1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Chương 2 Phương pháp phát triển ngôn ngữ

38 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chương 2 Phương Pháp Phát Triển Ngôn Ngữ
Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 395,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương 2 Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1 1 VAI TRÒ, NHIỆM VỤ CỦA MÔN PHƯƠNG PHÁP HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG TOÁN CHO TRẺ MẦM NON 1 1 1 Vai trò Môn Phương pháp hình thành biểu tượng toán cho trẻ mầm non có vị trí quan trọng trong quá trình đào tạo các giáo viên mầm non Nó không chỉ cung cấp cho người học những kiến thức, kỹ năng cần thiết mà còn làm cho người học thấy sự cần thiết phải hình thành cho trẻ mẫu giáo đầy đủ, kịp thời các biểu tượng toán học trước khi các cháu bước vào trường phổ thông, góp.

Trang 1

Chương 1.

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG1.1 VAI TRÒ, NHIỆM VỤ CỦA MÔN PHƯƠNG PHÁP HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG

TOÁN CHO TRẺ MẦM NON

1.1.1 Vai trò

Môn Phương pháp hình thành biểu tượng toán cho trẻ mầm non có vị trí quan trọng

trong quá trình đào tạo các giáo viên mầm non Nó không chỉ cung cấp cho người học những kiến thức, kỹ năng cần thiết mà còn làm cho người học thấy sự cần thiết phải hình thành cho trẻ mẫu giáo đầy đủ, kịp thời các biểu tượng toán học trước khi các cháu bước vào trường phổ thông, góp phần quan trọng vào việc thực hiện mục tiêu đào tạo.

1.1.2 Nhiệm vụ

Môn Phương pháp hình thành biểu tượng toán cho trẻ mầm non có nhiệm vụ:

a Cung cấp cho người học những kiến thức cơ bản về dạy học những biểu tượng toán cho trẻ mầm non

- Tìm hiểu chương trình, sách giáo khoa, sách giáo viên và các sách tham khảo

- Tìm hiểu đối tượng trẻ trong lớp mà mình chịu trách nhiệm dạy

- Lập kế hoạch dạy học và chuẩn bị từng “tiết” lên lớp

- Rèn kĩ năng tiến hành “tiết học” toán và kỹ năng đánh giá “tiết học”, thực hiện kiểm tra, đánh giá mức độ hình thành những biểu tượng toán học ở trẻ mẫu giáo các lứa tuổi khác nhau

- Tiến hành việc hình thành các biểu tượng toán học cho trẻ thông qua các “tiết học” và các hoạt động khác của trẻ trong trường mầm non

- Sưu tầm, lựa chọn, tự thiết kế và tổ chức các trò chơi học tập nhằm hình thành các biểu tượng toán học cho trẻ

- Làm mới và sửa chữa các đồ dùng dạy học, xây dựng góc học toán trong lớp học mà mình phụ trách

c Góp phần bồi dưỡng tình cảm nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức của người giáo viên mầm non cho người học

Qua học tập, người học thấy rõ vị trí, vai trò của việc dạy trẻ những kiến thức, kĩ năng toán học đối với sự phát triển và giáo dục trẻ mầm non, thấy được tính chất nghiệp vụ của môn học trong việc rèn luyện những phẩm chất, năng lực nghề nghiệp Từ đó, người học có ý thức, trách nhiệm trong công việc, góp phần rèn luyện cho họ những phẩm chất đạo đức cần thiết của

Trang 2

người giáo viên mầm non như: yêu nghề, mến trẻ, kiên trì, cẩn thận, chính xác, có ý thức phê bình và tự phê bình

d Phát triển năng lực tự đào tạo, tự nghiên cứu

Bộ môn Phương pháp hình thành những biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ mầm

non, giúp người học có khả năng thích ứng nhanh chóng với công việc, với sự thay đổi của

chương trình, sách giáo khoa, tài liệu hướng dẫn, có khả năng viết các sáng kiến kinh nghiệm.

Các năng lực này thể hiện qua các khả năng:

- Biến quá trình quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo trong khi học bộ môn, làm cho người học có khả năng tự học, tự nghiên cứu về nghiệp vụ.

- Viết và bảo vệ thành công những bài tập lớn, khoá luận và luận văn tốt nghiệp về đề tài

“Phương pháp hình thành những biểu tương toán học sơ đẳng cho trẻ mầm non” Tiến hành nghiên cứu những đề tài về phương pháp hình thành những biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ mầm non nói riêng và khoa học giáo dục nói chung.

1.2 VAI TRÒ VÀ NHIỆM VỤ CỦA VIỆC DẠY TRẺ NHỮNG BIỂU TƯỢNG TOÁN SƠ

ĐẲNG ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN VÀ GIÁO DỤC TRẺ MẦM NON

1.2.1 Vai trò

a Trong việc giáo dục toàn diện

Việc hình thành các biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ có vai trò quan trọng trong giáo dục toàn diện (trí dục, đức dục, thể dục, mỹ dục, giáo dục lao động) cho trẻ Cụ thể:

- Góp phần phát triển trí tuệ: Việc hình thành biểu tượng toán góp phần hình thành và phát triển hoạt động nhận thức cho trẻ, hình thành khả năng nhận thức thế giới xung quanh và giúp trẻ tìm được sự liên hệ giữa các biểu tượng toán với thế giới xung quanh; hình thành và rèn luyện các thao tác tư duy; phát triển ngôn ngữ cho trẻ; phát triển và thúc đẩy các quá trình tâm lý

- Góp phần giáo dục đạo đức, thẩm mỹ: Các biểu tượng toán học được hình thành cho trẻ thông qua quá trình tổ chức cho trẻ hoạt động dưới nhiều hình thức: cá nhân, tổ, nhóm, tập thể với những phương tiện khác nhau: Vẽ, cắt, nặn, xẽ, dán, xếp hình, phân chia nhóm, phân loại các đồ vật Những hình thức và phương tiện hoạt động đó góp phần giáo dục cho trẻ ý thức tổ chức kỷ luật, tính kiên trì, lòng ham hiểu biết, sáng tạo, biết đoàn kết giúp đỡ nhau hình thành ý thức tập thể trong cộng đồng Các biểu tượng toán học được hình thành cho trẻ không chỉ giúp trẻ biết thưởng thức cái đẹp mà còn biết tạo

ra cái đẹp

b Trong việc chuẩn bị cho trẻ đến trường phổ thông

- Trang bị một số biểu tượng toán học ban đầu.

- Hình thành, rèn luyện và phát triển các thao tác trí tuệ

- Hình thành và rèn luyện ý thức, thói quen cần thiết khi học ở trường phổ thông

- Làm quen với một số hành vi đạo đức và cách ứng xử trong trường phổ thông.

- Hình thành lòng mong mỏi, ham muốn được đi học.

- Góp phần chuẩn bị về thể lực, phát triển ngôn ngữ, giúp trẻ làm quen với hoạt động nghệ thuật

1.2.2 Nhiệm vụ

- Hình thành cho trẻ các biểu tượng toán học ban đầu về tập hợp, số lượng, số tự nhiên, chữ số; hình dạng, kích thước, định hướng không gian và định hướng thời gian.

Trang 3

- Hình thành và phát triển khả năng quan sát có mục đích, hình thành và phát triển các thao tác tư duy: phân tích, so sánh, tổng hợp

- Phát triển tính ham hiểu biết, tìm tòi, sáng tạo của trẻ, làm phong phú kinh nghiệm và

mở rộng năng lực hoạt động cho trẻ.

- Phát triển ngôn ngữ cho trẻ, đặc biệt là giúp trẻ hiểu và sử dụng đúng các thuật ngữ toán học trong các trường hợp cụ thể, diễn đạt mạch lạc các yếu tố và các mối tương quan toán học.

1.3 NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH

1.3.1 Nguyên tắc vừa sức tiếp thu của trẻ

Đặc điểm hoạt động nhận thức của trẻ là nhận thức bằng cảm tính, tư duy trực quan, hành động là chủ yếu Vì vậy, kiến thức đưa vào chương trình chỉ tồn tại ở dạng các biểu tượng đơn giản, hình thức và được trẻ tiếp thu thông qua các hình ảnh, các hoạt động cụ thể của bản thân Chỉ khi trẻ có khả năng khái quát hóa mới dạy các cháu các biểu tượng trừu tượng.

1.3.2 Nguyên tắc xây dựng hệ thống kiến thức

Những kiến thức cung cấp cho trẻ phải theo nội tại của các khái niệm, đi từ dễ đến khó,

từ đơn giản đến phức tạp, từ các biểu tượng cụ thể đến biểu tượng chung tổng quát.

1.3.3 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng tâm

Toán học bao gồm các kiến thức được xây dựng theo một hệ thống logic Vì vậy, để hình thành các biểu tượng toán học ban đầu cho trẻ, những kiến thức trước phải là nền tảng để tiếp thu kiến thức mới

Các biểu tượng cụ thể được cung cấp cho trẻ phải là cơ sở để phát triển khả năng khái quát hóa.

1.3.4 Nguyên tắc đảm bảo tính phát triển

Chương trình cung cấp cho trẻ những kiến thức, kĩ năng giúp trẻ phát triển khả năng tự vận dụng những kiến thức, kỹ năng nhận được vào những tình huống mới, những tình huống cụ thể trong thức tế nhằm giúp trẻ phát triển tính quan sát, tìm hiểu các đối tượng và có thói quen

sử dụng các kiến thức để giải quyết các tính huống nảy sinh trong thực tế.

1.4 NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH

Theo chương trình Giáo dục Mầm non được ban hành kèm theo thông tư số BGDĐT ngày 25 tháng 7năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, nội dung hình thành biểu tượng toán cho trẻ mầm non được phân bố theo các độ tuổi như sau:

 Số lượng một - nhiều.

1.4.2 Mẫu giáo

a Nội dung

Trang 4

Nội dung 3 - 4 tuổi 4 - 5 tuổi 5 - 6 tuổi

1 Tập hợp, số lượng,

số thứ tự và đếm

 Đếm trên đối tượng trong phạm vi 5 và đếm theo khả năng.

Đếm trên đối tượng trong phạm vi 10 và đếm theo khả năng.

 Đếm trong phạm vi 10 và đếm theo khả năng.

 Nhận biết 1 và nhiều  Nhận biết chữ số, số lượng và số

thứ tự trong phạm vi 5.

 Nhận biết các chữ số, số lượng và số thứ tự trong phạm vi 10.

Gộp hai nhóm đối tượng và đếm  Gộp các nhóm đối tượng

và đếm.

 Tách một nhóm đối tượng thành các nhóm nhỏ hơn  Tách một nhóm thành hai

nhóm nhỏ bằng các cách khác nhau.

 Nhận biết ý nghĩa các con số được sử dụng trong cuộc sống hàng ngày (số nhà, biển số xe, ).

2 Xếp tương ứng Xếp tương ứng 1-1, ghép đôi Ghép thành cặp những đối

tượng có mối liên quan.

đơn vị đo khác nhau

 Đo độ dài các vật, so sánh

và diễn đạt kết quả đo.

 Đo dung tích bằng một đơn vị

đo  Đo dung tích các vật, so

sánh và diễn đạt kết quả đo.

5 Hình dạng

Nhận biết, gọi tên các hình: hình vuông, hình tam giác, hình tròn, hình chữ nhật

và nhận dạng các hình đó trong thực tế.

 So sánh sự khác nhau và giống nhau của các hình: hình vuông, hình tam giác, hình tròn, hình chữ nhật

Nhận biết, gọi tên khối cầu, khối vuông, khối chữ nhật, khối trụ và nhận dạng các khối hình đó trong thực tế.

 Sử dụng các hình hình học

để chắp ghép.

 Chắp ghép các hình hình học để tạo thành các hình mới theo

ý thích và theo yêu cầu.

- Tạo ra một số hình hình học bằng các cách khác nhau.

Xác định vị trí của đồ vật so với bản thân trẻ và so với bạn khác (phía trước - phía sau;

phía trên phía dưới; phía phải phía trái)

- Xác định vị trí của đồ vật (phía trước - phía sau; phía trên - phía dưới; phía phải - phía trái) so với bản thân trẻ, với bạn khác, với một vật nào

đó làm chuẩn.

Nhận biết các buổi: sáng, trưa, chiều, tối.

 Nhận biết hôm qua, hôm nay, ngày mai

 Gọi tên các thứ trong tuần.

b Kết quả mong đợi

1 Nhận biết số

đếm, số lượng

1.1 Quan tâm đến số lượng

và đếm như hay hỏi về số lượng, đếm vẹt, biết sử dụng ngón tay để biểu thị số lượng.

1.1 Quan tâm đến chữ số, số lượng như thích đếm các vật ở xung quanh, hỏi: bao nhiêu? là

số mấy?

1.1 Quan tâm đến các con số như thích nói về số lượng và đếm, hỏi: bao nhiêu? đây là mấy?

1.2 Đếm trên các đối tượng giống nhau và đếm đến 5.

1.2 Đếm trên đối tượng trong phạm vi 10

1.2 Đếm trên đối tượng trong phạm vi 10 và đếm theo

Trang 5

3 - 4 tuổi 4 - 5 tuổi 5 - 6 tuổi

1.3 So sánh số lượng hai nhóm đối tượng trong phạm

vi 5 bằng các cách khác nhau

và nói được các từ: bằng nhau, nhiều hơn, ít hơn.

1.3 So sánh số lượng của hai nhóm đối tượng trong phạm vi

10 bằng các cách khác nhau và nói được các từ: bằng nhau, nhiều hơn, ít hơn.

1.3 So sánh số lượng của ba nhóm đối tượng trong phạm vi

10 bằng các cách khác nhau và nói được kết quả: bằng nhau, nhiều nhất, ít hơn, ít nhất.

1.4 Biết gộp và đếm hai nhóm đối tượng cùng loại có tổng trong phạm vi 5.

1.4 Gộp hai nhóm đối tượng

có số lượng trong phạm vi 5, đếm và nói kết quả

1.4 Gộp các nhóm đối tượng trong phạm vi 10 và đếm.

1.5 Tách một nhóm đối tượng có số lượng trong phạm vi 5 thành hai nhóm.

1.5 Tách một nhóm đối tượng thành hai nhóm nhỏ hơn 1.5 Tách một nhóm đối tượngtrong phạm vi 10 thành hai

nhóm bằng các cách khác nhau

1.6 Sử dụng các số từ 1-5 để chỉ số lượng, số thứ tự. 1.6 Nhận biết các số từ 5 - 10 và sử dụng các số đó để chỉ số

lượng, số thứ tự.

1.7 Nhận biết ý nghĩa các con

số được sử dụng trong cuộc sống hàng ngày.

1.7 Nhận biết các con số được

sử dụng trong cuộc sống hàng ngày.

2 Sắp xếp theo

qui tắc Nhận ra qui tắc sắp xếp đơn giản (mẫu) và sao chép lại Nhận ra qui tắc sắp xếp của ít nhất ba đối tượng và sao chép

lại.

2.1 Biết sắp xếp các đối tượng theo trình tự nhất định theo yêu cầu.

2.2 Nhận ra qui tắc sắp xếp (mẫu) và sao chép lại.

2.3 Sáng tạo ra mẫu sắp xếp

và tiếp tục sắp xếp

3 So sánh hai đối

tượng So sánh hai đối tượng về kích thước và nói được các

từ: to hơn/ nhỏ hơn; dài hơn/

ngắn hơn; cao hơn/ thấp hơn;

bằng nhau.

Sử dụng dụng cụ để đo độ dài, dung tích của 2 đối tượng, nói kết quả đo và so sánh.

Sử dụng một số dụng cụ để đo, đong và so sánh, nói kết quả

4 Nhận biết hình

dạng

Nhận dạng và gọi tên các hình: tròn, vuông, tam giác, chữ nhật.

4.1 Chỉ ra các điểm giống, khác nhau giữa hai hình (tròn

và tam giác, vuông và chữ nhật, )

Gọi tên và chỉ ra các điểm giống, khác nhau giữa hai khối cầu và khối trụ, khối vuông và khối chữ nhật

4.2 Sử dụng các vật liệu khác nhau để tạo ra các hình đơn giản.

5.1 Sử dụng lời nói và hành động để chỉ vị trí của đồ vật so với người khác.

5.1 Sử dụng lời nói và hành động để chỉ vị trí của đồ vật so với vật làm chuẩn.

5.2 Mô tả các sự kiện xảy ra theo trình tự thời gian trong ngày.

5.2 Gọi đúng tên các thứ trong tuần, các mùa trong năm.

1.5 ĐẶC ĐIỂM CỦA VIỆC HÌNH THÀNH NHỮNG BIỂU TƯỢNG TOÁN Ở TRẺ MẦM

NON

1.5.1 Quá trình nhận biết thông qua hoạt động

Một đặc điểm khá phổ biến ở trẻ lứa tuổi mẫu giáo là trẻ rất hiếu động, tò mò, thích cái mới lại nhưng lại chóng chán, mau quên mà toán học gồm các khái niệm khó và trừu tượng Vì vậy trẻ không thể ngồi lâu một chỗ để nghe cô giáo hình thành các biểu tượng toán thông qua những lời giảng giải Đối với trẻ chỉ có hoạt động mới tạo ra hứng thú, hoạt động mới gây ra những tình huống để trẻ tìm tòi, làm thử… giúp trẻ tiếp thu các biểu tượng một cách tự nhiên Hoạt động đã tạo ra cơ hội để hình thành các biểu tượng toán ban đầu về: Tập hợp, số lượng, hình dạng, kích thước… Nhưng hoạt động tự nhiên của trẻ là những hoạt động không có sự định hướng, trẻ thực hiên các hoạt động theo ý thích của cá nhân, không có mục đích vì vậy

Trang 6

hoạt động chỉ là cơ hội chứ không phải là điều kiện cần và đủ để trẻ hình thành các biểu tượng toán ban đầu đầy đủ, chính xác.

