Luật giáo dục năm 2019 ban hành ngày 14/6/2019 - Điều 30 khoản 3 nêu rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc
Trang 1
S¸NG KIÕN KINH NGHIÖM
VẬN DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY VÀO GIẢNG DẠY MỤC 2,
PHẦN “PHƯƠNG HƯỚNG CƠ BẢN CỦA CHÍNH SÁCH
TÀI NGUYÊN VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG” - BÀI 12: CHÍNH SÁCH TÀI NGUYÊN VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG (GDCD 11-NXB GD)
LĨNH VỰC: GIÁO DỤC CÔNG DÂN
Trang 2
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN
TRƯỜNG THPT DIỄN CHÂU 2
S¸NG KIÕN KINH NGHIÖM
VẬN DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY VÀO GIẢNG DẠY MỤC 2,
PHẦN “PHƯƠNG HƯỚNG CƠ BẢN CỦA CHÍNH SÁCH
TÀI NGUYÊN VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG” - BÀI 12: CHÍNH SÁCH TÀI NGUYÊN VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG (GDCD 11-NXB GD)
LĨNH VỰC: GIÁO DỤC CÔNG DÂN
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN I - ĐẶT VẤN ĐỀ: 4
1.1 Lí do chọn đề tài: 4
1.2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu 4
1.3 Đối tượng, phạm vi của đề tài 5
1.4 Phương pháp nghiên cứu 5
1.5 Cấu trúc sáng kiến 6
PHẦN 2- NỘI DUNG 7
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 7
I Cơ sở lí luận 7
II Cơ sở thực tiễn của đề tài 9
1 Đánh giá phương pháp dạy học ở trường THPT 9
2 Thuận lợi và khó khăn khi thực hiện đề tài SKKN 13
CHƯƠNG II VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY VÀO GIẢNG DẠY 14
I Vai trò của giáo viên: 14
II Minh họa: 14
CHƯƠNG III THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 18
3.1 Mục đích thực nghiệm 18
3.2 Nhiệm vụ thực nghiệm 18
PHẦN 3 - KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT 24
1 Kết luận 24
2 Kiến nghị, đề xuất 24
TÀI LIỆU THAM KHẢO 25 PHỤ LỤC 2
HÌNH ẢNH VỀ GIỜ HỌC TRÊN LỚP VÀ NỘP BÀI CỦA HỌC SINH
Trang 4PHẦN I - ĐẶT VẤN ĐỀ:
1.1 Lí do chọn đề tài:
Nghị quyết 29-NQ/TW về Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế được Hội nghị Trung ương 8 khóa XI thông qua ngày 04/11/2013 Luật giáo dục năm 2019 ban hành ngày 14/6/2019 - Điều 30 khoản 3 nêu rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng môn học, lớp học, bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm … đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh.”
Môn học Giáo dục công dân trong nhà trường trung học Phổ thông có ý nghĩa rất quan trọng góp phần vào thực hiện mục tiêu giáo dục Môn học giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ và các kĩ năng sống
cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Nhưng trong thực tế môn học này từ trước tới nay trong nhận thức của phụ huynh học sinh cũng như của học sinh đây là môn học có vai trò thứ yếu và mờ nhạt trong nhà trường Việc dạy và học thường diễn ra một cách khô khan, nặng nề, ít gây hứng thú cho học sinh, do
đó hiệu quả giáo dục còn gặp nhiều hạn chế chưa đem lại những kết quả như mong đợi của các nhà quản lý giáo dục cũng như các giáo viên giảng dạy bộ môn Vì vậy tôi lựa chọn đề tài “Vận dụng bản đồ tư duy vào giảng dạy mục
2, phần “phương hướng cơ bản của chính sách tài nguyên và bảo vệ môi trường” - Bài 12: Chính sách tài nguyên và bảo vệ môi trường (GDCD 11- NXB GD)” làm sáng kiến cho bản thân
1.2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
a Mục tiêu
Trên cơ sở tìm hiểu các PTDH, cấu trúc của bài 12: Chính sách tài nguyên
và bảo vệ môi trường và các thiết bị có thể áp dụng vào bài học để chuẩn bị tư liệu, PTDH cho quá trình giảng dạy
b Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu tìm hiểu cơ sở lý luận của PTDH Nghiên cứu nội dung mục 2, bài 12 (GDCD 11) tìm hiểu các PTDH được ứng dụng vào bài học để sử dụng một cách hợp lý, tránh tình trạng đưa quá nhiều PTDH vào bài giảng mà không đem lại kết quả cao
- Đối tượng: Đề tài này được áp dụng với việc dạy học môn GDCD đối với học sinh một số lớp 11 trường THPT Diễn Châu 2
Trang 51.3 Đối tượng, phạm vi của đề tài
a Đối tượng nghiên cứu
- Đề tài nghiên cứu về : Vận dụng bản đồ tư duy vào giảng dạy mục 2, phần “phương hướng cơ bản của chính sách tài nguyên và bảo vệ môi trường” - Bài 12: Chính sách tài nguyên và bảo vệ môi trường (GDCD 11- NXB GD)
- Học sinh các lớp 11 trường THPT Diễn Châu 2
- Phạm vi nội dung: Vận dụng bản đồ tư duy vào giảng dạy mục 2, phần
“phương hướng cơ bản của chính sách tài nguyên và bảo vệ môi trường” - Bài 12: Chính sách tài nguyên và bảo vệ môi trường (GDCD 11- NXB GD)
1.4 Phương pháp nghiên cứu
a Phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu, thông tin
Tiến hành thu thập tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau: Sách báo chuyên ngành, tài liệu nghiên cứu khoa học và luận văn tốt nghiệp có liên quan, tài liệu tập huấn chuyên môn để xem xét đối tượng được nghiên cứu trong một
hệ thống hoàn chỉnh, từ đó xác định những nội dung cần thiết của đối tượng nghiên cứu
b Phương pháp điều tra, khảo sát
Phương pháp này được sử dụng để điều tra, thu thập thông tin về thực trạng đổi mới phương pháp dạy học cho học sinh lớp 11 ở các trường học hiện nay
Từ cơ sở đó rút ra những kết luận về tình hình dạy học GDCD ở trường THPT
và đề xuất một số giải pháp
c Phương pháp chuyên gia
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, đối với một số kết quả và kiến nghị liên quan, tôi thực hiện xin ý kiến một số giáo viên có kinh nghiệm dạy học môn GDCD tại các trường THPT trong và ngoài địa bàn Diễn Châu, Nghệ An Từ những kiến thức thu thập được tôi đã có những định hướng về nội dung nghiên cứu cũng như các vấn đề liên quan đến việc thực nghiệm sự phạm
d Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Thực nghiệm sư phạm là phương pháp quan trọng để kiểm định các giả thuyết khoa học và tính khả thi của đề tài Tôi đã tiến hành thực nghiệm và dạy đối chứng ở một số trường THPT để kiểm chứng hiệu quả của các biện pháp được lựa chọn
Trang 6e Các phương pháp khác có liên quan
- Thông qua kinh nghiệm giảng dạy môn GDCD cấp THPT trong nhiều năm
- Phương pháp quan sát: qua các tiết dự giờ thao giảng, trao đổi rút kinh nghiệm trong giảng dạy GDCD
- Phương pháp nghiên cứu các tài liệu về dạy học GDCD: SGK, SGV, sách bài tập, sách chuẩn kiến thức kĩ năng GDCD THPT
1.5 Cấu trúc sáng kiến
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của đề tài gồm 3 chương:
- Chương I: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn
- Chương II: Vận dụng bản đồ tư duy vào giảng dạy mục 2, phần “phương hướng cơ bản của chính sách tài nguyên và bảo vệ môi trường” - Bài 12: Chính sách tài nguyên và bảo vệ môi trường (GDCD 11- NXB GD)
- Chương III: Thực nghiệm sư phạm
Trang 7PHẦN 2- NỘI DUNG CHƯƠNG I CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
I Cơ sở lí luận
Việc phát triển tư duy cho học sinh và giảng dạy kiến thức về thế giới xung quanh luôn là một trong những ưu tiên hàng đầu của những người làm công tác giáo dục Nhằm hướng học sinh đến một phương cách học tập tích cực và tự chủ, giáo viên không những cần giúp học sinh khám phá các kiến thức mới mà còn phải giúp học sinh hệ thống được những kiến thức đó. Việc xây dựng được một “hình ảnh” thể hiện mối liên hệ giữa các kiến thức sẽ mang lại những lợi ích đáng quan tâm về các mặt: ghi nhớ, phát triển nhận thức, tư duy, óc tưởng tượng
và khả năng sáng tạo…Một trong những công cụ hết sức hữu hiệu để tạo nên các
“hình ảnh liên kết” là bản đồ tư duy
Bản đồ tư duy (Mind Map) là một hình thức ghi chép sử dụng màu sắc và hình ảnh, để mở rộng và đào sâu các ý tưởng Kỹ thuật tạo ra loại sơ đồ này được gọi là Mind Mapping và được phát triển bởi Tony Buzan vào những năm 1960
Ở vị trí trung tâm sơ đồ là một hình ảnh hay một từ khóa thể hiện một ý tưởng hay khái niệm chủ đạo Ý trung tâm sẽ được nối với các hình ảnh hay từ khóa cấp 1 bằng các nhánh chính, từ các nhánh chính lại có sự phân nhánh đến các từ khóa cấp
2 để nghiên cứu sâu hơn Cứ thế, sự phân nhánh cứ tiếp tục và các khái niệm hay hình ảnh luôn được nối kết với nhau Chính sự liên kết này sẽ tạo ra một “bức tranh tổng thể” mô tả về ý trung tâm một cách đầy đủ và rõ ràng
Những yếu tố đã làm cho bản đồ tư duy có tính hiệu quả cao và nền tảng của chúng là:
Bản đồ tư duy đã thể hiện ra bên ngoài cách thức mà não bộ chúng ta hoạt
động Đó là liên kết, liên kết và liên kết Mọi thông tin tồn tại trong não bộ của
con người đều cần có các mối nối, liên kết để có thể được tìm thấy và sử dụng Khi có một thông tin mới được đưa vào, để được lưu trữ và tồn tại, chúng cần kết nối với các thông tin cũ đã tồn tại trước đó
Việc sử dụng các từ khóa, chữ số, màu sắc và hình ảnh đã đem lại một công dụng lớn vì đã huy động cả bán cầu não phải và trái cùng hoạt động Sự kết hợp này sẽ làm tăng cường các liên kết giữa 2 bán cầu não, và kết quả là tăng cường trí tuệ và tính sáng tạo của chủ nhân bộ não
Bản đồ tư duy là một công cụ hữu ích trong giảng dạy và học tập ở trường phổ thông cũng như ở các bậc học cao hơn vì chúng giúp giáo viên và học sinh trong việc trình bày các ý tưởng một cách rõ ràng, suy nghĩ sáng tạo, học tập thông qua biểu đồ, tóm tắt thông tin của một bài học hay một cuốn sách, bài báo, hệ thống lại kiến thức đã học, tăng cường khả năng ghi nhớ, đưa ra ý tưởng mới, v.v…
