho nhà và công trình Khác
6. Quy chuẩn số QCVN 24:2016/BYT được ban hành kèm theo Thông tư 24/2016/ TT-BYT Khác
8. Thông tư số 22/2016/TT-BYT, ngày 30/6/2016 Khác
9. Thông tư số 26/2016/TT-BYT, ngày 30/06/2016 của Bộ Y tế. Quy định quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về vi khí hậu - giá trị cho phép vi khí hậu tại nơi làm việc Khác
10. Thông tư 15/2016/TT BYT, ngày 15/5/2016, của Bộ Y tế. Quy định về bệnh nghề nghiệp được hưởng bảo hiểm xã hội Khác
11. Tiêu chuẩn số TCVN 3152-1979 về yêu cầu an toàn dụng cụ mài Khác
12. Tiêu chuẩn số TCVN 9059:2011 về an toàn máy - bộ phận che chắn Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 5.1. Tác động của dòng điện lên cơ thể người Trị số dòng - Bài giảng An toàn và vệ sinh lao động: Phần 2 - Trường ĐH Lâm nghiệp
Bảng 5.1. Tác động của dòng điện lên cơ thể người Trị số dòng (Trang 2)
Dòng điện chạm đất tản đều vào trong đất về các phía theo hình bán cầu. Càng ở  gần  điểm  chạm  đất,  điện  áp  bước  càng  lớn,  càng  nguy  hiểm,  càng  ra  xa  điểm  chạm đất, mật độ dòng điện giảm dần và điện thế cũng giảm đi, đến khoảng 15 – 20  m t - Bài giảng An toàn và vệ sinh lao động: Phần 2 - Trường ĐH Lâm nghiệp
ng điện chạm đất tản đều vào trong đất về các phía theo hình bán cầu. Càng ở gần điểm chạm đất, điện áp bước càng lớn, càng nguy hiểm, càng ra xa điểm chạm đất, mật độ dòng điện giảm dần và điện thế cũng giảm đi, đến khoảng 15 – 20 m t (Trang 3)
Hình 5.2. Chạm gián tiếp với vật đang mang điện - Bài giảng An toàn và vệ sinh lao động: Phần 2 - Trường ĐH Lâm nghiệp
Hình 5.2. Chạm gián tiếp với vật đang mang điện (Trang 4)
Hình 5.3. Các phương pháp tách nạn nhân ra khỏi nguồn điện hạ áp - Bài giảng An toàn và vệ sinh lao động: Phần 2 - Trường ĐH Lâm nghiệp
Hình 5.3. Các phương pháp tách nạn nhân ra khỏi nguồn điện hạ áp (Trang 6)
Hình 5.4. Sơ cứu nạn nhân bị điện giật 5.4. Các biện pháp cần thiết để bảo đảm an toàn điện - Bài giảng An toàn và vệ sinh lao động: Phần 2 - Trường ĐH Lâm nghiệp
Hình 5.4. Sơ cứu nạn nhân bị điện giật 5.4. Các biện pháp cần thiết để bảo đảm an toàn điện (Trang 7)
Hình 5.5. Nối đất thiết bị điện - Bài giảng An toàn và vệ sinh lao động: Phần 2 - Trường ĐH Lâm nghiệp
Hình 5.5. Nối đất thiết bị điện (Trang 8)
5.4.2. Các biện pháp kỹ thuật an toàn điện - Bài giảng An toàn và vệ sinh lao động: Phần 2 - Trường ĐH Lâm nghiệp
5.4.2. Các biện pháp kỹ thuật an toàn điện (Trang 8)
Hình 5.6. Nối đất bảo vệ thiết bị - Bài giảng An toàn và vệ sinh lao động: Phần 2 - Trường ĐH Lâm nghiệp
Hình 5.6. Nối đất bảo vệ thiết bị (Trang 10)
Hình 5.7. Cấu tạo hệ thống chống sét - Bài giảng An toàn và vệ sinh lao động: Phần 2 - Trường ĐH Lâm nghiệp
Hình 5.7. Cấu tạo hệ thống chống sét (Trang 11)
Hình 5.8. Bảo vệ nối dây trung tính - Bài giảng An toàn và vệ sinh lao động: Phần 2 - Trường ĐH Lâm nghiệp
Hình 5.8. Bảo vệ nối dây trung tính (Trang 12)
- Hộp kim loại của cầu dao và ổ cắm, khung kim loại của bảng phân phối và bảng điều khiển - Bài giảng An toàn và vệ sinh lao động: Phần 2 - Trường ĐH Lâm nghiệp
p kim loại của cầu dao và ổ cắm, khung kim loại của bảng phân phối và bảng điều khiển (Trang 14)
Hình 6.1. Một số chân thang và góc nghiêng khi bắc thang - Bài giảng An toàn và vệ sinh lao động: Phần 2 - Trường ĐH Lâm nghiệp
Hình 6.1. Một số chân thang và góc nghiêng khi bắc thang (Trang 29)
Mối nguy hiểm trong cơ khí là nơi và nguồn phát sinh nguy hiểm do hình dạng, kích thước, chuyển động của các phương tiện làm việc, phương tiện trợ giúp,  phương tiện làm việc, phương tiện trợ giúp, phương tiện vận chuyển cũng như các  chi tiết bị hư hỏng - Bài giảng An toàn và vệ sinh lao động: Phần 2 - Trường ĐH Lâm nghiệp
i nguy hiểm trong cơ khí là nơi và nguồn phát sinh nguy hiểm do hình dạng, kích thước, chuyển động của các phương tiện làm việc, phương tiện trợ giúp, phương tiện làm việc, phương tiện trợ giúp, phương tiện vận chuyển cũng như các chi tiết bị hư hỏng (Trang 38)
Hình 7.2. Phoi bắn vào mắt - Bài giảng An toàn và vệ sinh lao động: Phần 2 - Trường ĐH Lâm nghiệp
Hình 7.2. Phoi bắn vào mắt (Trang 41)
Hình 7.3. Dùng 2 nút để khởi động máy - Bài giảng An toàn và vệ sinh lao động: Phần 2 - Trường ĐH Lâm nghiệp
Hình 7.3. Dùng 2 nút để khởi động máy (Trang 42)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN