1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển du lịch nông thôn ở tỉnh thái bình

66 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát Triển Du Lịch Nông Thôn Ở Tỉnh Thái Bình
Tác giả Đỗ Thị Tuyết Mai
Người hướng dẫn Th.s Hoàng Thị Lan Hương
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Du Lịch
Thể loại Chuyên Đề Thực Tập
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 488,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính phủ các nước đã triển khai rất nhiều biện pháp để ngăn chặn vấn đề này, trong đó có một hướng đã chứng minh được qua vài chục năm là rất có hiệu quả trong việc làm tăng thu nhập củ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

KHOA DU LỊCH – KHÁCH SẠN

CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP

ĐỀ TÀI: PHÁT TRIỂN DU LỊCH NÔNG THÔN Ở TỈNH THÁI BÌNH

Giáo viên hướng dẫn: Th.s Hoàng Thị Lan Hương

Họ và tên: Đỗ Thị Tuyết Mai Lớp: Du Lịch 48

Mã số sinh viên: CQ481771

Hà nội 05 – 2010

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 4

Chương I Cơ sở lý luận về du lịch nông thôn 6

1.1 Khái quát chung về du lịch nông thôn 6

1.2 Vài nét về nông thôn Việt Nam 8

1.3 Thực trạng phát triển du lịch nông thôn ở Việt Nam 13

1.4 Giới thiệu một số tuor du lịch nông thôn đang được khai thác trên thị trường Việt Nam 16

1.5 Một số tác động và ảnh hưởng của du lịch nông thôn đến đời sống kinh tế - xã hội của cư dân địa phương 18

Chương II Tiềm năng phát triển du lịch nông thôn ở tỉnh Thái Bình 21

2.1 Điều kiện chung để phát triển du lịch ở Thái Bình 21

2.2 Thế mạnh phát triển du lịch nông thôn ở Thái Bình 23

2.3 Thực trạng phát triển du lịch nông thôn ở tỉnh Thái Bình 48

Chương III Định hướng, giải pháp và kiến nghị để phát triển du lịch nông thôn ở Thái Bình 53

3.1 Định hướng phát triển du lịch nông thôn ở Thái Bình……….53

3.2 Một số giải pháp phát triển du lịch nông thôn tại Thái Bình 55

3.4 Các kiến nghị để phát triển du lịch nông thôn ở tỉnh Thái Bình 60

KẾT LUẬN 63

Trang 3

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

BẢN CAM KẾT

Kính gửi: Ban Giám Hiệu trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân

Đồng kính gửi: Các thầy cô trong khoa Du lịch & Khách sạn

Tên em là : Đỗ Thị Tuyết Mai

Nếu vi phạm lời cam kết trên em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày 10 tháng 05 năm 2010 Sinh viên

Đỗ Thị Tuyết Mai

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sau nhiều năm thực hiện chính sách đổi mới đưa nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị trường, đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa và công nghiệp, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn Nhưng bên cạnh đó cũng bộc lộ những suy thoái lớn về môi trường cảnh quan và đạo đức văn hoá vì đất nước ta vốn có xuất phát điểm từ một nền kinh tế thuần nông Một nguy cơ nữa là tình trạng mất dần đất canh tác nông nghiệp dẫn đến quá trình ly nông, ly hương và bần cùng hoá ở nông thôn đang ngày càng gia tăng Vì vậy, phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống nông dân đang trở thành vấn đề được quan tâm hàng đầu hiện nay của Đảng và Nhà nước ta Nhìn ra thế giới, cách đây 30-40 năm tại các nước phát triển cũng đã xảy ra tình trạng tương tự Chính phủ các nước đã triển khai rất nhiều biện pháp để ngăn chặn vấn đề này, trong

đó có một hướng đã chứng minh được qua vài chục năm là rất có hiệu quả trong việc làm tăng thu nhập của dân cư nông nghiệp và thay đổi bộ mặt nông thôn Đó chính là việc chính phủ hướng sự quan tâm của cộng đồng xã hội vào việc phát triển du lịch nông thôn Mô hình du lịch nông thôn rất nên được tiến hành nghiên cứu ở nước ta với việc xây dựng các chính sách vĩ mô và ban hành các luật định cụ thể trong việc thực hiện như một sự hỗ trợ tích cực đối với sự phát triển bộ mặt nông thôn và gia tăng việc tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp nhất là trong quá trình phát triển hiện nay của đất nước ta, khi tư liệu sản xuất quan trọng trong nông nghiệp là đất đai đang dần bị thu hẹp, nhường chỗ cho các dự án công nghiệp, dịch vụ thì việc phát triển du lịch nông thôn tại những địa phương có tiềm năng du lịch cần được quan tâm nhiều hơn nữa để góp phần giải quyết việc làm, tạo nguồn thu nhập từ dịch vụ cho nông dân

Bước vào thời kì hội nhập, nông nghiệp và nông thôn Thái Bình có một vị trí đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế và ổn định chính trị xã hội tại địa phương Xuất phát từ việc khảo sát thực tế, nhận thấy Thái Bình là một tỉnh có nhiều tiềm năng phát triển du lịch nông thôn nhưng du lịch nông thôn ở đây lại chưa phát huy

Trang 5

được hết những tiềm năng đó nên tôi chọn đề tài “Phát triển du lịch nông thôn ở Thái Bình” là đề tài cho chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình

2 Đối tượng nghiên cứu

Tập trung nghiên cứu tất cả các tiềm năng phát triển du lịch nông thôn của các làng quê

ở tỉnh Thái Bình từ đó đề xuất giải pháp phát triển du lịch nông thôn Thái Bình

3 Phương pháp nghiên cứu

✓ Phương pháp luận: sử dụng phương pháp duy vật biện chứng làm nền tảng

✓ Phương pháp nghiên cứu phi thực nghiệm: sử dụng các dữ kiện thông tin thứ cấp đã được công bố để phân tích, so sánh, khái quát…, thực hiện các phán đoán suy luận

4 Mục đích nghiên cứu

✓ Cung cấp cơ sở lý luận về du lịch nông thôn

✓ Đánh giá tiềm năng phát triển du lịch nông thôn ở tỉnh Thái Bình

✓ Đưa ra một số giải pháp để phát triển du lịch nông thôn ở tỉnh Thái Bình

5 Kết cấu

Nội dung đề tài gồm 3 chương:

Chương I Cơ sở lý luận về du lịch nông thôn

Chương II Tiềm năng phát triển du lịch nông thôn ở tỉnh Thái Bình

Chương III Giải pháp phát triển du lịch nông thôn ở tỉnh Thái Bình

Sau đây là nội dung cụ thể của từng chương

Trang 6

Chương I Cơ sở lý luận về du lịch nông thôn

1.1 Khái quát chung về du lịch nông thôn

1.1.1.Sự ra đời và phát triển của du lịch nông thôn

Khái niệm du lịch nông thôn đã manh nha cùng với sự hình thành của ngành đường sắt ở Châu Âu Tuy nhiên, mãi đến những năm đầu của thập niên 80 thế kỷ XX,

du lịch nông thôn mới được xem là một loại hình du lịch và được phổ biến ở hầu hết các quốc gia ở Châu Âu như Pháp, Hung-ga-ri, Bun-ga-ri, Hà Lan, Đan Mạch, Thuỵ Điển… Lúc bấy giờ khái niệm du lịch nông thôn được quan niệm tương đồng với các loại hình du lịch nông trại, du lịch di sản, du lịch xanh, du lịch nhà nghỉ ở nông thôn…

Sự khác biệt về du lịch nông thôn ở các quốc gia đang phát triển và quốc gia phát triển

là ở chỗ: Tại các quốc gia đang phát triển, người ta xem du lịch nông thôn là đa dạng hoá thu nhập từ nông nghiệp, góp phần chống đói nghèo, phát huy sức mạnh nội lực của cộng đồng, bảo tồn các giá trị bản sắc, văn hoá truyền thống và bảo vệ môi trường

Vì vậy du lịch nông thôn ở các nước này phát triển theo chiều rộng Còn ở các quốc gia phát triển thì loại hình du lịch này lại phát triển theo chiều sâu mà nguyên nhân chính

là do các khu vực nông thôn ngày càng bị thu hẹp lại

Do những điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau, nên hình thức

du lịch nông thôn cũng khác nhau theo từng vùng, quốc gia, lãnh thổ Chẳng hạn, ở xtrây-li-a, du lịch nông thôn chủ yếu tại các trang trại lớn; ở Nhật Bản, hình thức du lịch chủ yếu là các nhà nghỉ thân thiện ở nông thôn; ở Hàn Quốc, du lịch nông thôn được tổ chức theo các trang trại nhỏ; ở Đài Loan, du lịch nông thôn được tổ chức theo nhóm sở thích của cộng đồng; Trung Quốc và Ấn Độ là những quốc gia có nhiều làng nên du lịch nông thôn được tổ chức theo quy mô làng Phát triển du lịch nông thôn sẽ góp phần bảo tồn di sản và bảo vệ môi trường; giảm đói nghèo thông qua phát triển kinh tế nông thôn, phát triển ngành, nghề; giúp phát triển du lịch sinh thái và các loại hình du lịch khác; giáo dục, huấn luyện và tăng cường kỹ năng cho cộng đồng; tạo việc làm cho phụ nữ và góp phần tiêu thụ các sản phẩm địa phương

Trang 7

Ô-1.1.2 Đặc điểm của du lịch nông thôn

Du lịch nông thôn có các đặc điểm căn bản sau:

✓ Nền tảng của du lịch nông thôn là nông nghiệp

✓ Mô hình du lịch nông thôn có thể thay đổi theo thời gian và không gian cho phù hợp với tình hình

✓ Du lịch nông thôn không cạnh tranh với các loại hình du lịch khác, sự phát triển của các ngành khác là tiền đề cho du lịch phát triển Tuy nhiên, sự cạnh tranh trong ngành thì rất lớn

✓ Dễ phát sinh những hình thái biến tấu của du lịch nông thôn

✓ Có tính liên ngành và liên vùng cao

1.1.3 Các nguyên tắc phát triển du lịch nông thôn

Từ những đặc điểm trên, phát triển du lịch nông thôn phải bảo đảm các nguyên tắc sau:

✓ Bảo đảm tính công bằng cho các chủ thể tham gia

✓ Đem lại lợi ích cho người dân địa phương và phát huy nội lực ở từng địa phương

✓ Bảo tồn, phát huy vốn di sản và bảo vệ môi trường

✓ Luôn đổi mới và tạo sự khác biệt

✓ Tăng cường mối liên kết theo chiều dọc và chiều ngang để làm phong phú thêm sản phẩm

✓ Giữ gìn bản sắc, xây dựng hình ảnh đẹp trong lòng du khách

1.1.4 Đặc trưng của du lịch nông thôn

✓ Điều kiện tự nhiên: Các vùng nông thôn còn đậm đà hồn quê, là những nơi có không khí trong lành, cảnh vật thanh bình và không gian thoáng đãng Du khách đến với các vùng nông thôn nước ta vì vẻ đẹp thiên nhiên tự nhiên và văn hoá nguồn cội không lai tạp Vẻ đẹp thiên nhiên tự nhiên hoặc vẻ đẹp văn hoá mà bị suy giảm thì khó thu hút được họ

Trang 8

✓ Điều kiện về môi trường: Tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về việc hạn chế hoặc tuyệt đối không dùng các loại thuốc trừ sâu và phân bón tổng hợp đối với cây trồng cũng như chất phụ gia trong thức ăn dành cho gia súc, gia cầm

✓ Điều kiện con người: Người dân ở các làng quê hiền lành, cởi mở và hiếu khách

✓ Điều kiện an ninh: Khách du lịch đặc biệt coi trọng vấn đề an toàn trong quá trình du lịch Vì vậy những làng quê họ lựa chọn làm điểm đến du lịch của mình phải là vùng có tình hình an ninh trật tự tốt

✓ Các yếu tố khác: Đến làng quê, du khách không chỉ hoà mình vào cuộc sống của người nông dân mà còn có thể tham gia các lễ hội và tham quan các di tích lịch sử của địa phương vừa là nghỉ dưỡng vừa là khám phá

1.1.5 Các hình thức du lịch nông thôn

5 hình thức du lịch nông thôn:

✓ Du lịch tự nhiên, mang tính giải trí

✓ Du lịch văn hoá, quan tâm tới văn hoá, lịch sử và khảo cổ của địa phương

✓ Du lịch sinh thái quan tâm tới việc bảo vệ nguồn lợi tự nhiên cũng như phúc lợi, giá trị văn hoá của người dân địa phương

✓ Du lịch làng xã, trong đó du khách chia sẻ với cuộc sống làng xã và dân làng được hưởng các lợi ích kinh tế do các hoạt động du lịch mang lại

✓ Du lịch nông nghiệp, trong đó khách du lịch tham quan và tham gia vào các hoạt động nông nghiệp truyền thống, không phá hoại, hay làm giảm năng suất cây trồng của địa phương

1.2 Vài nét về nông thôn Việt Nam

Ở Việt Nam, tính đến năm 2009, có 70,4% dân số sống ở vùng nông thôn, diện tích đất nông nghiệp chiếm khoảng 90% diện tích lãnh thổ Việt Nam Chính vì thế cuộc sống và tổ chức nông thôn ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến toàn xã hội Người dân

Trang 9

Việt Nam dù sống khắp nơi trên thế giới vẫn giữ được nhiều nét đặc biệt của nông thôn Việt Nam

Nông nghiệp là hoạt động chính của kinh tế nông thôn, chiếm 68% tổng giá trị sản phẩm ở nông thôn Nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất gạo hiện nay đang đóng góp nhiều cho xuất khẩu Tuy nhiên thu nhập bình quân của người nông dân vẫn còn rất thấp Các ngành dịch vụ tương đối yếu ở nông thôn do khó khăn trong vận chuyển và nhu cầu của địa phương thấp

Làng quê Việt Nam ngày nay tuy đã có nhiều thay đổi nhưng nhiều làng vẫn giữ được những nét truyền thống lâu đời Nhắc đến làng quê Bắc Bộ là ta nhớ ngay đến hình ảnh của luỹ tre, đình làng, cây đa, cổng làng Những hình ảnh đó đã in đậm trong tâm thức của mỗi người dân Việt Nam

Bất kỳ một làng quê nào trên đất nước Việt Nam cũng có một ngôi đình Từ bao đời nay, đình làng là hình ảnh thân quen, gắn bó với tâm hồn của mọi người dân Việt,

là nơi chứng kiến mọi sinh hoạt, lề thói và mọi thay đổi trong đời sống xã hội của làng quê Việt Nam qua bao thế kỷ Kiến trúc đình làng mang đậm dấu ấn văn hoá, độc đáo

và tiêu biểu cho kiến trúc điêu khắc Việt truyền thống Từ xưa đến nay, người dân Việt Nam vẫn thường gọi chung là đình chùa, nhưng trên thực tế, đình và chùa không cùng một ý thức văn hoá Chùa là nơi thờ Phật, ít nhiều có ảnh hưởng văn hoá Phật giáo đến

từ Ấn Độ, Trung Hoa; còn đình là của cộng đồng làng xã Việt Nam, là nơi để thờ Thành Hoàng làng và những người có công với dân, cứu nước, giữ nước hoặc giúp dân nghề nghiệp sinh sống Đình là biểu hiện sinh hoạt của người Việt Nam, nơi cân bằng phép tắc của cuộc sống cộng đồng, nơi khai diễn những nét tài năng, tư duy của dân làng Vào những ngày lễ, tết, dân làng lại thắp hương tế lễ cầu mong Thành Hoàng làng và trời đất cho mưa thuận, gió hòa, mùa màng bội thu Đây là lòng tri ân, trọng nghĩa, trọng tài, “uống nước nhớ nguồn” của người Việt Nam Tuy đình là của dân làng nhưng thần không hẳn là người của làng Vì người Việt Nam thừa hưởng nhiều tín ngưỡng cổ sơ, nguyên thuỷ, nên thờ và tôn kính rất nhiều vị thần như: thần núi, thần

Trang 10

nước (thần Tản Viên)…, ở Phù Ninh (Phú Thọ) thờ thần Đá Trắng, vùng đồng bằng thờ thần cá, thần rắn… Tất cả những tín ngưỡng ấy, các thế hệ dân Việt Nam tiếp nối tạo thành một nền văn hoá hỗn hợp, đa dạng, có mặt nhiều thành phần tôn giáo khiến cho đình trở thành một tập thể siêu thần, thành một sức mạnh vô hình, tạo một niềm tin, một niềm hy vọng, một sức mạnh vô hình của làng xã cộng đồng Việt Nam Có lẽ những đình cổ nhất nước ta vẫn là những ngôi đình mang kiến trúc theo hình chữ Nhất như: đình Tây Đằng, đình Lỗ Hạnh Riêng đình Lỗ Hạnh, nguyên xưa là chữ Nhất nhưng qua các đời sau tu bổ đã thêm hậu cung nên đình thành chữ Đinh Theo quan niệm kiến trúc, đình là một công trình kiến trúc công cộng, rộng mở chào đón bất kỳ người con nào của đất Việt Với ý nghĩa như thế, đình làng Việt Nam chính là nơi không phân biệt giàu sang nghèo hèn, là nơi thể hiện rõ nhất văn hoá hiện thực của đời sống nhân dân Mái cong của đình không giống bất cứ mái cong nào của vùng Đông Nam Á, kể cả Nhật, Trung Hoa và Thái Lan, vì góc đao của đình uốn cong và vút cao

do một hệ thống cấu trúc đặc biệt có tên gọi riêng la tâu đao lá mái, không do vôi vữa đắp thành Nhìn lại các đình Tây Đằng, Lỗ Hạnh, Cao Thương (Hà Bắc), Phù Lão, Chu Nguyên, đình Hương Lộc, Phùng Thượng, đình Thổ Tang, Ngọc Canh để thấy rằng, đình là một khối điêu khắc trong không gian, đầy chi tiết tinh tế, nhưng cũng đầy tính khoa học kiến trúc Nói về đường nét, đình là nơi hội tụ những mô típ trang trí tuyệt hảo, gồm nhiều xu hướng: hiện thực, cách điệu, cách điệu và đồ hoạ Sân đình là nơi tổ chức hội làng, trong hội làng dân làng thường diễn Hèm Theo từ điển Tiếng Việt, Hèm

có nghĩa là trò diễn lại sinh hoạt sự tích của vị thần thờ trong làng, những điều kiêng kỵ của thần… Việc Việt hoá, dân dã hoá vị “Thành Hoàng” bằng cách triều đình “tấn phong” cho các thần linh của thôn xã chức Thành Hoàng làng đã góp phần thúc đẩy ngôi đình dần chiếm địa vị trung tâm sinh hoạt trong xã hội nông thôn Việt Nam để tới nay đình được coi là biểu tượng quê hương Nhìn chung văn hoá đình Việt Nam có tính hoàn toàn độc lập của một cộng đồng xã hội biết tổng hợp dung hoà mọi nền văn hoá khác thành một nét văn hoá riêng nhằm phục vụ an ninh cho dân tộc mình, trong đó

Trang 11

yếu tố chủ yếu vẫn là thờ cúng những người có công với xã, người anh hùng dựng lập nước và bảo vệ đất nước

Từ bao đời nay, người Việt cũng coi cây đa như một biểu tượng của làng quê truyền thống Ý nghĩa biểu tượng đầu tiên của cây đa là sự trường tồn, sức sống dẻo dai Không phải ngẫu nhiên mà những bậc cao niên, những người đã có nhiều thành tựu ở một lĩnh vực nào đó thường được đồng nghiệp và xã hội coi là "cây đa, cây đề", biểu tượng cho sức làm việc quên mình, dẻo dai, cho sự tích lũy kiến thức phong phú Cũng với ý nghĩa trường tồn ấy, cây đa xuất hiện trong ca dao như một nhân chứng của thời gian, chứng kiến những sự đổi thay của con người, của đất trời, đôi khi

là cả một vòng đời người

Trǎm nǎm dầu lỗi hẹn hò Cây đa bến cũ con đò khác đưa

Cây đa cũ, bến đò xưa

Bộ hành có nghĩa nắng mưa cũng chờ Hầu như làng quê truyền thống ở Bắc Bộ nào cũng có những cây đa cổ thụ thường

ở đầu làng, cuối làng, giữa làng và ở bên cạnh các di tích Cuộc sống sinh hoạt của làng diễn ra sôi động xung quanh gốc đa Với người dân quê, gốc đa là nơi bình đẳng nhất, không có sự phân biệt ngôi thứ Gốc đa là nơi trẻ nhỏ nô đùa, thỏa thích nhặt búp, hái

lá, chơi những trò chơi dân gian Gốc đa cũng là nơi dân làng ngồi nghỉ chân sau những giờ lao động mệt nhọc, trước khi về làng hoặc đi khỏi làng Gốc đa còn là nơi hẹn hò của trai gái trong làng Không chỉ có vậy, cây đa làng Việt còn là biểu tượng tâm linh của con người Trong làng, cây đa có mặt ở nhiều vị trí khác nhau nhưng hầu như nó không vắng bóng ở các di tích, đặc biệt là đình chùa Tục ngữ có câu:

"Thần cây đa, ma cây gạo, cú cáo cây đề"

Hay:

"Cây thị có ma, cây đa có thần"

Trang 12

Cây đa xanh tốt tỏa bóng làm cho các di tích trở nên linh thiêng hơn, con người khi bước đến di tích cũng cảm thấy được thư thái hòa đồng hơn với thiên nhiên Cây đa được coi là nơi ngự trị của các thần linh dân dã và các linh hồn bơ vơ Cây đa nào càng già cỗi, càng xù xì, rậm rạp thì càng gắn bó với thần linh Gốc đa ở các di tích thường được dân chúng thắp hương chung để tỏ lòng tôn kính các vị thần linh dân dã hoặc cầu cho những linh hồn bơ vơ về nương nhờ lộc Phật không đi lang thang quấy nhiễu dân làng

Như vậy, cây đa luôn là biểu tượng đẹp với hầu hết các ý nghĩa chuẩn mực của biểu tượng: vừa hiện hữu, vừa tiềm ẩn, huyền bí, vừa mang hơi thở cuộc sống, vừa mang đậm yếu tố tâm linh Phải chǎng chính sự kết hợp này đã tạo nên biểu tượng cây

đa có sức sống bền lâu trong vǎn học dân gian, vǎn thơ bác học và trong tâm hồn mỗi con người Việt Nam

Ở những làng quê Việt Nam, đặc trưng với những cây đa, bến nước, con đò, hay với những cánh cổng làng đơn sơ cổ kính Mỗi cái cổng làng đều có một nét văn hoá riêng, tùy theo đặc điểm làng đó Có làng giàu, có làng khoa bảng, có làng nghề tất cả những cái hay cái đẹp đều được các vị túc nho viết thành câu đối khắc trước cổng Những cánh cổng ấy thường được gọi với cái tên làng, và tên làng được lấy theo đặc trưng của làng đó, hay một sự kiện, một di tích lịch sử … Ví dụ: làng lụa Vạn Phúc Ở mỗi làng thường chỉ để một hoặc hai lối ra vào và cổng làng thường được dựng ở đây

để làm ranh giới giữa các làng Đối với những người xa quê đã lâu, khi về quê hương, còn cách khoảng 2, 3km là đã có thể nhìn thấy vòm cây đa và biết rằng mình đã sắp sửa về đến làng Nhưng về tới gần hơn, qua cổng làng mới chính thức bước vào mảnh đất chôn rau cắt rốn của mình, và coi như đã về tới nhà mình vì người trong làng thường đối xử với nhau như trong một gia đình Cổng làng thường thấy nhiều ở các tỉnh Hà Bắc, Hà Tây, Nam Định, Hưng Yên, Thái Bình…, chủ yếu là những vùng trồng lúa và có văn hoá làng xã Đối với mỗi người dân Việt Nam, cổng làng đã trở nên rất thân thuộc Cổng làng thường là nơi hẹn hò của các đôi trai gái Và với mỗi người

Trang 13

con gái khi về làm dâu, bước qua cổng làng về nhà chồng, trở thành một thành viên trong cộng đồng dân cư của làng.Với niềm tin, suy nghĩ giữ làng tức là giữ nước, cổng làng là nơi đã chứng kiến biết bao thế hệ thanh niên đã không tiếc hi sinh than mình để gìn giữ cánh cổng làng Cánh cổng làng là bộ mặt những làng quê Bắc bộ ngày nay đã biến đổi nhiều trước làn sóng đô thị hóa ồ ạt Những cánh cổng làng có vẻ như không còn phù hợp với những con đường bê tông mở rộng Nhưng trong một góc tâm thức nào đó của mỗi người dân, cổng làng vẫn tồn tại như một biểu tượng thân thuộc và là đặc trưng của mỗi làng quê, làng nghề của miền đồng bằng bắc bộ Hơn nữa, cổng làng

là một trong những biểu tượng văn hoá, bản sắc văn hoá của làng quê ở châu thổ Bắc

bộ Việt Nam

Các làng xã ở vùng đồng bằng Nam Bộ khác hẳn so với các làng xã ở vùng đồng bằng Bắc Bộ Sự khác biệt cơ bản nhất đó là tính mở ở các làng Nam Bộ cao hơn rất nhiều Tính mở được thể hiện ở những điều sau đây:

✓ Làng không có lũy tre như là sự phân cách giữa làng này và làng khác nữa

✓ Làng không nhất thiết phải tồn tại mãi mãi, có làng được lập một cách nhanh chóng, nhưng cũng có làng tan rã nhanh chóng

✓ Giao thương buôn bán phát triển không còn bị gò bó ở tình trạng tự cung tự cấp

✓ Tính tình người dân Nam bộ cũng phóng khoáng hơn, dễ chấp nhận những ảnh hưởng từ bên ngoài

Chính vì những đặc điểm đó mà trong thời kỳ kinh tế thị trường, người dân ở các tỉnh miền Nam nhanh chóng thích nghi và phát triển kinh tế nhanh hơn các tỉnh miền Bắc

1.3 Thực trạng phát triển du lịch nông thôn ở Việt Nam

Ở nước ta hiện nay, khái niệm du lịch nông thôn vẫn chưa được nhắc đến trong các văn bản pháp lý mặc dù nước ta có tiềm năng lớn để phát triển du lịch nông thôn:

Trang 14

Với phong cảnh thiên nhiên đẹp, địa hình đa dạng gồm đồi, sông suối, biển đảo, hang động, hệ động, thực vật phong phú, vùng nông thôn với những làng quê cổ kính vùng Bắc Bộ, những nét văn hoá truyền thống đặc sắc, những vùng đất có lịch sử hình thành lâu đời, nơi lưu giữ nhiều di tích lịch sử và truyền thống văn hoá tập tục của người xưa, những cánh đồng bát ngát, phì nhiêu ở Nam Bộ…là những điều kiện để nước ta phát triển du lịch nông thôn

Người Việt Nam nhân hậu, thuỷ chung, yêu chuộng hoà bình và giàu lòng mến khách cùng với đôi bàn tay khéo léo, trí thông minh, nhạy bén và giàu lòng quả cảm đã làm nên những nét văn hoá truyền thống đặc sắc Việt Nam từ chính tâm hồn mộc mạc

ấy của mình

Một tiềm lực đáng kể ở nhiều vùng nông thôn là truyền thống làm hàng thủ công, như sản xuất đồ gốm sứ, hàng dệt, đồng, da, sơn mài, mây tre và nón… Các mặt hàng này tuy có tiềm năng phát triển nhưng chưa được quan tâm và đầu tư đúng mức

Du lịch đã được thiết lập như là một nguồn thu nhập và là công việc đáng kể ở một vài vùng nông thôn cụ thể Du lịch có tiềm năng mang lại lợi ích trên phạm vi rộng hơn nếu được phát triển một cách bền vững

Ở Việt Nam, du lịch nông thôn đã xuất hiện ở Sa-Pa (Lào Cai), Khánh Hoà, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ nhưng mới chỉ dưới dạng những hoạt động mang dáng dấp

✓ Du lịch phát triển, nhưng chưa tương xứng với tiềm năng vốn có của nó

Sự phát triển của du lịch đã tác động đến đời sống con người, thiên nhiên và môi trường ở nông thôn về cả hai hướng tích cực lẫn tiêu cực, mà phần nhiều là tiêu cực

Trang 15

✓ Phát triển du lịch chưa gắn kết với địa phương nên các tài nguyên thiên nhiên được ngành du lịch khai thác chưa hiệu quả và bền vững Trong khi đó, người nông dân ở nông thôn vẫn đứng bên lề các quá trình vận động của ngành du lịch, những hoạt động du lịch chỉ mới mang lợi cho Nhà nước và khu vực tự nhiên

✓ Chưa có sự chuẩn bị tốt về nhận thức cho cấp uỷ, chính quyền các cấp và người dân địa phương có tài nguyên du lịch nông thôn để họ sẵn sàng tham gia hoạt động này, từ đó giảm bớt được những tệ nạn thường gặp như chèo kéo khách, cung ứng sản phẩm và dịch vụ kém chất lượng, dần làm mất đi bản sắc văn hoá của địa phương

✓ Nông dân là những người đưa di sản sinh thái và văn hoá của mình tham gia hoạt động du lịch nông thôn, nhưng trong thực tế lại thu được rất ít lợi từ hoạt động này

✓ Nhân lực phục vụ du lịch vừa thừa, vừa thiếu Các công ty du lịch và khách sạn thiếu lực lượng hướng dẫn viên cho khách quốc tế giỏi nghiệp vụ và ngoại ngữ, nhưng lại thừa lao động phổ thông không qua đào tạo

✓ Kết cấu hạ tầng như hệ thống đường sá, cung cấp nước tưới, tiêu, cung cấp điện và thông tin của khu vực hạ tầng còn yếu kém

Khi tham gia các tour về nông thôn ở Việt Nam, ban đầu, nhiều du khách có ấn tượng tốt nhưng rất ít người có ý định quay trở lại lần thứ hai.Vì Một trong những điều khiến họ không muốn quay lại là tình trạng giao thông ở nước ta quá tệ Điển hình như,

từ TP Hồ Chí Minh xuống các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) chỉ có con đường độc đạo là Quốc lộ 1A nên chuyện kẹt xe, kẹt phà xảy ra thường xuyên khiến tốc độ của xe thực tế chỉ còn 30 - 40km/giờ Việc thiếu đường giao thông kết nối giữa các tỉnh làm cho khách phải đi lại quá nhiều lần trên cùng một tuyến đường, nên rất khó thu hút họ đến được các tỉnh xa mất cả ngày đường như Bạc Liêu, Cà Mau Ngoài đường bộ, không thể không nói tới giao thông đường thủy là thế mạnh của vùng sông nước Đồng bằng sông Cửu Long, nhưng tìm được chuyến tàu cao tốc chạy ổn định

Trang 16

cũng không phải dễ Ngoài đường bộ, đường thủy, chúng ta còn có đường hàng không nhưng đường hàng không thì chỉ có những chuyến bay nhỏ đến Cà Mau, Rạch Giá và đảo Phú Quốc, trong khi sân bay Cần Thơ (Trà Nóc) mới chuẩn bị đưa vào sử dụng

✓ Các tỉnh ở nước ta rất thiếu các tour riêng biệt, nhưng lại thừa những sản phẩm trùng lắp Ví du như một tuor du lịch nông thôn miền Tây Nam bộ, khách đến Tiền Giang đã vào thăm vườn, ngồi ăn trái cây hái sẵn, nghe đờn ca tài tử, thì sang Vĩnh Long, Cần Thơ hay đi Sóc Trăng cũng vẫn thấy các món này Cách làm đơn điệu, thiếu sức hấp dẫn và không có điểm nhấn khiến các tour du lịch nông thôn không thể thuyết phục khách du lịch ở lại lâu hơn

✓ Dịch vụ du lịch ở nông thôn vẫn còn ít lại không đạt tiêu chuẩn về chất lượng Cơ sở lưu trú ở các làng quê đa phần có chất lượng trung bình, không có các khu nghỉ dưỡng cao cấp nên ít khi đón được khách sang ở lâu, có rất ít các loại hình vui chơi giải trí đặc sắc

Có thể khẳng định, du lịch nông thôn phát triển chậm, chắc chắn không phải vì thiếu tài nguyên, cũng chưa hẳn vì thiếu tiền, mà là thiếu cách làm phù hợp với cái khách cần Lượng khách biết và đặt tuor du lịch nông thôn rất ít Một phần do chưa được phổ biến quảng cáo rộng rãi, phần khác do điều kiện của nước ta chưa đủ, dù là nước nông nghiệp nhiều tiềm năng

1.4 Giới thiệu một số tuor du lịch nông thôn đang được khai thác trên thị trường Việt Nam

✓ Tour 1 Hà Nội – Đường Lâm – Sơn Tây

Thời gian: 1 ngày

Phương tiện vận chuyển: xe ô tô

Lịch trình tham quan:

7h30: Sau khi ăn sáng, xe khởi hành đi Đường Lâm – làng Việt cổ

10h00: Đến Đường Lâm, du khách xuống xe và hành trình đi thăm Đường Lâm bao gồm: Thăm làng Cam Lâm – làng có hai vua, thăm làng cổ Mông Phụ, thăm cổng làng

Trang 17

có niên đại hơn 200 năm, thăm đình làng Mông Phụ với niên đại cổ nhất hơn 400 năm lịch sử đã từng chứng kiến những hào hùng, những thăng trầm của ngôi làng hai vua

Du khách đạp xe vòng quanh làng trên những con đường gạch nghe hướng dẫn viên giới thiệu về hai vị vua của làng

12h00: Du khách nghỉ ngơi, ăn trưa

14h00: Thăm quan đình thờ vua Phùng Hưng, mộ vua Ngô Quyền.Sau đó đoàn lên xe

về Hà Nội

✓ Tour 2 Một ngày ở làng rau Trà Quế

Thời gian: 1 ngày

7h30: Hướng dẫn viên đón quý khách tại điểm hẹn, đưa đến một hộ nông dân ở làng rau Trà Quế

8h00 – 11h00: Du khách tham quan vườn rau, cùng nông dân tưới nước, đi lấy rong ở đầm Trà Quế về bón cho rau

11h00 – 14h00: Du khách cùng gia đình làm cơm và dùng cơm trưa với các món ăn được chế biến từ rau trong vườn

14h00 – 17h00: Du khách học cách làm đất, gieo hạt giống và thu hoạch rau

17h00: Du khách tạm biệt gia đình, theo hướng dẫn viên trở về điểm hẹn

✓ Tuor 3 Một ngày làm nông dân

07h30: Xe đón Quý khách tại điểm hẹn, khởi hành đi Trang Trại Ba Vì 08h30: Tới Trang trại Đồng quê, Quý khách đi tham quan vườn trúc, khu chăn nuôi,

trồng trọt nhỏ của trang trại

10h00: Tham gia các hoạt động vui chơi giải trí đặc sắc dành cho người lớn, các em

nhỏ hoặc theo gia đình do hướng dẫn viên tổ chức

12h00: Quý khách ăn trưa tại nhà hàng Đồng quê và nghỉ ngơi tại trang trại

14h00: Quý khách đạp xe đạp /đi xe công nông hoặc lội bộ qua các cánh đồng lúa bậc

thang Quý khách tham gia vào hoạt động cấy lúa, tát gầu sòng, lội suối bắt cá; hoặc có thể tới trang trại rau sạch để trồng, hái và thưởng thức rau ngay tại vườn

Trang 18

16h30: Xe đưa Quý khách về điểm hẹn Kết thúc chuyến đi, chia tay và hẹn gặp lại

du lịch lành nghề nhất, những người hướng dẫn tốt nhất về công việc của chính mình Hơn nữa nhà người dân cũng là nơi lưu trú tuyệt vời nhất cho khách lưu trú qua đêm

Cư dân địa phương cũng là những người đầu bếp phục vụ cho khách những bữa ăn mang đặc trưng của quê hương mình, nhà mình Chính những công việc thường ngày

ấy sẽ giúp cho người dân địa phương tăng thêm thu nhập, nâng cao đời sống của chính mình, đồng thời góp phần vào phát triển kinh tế địa phương khi họ tham gia vào các chương trình du lịch nông thôn

Mặt khác khi muốn chương trình du lịch nông thôn được thực hiện dễ dàng hơn thì các công ty du lịch chính quyền địa phương, các doanh nghiệp sẽ bỏ vốn đầu tư nâng cao chất lượng cơ sở vật chất kĩ thuật tại các làng quê nơi diễn ra hoạt động du lịch nông thôn Chính điều này sẽ góp phần thay đổi bộ mặt nông thôn và tạo ra những bước phát triển mới

Đối với công ty du lịch đây cũng là loại hình du lịch mới có khả năng hấp dẫn du khách Nếu đầu tư phát triển, các công ty du lịch có thể tạo ra sự phong phú cho các sản phẩm du lịch của mình Một thị trường sẽ được mở ra để khai thác làm mới những hoạt động của công ty Đồng thời điều đó cũng giúp cho các công ty du lịch tạo ra dấu

Trang 19

ấn trên thị trường về khả năng của chính mình trong việc tổ chức những chương trình

du lịch nông thôn nghe có vẻ đơn giản nhưng lại khó lấy long du khách

Không chỉ mang lại những mặt tích cực cho cộng đồng địa phương và các công ty

du lịch, du lịch nông thôn còn thỏa mãn một lượng không nhỏ các du khách luôn muốn khám phá những nét văn hóa cổ truyền của Việt Nam Họ có thể được thẩm nhận sâu sắc hơn cuộc sống của con người sau lũy tre làng Đồng thời họ có thể trực tiếp tham gia vào công việc sản xuất của người nông dân Họ được thử công việc của một người gánh mạ, cấy lúa, gặt lúa kể cả là cày ruộng Họ có thể thử làm một người thợ thêu, chạm khắc đồ bạc, đục gỗ…Và sau những giờ làm việc căng thẳng được giải trí bằng những điệu chèo truyền thống thấm đẫm tình dân tộc, được ăn những món ăn tuy thanh đạm đơn giản nhưng mang dấu ấn của quê lúa thân thương Thoát khỏi những lo toan của cuộc sống hàng ngày, những công việc trí óc căng thẳng để tiếp xúc với một cuộc sống mới, làm những công việc chân tay mà du khách đã bỏ quên hay chưa từng làm Điều đó sẽ mang lại cho du khách những cảm giác khác lạ và thư giãn bên ngoài cuộc sống hối hả của họ

vì họ muốn nhìn thấy một nét văn hóa cũ mà họ đã biết, họ đã quen thuộc Đồng hóa văn hóa của mình với của du khách là người dân địa phương đang đánh mất dần đi sự thu hút hấp dẫn của chính mình Hơn nữa nó cũng làm mất dần những nét truyền thống của làng Việt, của văn hóa Việt của cả dân tộc Bởi vậy giữ gìn văn hóa dân tộc là điều cần thiết và quan trọng khi muốn phát triển du lịch tại nông thôn

Trang 20

Mặt khác khi thấy du lịch nông thôn là loại hình du lịch có khả năng thu hút và hấp dẫn khách du lịch, mang lại một nguồn lợi ích kinh tế lớn thì sẽ có rất nhiều sự cạnh tranh của các công ty du lịch Cạnh tranh là yếu tố dẫn đến sự phát triển trong nền kinh tế thị trường nhưng nó cũng mang lại nhiều tiêu cực trong môi trường nông thôn bình dị Sự dồn dập chạy đua trong việc khia thác tài nguyên cũng như trong việc thực hiện tuor sẽ tạo nên sự quá tải, ảnh hưởng không tốt đến môi trường cũng như đời sống của cư dân địa phương

Một lượng khách thiếu ý thức trong du lịch sẽ gây ra những ảnh hưởng tiêu cực không nhỏ đến cuộc sống nơi thôn quê Điều này có thể tạo nên ấn tượng không tốt với người dân cũng như chính quyền địa phương

Mỗi sự khám phá đều có 2 mặt tích cực và tiêu cực Điều quan trọng là phải nhận thấy những mặt tiêu cực để từ đó hạn chế và khắc phục đồng thời phát triển những mặt tích cực của hoạt động đó

Trang 21

Chương II Tiềm năng phát triển du lịch nông thôn ở tỉnh Thái Bình

2.1 Điều kiện chung để phát triển du lịch ở Thái Bình

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

2.1.1.1.Vị trí địa lý

Thái Bình là tỉnh ven biển thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng Phía Bắc giáp với tỉnh Hưng Yên, Hải Dương và Hải Phòng; phía Tây và Tây Nam giáp với tỉnh Nam Định và Hà Nam; phía Đông giáp với vịnh Bắc Bộ

Diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 1.546,54 km2 Toàn tỉnh gồm có 8 huyện, thành phố là: Hưng Hà, Đông Hưng, Quỳnh Phụ, Thái Thụy, Tiền Hải, Kiến Xương, Vũ Thư

và thành phố Thái Bình với tổng số 284 xã, phường, thị trấn

Thái Bình cách Thủ đô Hà Nội 110km, cảng Hải Phòng 70km, nằm trong vùng ảnh hưởng trực tiếp của tam giác tăng trưởng kinh tế và trung tâm du lịch lớn Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, gần một số tỉnh có tiềm năng du lịch như Ninh Bình, Nam Định, Hải Phòng, là cầu nối quan trọng giữa miền Trung với cảng Hải Phòng, cảng Cái Lân Với vị trí địa lý, Thái Bình có những thuận lợi trong giao lưu kinh tế và mở rộng hành lang liên kết kinh tế và du lịch với hầu hết các trung tâm kinh tế, du lịch trong toàn quốc và một số nước Đông Nam Á

2.1.1.2.Địa hình

Thái Bình là một tỉnh đồng bằng có địa hình tương đối bằng phẳng với độ dốc nhỏ hơn 1%; cao trình biến thiên phổ biến từ 1-2m so với mực nước biển, thấp dần từ bắc xuống đông nam

Thái Bình được bao bọc bởi một hệ thống sông, biển khép kín Với bờ biển dài trên 50 km và 4 sông lớn chảy qua địa phận của tỉnh: Phía bắc và đông bắc có sông Hóa dài 35,3 km, phía bắc và tây bắc có sông Luộc (phân lưu của sông Hồng) dài 53

km, phía tây và nam là đoạn hạ lưu của sông Hồng dài 67 km, sông Trà Lý (phân lưu cấp 1 của sông Hồng) chảy qua giữa tỉnh từ tây sang đông dài 65 km Đồng thời có 5 cửa sông lớn (Văn Úc, Diêm Điền, Ba Lạt, Trà Lý, Lân) Các sông này đều chịu ảnh

Trang 22

hưởng của chế độ thủy triều, mùa hè mức nước dâng nhanh, lưu lượng lớn, hàm lượng phù sa cao, mùa đông lưu lượng giảm nhiều, lượng phù sa không đáng kể

2.1.1.3.Khí hậu

Thái Bình chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa Nhiệt độ trung bình năm khoảng 23ºC- 24ºC Nên mùa đông thường ấm hơn so với các tỉnh nằm sâu trong đất liền Mùa hè nóng nhưng có gió biển mát mẻ Thái Bình có nhiều bão, lũ lụt và một

số hiện tượng thời tiết đặc biệt làm ảnh hưởng không tốt tới nhiều hoạt động du lịch 2.1.1.4.Dân cư

Thái Bình là tỉnh đông dân cư, nhân dân Thái Bình cần cù, khéo tay, chất phác và mến khách Trong những năm qua kinh tế xã hội được ổn định và phát triển, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân được nâng cao, nhu cầu nghỉ ngơi, du lịch, bồi dưỡng sức khoẻ tinh thần của người dân càng được thay đổi Điều đó được thể hiện qua số lượng khách du lịch nội tỉnh tăng trên 10%/năm, đây là lợi thế quan trọng để ngành du lịch Thái Bình phát triển

2.1.2.Điều kiện kinh tế - xã hội

Cơ sở vật chất phục vụ phát triển du lịch được đầu tư nâng cấp ngày càng hoàn thiện Dự án xây dựng cơ sở hạ tầng Khu du lịch Đồng Châu với tổng số vốn trên 50 tỷ đồng, xây dựng đường và phục hồi các di sản thuộc Khu di tích lịch sử các Vua Trần tại Hưng Hà trên 70 tỷ đồng đã và đang được triển khai, 3 khách sạn lớn từ 3 - 4 sao đang được nâng cấp và xây dựng mới, hơn 20 khách sạn cỡ nhỏ và vừa với gần 600

phòng tiêu chuẩn đủ sức phục vụ trên 1.000 lượt khách/ngày Trên địa bàn Thái

Bình đã hình thành hệ thống cơ sở lưu trú du lịch gồm 57 khách sạn, nhà nghỉ với tổng số 851 phòng nghỉ, trong đó có 210 phòng loại 1 đạt tiêu chuẩn đón khách quốc tế Các khách sạn, nhà nghỉ đã được đầu tư các trang thiết bị hiện

đại, tiện nghi sang trọng

Hệ thống đường 10 đã hoàn thành, đường 39 đang được nâng cấp Tỉnh cũng đã chỉ đạo chuẩn bị khởi công một số dự án cơ sở hạ tầng giao thông để thu hút vốn đầu

tư như: đường và cầu nối Thái Bình - Hà Nam với đường cao tốc cầu Giẽ - Ninh Bình,

Trang 23

có vốn đầu tư trên 4.000 tỷ đồng; đường 39B từ thị trấn Thanh Nê đến thị trấn Diêm Điền, vốn đầu tư trên 2.200 tỷ đồng; đường vành đai phía Nam Thành phố Thái Bình, vốn đầu tư trên 1.000 tỷ đồng…

Một số cầu đã được xây dựng như cầu Triều Dương nối với Hưng Yên, cầu Tân

Đệ nối với Nam Định, hệ thống đường nông thôn đang phát triển là điều kiện thuận lợi cho giao lưu kinh tế, văn hoá xã hội, du lịch giữa Thái Bình với các tỉnh bạn

Thái Bình là một tỉnh nông nghiệp với gần 90% dân số ở các vùng nông thôn và hơn 70% lao động nông nghiệp Mặc dù diện tích đất trồng lúa giảm, nhiều dịch bệnh lúa mới xuất hiện, nhưng năm qua lại là năm nông nghiệp Thái Bình lập được nhiều kỷ lục: là năm đầu tiên được mùa lớn nhất từ trước đến nay với năng suất lúa cả 2 vụ đạt 132,35 tạ/ha, cao nhất từ trước đến nay và tốc độ tăng trưởng cũng đạt 6%, cao nhất cả nước, là lá cờ đầu về sản xuất nông nghiệp trong toàn quốc Thái Bình đang phấn đấu xây dựng thương hiệu từ “quê hương 5 tấn” trong thời đánh Mỹ thành “quê hương 15 tấn” trong thời kỳ hội nhập