Trang 8Một sơ đồ tư duy có thể được thực hiện dễ dàng trên một tờ giấy với các loại bút màu khác nhau, tuy nhiên, cách thức này có nhược điểm là khó lưu trữ, thay đổi, chỉnh sửa Một giải pháp được hướng đến là sử dụng các phần mềm để tạo ra sơ đồ tư duy Một số phần mềm tiêu biểu trong thể loại “phần mềm mind
mapping” (mind mapping software)
Phần mềm Buzan’s iMindmap™: một phần mềm thương mại, tuy nhiên
có thể tải bản dùng thử 30 ngày Phần mềm do công ty Buzan Online Ltd thực hiện Trang chủ tại www.imindmap.com
Phần mềm Inspiration: sản phẩm thương mại của công ty Inspiration
Software, Inc Sản phẩm có phiên bản dành cho trẻ em (các em từ mẫu giáo đến lớp 5) rất dễ dùng và nhiều màu sắc Có thể dùng thử 30 ngày Trang chủ tại www.inspiration.com
Phần mềm Visual Mind: sản phẩm thương mại của công ty Mind
Technologies Phần mềm dễ sử dụng và linh hoạt trong sắp xếp các nút chứa từ
khóa Có thể dùng thử 30 ngày Trang chủ tại www.visual-mind.com
Phần mềm FreeMind: sản phẩm hoàn toàn miễn phí, được lập trình trên
Java Các icon chưa được phong phú, tuy nhiên chương trình có đầy đủ chức năng để thực hiện mind mapping Trang chủ tại:
http://freemind.sourceforge.net/wiki/index.php/Main_Page
Ngoài ra, chúng ta còn có thể tham khảo một danh sách các phần mềm loại mind mapping tại địa chỉ sau:
http://en.wikipedia.org/wiki/List_of_mind_mapping_software
Trang 9Mind mapping – Bản đồ tư duy
II Cơ sở thực tiễn của đề tài
1 Đánh giá phương pháp dạy học ở trường THPT
Cuộc vận động chấm dứt cách dạy học “đọc chép” nếu thành công, sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục ở trường THPT Theo GS – TS Đinh Quang Báo, nguyên Hiệu trưởng trường Đại học Sư phạm Hà Nội, để cuộc vận động này thành công, thì đội ngũ giáo viên là yếu tố quyết định Do vậy ngay từ khâu đào tạo giáo viên ở các trường đại học, cao đẳng phải đào tạo họ biết cách
“không đọc chép”
Vấn đề càng tỏ ra bức xúc hơn khi Bộ trưởng Giáo dục – Đào tạo Nguyễn
Thiện Nhân phát động chiến dịch “Nói không với đọc chép” cùng với việc “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục” Nói thì dễ
nhưng làm thật khó Nhiều đồng nghiệp đã nhận thức được sự tai hại của việc
dạy học theo lối đọc chép, nhưng quả thực để “Nói không với đọc chép”, có
người chưa biết nên bắt đầu từ đâu, làm như thế nào, thậm chí còn rất ái ngại, vì thay đổi một tập quán không dễ gì nếu thiếu một quyết tâm và sự định hướng
Để góp phần tạo nên sự chuyển biến trong dạy học bộ môn, đáp ứng yêu cầu phát triển xã hội, và để “Nói không với đọc chép”, giáo viên GDCD cần lưu
ý một số điểm sau đây:
Trước hết, giáo viên phải nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của việc dạy học lịch sử là phải cung cấp cho học sinh một hệ thống kiến thức cơ bản về tài nguyên, môi trường, qua đó giáo dục tư tưởng, tình cảm, đạo đức, truyền thống
cho học sinh Nghĩa là phải vừa khai trí vừa khai tâm cho các em Hai nhiệm vụ
Trang 10này luôn gắn chặt và hỗ tương với nhau Phải giúp cho các em am tường và biết cách vận dụng những tri thức đã học vào cuộc sống Trong sách giáo khoa, các nội dung bài học được trình bày một cách cô đọng vốn đã rất cần sự phân tích diễn giải, minh hoạ, so sánh, đối chiếu để giúp học sinh hiểu vấn đề một cách thấu đáo Nếu dạy theo lối đọc chép, có nghĩa giáo viên một lần nữa tóm tắt sách giáo khoa, đọc cho các em chép rồi buộc các em phải học thuộc lòng Làm như vậy, bộ môn GDCD sẽ trở nên giáo điều, nhồi nhét, vì học sinh chẳng thể nào hiểu nổi một vấn đề, chính sách và như vậy việc học tập trên lớp trở nên vô bổ, thậm chí làm cho các em có cảm giác như bị “tra tấn” trong học tập bộ môn.