Ví dụ: Khi học bài số 3 (lớp 4-5 tuổi), trong trò chơi xâu hạt cô sẽ hướng dẫn trẻ xâu hạt: 3 xanh, 3 đỏ, 3 vàng,…Nhưng nếu không có sự hướng dẫn của cô, trẻ có thể xâu 1 dây toàn hạt đỏ hoặc hạt xanh mà cháu thích.

Như vậy các biểu tượng toán ban đầu muốn được hình thành một cách đầy đủ, hệ thống, chính xác ở trẻ mẫu giáo phải thông qua các hoạt động dưới sự hướng dẫn của giáo viên.

1.5.2 Quá trình nhận biết dựa nhiều vào cảm tính

Đặc điểm nhận thức của trẻ mẫu giáo là “Nhận thức bằng cảm tính, tư duy trực quan hình tượng là chủ yếu” vì vậy trẻ nhận biết các biểu tượng sơ đẳng về toán thông qua hoạt động

và nhờ vào sự tham gia của các giác quan: Mắt nhìn, tai nghe, tay sờ mó, lời nói để nhận xét, giải thích… Qua hoạt động các giác quan của trẻ được huy động để nhận biết làm thử, so sánh, phân biệt… Do tuổi còn ít, sự tiếp xúc với môi trường xung quanh hạn chế, vốn ngôn ngữ nghèo nàn, khả năng tổng hợp khái quát hoá chưa cao, nhận thức bằng cảm tính chiếm ưu thế nên sự chính xác còn hạn chế Khi nhận biết các biểu tượng về toán trẻ còn chịu ảnh hưởng nhiều của màu sắc, hình dạng đặc biệt là kích thước và sự sắp đặt các đồ vật trong không gian.

Ví dụ: Khi so sánh số lượng 3 quả cam và 5 chấm tròn thì trẻ lại nhận xét số cam nhiều hơn chấm tròn.

Khả năng cảm thụ để rút ra nhận xét và ghi thành biểu tượng phụ thuộc vào vốn kinh nghiệm và độ tuổi: trẻ càng lớn khả năng khái quát càng tăng vì vậy khi hình thành các biểu tượng toán sơ đẳng cho trẻ mẫu giáo rất cần có sự hướng dẫn của cô giáo để trẻ tập rút ra những nhận xét khái quát, biết diễn đạt kết quả bằng lời nói đúng, ngắn gọn.

1.5.3 Quá trình nhận biết từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp

Đặc điểm này là căn cứ để xác định nội dung, phương pháp hướng dẫn trẻ làm quen với các biểu tượng toán học ban đầu.

Vốn hiểu biết của trẻ còn ít nên những biểu tượng toán dù rất đơn giản nhưng trẻ tiếp thu cũng khá khó khăn Ví dụ: Để trả lời câu hỏi “có bao nhiêu chấm tròn” nhiều trẻ chỉ biết đếm một, hai, ba, bốn không nói được kết quả có 4 chấm tròn.

Để hình thành một biểu tượng mới cho trẻ cần dựa vào vốn kinh nghiệm đã tích luỹ được, vốn từ ngữ của trẻ, đặc biệt phải dựa vào những biểu tượng mà trẻ đã có sự gần gũi với biểu tượng mới khi không có biểu tượng cũ làm cơ sở Ví dụ: Trước khi cho trẻ so sánh, phân biệt hình vuông và hình chữ nhật cô phải cho trẻ nhận biết, gọi tên các hình, chọn hình theo tên gọi…

Đặc biệt quan niệm “dễ” hay “khó” phụ thuộc vào vốn hiểu biết, khả năng nhận thức và môi trường sống của trẻ Có những vấn đề mới tuy đơn giản nhưng do chưa được chuẩn bị kỹ, khả năng hướng dẫn của cô giáo hạn chế làm trẻ tiếp thu khó khăn, thậm chí không tiếp thu được Ngược lại có những vấn đề mới tuy phức tạp nhưng nhờ cách giải quyết từng vấn đề đơn giản qua hệ thống câu hỏi hợp lý trẻ vẫn tiếp thu tốt Ví dụ: Để phân biệt sự giống và khác nhau giữa hình vuông và hình chữ nhật cô cho trẻ thực hiện lần lượt các hoạt động: Xếp hình bằng que tính rồi đếm số que tính xếp mỗi hình thì trẻ sẽ dễ dàng nêu lên được kết quả.

Môi trường cũng ảnh hưởng nhiều đến sự nhận biết của trẻ Cùng một biểu tượng nhưng trẻ ở các thành phố lớn tiếp thu dễ dàng hơn và thực hiện các kỹ năng thành thạo hơn trẻ ở các

Trang 7

vùng nông thôn Ví dụ: Khi hình thành biểu tượng “dài hơn - ngắn hơn” cho trẻ 3-4 tuổi thì trẻ

ở các thành phố không phải chỉ nêu lên kết quả mà còn có thể kiểm tra kết quả bằng kỹ năng so sánh.

Nắm được đặc điểm nhận biết này nên chương trình dạy trẻ đã được xây dựng theo hướng từ đơn giản đến phức tạp, từ dễ đến khó phù hợp với từng độ tuổi Người giáo viên ngoài việc nghiên cứu kỹ nội dung chương trình còn cần phải tìm hiểu kỹ khả năng tiếp thu của trẻ, môi trường trẻ lớp mình học tập, sinh hoạt để lựa chọn nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức và hệ thống bài luyện tập cho phù hợp.

1.5.4 Quá trình nhận biết gắn liền với quá trình phát triển

Sự nhận thức của mỗi cá nhân trẻ phụ thuộc vào di truyền, môi trường và giáo dục Giáo dục có nhiệm vụ hướng dẫn sự phát triển của trẻ, trong đó người giáo viên đóng vai trò rất quan trọng Có một số lớp khi để giáo viên này phụ trách thì ý thức tập thể của các cháu yếu, kết quả học tập thấp nhưng thay giáo viên có kinh nghiệm hơn vào phụ trách thì các cháu sinh hoạt có

nề nếp, kết quả học tập tăng lên Điều đó chứng tỏ sự phát triển của trẻ phụ thuộc vào kinh nghiệm, kỹ năng dạy học của cô giáo.

Thông qua hoạt động của các giác quan với đồ vật cụ thể, dưới sự hướng dẫn của giáo viên, kết hợp với hệ thống câu hỏi có tính sư phạm, trẻ em sẽ được phát triển óc suy nghĩ, rèn luyện khả năng quan sát, so sánh Nhờ đó khả năng tư duy của trẻ được hình thành và phát triển qua các giai đoạn: Từ tư duy trực quan hành động đến tư duy trực quan hình tượng rồi đến tư duy logic.

Quá trình hướng dẫn trẻ nhận biết các biểu tượng sơ đẳng về toán liên quan đến quá trình phát triển của tẻ Kết quả của nhận thức làm tăng thêm vốn hiểu biết của trẻ, ngược lại, vốn hiểu biết giúp trẻ tiếp thu các kiến thức mới dễ dàng, đầy đủ hơn Bài học chỉ có kết quả khi trẻ học xong biết vận dụng vào thực tế Vì vậy sau khi hình thành tri thức mới, cô giáo phải tạo điều kiện cho trẻ có ý thức vận dụng, so sánh, đối chiếu với thực tế để giúp trẻ phát triển trí tuệ.

Cùng với sự phát triển về cơ thể, nhận thức của trẻ cũng được củng cố, mở rộng và phát triển theo, vì vậy mà người ta nói “trẻ em lớn lên cùng nhận thức”

1.6 CÁC NGUYÊN TẮC DẠY TRẺ NHỮNG BIỂU TƯỢNG TOÁN

“Các nguyên tắc dạy học là những luận điểm cơ bản có tính quy luật của lý luận dạy học, có tác dụng chỉ đạo toàn bộ tiến trình giảng dạy và học tập phù hợp với mục đích dạy học nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học đề ra”

Quá trình hình thành các biểu tượng toán học cho trẻ mầm non vận dụng các nguyên tắc dạy học mà Giáo dục học đã đề ra phù hợp với đặc điểm nhận thức của trẻ.