Ban lãnh đạo tỉnh Thái Bình đang thực hiện chính sách xây dựng mô hình nông thôn mới, tạo ra đời sống mới cho người nông dân

Không chỉ có những bứt phá trong phát triển kinh tế, trong lĩnh vực văn hóa xã hội, Thái Bình cũng đã tạo được những dấu ấn đặc biệt: lần đầu tiên tỉnh tổ chức thành công Lễ hội Văn hóa Đồng bằng sông Hồng, quy tụ về đây 13 tỉnh đồng bằng Bắc Bộ Với truyền thống mến khách, người dân quê lúa đã để lại những thiện cảm lớn đối với các tỉnh bạn Song, điều quan trọng hơn là Lễ hội đã khơi dậy những tinh hoa văn hóa, truyền thống hào hùng của miền đồng bằng châu thổ sông Hồng

2.2 Thế mạnh phát triển du lịch nông thôn ở Thái Bình

2.2.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên

Đất đai Thái Bình phì nhiêu màu mỡ, nổi tiếng “bờ xôi ruộng mật” do được bồi tụ bởi hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình Hệ thống các công trình thuỷ lợi tưới tiêu

Trang 24

thuận lợi, góp phần làm nên cánh đồng 14-15 tấn/ha và đang thực hiện chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp để xây dựng cánh đồng 50 triệu đồng/ha trở lên

Tổng diện tích tự nhiên là 153.596 ha Trong đó: Diện tích cây hàng năm là 94.187 ha; diện tích ao hồ đã đưa vào sử dụng là 6.018 ha Hầu hết đất đai đã được cải tạo hàng năm có thể cấy trồng được 3-4 vụ, diện tích có khả năng làm vụ đông khoảng 40.000 ha

Ngoài diện tích cấy lúa, đất đai Thái Bình rất thích hợp cho các loại cây: Cây thực phẩm (khoai tây, dưa chuột, sa lát, hành, tỏi, lạc, đậu tương, ớt xuất khẩu), cây công nghiệp ngắn ngày (cây đay, cây dâu, cây cói), cây ăn quả nhiệt đới (cam, táo, ổi bo, vải thiều, nhãn, chuối), trồng hoa, cây cảnh… Đến với Thái Bình không ai là không biết những vườn cây cảnh, cây ăn quả rộng hàng chục hécta tại xã Bách Thuận, xã Hoàng Diệu Đây là một lợi thế của Thái Bình để phát triển du lịch nông thôn

Thái Bình có triền cỏ ven đê, ven sông và hệ thống kênh mương ao hồ rộng khắp điều kiện để phát triển chăn nuôi trâu, bò, bò sữa, lợn, gà, vịt, cá…

2.2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn

Du khách tham gia du lịch nông thôn không chỉ được chiêm ngưỡng những nét đặc sắc trong cuộc sống đời thường, cảnh quan thiên nhiên phong phú, môi trường trong lành, khí hậu mát mẻ, làm quen với những người dân chất phác, hiền hoà mà họ còn được thực tế khi tham gia cuộc sống sinh hoạt thường ngày cũng như lao động sản xuất trực tiếp cùng người dân bản địa Thái Bình có tiềm năng lớn trong việc phát triển

du lịch nông thôn đặc biệt là du lịch làng xã Nhiều làng xóm còn giữ được nét quê đặc trưng của nền văn minh lúa nước đồng bằng sông Hồng với cây đa, giếng nước, sân đình

2.2.2.1 Các làng nghề truyền thống

Thái Bình là địa phương thu hút khách du lịch bởi có những làng nghề nổi tiếng

và có truyền thống lâu đời như: làng chạm bạc Đồng Xâm, làng dệt Phương La, làng thêu Minh Lãng, làng đúc đồng An Lộng

Trang 25

✓ Nghề chạm bạc Đồng Xâm

Làng chạm bạc Đồng Xâm nằm ở phía Bắc của huyện Kiến Xương thuộc xã Hồng Thái Ðồng Xâm với những sản phẩm vàng bạc tuyệt mỹ, có một không hai, nổi tiếng và lâu đời ở Việt Nam

Nghề chạm bạc Ðồng Xâm đã tồn tại gần 400 năm nay Buổi đầu dân làng chỉ làm nghề hàn đồng, gò thùng chậu, đánh dao kéo, chữa khoá, làm quai và vòi ấm tích, điếu bát , về sau mới làm đồ kim hoàn, trong đó chuyên sâu về việc chạm bạc Cũng như nhiều nghề thủ công cao cấp khác như đúc đồng, luyện kim , nghề kim hoàn có kỹ thuật hết sức phức tạp nhưng mang lại thu nhập cao cho người thợ nên suốt mấy trăm năm người Ðồng Xâm luôn giữ bí mật nghề Ðến nay, kỹ thuật này không còn là độc quyền của thợ Ðồng Xâm nữa, nhưng một số thủ pháp kỹ thuật và nghệ thuật tinh xảo nhất vẫn được giữ bí truyền Làng chạm bạc xưa đã qui định chặt chẽ trong hương ước của làng rằng: người nào đem bí quyết nghề chạm bạc của làng truyền dạy cho người làng khác, hay làm đồ giả để lừa người khác, gây sự bất tín thì phải phạt tiền thật nặng, hoặc đem đánh đòn trước nhà thờ Tổ, hoặc phải xoá tên trong làng

Các hàng chạm bạc Ðồng Xâm khác hẳn và nổi trội so với hàng bạc của các nơi khác về hình khối, dáng vẻ sản phẩm, về thủ pháp xử lý sáng-tối nhờ tận dụng đặc tính phản quang của chất liệu bạc, nhất là ở các đồ án trang trí của Đồng Xâm tinh vi mà cân đối, lộng lẫy mà nổi rõ chủ đề chính Ðặc trưng của sản phẩm Ðồng Xâm là sự điêu luyện, tinh tế và hoàn hảo tới mức tối đa Có thể nói rằng tài năng và tính cẩn trọng của nghệ nhân bạc Ðồng Xâm có thể đáp ứng được mọi yêu cầu về đồ chạm bạc của những khách hàng khó tính và am tường nghệ thuật nhất Suốt những năm kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954), nghề chạm bạc của làng bị đình đốn Sau ngày hoà bình lập lại, từ năm 1955 trở lại đây, sản xuất đồ vàng bạc được phục hồi và phát triển Nhưng các sản phẩm của thời kỳ bao cấp nhìn chung ít sáng tạo, nhỏ lẻ và khá đơn điệu Phải đợi đến thời kỳ đổi mới, mấy năm nay, người thợ chạm bạc mới thực sự được tự làm, tự kinh doanh theo kiểu các doanh nghiệp nhỏ, qui mô gia đình,

Trang 26

được trực tiếp xuất khẩu Vận hội mới đang quay trở lại với người Ðồng Xâm và nghề chạm bạc Thợ Ðồng Xâm hiện nay phần lớn vẫn làm nghề tại làng và nhờ nghề chạm bạc mà nhiều gia đình trong làng trở nên giàu có Ở môi trường nào cũng vậy, từ xa xưa đến nay, thợ bạc Ðồng Xâm luôn lấy chữ Tín làm trọng Họ giữ phẩm chất, lương tâm của người thợ và tinh hoa kỹ thuật nghề nghiệp của đất nước quê hương Vì vậy, sản phẩm của họ vẫn giữ được niềm tin của khách hàng ở khắp mọi nơi

✓ Làng dệt Phương la

Nghề dệt có ở làng Phương La, xã Thái Phương, huyện Hưng Hà từ nhiều đời nay, làng còn có tên khác là làng Mẹo nổi tiếng khắp cả nước Nghề dệt của làng Mẹo tuy có từ lâu đời nhưng mới bắt đầu khởi sắc từ thập niên 80 Khi đó mặt hàng chính của làng là vải sa tanh, đũi, hàng làm ra đến đâu tiêu thụ hết đến đó Những năm gần đây, mặt hàng chủ yếu lại là khăn vì có sức tiêu thụ lớn nên 90% máy dệt của làng tập trung vào sản xuất loại hàng này Ngoài ra, làng Mẹo còn dệt lụa tơ tằm, dệt thổ cẩm và đũi Ngày xưa, làng Mẹo có những bãi dâu xanh tốt nằm bên cạnh con sông Hồng Vào thời nhà Trần, người dân nơi đây từng dệt lụa tơ tằm để tiến vào hoàng cung Công cụ dệt là khung con phượng, sản phẩm làm hoàn toàn bằng thủ công Trải qua nhiều thế

kỷ, giờ khung dệt được cải tiến nhiều Một số bộ phận bằng gỗ, độ bền thấp nay được thay thế bằng sắt, nhôm Nhưng cuộc “cách mạng” lớn nhất ở làng Mẹo chính là việc thay sức người bằng động cơ điện Từ đây, người thợ không phải dùng chân để quay khung dệt Nhờ có động cơ điện mà năng suất tăng gấp nhiều lần giúp cho nghề dệt ở Phương La ngày càng phát triển