Để “Nói không với đọc chép”, đòi hỏi giáo viên phải có tâm huyết với nghề nghiệp, phải luôn thấy được trách nhiệm và uy tín cá nhân của mình trước hết là đối với học sinh Cần phải tích cực đầu tư chuyên môn và không ngừng học tập nâng cao trình độ nghiệp vụ Việc đầu tư chuyên môn đòi hỏi phải tiếp cận với thông tin khoa học chuyên ngành Điều kiện sách vở, tài liệu tham khảo và các nguồn thông tin cần thiết hiện nay không đến nổi quá khó khăn Mỗi khi đã có
sự hiểu biết sâu sắc về chuyên môn, giáo viên dễ dàng lựa chọn phương pháp để giảng dạy, vì phương pháp là sự vận động của tri thức Mỗi phương pháp dạy học có một giá trị riêng, tuỳ theo nội dung kiến thức và đối tượng mà lựa chọn phương pháp cho phù hợp nhằm tạo biểu tượng, hình thành khái niệm, khắc sâu kiến thức cơ bản… cho học sinh Để phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập, phương pháp dạy học sử dụng bản đồ tư duy tỏ ra có ưu thế Mỗi nội bài học chứa đựng một số vấn đề cơ bản chính sách, bằng sự hiểu biết của mình, giáo viên nêu vấn đề, tổ chức cho học sinh giải quyết bằng cách sáng tạo thành bản đồ tư duy nhằm phát huy tính tích cực và huy động bộ não các em làm việc hết công suất cho mỗi bài học, sẽ không còn tình trạng học sinh ngồi im thụ động chỉ có vài em được phát biểu và làm việc với giáo viên trong tiết học
Việc học sinh tham gia trực tiếp vào việc giải quyết những yêu cầu của bài học vừa có tác dụng phát triển tư duy vừa gây hứng thú học tập Tất nhiên vai trò dẫn dắt của người thầy là hết sức quan trọng Dạy học là một nghệ thuật, bằng tâm hồn, sự hiểu biết và nghệ thuật của giáo viên, những “phần xác” của chính sách sẽ được “phả hồn” vào một cách sinh động và đẹp đẽ, giúp các em cảm nhận tốt hơn, yêu thích hơn bộ môn GDCD
Phương tiện dạy học bằng bản đồ tư duy ngày càng trở nên phóng phú và được các nước tiên tiến trên thế giới sử dụng đạt hiệu quả cao Nếu biết khai thác tốt sơ đồ tư duy sẽ hỗ trợ đắc lực cho giáo viên trong quá trình giảng dạy Cùng với sự kết hợp các phương pháp, phương tiện trực quan và kỹ thuật sẽ góp phần đẩy lùi hiện tượng “đọc chép” một cách có hiệu quả Việc sử dụng sơ đồ tư duy cùng phương tiện trực quan và kỹ thuật đòi hỏi giáo viên phải có sự đầu tư công sức và trí tuệ cho bài giảng Rõ ràng làm tốt công việc này sẽ góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả giờ dạy và hiên tượng “đọc chép” sẽ không có cơ
hội để tồn tại
Trang 11Lý luận dạy học đã chỉ ra rằng, học sinh vừa là đối tượng, vừa là chủ thể của quá trình dạy học Dạy học theo lối đọc chép có nghĩa giáo viên đã thủ tiêu mất vai trò chủ thể của học sinh, đưa các em vào trạng thái hoàn toàn thụ động,
bị nhồi nhét một cách đáng thương Việc tạo ra mô hình dạy học sử dụng bản đồ