1.6.1 Nguyên tắc dạy học đảm bảo tính phát triển

Tư tưởng dạy học mang tính phát triển do nhà tâm lý học nổi tiếng L.S.Vưgôtxki đề ra L.S.Vưgôtxki đưa ra hai mức độ phát triển trí tuệ: Mức độ thứ nhất là mức độ hiện có, trẻ có thể thực hiện được nhiệm vụ dựa trên chính những cái trẻ đã có; mức độ thứ hai là “vùng phát triển gần”, trẻ thực hiện được nhiệm vụ nhờ sự giúp đỡ của người lớn Theo ông, dạy học muốn thực hiện tốt được các nhiệm vụ đặt ra cho nó thì phải đảm bảo sự phát triển, bằng cách phải hướng đến “vùng phát triển gần” của trẻ Quá trình dạy học không chỉ đưa ra cho trẻ những nhiệm vụ dễ dàng, quen thuộc, mà phải đưa cho trẻ những nhiệm vụ đòi hỏi sự nỗ lực hoạt động trí tuệ

Biện pháp thực hiện nguyên tắc:

Trang 8

- Dựa vào “vùng phát triển gần nhất” của trẻ để lựa chọn nội dung những biểu tượng toán học sơ đẳng cần hình thành cho trẻ.

- Cần dạy trẻ nhận biết các mối quan hệ số lượng, quan hệ không gian và thời gian có trong môi trường xung quanh trẻ, qua đó hình thành ở trẻ một thái độ mới với môi trường xung quanh, hình thành hứng thú nhận biét và phát triển tính ham hiểu biết cho trẻ.

- Xác định đúng mục tiêu dạy học, sử dụng các biện pháp dạy học đa dạng, tránh tạo cho trẻ thói quen lười suy nghĩ và kém linh hoạt trong giải quyết vấn đề.

- Chú ý phát huy tính tích cực của trẻ Quá trình dạy học không nên chỉ dựa vào sự bắt chước và ghi nhớ máy móc của trẻ, giai đoạn đầu, việc dạy trẻ nội dung mới cần dựa trên sự chỉ dẫn kèm theo lời giảng giải của giáo viên, nhưng ở các giai đoạn sau, khi trẻ

đã lĩnh hội các biện pháp thao tác chung (biện pháp so sánh số lượng các nhóm vật bằng thiết lập tương ứng 1 – 1, biện pháp đếm, đo lường kích thước, các biện pháp khảo sát hình hình học ) giáo viên cần tạo điều kiện cho trẻ tự suy nghĩ và tự hành động Ví dụ: Khi trẻ bắt đầu học phân biệt, nhận biết các hình vuông và hình tròn, giáo viên cần dạy trẻ biện pháp khảo sát các hình đó bằng những thao tác khảo sát mẫu kèm theo lời giảng giải của cô, nhưng trên các tiết học tiếp theo sau khi trẻ phân biệt, nhận biết, so sánh các hình hình học đó, giáo viên cần yêu cầu trẻ tự thực hiện biện pháp khảo sát các hình và

tự đưa ra kết luận cần thiết.

- Mở rộng dần nội dung kiến thức, kỹ năng mà trẻ cần tiếp thu và đồng thời với sự phát triển các năng lực quan sát, so sánh, suy luận Ở mỗi cá nhân sau mỗi bài học hoặc sau một hệ thống các bài học, sự phát triển trí tuệ của trẻ tăng dần Các mối liên hệ và sự tương quan mới giữa các sự vật, hiện tượng được mở ra.

- Cần hướng sự phát triển tư duy của trẻ theo hướng từ các thao tác thực hành trên các vật

cụ thể hay với các hình vẽ của chúng tới các thao tác với các khái niệm, tức là tới các thao tác trí tuệ Ví dụ: Khi trẻ làm quen với các tập hợp, giáo viên tổ chức hoạt động thực tiễn cho trẻ, trong đó trẻ thực hiện các thao tác với tập hợp các vật cùng loại như: xếp chúng thành hàng, xếp chồng, xếp cạnh chúng với nhau, diễn đạt bằng lời nói về các đối tượng và các thao tác Sau đó, các thao tác thực hành so sánh được thay thế bằng lời nói diễn đạt, tiếp theo quá trình so sánh số lượng hai nhóm đối tượng được thực hiện trên bình diện trí tuệ, trên cơ sở so sánh số lượng với sự tham gia của các từ số (số nấm bằng số thông và bằng 3)

- Mỗi biểu tượng toán hình thành thường đồng thời với việc phát triển cho trẻ một vốn ngôn ngữ, vì vậy, ngoài việc dạy cho trẻ biết diễn đạt đúng, biết chuẩn bị những câu trả lời, cô cần dạy trẻ biết lắng nghe câu trả lời của bạn để bổ xung những điều cần thiết, đính chính, sửa sai những câu trả lời chưa đúng của bạn.

1.6.2 Nguyên tắc học đi đôi với hành, giáo dục gắn liền với thực tiễn

Nguyên tắc này xuất phát từ những yêu cầu của xã hội đối với nhà truờng trong việc đào tạo thế hệ trẻ, sao cho các em có thể vận dụng những kiến thức, kỹ năng thu được để có thể tự lập được trong cuộc sống sau này của mình và tham gia vào các công việc phù hợp với sức lực của mình Nguyên tắc này còn xuất phát từ quy luật biện chứng, đó là sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn Nó phù hợp với quy luật nhận thức thế giới khách quan của con người: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng lại trở về thực tiễn” Nguyên tắc này cũng phù hợp với đặc điểm nhận thức của trẻ: Nhận thức thông qua hoạt động, hoạt động giúp trẻ củng cố, khắc sâu những hiểu biết đã thu nhận được.

Biện pháp thực hiện nguyên tắc:

Trang 9

- Dựa vào những kinh nghiệm của trẻ để lựa chọn những kiến thức Toán học phù hợp hình thành cho trẻ.

- Luyện tập cho trẻ thói quen quan tâm, chú ý tới các dấu hiệu Toán học của các sự kiện, hiện tượng xung quanh trẻ.

- Cần tổ chức cho trẻ thực hành luyện tập bằng hệ thống các bài tập, nhiệm vụ chơi để hình thành kỹ năng, kỹ xảo cho trẻ.

- Tạo mọi điều kiện để trẻ ứng dụng những kiến thức, kỹ năng toán học vào các hoạt động khác nhau của trẻ trong trường mầm non.

1.6.3 Nguyên tắc đảm bảo tính trực quan

Nguyên tắc dạy học trực quan được I.A.Kômenxki đề xướng Theo ông, kiến thức càng dựa vào cảm giác thì càng xác thực Nghiên cứu sự vật không chỉ dựa vào cái mà người khác quan sát, chững minh mà phải căn cứ vào những cái mà chính mắt mình nhìn, chính tai mình nghe, chính mũi mình ngửi, chính lưỡi mình nếm, chính tay mình sờ

Nguyên tắc này đặc biệt quan trọng khi dạy trẻ mẫu giáo các biểu tượng toán học bởi:

Tư duy của trẻ em được đặc trưng bởi kiểu tư duy trực quan hành động và tư duy trực quan hình tượng Dựa vào trực quan, trẻ dễ huy động được các giác quan để tìm hiểu, quan sát, so sánh và rút ra kết luận Đặc biệt đối với toán học, các khái niệm toán học trừu tượng được thể hiện qua các đồ dùng trực quan cụ thể, sẽ trở thành những biểu tượng toán đơn giản, phù hợp với khả năng nhận thức của trẻ

Biện pháp thực hiện nguyên tắc:

- Cần có đầy đủ các đồ vật trực quan và chúng cần phải đáp ứng những yêu cầu của đồ dùng dạy học.

- Việc sử dụng các đồ vật trực quan vào quá trình hướng dẫn trẻ phải đáp ứng những yêu cầu nhất định như: sử dụng đúng lúc, phù hợp với mục đích dạy học, sử dụng theo các cách khác nhau phụ thuộc vào nhiệm vụ dạy học, thay đổi các đồ dùng trực quan phù hợp với độ tuổi trẻ, không lạm dụng sử dụng đồ dùng trực quan…

- Sử dụng các hành động mẫu với các dạng khác nhau vào quá trình hình thành biểu tượng toán học cho trẻ nhỏ.

- Kết hợp trình bày các phương tiện trực quan với lời nói.

- Rèn luyện cho trẻ óc quan sát và năng lực đưa ra những kết luận và phản ánh nó bằng lời nói.