Trang 27

Theo các bậc cao niên trong làng, nghề đúc đồng ở An Lộng vốn được du nhập từ Thanh Hoá từ cuối thế kỷ XIX Đời nọ nối tiếp đời kia phát triển mở rộng thành làng nghề Những năm 50, 60 của thế kỷ trước, An Lộng từng có tới trên 100 cơ sở làm nghề đúc đồng Quy trình đúc đồng cầu kỳ và phức tạp vô cùng Trước hết phải chọn đất làm khuôn Mà đất để làm khuôn thì chỉ đất ở vùng này mới đảm bảo cho ra lò những chiếc lư đạt tiêu chuẩn: nước da lư bóng, hoa văn sắc, gọn, những con vật như Long, Ly, Quy, Phụng trông phải thật oai nghiêm, hùng dũng Sau khi mang về, đất được xay nhuyễn, lọc bằng túi rồi đem ra phơi Kế tiếp, lại phơi trộn đất với tro trấu, pha nước sền sệt, đợi cho đất quyện lại, lúc đó mới làm khuôn Tuỳ ý đồ, kinh nghiệm cũng như sự khéo léo của người thợ mà người ta sẽ nặn theo khuôn mẫu việc cuối cùng trong khâu làm khuôn là người thợ phải đắp thêm một lớp đất bên ngoài, bao phủ lên tất cả phần sáp Khi khuôn hoàn thành, phơi chừng một đến hai nắng gắt mới đưa vào lò nung

✓ Làng thêu Minh Lãng

Làng thêu Minh Lãng thuộc huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình Thời kỳ Pháp thuộc nghề thêu của làng chỉ chủ yếu là sản xuất ra các sản phẩm phục vụ nhu cầu của nhân dân trong nước Những năm gần đây xã Minh Lãng nổi lên như một điểm sáng về sản xuất kinh doanh của thời kỳ đổi mới Ngoài hai hợp tác xã thêu chuyên nghiệp với hơn

800 lao động còn có một hợp tác xã nông nghiệp có kiêm cả nghề thêu với trên 1.500 lao động Với nỗ lực của chính mình, những người thợ thêu Minh Lãng đã được đền đáp xứng đáng bởi nhiều khách hàng từ Châu Âu, Châu Á tìm đến ký hợp đồng ngày càng nhiều Đặc biệt với các khách hàng khó tính như Nhật Bản, Hàn Quốc thì thêu Minh Lãng là một sản phẩm được ưa chuộng bởi tính mỹ thuật cao Nghề thêu Minh Lãng đang từng bước hội nhập và phát triển với những điều kiện và định hướng phát triển đất nước chắc chắn nghề thêu Minh Lãng ngày càng có bước phát triển hơn nữa

✓ Làng vườn Bách Thuận

Trang 28

Làng Bách Thuận thuộc huyện Vũ Thư nằm cách Thành phố Thái Bình 10km theo hướng cầu Tân Đệ đi Nam Định Đây là một làng vườn trù phú, rìa làng là bãi phù

sa nơi trồng dâu nuôi tằm Trong làng là những vườn cây ăn quả, cây cảnh

Đến với Bách Thuận, du khách như lạc vào công viên thu nhỏ với đủ các gam màu đậm, nhạt dọc theo hai bên đường làng là màu xanh của cây hoè, cây táo Thiên nhiên ưu đãi cho Bách Thuận phát triển nghề vườn truyền thống, ở đây có đủ các loại hoa quả bốn mùa: táo, ổi, cam, chanh, hồng xiêm, roi, chuối; bên cạnh những vườn cây

ăn quả là những vườn cây cảnh, cây thế Mỗi loại cây cảnh đều mang một dáng, một nét riêng với những tên gọi khác nhau tuỳ theo sự uốn tỉa của chủ nhân của nó Du khách trong và ngoài nước rất thích thú với cảnh quan, môi trường sinh thái ở làng vườn Bách Thuận này Hiện nay, 100% các hộ gia đình trong xã đều tham gia trồng hoa và cây cảnh với tổng diện tích trên 200 ha (chiếm trên 40% diện tích đất canh tác toàn xã) Cây cảnh Bách Thuận đã có mặt khắp trong ngoài tỉnh, giá cả rất đa dạng, từ vài trăm nghìn đến vài chục triệu đồng/cây, tuỳ thuộc vào thế và độ tuổi, xấu đẹp của cây Trồng cây cảnh trở thành nghề chính của các hộ gia đình trong xã Với lợi thế về

vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, lại có nghề trồng hoa và cây cảnh phát triển, năm 2002, Bách Thuận chính thức được công nhận là khu du lịch làng vườn của tỉnh Thái Bình,

du khách đến thăm làng vườn ngày một tăng Bách Thuận đang trên đường đổi mới, không lâu nữa sẽ trở thành vùng nông thôn trù phú, điểm du lịch làng vườn hấp dẫn nhất tỉnh Thái Bình

✓ Làng nghề dệt đũi Nam Cao

Cách huyện lỵ Kiến Xương không xa, Nam Cao nổi lên như một điển hình về phát triển làng nghề của tỉnh Thái Bình Người già nhất làng cũng không xác định được nghề có từ khi nào Chỉ biết rằng nghề dệt đũi đã làm thay da đổi thịt của mảnh đất này Làng quê ở đây sung túc hơn rất nhiều những làng quê khác Nhiều năm trước đây nghề nuôi tằm, kéo tơ và dệt đũi đã sớm về gắn bó với đất này Lúc đầu vải đũi được dùng để may thành quần áo tiêu thụ trong nước cho các nhu cầu của nhân dân và dùng

Trang 29

trong các lễ hội Sau này vải đũi đã được xuất khẩu đi nhiều nước trên thế giới Đến thời kỳ Pháp thuộc, vải đũi Tuýt So đã được xuất khẩu sang Pháp với số lượng lớn Đến những năm 80 của thế kỷ trước, đũi Nam Cao đã nổi đình nổi đám, mỗi năm tiêu thụ 4050 nghìn mét vuông Khi thị trường Đông Âu mất đi, đũi Nam Cao cũng ắng lại Song đũi Nam Cao đã nhanh hơn các sản phẩm khác, kịp thời chuyển hướng sang thị trường Lào, Campuchia và các nước Tây Á Nghề dệt đũi lại phát triển và còn có sức mạnh hơn xưa, vươn ra toàn xã Nam Cao, tới cả các xã lân cận như Lê Lợi, Đình Phùng, Quốc Tuấn Đũi Nam Cao đã trở thành hàng độc nhất vô nhị trong làng dệt Việt Nam

Về Nam Cao hôm nay, chưa qua đất Bình Minh đã có thể cảm nhận thấy làng đũi

ở rất gần Nghề dệt đũi với trung tâm là xã Nam Cao, giờ đã lan tỏa ra 15 xã vệ tinh lân cận Nghề dệt đũi đã có hơn 2.700 khung dệt, tạo việc làm cho gần 10.000 lao động ở các xã Các khung dệt thủ công này hầu hết đã được cơ giới hóa, điện khí hóa vừa giảm sức người lại cho năng suất cao hơn Trong làng dệt đã hình thành 13 doanh nghiệp tư nhân, 30 tổ hợp dệt và 780 hộ cá thể chuyên dệt Các khâu cung ứng nguyên liệu, tiêu thụ sản phẩm đều đã có những doanh nghiệp chuyên lo Thợ dệt chỉ cần tăng năng suất, đảm bảo chất lượng là có thu nhập 500-800 nghìn đồng/người/tháng Ngày nay, người dân Nam Cao vẫn không ngừng cố gắng để đưa nghề dệt đũi Nam Cao đi xa hơn, nhiều hơn và không chỉ ở Lào, Thái Lan, Tây Á mà cả ở Đông Á, Châu Âu

Trang 30

đây có di chỉ khảo cổ mộ các vua Trần (xã Tiến Đức); khu lăng mộ thái su Trần Thủ

Độ, đình Khuốc, đình Ngừ thờ thái sư, mộ và đền thờ Linh từ quốc mẫu Trần Thị Dung (xã Liên Hiệp); Tam đường – là nơi lưu giữ hài cốt của các tổ tiên triều Trần như: Thuỷ

tổ Trần Kinh, Thái tổ Trần Hấp, Nguyên tổ Trần Lý, Thái thượng hoàng Trần Thừa… Các vị vua nhà Trần như Trần Thánh Tông, Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông cùng các hoàng hậu sau khi qua đời đều được quy về hợp tang tại các lăng mộ có tên Thọ lăng, Chiêu lăng, Dự lăng, Quy Đức lăng… Cùng với lăng mộ, nhà Trần còn cho xây dựng các cung điện như điện Tịnh Cương, điện Hưng Khánh, điện Thiên An, điện Diên Hiền

✓ Chùa Keo

Chùa Keo thuộc xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình là một trong những ngôi cổ tự nổi tiếng bậc nhất Việt Nam Từ thành phố Nam Định, qua cầu Tân Đệ rẽ phải, theo đê sông Hồng, đi khoảng 10km là đến chùa Nằm ở chân đê sông Hồng giữa vùng đồng bằng, chùa Keo với gác chuông như một hoa sen vươn lên giữa biển lúa xanh rờn Chùa ban đầu có tên là Nghiêm Quang, được Không Lộ Thiền sư xây dựng

từ năm 1067 Sau khi Không Lộ Thiền sư qua đời, chùa Nghiêm Quang được đổi tên là Thần Quang Tự

Chùa có quy mô kiến trúc rộng lớn trên một khu đất khoảng 58.000m2 Hiện nay toàn bộ kiến chúc của chùa còn lại 17 công trình gồm 128 gian xây dựng theo kiểu “nội công ngoại quốc” Từ cột cờ bằng gỗ chò thẳng tắp cao 25m ở ngoài cùng, đi qua một sân lát đá, khách sẽ đến tam quan ngoại, hồ sen, tam quan nội với bộ cánh cửa chạm rồng chầu (thế kỷ 16) Điện Phật được bài trí tôn nghiêm Sau điện Phật có đền thờ Thiền sư Không Lộ Công trình kiến trúc nổi tiếng nhất của chùa là gác chuông Gác chuông chùa Keo là một công trình nghệ thuật bằng gỗ độc đáo tiêu biểu cho kiến trúc

cổ Việt Nam thời kỳ Hậu Lê Được xây dựng trên một nền gạch vuông vắn, gác chuông cao 11,04m, có 3 tầng mái, kết cấu bằng những con sơn chồng lên nhau Tầng một có treo một khánh đá dài 1,20m; tầng hai có quả chuông đồng cao 1,30m đường

Trang 31

kính 1m đúc vào thời Lê Hy Tông năm 1688; tầng ba và tầng thượng treo chuông nhỏ cao 0,62m đường kính 0,69m đúc năm 1796 Đến thăm chùa, du khách có thể nhìn thấy những đồ thờ quý giá tương truyền là đồ dùng của Thiền sư Không Lộ như bộ tràng hạt bằng ngà, một bình vôi to và ba vỏ ốc long lánh như dát vàng mà người ta kể lại rằng

do chính Không Lộ nhặt được thưở còn làm nghề đánh cá và giữ làm chén uống nước trong những năm tháng tu hành

2.2.2.3 Nghệ thuật dân gian

✓ Nghệ thuật chèo

Thái Bình không chỉ nổi tiếng là quê hương của “Chị Hai năm tấn” mà từ xưa tới nay Thái Bình vẫn được nhắc tới là cái “nôi chèo”, “đất chèo” Hát chèo đã trở thành nghệ thuật đặc sắc ở Thái Bình

Thái Bình là một tỉnh đồng bằng sông nước với môi trường sinh thái tự nhiên thuận lợi cho nghệ thuật chèo nảy mầm và phát triển Cùng với quá trình mở đất lập làng đã tạo cho cư dân Thái Bình có điều kiện để tiếp thu học hỏi những tinh hoa văn hoá mang tính tự nguyện hoặc bắt buộc, nhưng vẫn giữ được “bản sắc riêng đậm đà”

Đó là văn hoá của vùng đồng bằng Bắc Bộ và phụ cận, cùng với các đợt di dân từ các miền khác tới Thái Bình, mà đặc biệt là từ Thanh Hoá và ngược lại Đó là sự học hỏi tinh hoa văn hoá Trung Quốc trong suốt thời kì Bắc thuộc và nhiều thập kỷ sau Tiếp đến là sân khấu Pháp thế kỷ 20, và nhiều sân khấu hiện đại sau cách mạng tháng Tám… được bổ sung, chắt lọc, và học hỏi nghiêm túc của bao thế hệ nghệ nhân với ý thức giữ gìn và làm giàu thêm bản sắc văn hoá địa phương Sở dĩ chèo Thái bình ra đời

và tồn tại đến ngày nay trước hết vì nó dựa trên nền tảng của những trò diễn xướng dân gian từ xa xưa và của dân ca dân vũ đồng bằng Bắc Bộ Những trò diễn, điệu múa, lời

ca, lời ru… hiện còn thấy được ở hội làng Thái Bình có quan hệ đến sự ra đời và tồn tại của chèo, đến hát chèo, múa chèo Để nghệ thuật chèo phát triển và lưu giữ tới ngày nay là cả một sự nỗ lực không ngừng của bao thế hệ nghệ nhân chèo truyền đời “giữ lửa” tạo nên nét riêng có của chèo Thái Bình Âm nhạc chèo nói chung và âm nhạc

Trang 32

chèo Thái Bình nói riêng là sự kết tinh từ chất liệu những điệu hát, nói, hát bỏ bộ trong sinh hoạt nghệ thuật dân gian vùng châu thổ sông Hồng: Xoan ghẹo, chèo tàu tương, hát giặm… bằng cách thức bẻ nắn làn điệu, tức là theo nội dung thơ rồi dựa vào những

âm điệu sẵn có để tạo nên những khúc hát mới

Những nét nghệ thuật riêng hay có người gọi là phong cách chèo Thái Bình có lẽ

là những sáng tạo về quy cách của phần đệm Cùng một làn điệu như nhau nhưng phong cách chèo Thái Bình hát mộc mạc giản dị hơn, phụ âm hư tự và nguyên âm luôn cân bằng âm lượng Cùng một tiết tấu nhưng chèo Thái Bình rộn rã, xáo động hơn Lối hát Thái Bình không đi sâu vào nhịp phách phức tạp, không nhả chữ theo lối khôn ngoan nhà nghề, không làm lẫn phụ âm

✓ Nghệ thuật múa rối nước

Thái Bình cũng là quê hương của nghệ thuật múa rối nước Múa rối nước xuất hiện từ thời Lý (1010 - 1225), là một nghệ thuật kết hợp tinh vi giữa các nghệ nhân, quân rối, buồng trò… Múa rối nước Thái Bình có 7 phường hội cổ truyền ở các làng Nguyễn, Tăng, Tuộc, Đống, Kỳ Hội thuộc huyện Đông Hưng Con rối được làm bằng

gỗ mít, bên ngoài phủ sơn để chống thấm nước Mỗi con rối là một tác phẩm điêu khắc dân gian, mỗi con một vẻ thể hiện một tính cách Nhân vật tiêu biểu nhất là Chú Tễu, thân hình được cải trang bụ bẫm với nụ cười hóm hỉnh, lạc quan Một buổi biểu diễn rối nước bắt đầu bằng màn bắn pháo hoa rồi Chú Tễu ra giới thiệu Với bộ mặt nghịch ngợm, trang phục ngộ nghĩnh, hai tay chỉ trỏ, miẹng hát lời dọn đám Chú Tễu sẽ mang lại tràng cười sảng khoái ngay từ phút đầu Nghệ nhân khi biểu diễn phải ngâm mình dưới nước để điều khiển con rối theo các diễn biến của vở diễn Nhạc đệm cho cuộc diễn là bộ gõ gồm trống, mõ, thanh la

2.2.2.4 Lễ hội truyền thống

Ở Thái Bình có rất nhiều lễ hội truyền thống có sức thu hút đặc biệt đối với du khách thập phương

✓ Lễ hội ông Đùng – bà Đà

Trang 33

Làng Quang Lang xưa thuộc huyện Thụy Vân, phủ Thái Bình, trấn Sơn Nam Hạ thời Trần Ngày nay, là một làng thuộc xã Thụy Hải, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình- nơi nổi tiếng với nhiều lễ hội đặc sắc như: Hội rước nước (ngày 25 tháng giêng), Hội tế Thành hoàng (ngày 27-7 âm lịch), đặc biệt là hội ông Đùng, bà Đà được tổ chức vào ngày 14- 4 âm lịch hàng năm - đúng vào mùa hoa Đùng nở rộ Hội được tổ chức tại một ngôi đền thờ bà chúa Muối - có tên thật là Nguyệt Ánh Theo truyền thuyết kể lại rằng: Một hôm, khi chở muối trên một chuyến đò, Nguyệt Ánh gặp thuyền của vua Trần Anh Tông trên sông Hồng Mấy người chèo thuyền khát nước, liền gọi đò cô bán muối đến và xin nước uống Nàng e lệ sượng sùng, khép nép, nước cầm tay, tà áo che mặt Chợt thấy đôi bàn tay xinh xắn của nàng, vua đón sang thuyền mình và sau đó lập làm vợ ba Sống trong cung điện nhưng nàng không nguôi nhớ về quê nhà, nhà vua đành phải đồng ý xuất lụa là, vàng bạc rồi cho quân lính đưa Nguyệt Ánh về quê Không lâu, bà lâm bệnh nặng, rồi qua đời vào ngày 14/4 Nhà vua được tin thương tiếc

đã sắc phong cho bà làm Phúc thần, người dân làng Quang Lang biết ơn bà lập đền thờ

để con cháu đời đời tưởng nhớ công lao của bà - đó là đền thờ bà chúa Muối ngày nay

Đã bao đời nay, hàng năm cứ đúng vào ngày 14/4 lại diễn ra lễ hội ông Đùng, bà Đà với điệu múa ông Đùng, bà Đà mang đậm bản sắc văn hóa địa phương nhằm cầu mong

sự sinh sôi, thịnh vượng Theo các vị lão làng, hình ông Đùng, bà Đà được đan bằng tre mỏng, đan theo kiểu mắt cáo Thân hình cao tới 1,5m - 2m, hình chóp nón, đường kính phía dưới rộng, đủ cho một người chui lọt vào Sáng sớm ngày 14/4 âm lịch, các thôn trong làng mang các hình nộm ông Đùng, bà Đà vào Đền thờ bà chúa Muối để tiến hành các nghi thức tế lễ một cách nghiêm trang thành kính Tục chính của lễ hội là múa Đùng được diễn ra vào lúc nhập nhoạng tối cùng ngày Trong khi múa người ta xướng vang những câu tụng ca công đức của bà chúa Muối như: "Lạy chúa! Muối của chúa năm nay được mùa lắm! Lạy chúa, lạy chúa…"

Dưới góc nhìn văn hoá dân gian, Lễ hội ông Đùng, bà Đà là một mô típ quen thuộc trong các lễ hội dân gian của người Việt, giống như hội Trám (Phú Thọ), hội

Ngày đăng: 05/07/2022, 16:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  du  lịch  nông  nghiệp  rất  được - Phát triển du lịch nông thôn ở tỉnh thái bình
nh du lịch nông nghiệp rất được (Trang 51)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w