tư duy trong đó học sinh có điều kiện trao đổi với thầy với bạn, sẽ phát huy tốt tính tích cực, chủ động của các em, giúp các em vươn lên chiếm lĩnh tri thức Thay đổi mô hình dạy học theo bản đồ tư duy là một yêu cầu không thể thiếu được Nó vừa phát huy tốt ưu thế của bộ môn, vừa tạo được sự hấp dẫn, hứng thú đối với học sinh
Khả năng vận dụng tri thức đã học vào cuộc sống là cái đích của việc dạy học bộ môn Khả năng đó có được từ nghệ thuật truyền dạy và tổ chức rèn luyện của giáo viên cho các em Học GDCD mà không liên hệ được thực tế, không làm bài tập thực hành, sẽ không thể nào có được năng lục vận dụng và như vậy
sự học trở nên vô bổ Cuộc sống đang đặt ra vô vàn những vấn đề phức tạp, hiểu sâu sắc chính sách để lý giải những vấn đề của tài nguyên, môi trường hiện tại là
vô cùng cần thiết, nó tỏ rõ ưu thế của bộ môn Không làm tốt điều này xem như giáo viên GDCD chưa hoàn thành nhiệm vụ
Dạy học “đọc chép” sẽ phải kiểm tra đánh giá theo kiểu “đọc chép” và ngược lại Đó là lẽ đương nhiên Đổi mới phong cách dạy học phải đi liền với việc thay đổi cách thức kiểm tra đánh giá Giáo viên phải biết trăn trở, lựa chọn hình thức và nội dung kiểm tra để đánh giá đúng thực lực học sinh, đồng thời tự kiểm tra năng lực giảng dạy của mình một cách chính xác Phải hết sức nghiêm túc trong kiểm tra đánh giá thì mới tạo được sự chuyển biến về chất lượng đào tạo và mới có thể “Nói không với tiêu cực trong thi cử”
Những thành tựu nghiên cứu của các nhà khoa học trong trong những năm gần đây cho thấy bộ não không tư duy theo dạng tuyến tính mà bằng cách tạo ra những kết nối, những nhánh thần kinh Việc ghi chép tuần tự theo lối truyền thống với bút và giấy có dòng kẻ đã khiến cho con người cảm thấy nhàm chán
Từ trước đến nay đã có một số quan điểm cho rằng con người không sử dụng hết 100% công suất bộ não Những nghiên cứu bằng ảnh cộng hưởng từ cho thấy toàn bộ não hoạt động một cách đồng bộ trong các hoạt động tinh thần của con người và quá trình tư duy là sự kết hợp phức tạp giữa ngôn ngữ, hình ảnh, khung cảnh, màu sắc, âm thanh và giai điệu Tức là quá trình tư duy đã sử dụng toàn bộ các phần khác nhau trên bộ não
Ví dụ: Khi học sinh tiến hành thí nghiệm, não trái đóng vai trò thu thập số liệu, còn não phải xây dựng sơ đồ thí nghiệm, thu thập hình ảnh về đối tượng cần nghiên cứu Ngoài ra tính hấp dẫn của hình ảnh, màu sắc … gây ra những kích thích rất mạnh mẽ lên hệ thống rìa (hệ thống cổ áo) của não giúp cho việc ghi nhớ được lâu bền và tạo điều kiện thuận lợi để vỏ não phân tích, xử lí, rút ra kết luận hoặc xây dựng mô hình về nó