1.6.4 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống và tính trình tự

nguyên tắc này đòi hỏi nội dung những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo cần hình thành cho trẻ trong từng phần nội dung cũng như trong toàn bộ chương trình cần sắp xếp theo một trật tự

có logic và đưa đến trẻ theo một trình tự nhất định Trong quá trình dạy trẻ cần hình thành ở trẻ

hệ thống kiến thức, kỹ năng toán học nhằm phát triển ở trẻ các năng lực nhận biết cho trẻ, dạy trẻ biết suy nghĩ có logic và tạo tiền đề để trẻ lĩnh hội nội dung học tập khác phức tạp hơn.

Biện pháp thực hiện nguyên tắc:

- Cần có chương trình, kế hoạch hướng dẫn hình thành những kiến thức toán học sơ đẳng cho từng độ tuổi trẻ.

- Cần sắp xếp nội dung hướng dẫn sao cho việc nghiên cứu nội dung mới chỉ diễn ra trên

cơ sở trẻ đã nắm được những nội dung trước đó, tức là tạo ra tính trình tự và sự kế thừa giữa những kiến thức mới và cũ.

Trang 10

- Cần dạy trẻ nắm mối liên hệ bên trong giữa các phần kiến thức toán học riêng biệt, giữa các mối quan hệ số lượng, không gian và thời gian, nhờ vậy mà nội dung những kiến thức toán học sẽ đưa đến trẻ mang tính tổng hợp.

- Cần lập kế hoạch và thực hiện việc dạy trẻ trên hệ thống các tiết học toán nhằm hình thành ở trẻ hệ thống các kiến thức và kỹ năng.

- Cần chú trọng dạy trẻ nắm trình tự các thao tác nhằm hình thành những kỹ năng toán cho trẻ.

- Sử dụng tất cả các giác quan vào quá trình dạy trẻ nhằm giúp trẻ nắm vững hệ thống các kiến thức.

1.6.5 Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính vừa sức chung và vừa sức riêng

Trong quá trình hình thành biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ cần trang bị cho trẻ những kiến thức, kỹ năng phù hợp với khả năng tiếp nhận tùy theo độ tuổi trẻ cũng như của từng trẻ Cần nắm được đặc điểm tâm lí lứa tuổi trẻ để lựa chọn các phương pháp, biện pháp, hình thức, phương tiện dạy học phù hợp với trẻ.

Biện pháp thực hiện nguyên tắc:

- Giáo viên mầm non cần nghiên cứu và nắm được những đặc điểm tâm lí của lứa tuổi trẻ cũng như của từng trẻ, trên cơ sở đó lựa chọn nội dung, phương pháp dạy học phù hợp.

- Dựa trên “vùng phát triển gần nhất” của trẻ để lựa chọn những nội dung kiến thức toán học vừa sức tiếp thu của trẻ để dạy.

- Truyền đạt dần kiến thức cho trẻ, tiếp theo là luyện tập, củng cố nó và sau cùng cho trẻ ứng dụng kiến thức, kỹ năng đã học vào thực tiễn cuộc sống.

- Mở rộng, phức tạp dần nội dung những kiến thức toán học cần dạy trẻ nhằm tạo khả năng trẻ lĩnh hội dần những kiến thức toán học phức tạp hơn và tạo hứng thú học toán cho trẻ.

- Sử dụng các phương pháp, biện pháp, hình thức, phương tiện dạy học đa dạng nhằm làm cho nội dung những kiến thức toán học trở nên vừa sức đối với trẻ.

1.6.6 Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học

Nguyên tắc này đòi hỏi người giáo viên phải nắm và vận dụng được những thành tựu khoa học giáo dục mầm non nói chung và khoa học phương pháp hình thành biểu tượng toán cho trẻ nói riêng vào quá trình dạy trẻ Cần lựa chọn nội dung dạy học có tính logic và tính khoa học, phù hợp với mục tiêu dạy học và phù hợp với đặc điểm nhận thức của trẻ.

Biện pháp thực hiện nguyên tắc:

- Xây dựng nội dung chương trình trên cơ sở của những khoa học có liên quan như: toán học, tâm lí học mầm non, giáo dục học mầm non…

- Dạy trẻ nắm những dấu hiệu cơ bản, bỏ qua những dấu hiệu không cơ bản, dạy trẻ nắm được các biện pháp khái quát hóa.

- Đảm bảo sự thống nhất giữa các thao tác, kiến thức, kỹ năng và thái độ trong quá trình hình thành biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ.

- Cần đảm bảo tính chính xác và tính khoa học về tất cả mọi mặt như: ngôn ngữ, kí hiệu, kiến thức, suy luận.

1.6.7 Nguyên tắc phát huy tính tự giác, tích cực

Để tạo ra hiệu quả dạy học thì cần tạo ra hoạt động tư duy đích thực của trẻ nhằm giúp trẻ nắm chắc các kiến thức Điều đó đòi hỏi phải tạo mọi điều kiện để phát huy tính tích cực

Trang 11

của trẻ trong quá trình học toán nhằm giúp trẻ nắm các kiến thức toán học một cách vững chắc

và có ý thức hơn

Biện pháp thực hiện nguyên tắc:

- Tạo mọi điều kiện để trẻ chủ động tìm tòi, suy nghĩ nắm bắt tri thức, hình thành kỹ năng trên cơ sở trẻ tích cực hoạt động với đối tượng nghiên cứu.

- Cần hình thành ở trẻ những thao tác tư duy.

- Dạy trẻ nhận biết các dấu hiệu bản chất của đối tượng bằng cách thay đổi các dấu hiệu không bản chất.

- Cần chú ý dạy những kiến thức toán học cụ thể và trừu tượng luôn thể hiện trong mối quan hệ với nhau.

- Sử dụng đúng mức phương pháp dạy học nêu vấn đề.

- Sử dụng các phương pháp, biện pháp, hình thức, phương tiện dạy học đa dạng nhằm phát huy tính tích cực của trẻ, hơn nữa cần chú ý tới thời gian một tiết học sao cho hợp lý.

1.7 CÁC PHƯƠNG PHÁP HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG TOÁN CHO TRẺ MẦM NON 1.7.1 Khái niệm “phương pháp hình thành biểu tượng toán cho trẻ mầm non”

Phương pháp hình thành biểu tượng toán học cho trẻ mầm non là tổ hợp các cách thức tổ chức các hoạt động của trẻ em trong quá trình hình thành biểu tượng toán học, nhằm mục đích giáo dục toán học cho trẻ mầm non.

1.7.2 Hệ thống các phương pháp hình thành biểu tượng toán cho trẻ mầm non

Tương ứng với các hình thức tư duy chính của trẻ và cùng với nó là các phương thức hoạt động của trẻ trong quá trình học, có thể phân chia các phương pháp hình thành biểu tượng toán cho trẻ thành ba nhóm: nhóm phương pháp dạy học trực quan, nhóm phương pháp dạy học thực hành, nhóm phương pháp dạy học dùng lời.

a Nhóm phương pháp trực quan

Phương pháp dạy học trực quan trong hình thành biểu tượng toán cho trẻ mầm non là phương pháp tổ chức hoạt động nhận thức của trẻ trong quá trình nắm những tri thức và kỹ năng mới trên cơ sở trình bày trực quan những đối tượng và hiện tượng hiện thực thích hợp.

+ Giúp trẻ nhận biết các thuộc tính, đặc điểm bên ngoài của sự vật, hiện tượng

+ Hình thành một cách nhanh chóng, rõ ràng những biểu tượng toán học cụ thể.

- Các phương pháp trực quan thường dùng trong hình thành biểu tượng toán cho trẻ: Nhóm phương pháp trực quan gồm: Quan sát và Trình bày trực quan.

+ Quan sát:

 Quan sát là tri giác các sự vật và hiện tượng của thế giới xung quanh một cách có mục đích, có kế hoạch trong một khoảng thời gian nhất định

 Yêu cầu khi sử dụng phương pháp quan sát:

 Cần giới thiệu cho trẻ mục đích quan sát, nhiệm vụ quan sát

 Cần lựa chọn vị trí, thời điểm quan sát thuận lợi.

 Giáo viên nên có những chỉ dẫn, câu hỏi hướng trẻ tập trung vào dấu hiệu cần quan sát.

 Chú ý đến khả năng quan sát của trẻ để lựa chọn khối lượng kiến thức phù hợp.

+ Trình bày trực quan:

Trang 12

 Trình bày trực quan là phương pháp sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học (trình bày các đồ vật, tranh ảnh, vật mẫu, sử dụng phim ảnh và các phương tiện kĩ thuật).