Trang 12Trực giác đóng vai trò rất quan trọng trong sáng tạo Cơ sở của trực giác là trí tưởng tượng khoa học Khi ta suy nghĩ một vấn đề gì đó, thông tin được tích luỹ trong não một cách dần dần Bằng trí tưởng tượng của mình, con người xây dựng các sơ đồ, mô hình và tiến hành “thao tác” với các “vật liệu” ấy Khi những sự kiện mới làm nảy sinh, kích thích, khơi gợi, những thông tin trong não bật ra tự nhiên và dễ dàng giúp con người phán đoán nhanh và cái mới xuất hiện Những hình vẽ, kí hiệu, màu sắc đóng vai trò quan trọng trong tưởng tượng vì chúng là những vật liệu “neo thông tin”, nếu không có chúng thì không thể tạo ra sự liên kết giữa các ý tưởng Như vậy, trong sơ đồ tư duy, học sinh tự
do phát triển các ý tưởng, xây dựng mô hình và thiết kế mô hình vật chất hoặc tinh thần để giải quyết những vấn đề thực tiễn
Bản đồ tư duy là hình thức ghi chép sử dụng màu sắc, hình ảnh để mở rộng
và đào sâu các ý tưởng Bản đồ tư duy là một công cụ tổ chức tư duy nền tảng,
có thể miêu tả đó là một kĩ thuật hình họa với sự kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp với cấu trúc, hoạt động và chức năng của bộ não, giúp con người khai thác tiềm năng vô tận của bộ não
Dựa vào cơ chế hoạt động của bản đồ tư duy chúng ta có thể vận dụng vào
hỗ trợ dạy học kiến thức mới, củng cố kiến thức sau mỗi tiết học, ôn tập hệ thống hoá kiến thức sau mỗi chương …
Chương trình giáo dục công dân trong trường trung học phổ thông có nhiều nội dung phù hợp, phát huy hiệu quả cao khi giáo viên tổ chức cho học sinh thiết kế Bản đồ tư duy
Cơ sở vật chất đã có đổi mới tạo điều kiện cho việc tìm kiếm thông tin
dễ dàng, giáo viên được bồi dưỡng chuyên môn thường xuyên
Kĩ thuật Bản đồ tư duy phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi 11 -> 18 muốn thể hiện mình, muốn được bạn bè tôn trọng, thừa nhận khả năng, đồng thời khắc phục sự nhàm chán của phương pháp dạy học thụ động, một chiều, học sinh ghi chép nhanh gây hứng thú cho người học, kích thích tư duy tích cực
Bản đồ tư duy là một hình thức ghi chép sử dụng màu sắc, hình ảnh để mở rộng và đào sâu các ý tưởng Kĩ thuật tạo ra loại bản đồ này được phát triển bởi Tony Buzan vào những năm 60 của thế kỉ XX
Sử dụng kĩ thuật Bản đồ tư duy trong dạy và học mang lại hiệu quả cao, phát triển tư duy logic, khả năng phân tích tổng hợp, học sinh hiểu bài, nhớ lâu thay cho ghi nhớ dưới dạng thuộc lòng, học “vẹt ”
Sử dụng Bản đồ tư duy trong dạy học phù hợp với tâm lí học sinh, đơn giản dễ hiểu thay cho việc ghi nhớ lí thuyết bằng ghi nhớ dưới dạng sơ đồ hoá kiến thức, có thể vận dụng trong bất kì điều kiện hoàn nào của nhà trường mà không phụ thuộc vào cơ sở vật chất
Trang 132 Thuận lợi và khó khăn khi thực hiện đề tài SKKN
a Thuận lợi: Năm học 2021 – 2022 Bộ Giaó dục và Đào tạo tiếp tục giảm
tải nội dung sách giáo khoa tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên trong việc dạy
và học hơn những năm qua
Mỗi giáo viên chỉ cần dùng một máy tính xách tay ghi nội dung bài dạy và
đến lớp để sử dụng ngay trong tiết dạy tại lớp nên rất thuận tiện cho giáo viên và
học sinh khi áp dụng phương pháp giảng dạy mới sử dụng sơ đồ tư duy