 Hai hình thức thể hiện: Trình bày vật mẫu và hành động mẫu

 Yêu cầu khi sử dụng phương pháp trình bày trực quan:

 Trình bày vật mẫu: Các vật mẫu được lựa chọn đẹp, phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của bài học, lứa tuổi trẻ và điều kiện vật chất sẵn có của địa phương Sử dụng vật mẫu đúng lúc và đảm bảo cho mọi trẻ được nhìn rõ ràng, đầy đủ Không lạm dụng việc sử dụng các vật mẫu.

 Sử dụng hành động mẫu: Các thao tác thực hiện trong hành động mẫu theo đúng trình

tự, ranh giới giữa các thao tác phải rõ ràng Giáo viên dự kiến trước những lỗi trẻ có thể gặp khi thực hiện hành động để tập trung lưu ý sửa lỗi cho trẻ Kết hợp hợp lí phương pháp trực quan với lời nói.

b Nhóm phương pháp dùng lời

ngữ của giáo viên để mô tả, hướng dẫn, gợi ý hoặc hỏi trẻ nhằm hướng dẫn trẻ quan sát, đối chiếu, so sánh, phân tích để nắm được những tri thức cần thiết.

+ Kết hợp và bổ xung cho các phương pháp dạy học khác.

+ Giúp trẻ nhận biết được những đặc điểm của đối tượng mà trẻ khó nhận biết được bằng các giác quan.

+ Giúp trẻ chính xác hoá, khái quát hoá sự nhận thức ban đầu các biểu tượng toán học.

+ Góp phần phát triển tư duy, phát triển ngôn ngữ.

- Các phương pháp dùng lời thường dùng trong hình thành biểu tượng toán cho trẻ:

+ Giảng giải:

 Giảng giải là dùng lời nói để giải thích một vấn đề hay tính chất, đặc điểm nào đó của sự vật, hiện tượng, nhằm giúp trẻ nhận thức đúng đắn về sự vật, hiện tượng

đó

 Yêu cầu khi sử dụng phương pháp giảng giải:

 Lời giải thích của giáo viên cần chính xác, rõ ràng, ngắn gọn, dễ hiểu.

 Giảng giải cần được kết hợp với hình ảnh trực quan

 Với trẻ mẫu giáo bé, lời giảng giải, hướng dẫn cần ngắn gọn, gắn với quá trình trẻ thực hiện các thao tác Với trẻ mẫu giáo lớn, lời hướng dẫn mang tính tổng thể, phản ánh toàn bộ quá trình thực hiện nhiệm vụ.

+ Đàm thoại:

 Đàm thoại là phương pháp giáo viên đặt ra những câu hỏi đã được lựa chọn, nhằm kích thích hoạt động nhận thức của trẻ theo hướng cần thiết, khích lệ, gợi ý trẻ dựa vào tri thức đã biết, đã quan sát để trả lời câu hỏi, qua đó, trẻ nắm được tri thức mới, củng cố, mở rộng, hệ thống hóa tri thức cũ.

 Hệ thống câu hỏi bao gồm:

 Câu hỏi sao chép bên ngoài: là loại câu hỏi để hỏi việc ghi nhận những điểm bên ngoài của đối tượng hoặc nhắc lại nhiệm vụ của cô giao.

 Câu hỏi nhận thức sao chép: Là loại câu hỏi giúp trẻ đào sâu và củng cố kiến thức đã có.

Trang 13

 Câu hỏi nhận thức sáng tạo: Là loại câu hỏi yêu cầu trẻ sử dụng tri thức đã có vào việc giải quyết các tình huống khác nhau

 Yêu cầu khi sử dụng phương pháp đàm thoại:

 Cần dựa vào mục đích, yêu cầu của bài để xây dựng các câu hỏi và sắp xếp theo một hệ thống phức tạp dần theo trình tự bài.

 Câu hỏi ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu và vừa sức với trẻ, kích động được tư duy của trẻ.

 Cần đặt câu hỏi chung cho cả lớp suy nghĩ, sau đó mới gọi cá nhân trả lời nhằm phát huy tính tích cực nhận thức của cả lớp.

 Các câu hỏi chỉ được đưa ra sau khi trẻ đã quan sát hoặc thực hiện xong hoạt động.

 Tập cho trẻ trả lời to, rõ ràng, tự nhiên Khi một trẻ trả lời, cả lớp chú ý theo dõi để nhận xét, bổ xung.

+ Tạo điều kiện sử dụng kiến thức, kĩ năng đã học vào các hoạt động đa dạng khác nhau.

- Các phương pháp thực hành thường dùng trong hình thành biểu tượng toán cho trẻ: + Luyện tập:

 Luyện tập là phương pháp mà giáo viên tổ chức cho trẻ vận dụng những tri thức

đã biết vào việc giải quyết nhiệm vụ thực tiễn nhằm hình thành và hoàn thiện kỹ năng, kỹ xảo của trẻ

 Yêu cầu khi sử dụng phương pháp luyện tập:

 Giáo viên cần tổ chức cho mọi trẻ được tham gia luyện tập thông qua việc thực hiện các bài tập khác nhau, dành thời gian cho trẻ luyện tập hợp lý.

 Các dạng bài tập phụ thuộc vào mục đích, yêu cầu của tiết học, vào mức độ nắm kiến thức, kỹ năng và năng lực của trẻ, vào đặc điểm lứa tuổi trẻ.

 Cần đưa ra những nhiệm vụ cụ thế cho trẻ.

 Hệ thống bài tập được đưa ra theo hướng phức tạp dần, hệ thống kỹ năng ngày càng tăng dần.

+ Phương pháp trò chơi:

 Phương pháp trò chơi là phương pháp giáo viên dùng trò chơi làm con đường truyền thụ tri thức mới, củng cố mở rộng tri thức cũ, hoàn thiện các kỹ năng, kỹ xảo và năng lực nhận thức cho trẻ Việc sử dụng hợp lý phương pháp trò chơi sẽ làm tăng hứng thú học tập của trẻ, làm cho việc học đối với trẻ trở nên thoải mái, nhẹ nhàng hơn.

 Yêu cầu khi sử dụng phương pháp trò chơi:

Trang 14

 Trò chơi được đưa ra phù hợp với mục đích, nội dung bài dạy.

 Cần hướng dẫn trẻ rõ ràng, dễ hiểu, phù hợp với độ tuổi và tạo điều kiện để trẻ tham gia chơi một cách tích cực, hứng thú.

 Cần sử dụng kết hợp với các phương pháp khác, không biến trò chơi thành giờ học.

 Lựa chọn đồ dùng, đồ chơi thích hợp và hấp dẫn nhằm gây hứng thú, làm tăng hiệu quả của trò chơi học tập

1.8 CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC DẠY TRẺ BIỂU TƯỢNG TOÁN

Hình thức tổ chức dạy học là cách thức tổ chức quá trình học tập cho người học phù hợp với mục đích, nội dung bài học, nhằm làm cho bài học đạt được kết quả tốt nhất.

Quá trình hình thành biểu tượng toán cho trẻ ở trường mầm non có thể được diễn ra dưới nhiều hình thức hoạt động: tiết học, trò chơi, tham quan, dạo chơi, trong sinh hoạt hàng ngày Tuy nhiên, có thể quy chúng về hai hình thức cơ bản:

Các hình thức này đều nhằm mục đích chung là hình thành kiến thức và kĩ năng cho trẻ Mỗi hình thức đều có mặt mạnh, mặt yếu Nhiệm vụ của giáo viên là nắm vững và sử dụng kết hợp hợp lý các hình thức đó để hoàn thành mục đích dạy học

1.8.1 Tổ chức hình thành biểu tượng toán trong “tiết học”

Tiết học là hình thức học tập bắt buộc chung cho cả lớp, được tiến hành dưới sự chỉ đạo

sư phạm của giáo viên, là người tổ chức quá trình học tập Thời gian dành cho tiết học trong chế độ sinh hoạt hàng ngày được quy định

a Ý nghĩa

Đây là hình thức tổ chức không thể thiếu trong việc hình thành biểu tượng toán ở trường mầm non, nhằm:

+ Cung cấp cho trẻ hệ thống kiến thức, kĩ năng chính xác, đảm bảo tính khoa học.

+ Thực hiện một cách hệ thống nội dung chương trình cho trẻ làm quen với toán được quy định trong chương trình giáo dục mầm non.

+ Góp phần phát triển các năng lực cảm giác, hình thành các thao tác tư duy, phát triển ngôn ngữ, phát triển hứng thú nhận biết cho trẻ.

+ Góp phần hình thành những kĩ năng của hoạt động học tập như: chú ý lắng nghe, tích cực ghi nhớ, giơ tay phát biểu, thực hiện nhiệm vụ được giao đúng thời gian quy định

b Đặc điểm

Trẻ lĩnh hội các tri thức và kĩ năng thông qua quá trình hoạt động với đồ vật (dưới hình thức vui chơi hoặc các hoạt động mang yếu tố vui chơi) Trong quá trình hoạt động đó, trẻ đóng vai trò chủ thể tích cực của hoạt động Trẻ trực tiếp tham gia vào quá trình hoạt động với đồ vật Trẻ tự nêu lên nhận xét về những điều lĩnh hội được qua hoạt động Trẻ tự kiểm tra, đánh giá kết quả công việc của mình cũng như của bạn.

Giáo viên là người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn trẻ hoạt động Giáo viên chỉ cho trẻ biết phải làm gì và làm như thế nào Giáo viên chính xác hóa các nhận xét của trẻ, khái quát hóa kết

Trang 15

quả để hình thành tri thức mới Giáo viên sử dụng hợp lý các phương pháp giảng dạy, tạo điều kiện để trẻ tích cực, chủ động và phát huy hết năng lực của mình.

c Cấu trúc và tiến trình của một “tiết học”

- Tổ chức lớp: (chuẩn bị bàn ghế, phân chia đồ dùng học tập, ổn định tổ chức, kiểm tra tình hình chuẩn bị học tập, tư thế ngồi học, hình thức bên ngoài và sự tập trung chú ý ).

- Tiến hành tiết học:

+ Phần 1: Ôn kiến thức cũ, làm quen với kiến thức mới: Trọng tâm ôn luyện là những kiến thức

có liên quan trực tiếp đến nội dung bài học sắp thực hiện, qua đó giáo viên hướng sự chú ý của trẻ vào nhiệm vụ chuẩn bị phải giải quyết Nội dung kiến thức giai đoạn này đơn giản, thời gian tiến hành ngắn.

+ Phần 2: Hình thành tri thức, biểu tượng mới: Trẻ trực tiếp tham gia vào các hoạt động với đồ vật dưới sự hướng dẫn của giáo viên, qua đó lĩnh hội tri thức mới Trong quá trình trẻ hoạt động với các đối tượng, giáo viên dùng các câu hỏi gợi mở để hướng trẻ chú ý tới dấu hiệu toán học, mối quan hệ toán học cần nhận biết và dạy trẻ phản ánh chúng bằng lời nói Sau từng hoạt động, cô hướng dẫn trẻ phân tích, đối chiếu, so sánh, khái quát những vấn đề cần lĩnh hội để hình thành tri thức mới Cô chính xác hoá, khái quát hoá kết quả, nhấn mạnh những vấn đề trọng tâm trẻ cần lĩnh hội để hình thành tri thức mới

+ Phần 3: Luyện tập, củng cố: Tổ chức cho trẻ vận dụng những điều vừa lĩnh hội được vào các hoạt động đa dạng thông qua hệ thống các bài luyện tập từ đơn giản đến phức tạp, qua trò chơi

để củng cố hiểu biết và rèn luyện các kỹ năng vừa có, cho trẻ liên hệ với thực tế, cho trẻ tạo ra sản phẩm mới bằng các phương tiện khác

- Kết thúc tiết học: Giáo viên tổng kết, đánh giá kết quả hoạt động học tập, cùng trẻ phân tích công việc đã làm, đánh giá sự tham gia tích cực của trẻ và kết quả đã đạt được

Đối tượng : (lứa tuổi, số lượng)

Người dạy :

I Mục đích, yêu cầu:

- Kiến thức: (những kiến thức cũ cần củng cố, ứng dụng và những kiến thức mới cần hình hình thành)

- Kỹ năng : (những kĩ năng cũ cần luyện tập và những kĩ năng mới cần hình hình thành)

- Thái độ : (những thái độ cần giáo dục cho trẻ)

II Chuẩn bị:

- Địa điểm tổ chức, đội hình dạy trẻ.

- Đồ dùng: ghi cụ thể tên, số lượng, kích thước, các loại

Trang 16

- Trình bày rõ trình tự các hoạt động sẽ tiến hành với trẻ.

- Cách thức giáo viên hướng dẫn trẻ thực hiện từng hoạt động, thực hiện từng nhiệm vụ học tập.

- Ghi rõ hệ thống các câu hỏi, lời hướng dẫn, giảng giải của giáo viên.

- Cách thức giáo viên thực hiện hành động mẫu, trình bày vật mẫu.

- Ghi rõ hệ thống các bài tập hay các trò chơi và cách sử dụng chúng khi dạy trẻ.

- Dự tính các tình huống có thể xảy ra và cách xử lí.

Hoạt động 2 : Hoạt động 3 :

Nhận xét, tuyên dương :

- Trình bày rõ các hoạt động mà trẻ cần tham gia.

- Trình tự các hành động, các thao tác mà trẻ cần thực hiện dưới sự hướng dẫn hay theo yêu cầu của giáo viên.

- Dự kiến kết quả hành động cần đạt được ở trẻ.

- Dự kiến các câu trả lời cần đạt được ở trẻ.

- Dự kiến các tình huống có thể xảy ra với trẻ.

1.8.2 Tổ chức hình thành biểu tượng toán ngoài “tiết học”

- Ý nghĩa:

+ Đa dạng hóa các hình thức cho trẻ mầm non làm quen với toán trong trường mầm non.

+ Đảm bảo nguyên tắc “Học đi đôi với hành, giáo dục gắn liền với thực tiễn” trong quá trình hình thành những biểu tượng toán học cho trẻ mầm non.

+ Tạo điều kiện củng cố và làm sâu sắc hơn những kiến thức, kĩ năng mà trẻ đã học được trong các hoạt động học toán có chủ đích.

+ Góp phần hình thành cho trẻ kĩ năng và thói quen vận dụng những điều đã học vào các tình huống, hoàn cảnh khác nhau của cuộc sống.

+ Giúp trẻ thấy được ý nghĩa của những kiến thức toán học và những kĩ năng nhận biết đã học trong cuộc sống thực tế hằng ngày của trẻ, qua đó hình thành cho trẻ hứng thú đối với những kiến thức, kĩ năng toán học.

- Tiến hành:

Ngoài thời gian “tiết học”, giáo viên có thể sử dụng các hình thức dạy học khác nhau trong các hoạt động khác nhau (trong hoạt động vui chơi, kết hợp với các hoạt động học tập khác, kết hợp với đi dạo, tham quan, trong các hoạt động sinh hoạt hàng ngày) để hình thành biểu tượng

Trang 17

hướng sự chú ý của trẻ vào các dấu hiệu toán học, các mối quan hệ toán học thể hiện trong các

sự vật, hiện tượng xung quanh, giao cho trẻ những nhiệm vụ đòi hỏi trẻ phải vận dụng các kiến thức, kĩ năng toán học đã học vào thực tiễn.

Chương 2.

HÌNH THÀNH CÁC BIỂU TƯỢNG TẬP HỢP, SỐ LƯỢNG, CON SỐ VÀ DẠY ĐẾM

2.1 ĐẶC ĐIỂM NHẬN THỨC

2.1.1 Lứa tuổi nhà trẻ

- Những cơ sở đầu tiên về tập hợp, số lượng được hình thành rất sớm ở trẻ

- Trẻ sớm phân biệt được một vật với nhiều vật, có phản ứng trước sự khác nhau về số lượng của các nhóm vật.

- Trẻ chưa nhận biết chính xác giới hạn của tập hợp cũng như các phần tử của tập hợp, biểu tượng

- Việc nhận biết, so sánh số lượng giữa các nhóm vật dựa nhiều vào cảm tính, trực quan.

b Mẫu giáo nhỡ

- Trẻ có khả năng nhận biết dấu hiệu chung của nhóm bất kì và biết bỏ qua những dấu hiệu khác của chúng Trẻ có khả năng phân tích rõ ràng từng phần tử của tập hợp, đánh giá độ lớn các tập hợp theo số lượng các phần tử Ảnh hưởng của các dấu hiệu bên ngoài như mầu sắc, hình dạng, kích thước, sự phân bố trong không gian đến việc tri giác và đánh giá số lượng đã giảm.

- Trẻ có khả năng so sánh số lượng giữa hai nhóm đồ vật bằng cách thiết lập tương ứng 1-1 giữa các đối tượng của hai nhóm

- Trẻ đã có khả năng đếm Khi được dạy, trẻ có thể nắm được phép đếm, phân biệt được quá trình đếm và kết quả của phép đếm, hiểu được ý nghĩa của con số Tuy nhiên, trẻ còn khó khăn khi phải đếm với số lượng lớn các vật.

c Mẫu giáo lớn

- Trẻ có khả năng phân tích chính xác từng đối tượng trong một nhóm cũng như các nhóm nhỏ trong nhóm lớn Trên cơ sở đó, trẻ có thể hình dung được phần tử của tập hợp không phải chỉ là từng vật riêng lẻ mà có thể là từng nhóm gồm một số đồ vật Việc đánh giá tập hợp về mặt số lượng không còn chịu ảnh hưởng của các dấu hiệu bên ngoài.

- Trẻ rất có hứng thú với hoạt động đếm Phần lớn trẻ đã nắm được trình tự của các số tự nhiên từ

1 đến 10, biết thiết lập tương ứng 1-1 trong quá trình đếm giữa tập hợp số từ và tập hợp các đối tượng cần đếm

- Kĩ năng đếm của trẻ ngày càng thuần thục: không chỉ đếm đúng số lượng các nhóm vật mà cả

số lượng âm thanh, động tác; không chỉ đếm từng vật riêng lẻ mà còn đếm từng nhóm vật; không những đếm xuôi mà còn có khả năng đếm ngược.

Trang 18

2.2 PHƯƠNG PHÁP HÌNH THÀNH BIỂU TƯỢNG TẬP HỢP, SỐ LƯỢNG, CON SỐ VÀ DẠY ĐẾM CHO TRẺ MẦM NON

2.2.1 Trẻ mẫu giáo bé

a Hình thành biểu tượng “một”, “nhiều”

Việc dạy trẻ phân biệt, nhận biết và làm quen với các mối quan hệ giữa “một” và “nhiều” được bắt đầu ngay ở các tiết học đầu tiên khi hình thành biểu tượng tập hợp cho trẻ Trong tiết học, giáo viên hướng trẻ tới việc phân biệt và nhận biết các nhóm gồm các vật giống nhau và phản ánh số lượng của chúng bằng các từ “một”, “nhiều”

Cách thức tiến hành:

+ Cho trẻ làm quen với số lượng “một”.

+ Cho trẻ gộp các đối tượng riêng rẽ cùng loại (“một”) thành một nhóm nhiều đối tượng, phản ánh số lượng của nhóm bằng từ “nhiều”.

+ Cho trẻ tách một nhóm nhiều đối tượng thành các đối tượng riêng rẽ

 Lưu ý:

+ Cần chú ý hướng dẫn trẻ nhặt vật, xếp vật bằng tay phải.

+ Sau khi trẻ tạo được nhóm vật, giáo viên nên sử dụng các câu hỏi để hướng trẻ chú ý tới mặt số lượng của nhóm vật vừa tạo ra (“Chúng mình vừa cắm được bao nhiêu bông hoa?”) và tập để trẻ trả lời chính xác, đầy đủ (“Nhiều bông hoa”).

b Tạo nhóm theo dấu hiệu chung

Khi trẻ đã biết tạo nhóm đồ vật và trả lời câu hỏi “Bao nhiêu?” bằng các từ “một”, “nhiều”, giáo viên bắt đầu dạy trẻ tạo các tập hợp theo các dấu hiệu: màu sắc, kích thước, hình dạng và diễn đạt số lượng phần tử của tập hợp tạo ra bằng từ “nhiều” (nhiều con mèo, nhiều bông hoa).

+ Tiếp theo, yêu cầu trẻ tạo nhóm đồ vật theo nhiều dấu hiệu (thường chỉ nên dừng ở hai dấu hiệu).

 Lưu ý: Khi giao nhiệm vụ cho trẻ, giáo viên cần sử dụng các từ nhấn mạnh ý nghĩa “trọn vẹn” của tập hợp, như: nhặt hết, nhặt tất cả, chỉ toàn là và hướng dẫn trẻ sử dụng các

từ đó để nhận xét nhóm vật được tạo thành.

c Tìm một và nhiều vật trong môi trường xung quanh

Việc dạy trẻ tìm một vật, nhiều vật trong môi trường xung quanh có tác dụng tập cho trẻ hình dung tất cả các vật cùng loại vào một thể trọn vẹn ngay cả khi chúng ở các vị trí khác nhau trong không gian Cách thức tiến hành:

+ Bước 1: Cho trẻ luyện tập tạo nhóm đồ vật có số lượng là một hoặc nhiều.

+ Bước 2: Dạy trẻ tìm một và nhiều vật trong hoàn cảnh tạo sẵn Các nhóm đồ vật được sắp đặt để trẻ

dễ nhìn thấy, rồi dần dần được sắp đặt ở những vị trí khác nhau trong lớp học Để giúp trẻ dễ dàng thực hiện được nhiệm vụ, giáo viên có thể hướng trẻ chú ý tới các khu vực không gian cụ thể

+ Bước 3: Dạy trẻ tìm một và nhiều vật trong hoàn cảnh tự nhiên Để giúp trẻ dễ dàng thực hiện được nhiệm vụ, giáo viên có thể hướng trẻ chú ý tới các khu vực không gian cụ thể

 Lưu ý: Sau khi thực hiện xong nhiệm vụ, giáo viên yêu cầu trẻ trả lời các câu hỏi về tên gọi đồ vật, số lượng, vị trí xắp đặt.

d Nhận biết các tập hợp bằng các giác quan khác nhau

Dạy trẻ cảm thụ các tập hợp bằng các giác quan khác nhau có vai trò:

+ Cho trẻ được làm quen với sự đa dạng, phong phú của các tập hợp xung quanh trẻ

+ Rèn luyện khả năng cảm thụ của các giác quan.

Trang 19

Cách thức tiến hành:

Giáo viên cho trẻ luyện tập cảm thụ các tập hợp đa dạng (đồ vật, âm thanh, động tác, ) bằng các giác quan khác nhau (thính giác, thị giác, xúc giác, ) Các nhiệm vụ giao cho trẻ được phức tạp dần: từ chỉ sử dụng một giác quan để cảm thụ đến kết hợp sự cảm thụ của nhiều giác quan, từ cảm thụ một dấu hiệu đến cùng một lúc phải cảm thụ nhiều dấu hiệu.

e Đếm số lượng trong phạm vi 5

Hoạt động đếm là được thực hiện trên một tập hữu hạn, cụ thể nhằm xác định số lượng đối tượng của tập đó Bản chất của hoạt động đếm là thiết lập tương ứng 1-1 từ tập hợp các vật cần đếm đến bộ phận đầu tiên của dãy số tự nhiên bắt đầu từ 1 Một hoạt động đếm bao gồm quá trình đếm và xác định kết quả đếm.

Cách thức tiến hành:

- Bước 1: Dạy trẻ nắm vững tên gọi và thứ tự các số tự nhiên trong dãy số bắt đầu từ 1 (tới 5) quá trình này được tiến hành mọi lúc, mọi nơi trước khi cho trẻ đếm đúng trên tập hợp đồ vật cụ thể

- Bước 2: Dạy trẻ đếm đúng trên tập hợp đồ vật cụ thể với số lượng đối tượng tăng dần trong phạm vi 5

+ Cho trẻ đếm một nhóm có số lượng đã biết.

+ Thêm 1 đối tượng vào nhóm để được nhóm mới Trẻ đếm số lượng nhóm mới được tạo thành.

+ Trẻ nhận xét cách tạo thành số mới (thêm 1) và so sánh số lượng của nhóm mới với số lượng của nhóm cũ.

+ Dạy trẻ biết tách số từ cuối cùng ra khỏi quá trình đếm và xác định kết quả đếm bằng cách cho trẻ nói

số từ kèm theo tên đơn vị (một, hai, ba, có tất cả 3 con thỏ).

- Cho trẻ luyện tập kĩ năng đếm và vận dụng kĩ năng đếm trong các hoạt động hàng ngày.

+ Khi trẻ nói kết quả của phép đếm, tập để trẻ dùng các thao tác minh họa thể hiện kết quả đó ứng với toàn bộ nhóm vật (khoanh tròn quanh tập hợp được đếm ).

f Gộp hai nhóm đối tượng

- Khi trẻ chưa học đếm:

Lúc này, qua hoạt động gộp các nhóm đối tượng, giáo viên bước đầu giúp trẻ nhận biết một tập hợp lớn trong đó có các tập hợp con:

Cách thức tiến hành:

+ Sử dụng các đồ vật có những dấu hiệu khác nhau.

+ Cho trẻ tạo các nhóm đồ vật theo những dấu hiệu riêng.

+ Cho trẻ hợp các nhóm đồ vật để tạo thành nhóm mới và nhận xét về thành phần nhóm mới (được tạo thành từ các nhóm nhỏ hơn).

Ngày đăng: 19/06/2022, 08:16

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

5. Hình dạng - Chương 2 Phương pháp phát triển ngôn ngữ
5. Hình dạng (Trang 4)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w