Học sinh các lớp THPT Diễn Châu 2 bước đầu đã được làm quen với cách
ghi bài theo bản đồ tư duy ở các trường THCS nên các em tiếp thu cách học mới
dễ dàng hơn ở bậc THPT
Một số phần mềm sơ đồ tư duy được phổ biến rộng rãi nên đã hỗ trợ cho
giáo viên và học sinh khi trình bày sơ đồ tư duy trên máy chiếu
b Khó khăn khi thực hiện đề tài SKKN
Khi dự giờ các tiết dạy giáo viên còn theo bảng chấm điểm cũ, hầu như đa
số giáo viên của các trường THPT đều chưa giảng dạy học sinh theo phương
pháp sử dụng sơ đồ tư duy vào trong một tiết dạy
Giáo viên ở các trường THCS không hướng dẫn kỹ cách thực hiện cho học
sinh và chưa nêu rõ tầm quan trọng của việc dạy học theo phương pháp mới nầy
nên tôi phải cho học sinh xem phim minh họa, hướng dẫn học sinh cách sử dụng
phần mềm, cách vẽ sơ đồ tư duy lại từ đầu (xem phim hướng dẫn sử dụng sơ đồ
tư duy theo tệp đính kèm)
Trang 14CHƯƠNG II VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY VÀO GIẢNG DẠY
Sử dụng sơ đồ tư duy để giảng dạy mục 2- phần phương hướng cơ bản của chính sách tài nguyên và bảo vệ môi trường - bài 12 Chính sách tài nguyên và bảo vệ môi trường (GDCD 11)
Trước khi áp dụng phương pháp "Sử dụng bản đồ tư duy” giáo viên giới thiệu cho học sinh xem một số đoạn phim ngắn (có gửi kèm theo đĩa CD gắn chung với SKKN) cho học sinh thấy hiệu quả của việc sử dụng sơ đồ tư duy khi ghi bài, học bài và hướng dẫn học sinh cách vẽ sơ đồ tư duy gồm nội dung cả bài học trên một trang giấy rất dễ học, dễ thực hiện và học sinh sẽ rất thích thú với mỗi tác phẩm sơ đồ tư duy của mình (Xem phim hướng dẫn phần mềm bản
đồ tư duy đính kèm trong dĩa CD)
I Vai trò của giáo viên:
- Hướng dẫn học sinh làm Bản đồ tư duy: thời gian hướng dẫn thường là giờ ra chơi ,còn tiết dạy chính khoá vẫn hoàn thành bài giảng theo đúng phân phối chương trình, giáo viên chuẩn bị nội dung và hệ thống câu hỏi khơi gợi …
- Bản đồ tư duy được triển khai sau khi kết thúc một bài học Học sinh về nhà tìm tư liệu và viết vẽ theo cách hiểu của mình, các ý kiến của học sinh đều được tôn trọng, ghi nhận
- Không phải bài nào cũng làm
- Khi ở trên lớp, giáo viên ghi chép, quan sát kĩ các thiết kế Bản đồ tư duy
và cách thuyết trình của các em để nhận xét, góp ý và làm trọng tài, phân giải các cuộc tranh luận Đồng thời bổ sung những phần kiến thức mà các em chưa phân tích sâu
- Chấm điểm, cho các em nhận xét, chấm bài của nhau, động viên, khuyến khích kịp thời
- Yêu cầu quan trọng nhất là nội dung chính xác và bám sát nội dung bài học, dù hình thức học có biến hoá đa dạng nhưng kiến thức vẫn đảm bảo theo chương trình
- Giáo viên chỉ là người hướng dẫn, nêu chủ đề để học sinh là chủ thể hoạt động
II Minh họa:
Hoạt động 1: Thảo luận nhóm
Mục tiêu: giúp học sinh hiểu được nội dung của các phương hướng cơ bản Các bước tiến hành: