Sự ra đời, phát triển của xã hội học là một đóng góp to lớn vào nhận thức quản lý xã hội Cơ cấu xã hội Quản lý xã hội Dư luận xã hội Chính sách xã hội Thông tin xã hội có độ tin cậy cao bằng cách nào Cuộc sống xã hội ngày càng đặt ra nhiều vấn đề phức tạp, đa dạng đòi hỏi phải đƣợc giải quyết trong lĩnh vực quản lý xã hội không phải là một việc làm nhất thời mà là một quá trình giải quyết hàng loạt vấn đề do cuộc sống đặt ra buộc phải thƣờng xuyên có sự điều chỉnh cơ cấu xã hội. Bởi vậy, nhà quản lý phải có kiến thức hiểu biết sâu về xã hội và có cách điều chỉnh cơ cấu xã hội nhằm đáp ứng phục vụ tốt nhất cho công cuộc xây dựng đất nƣớc và bảo vệ tổ quốc Xã hội học là khoa học nghiên cứu sự hình thành và phát triển vận hành các nhóm, các tổ chức, các động đồng xã hội; là khoa học nghiên cứu về các mối quan hệ xã hội với tính cách là cơ sở tác động qua lại giữa các cá nhân và cá nhóm, các cộng đồng xã hội, và là khoa học về quy luật hành động của quần chúng. Xã hội học là môn khoa học xã hội còn rất trẻ, ra đời sau triết học, kinh tế, lịch sử… Tuy nhiên sự ra đời của xã hội học là một đóng góp to lớn vào nhận thức và quản lý xã hội. Để có minh chứng cho sự khẳng định này chúng ta hãy tìm hiểu nguồn gốc ra đời của xã hội học, đối tƣợng chức năng phƣơng pháp nghiên cứu của xã hội học cùng với những ý nghĩa thực tiễn của nó. Trƣớc hết xã hội học ra đời do những nhu cầu cơ bản của xã hội xuất phát từ nhu cầu nhận thức, một nhu cầu hiểu biết về xã hội, về bản thân cá nhân trong xã hội đó mà từ đầu thế kỷ 18 trở về trƣớc sự nhận thức xã hội loài ngƣời chỉ mang tính chất giả định, ƣớc đoán, chƣa có cơ sở khoa học, chƣa có thể thống. Nó ra đời do những nhu cầu thực tiễn và đặc biệt là nhu cầu của những ngƣời làm việc trong bộ máy nhà nƣớc hoặc trong lãnh vực công nghiệp, hoạt động dịch vụ, chính những ngƣời làm việc trong lãnh vực này đòi hỏi cần phải có những hiểu biết sâu sắc, đầy đủ về về xã hội, về cá nhân trong xã hội đó để có thể hoàn thành nhiệm vụ của mình. Xã hội học ra đời cũng chính do nhu cầu phát triển của xã hội muốn cảitạo, muốn biến đổi biến đổi xã hội phải bảo đảm có cơ sở khoa học, đây là một nhu cầu rất cơ bản và rất thực tế đối với những ngƣời làm công tác xã hội cần phải có những dự báo chính xác về khuynh hƣớng phát triển trong xã hội tƣơng lai vì thế cần phải có một bộ môn khoa học mới đó là xã hội học. Xã hội học ra đời từ những tiền đề chính trị và dự trên những tƣ tƣởng, lý luậnkhoa học
Trang 1Cổng thông tin điện tử Đoàn – Hội Học viện Hành chính cơ sở HCM 1
Trước hết xã hội học ra đời do những nhu cầu cơ bản của xã hội xuất phát từ nhu cầu nhận thức, một nhu cầu hiểu biết về xã hội, về bản thân cá nhân trong xã hội đó mà từ đầu thế kỷ 18 trở về trước sự nhận thức xã hội loài người chỉ mang tính chất giả định, ước đoán, chưa có cơ sở khoa học, chưa có thể thống Nó ra đời
do những nhu cầu thực tiễn và đặc biệt là nhu cầu của những người làm việc trong
bộ máy nhà nước hoặc trong lãnh vực công nghiệp, hoạt động dịch vụ, chính những người làm việc trong lãnh vực này đòi hỏi cần phải có những hiểu biết sâu sắc, đầy đủ về về xã hội, về cá nhân trong xã hội đó để có thể hoàn thành nhiệm vụ của mình Xã hội học ra đời cũng chính do nhu cầu phát triển của xã hội muốn cải tạo, muốn biến đổi biến đổi xã hội phải bảo đảm có cơ sở khoa học, đây là một nhu cầu rất cơ bản và rất thực tế đối với những người làm công tác xã hội cần phải
có những dự báo chính xác về khuynh hướng phát triển trong xã hội tương lai vì thế cần phải có một bộ môn khoa học mới đó là xã hội học
Xã hội học ra đời từ những tiền đề chính trị và dự trên những tư tưởng, lý luận khoa học
Từ thế kỷ 18 xã hội châu Aâu có nhiều biến đổi, cuộc cách mạng công nghiệp bùng nổ, chủ nghĩa tư bản ra đời, toàn bộ cách mạng công nghệ tạo nên cơ cấu xã hội mới, phá vỡ vương quốc phong kiến cũ hình thành xã hội đô thị, tạo nên những cuộc di dân khổng lồ từ nông thôn ra thành thị, nhiều khu trung tâm công nghệ các thành phố lớn các tiểu thành phố hình thành mâu thuẫn giai cấp, dân tộc căng thẳng, các những mối quan hệ xã hội ngày càng trở nên đa dạng, phức tạp hơn, tệ nạn xã hội, thất nghiệp gia tăng hiện tượng bùng nổ dân số xảy ra và chiến tranh xảy ra xã hội loài người đứng trước cuộc khủng hoảng lớn Tình trạng này đòi hỏi các nhà khoa học phải nhận thức lại xã hội của mình và chính lúc này xã hội học đóng vai trò bác sĩ khám lâm sàng cơ thể sống “xã hội” để tiến tới giải phẫu và và quản lý tốt trật tự xã hội giải quyết tốt các nhiệm vụ mà các khoa học khác đã có lâu đời hơn như triết học, đạo đức vẫn không trả lời và giải thích rõ
Trang 2Cổng thông tin điện tử Đoàn – Hội Học viện Hành chính cơ sở HCM 2
Xã hội học cũng phát triển từ những tiền đề về tư tưởng lý luận khoa học Từ cuối thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 19 ở Tây Âu đã có những thay đổi căn bản về nhận thức đối với cấu trúc của xã hội và bản thân con người do những thành tựu khoa học mà đáng kể nhất là học thuyết về tế bào, học thuyết bảo tồn và chuyển hóa năng lượng, học thuyết tiến hóa của Dacwin Ba học thuyết này cho ta thấy bản thân những thế giới là một chỉnh thể quan hệ chặt chẽ Mặt khác ảnh hưởng của cuộc cách mạng Pháp 1789 với tư tưởng bình đẳng, bác ái, dân chủ và sự hiện hữu của nhóm trí thức sống trong bầu không khí tương đối tự do cũng tạo điều kiện cho sự phát triển của môn xã hội học và hơn nữa trong giai đoạn này, xã hội Tây Aâu đứng trước những thất vọng to lớn do sự tồn tại của các nền đế chế Napoleon,
sự thất vọng về tư tưởng tự do của các nhân không được bảo đảm, đã thúc đẩy sự
ra đời của xã hội học
Lúc này xã hội ở tình trạng không ngừng biến động về các mặt kinh tế, văn hóa, chính trị, đời sống …và chính những lý thuyết của Auguste Comte (1798-1857), Emile Durkheim (1858-1917), H.Spencer (1820-1903), Max Webet (1864-1920),
và nhất là của K.Marx (1818-1883)đã đặt nền móng cho ngành xã hội học nó là khoa học đáp ứng được yêu cầu bức thiết lúc đó, phát triển rực rỡ ở các nước công nghiệp và đến giữa thế kỷ 19 xã hội học trở thành một môn khoa học xã hội độc lập, có đối tượng, phương pháp và có chức năng riêng biệt
Ngay từ khi ra đời xã hội học đã phát triển rực rỡ ở các nước công nghiệp nhưng ở Việt Nam phát triển chậm chỉ những năm 80 của thế kỷ 20 ta mới thực sự quan tâm, đặc biệt là xã hội học được phát triển mạnh từ 1995
Đây là thời kỳ đổi mới của Việt Nam:
+ Kinh tế: trước 1986 nền kinh tế tự cung tự cấp, chậm phát triển (kinh tế nhà nước) Từ khi có chính sách đổi mới của Đảng và nhà nước (đổi mới về kinh tế, chính trị, xã hội ) phát triển kinh tế nhiều thành phần (kinh tế thị trường)
Những năm gần đây dưới sự tác động của công nghiệp hóa-Đôthị hóa-hiện đại hóa làm cho kinh tế công nghiệp phát triển
+ Đô thị hóa: hai cuộc cách mạng thương mại, khoa học kỹ thuật kéo theo di dân
từ nông thôn ra thành thị dẫn đến cơ cấu xã hội thay đổi (kể cả thay đổi giai cấp: giai cấp công nhân, trí thức tăng; nông dân giảm), cơ cấu ngành nghề thay đổi; xã hội lãnh thổ, dân tộc, dân số thay đổi dẫn đến thay đổi cấu trúc, quan hệ gia đình (từ gia đình mở rộng đến gia đình hạt nhân) từ đó chuẩn mực giá trị đạo đức trong
xã hội cũng thay đổi
+ Chính trị: xã hội dân chủ, bình đẳng bầu không khí chính trị dân chủ, phát triển hơn, tạo điều kiện cho xã hội học phát triển
+ Khoa học: khoa học tự nhiên và KHCT phát triển từ đó tạo điều kiện cho khoa học xã hội phát triển dẫn đến xã hội học phát triển
Nội dung nghiên cứu của xã hội học bao gồm: Quan hệ xã hội-giai cấp Quan
hệ xã hội-cư trú Quan hệ xã hội-dân cư Quan hệ xã hội-dân tộc tôn giáo nghề nghiệp…tổng hòa các mối quan hệ ấy cấu thành nên cấu trúc quan hệ xã hội
Trang 3Cổng thông tin điện tử Đoàn – Hội Học viện Hành chính cơ sở HCM 3
Xã hội học nghiên cứu, tìm hiểu về hình thức mà mức độ biểu hiện của các sự vận động, hiện tượng, các quá trình xã hội Nó tìm hiểu về nguyên nhân, nguồn gốc các sự kiện tượng, các quá trình xã hội trên (ví dụ tìm hiểu việc sinh viên chọn nghề: nguyên nhân cơ bàn là việc làm) và nó nghiên cứu về sự tương tác và những mối quan hệ có tính chất quy luật trong hành động con người trong các sự kiện, hiện tượng xã hội
Vì vậy xã hội học nghiên cứu mặt đặc biệt của con người, đó là nghiên cứu con người dưới gốc độ các quan hệ xã hội thông qua các phương thức, hình thức hoạt động, các sự kiện xã hội các quy luật đóng vai trò điều chỉnh các mối quan hệ xã hội Trên cơ sở đó nhằm nắm bắt được trạng thái, chất lượng của xã hội ở tầm vĩ
mô và vi mô ở một thời gian nhất định nhằm thay đổi trạng thái của chủ thể và trạng thái của xã hội theo chiều hướng có lợi Khi nghiên cứu về một trạng thái xã hội hiện thực nào đó, xã hội học có thể liên kết với các ngành khoa học khác như: tâm lý học, dân tộc học, kinh tế học…
Với đối tượng nghiên cứu trên xã hội học có năm chức năng cơ bản được quá trình xã hội Để đạt được điều đó xã hội học dựa trên cơ sở phương pháp luận và
có phương pháp nghiên cứu rất khoa học phù hợp với quy luật phát triển của xã hội loài người
Trước hết chủ nghĩa duy vật lịch sử là cơ sở phương pháp luận nhận thức xã hội của xã hội học Xã hội học khi xem xét tất cả những vấn đề của xã hội trước hết đều đứng trên quan điểm duy vật, phải xuất phát từ cơ sở của sự tồn tại xã hội, của điều kiện vật chất, các phương thức sản xuất của cải vật chất của xã hội phải xuất phát từ hiện thực khách quan của xã hội chứ không phải từ ý nghĩ mong muốn chủ quan của con người Xã hội học cần xem xét hiện thực xã hội theo quan điểm biện chứng, đi tìm nguồn gốc mọi hiện tượng và quá trình xã hội không phải ở bên ngoài quá trình đó mà ở trong những mâu thuẫn biện chứng khác quan hệ nội tại diễn ra trong chúng, phải nghiên cứu chúng trong sự vận động và phát triển, trong mối quan hệ tác động của nhiều yếu tố kinh tế-xã hội
Về phương pháp nghiên cứu xã hội học có những phương pháp riêng Khi nghiên cứu các hiện tượng và các quá trình xã hội, các nhà xã hội học phải vạch ra toàn bộ những yếu tố tạo ra và thúc đẩy sự vận động của các quá trình và hiện tượng đó, phải đánh giá được tỷ trọng của các yếu tố và chỉ ra những yếu tố khách quan cũng như các yếu tố chủ quan Có như vậy các nhà xã hội học mới có thể giúp cho xã hội điều chỉnh trạng thái của xã hội, điều chỉnh hoạt động của con người theo chiều hướng có lợi nhất Để đạt được những yêu cầu trên khi đưa ra một nhận định về một hiện tượng hay quá trình xã hội các nhà xã hội học phải có những bằng chứng cụ thể những bằng chứng đó không thể là tuyệt đối nhưng phải hết sức khách quan và được đánh giá bằng các tiêu chuẩn chính xác Do đó trong quá trình nghiên cứu các nhà xã hội học thường sử dụng nhiều phương pháp kỹ thuật như: nghiên cứu tình huống, thực nghiệm, quan sát, nghiên cứu mẫu … Thu thập những thông tin hiện thực hiện tượng đảm bảo những bằng hứng cụ thể phù hợp với khoa học với quy luật
Trang 4Cổng thông tin điện tử Đoàn – Hội Học viện Hành chính cơ sở HCM 4
Ý nghĩa: với những phân tích trên chúng ta nhận thấy rằng đúng là sự ra đời của
xã hội học là một đóng góp to lớn vào nhận thức xã hội Sự ra đời của nó mang một ý nghĩ rất lớn nó bổ sung vào hệ thống tri thức của xã hội loài người nó có vai trò vị trí nhất định trong hệ thống tri thức khoa học, hệ thống thông tin quản lý xã hội bằng dự báo, nó tạo nên tính khoa học ngày càng cao cho việc nghiên cứu xã hội
Xã hội học giúp cho những nhà lãnh đạo quản lý trên các lãnh vực có những tri thức mới, nắm bắt được tình hình thực tiễn, lịch sử của từng giai đoạn, những yêu cầu của xã hội Trên cơ sở đó xây dựng tất cả các chương trình hành động hoặc các phương án phù hợp hơn, khoa học hơn chống những tư duy duy ý chí, chủ quan, áp đặt gây nguy hại cho công việc chung
Trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay Có nhiều vấn đề mới nảy sinh nhất là trên lĩnh vực xã hội Việc nghiên cứu xã hội giúp cho các nhà lãnh đạo nắm bắt được những đặc điểm lịch sử trong từng giai đoạn trên
cơ sở đó mà xây dựng các chính sách xã hội đúng đắn phù hợp cho đất nước phát triển Hoặc trong sản xuất kinh doanh, trong quản lý các đơn vị cũng cần phải có nhiều thông tin cần thiết để có phương án, kế hoạch tốt Mặt khác xã hội học giúp cho cán bộ hình thành phong cách làm việc khoa học, phong cách là việc lãnh đạo đúng đắn giúp chúng ta hiểu hơn về quần chúng nhân dân lao động, về tâm tư nguyện vọng… để có những chính sách vận động thuyết phục, sử dụng tốt nguồn nhân lực con người trong quá trình công tác để xã hội phát triển đi lên đúng quy luật khách quan
Trang 5Cổng thông tin điện tử Đoàn – Hội Học viện Hành chính cơ sở HCM 5
Câu 2: Trình bày sự hiểu biết của đồng chí về cơ cấu xã hội ở nước ta hiện nay và hướng giải quyết vấn đề?
Bài làm
Xã hội là một hệ thống bất cứ một hệ thống nào cũng tồn tại dưới dạng cơ cấu
“Cơ cấu của hệ thống” là một khái niệm quan trọng bậc nhất của lý thuyết hệ thống Hiểu biết cơ cấu của hệ thống tức là biết quy luật sinh ra các phần tử của hệ thống và của mối quan hệ giữa chúng xét trong không gian, thời gian nhất định, từ
đó cho phép dự báo được xu hướng biến đổi phát triển của cả hệ thống đó trong tương lai
Do vậy, theo các nhà xã hội học Việt nam thì cơ cấu xã hội là kết cấu và hình thức tổ chức bên trong của một hệ thống xã hội nhất định, biểu hiện như là một sự thống nhất tương đối bền vững của các nhân tố, các mối liên hệ, các thành phần cơ bản nhất của hệ thống xã hội Những thành phần này tạo ra bộ khung cho tất cả xã hội loài người Những thành tố cơ bản nhất của cơ cấu xã hội là nhóm với vai trò,
vị thế và thiết chế của nó
Về mặt ý nghĩa:
Nghiên cứu cơ cấu xã hội giúp ta hiểu được bức tranh chung, khái quát xã hội từ
đó dễ chọn lựa xây dựng một cơ cấu xã hội tối ưu bảo đảm cho sự ổn định phát triển xã hội
Nghiên cứu cơ cấu xã hội, đặc biệt là cơ cấu xã hội giai cấp cho phép chúng ta hiểu được các giai cấp, các tầng lớp đóng vai trò quyết định xã hội Hiểu được sự phân tầng của xã hội và do đó hiểu được xu hướng biến đổi của xã hội để có những chính sách đúng, đối tượng đúng nhằm phát huy tiềm năng tinh hoa, nguồn lực con người
Khi nghiên cứu các phân hệ cơ cấu xã hội cho phép chúng ta có cách nhìn, cách đánh giá sâu sắc về cơ cấu xã hội trong quá trình tiếp cận nghiên cứu cơ cấu xã hội
Những thành phần cơ bản nhất của cơ cấu xã hội gồm nhóm, vị trí vai trò và các
thiết chế
Nhóm xã hội là tập hợp người có liên hệ với nhau về vị thế, vai trò, những nhu
cầu lợi ích và những định hướng giá trị nhất định Ở góc độ xã hội học, nghiên cứu nhóm bao hàm cả số lượng các thành viên và quan hệ đặc trưng tại nhóm, từ đó người ta chia là 2 loại:
Nhóm sơ cấp (cấp I): có số lượng thành viên ít nhưng quan hệ tình cảm trực tiếp
và mật thiết như gia đình, bạn bè, đồng nghiệp
Nhóm thứ cấp (cấp II) số lượng thành viên đông nhưng quan hệ tình cảm ít mật thiết, nó thường được tạo thành các tổ chức như đoàn thể, xí nghiệp, cơ quan Nhóm này có thể trở thành tổ chức xã hội khi có các dấu hiệu: từ 3 thành viên trở
Trang 6Cổng thông tin điện tử Đoàn – Hội Học viện Hành chính cơ sở HCM 6
lên, có quan hệ quyền lực, có sự phân công theo ngạch bậc, mục đích hoạt động công khai
Ngoài ra còn chia ra:
Nhóm chính thức được thành lập bằng văn bản, có ngạch bậc và có quan hệ quyền lực Thủ trưởng lãnh đạo nhóm bằng mệnh lệnh và quyền uy
Nhóm không chính thức, thành lập không có văn bản mà tự liên hệ, còn gọi là nhóm quyền uy, thủ lĩnh nhóm lãnh đạo bằng uy tín cá nhân
Trong nhóm chính thức lúc nào cũng có nhóm không chính thức, trong nhóm lớn
có nhóm nhỏ, vì vậy người lãnh đạo quản lý cần phải lãnh đạo được cả nhóm lớn, nhóm nhỏ, nhóm chính thức và không chính thức
Vị thế và vai trò xã hội
Vị thế xã hội chính là chỗ đứng của cá nhân trong không gian xã hội cho biết anh
là ai Vị thế bao gồm vị trí, uy tín, quyền lực và nhờ uy tín mà vị thế được thăng hoa Cho nên có thể hiểu vị thế là địa vị xã hội Trong các vị thế thì vị thế nghề nghiệp là quan trọng nhất Ngoài ra còn phân thành 2 loại: vị thế gán, tức có được
mà không bằng nỗ lực công sức Vị thế giành được, tức có được bằng nỗ lực công sức kể cả yếu tố cơ may và thủ đoạn
Vai trò xã hội là nghĩa vụ và quyền lợi của 1 cá nhân khi đứng ở một vị thế xã hội nhất định, nghĩa là từ vị thế đó mà xác định vai trò Vai trò xã hội là vô vàn, có bao nhiêu mối quan hệ thì có bấy nhiêu vai trò xã hội khác nhau Đóng vai trò xã hội nhiều hay ít còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố như: nghề nghiệp, địa bàn cư trú… Giữa vị thế và vai trò có mối quan hệ mật thiết hữu cơ Vị thế quy định vai trò
Vị thế như thế nào thì vai trò như thế đó Ngược lại vai trò củng cố vị thế Mất vai trò là mất vị thế, mấy uy tín là mất phần thăng hoa của vị thế Đây là vấn đề mà xã hội học quan tâm
Thiết chế xã hội có thể hiểu là thể chế, định chế và có hai cách diễn đạt: Một,
thiết chế là tập hợp tương đối bền vững những chuẩn mực xã hội, giá trị xã hội, nhóm với vị trí vai trò vận động xung quanh nhu cầu xã hội Hai, thiết chế là hệ thống được tổ chức các quan hệ xã hội, hoạt động xã hội theo đúng chuẩn mực xã hội
Chuẩn mực xã hội là những nguyên tắc, quy định mà xã hội buộc các thành viên phải tuân thủ như luật pháp, phong tục tập quán, đạo đức, thẩm mỹ … Còn giá trị
xã hội là những khuôn mẫu xã hội
Trong bất kỳ quốc gia nào muốn tồn tại đều phải cóù 5 thiết chế cơ bản với chức năng chuyên biệt của nó Mỗi thiết chế cơ bản lại có thiết chế phụ thuộc thực hiện chức năng riêng
Thiết chế gia đình, trong đó có thiết chế hôn nhân, quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng… có các chức năng: Sinh sản, xã hội hóa, kinh tế, cân bằng tâm sinh lý
Trang 7Cổng thông tin điện tử Đoàn – Hội Học viện Hành chính cơ sở HCM 7
Thiết chế giáo dục, có các thiết chế thi cử, bằng cấp, học vị, học hàm có chức năng: Chuẩn bị những vai trò mới cho cá nhân, điều chỉnh quan hệ xã hội…
Thiết chế kinh tế, có chức năng: Sản xuất, phân phối, tiêu dùng
Thiết chế chính trị, có thiết chế pháp luật, tòa án, công an… Có chức năng: Đưa các điều luật vào đời sông xã hội, giải quyết mâu thuẫn giữa các nhóm xã hội, bảo đảm an sinh, phúc lợi xã hội và bảo đảm an ninh quốc gia
Thiết chế tôn giáo, có thiết chế nghi thức, các loại kinh bổn, có chức năng: Giúp cho một bộ phận nhân dân có nhu cầu về niềm tin, an ủi, liên kết cộng đồng
Chính thiết chế xã hội tạo nên sự ổn định cơ cấu xã hội, sắp xếp vị trí vai trò của các cá nhân, các nhóm Xã hội sẽ rối loạn nếu không có thiết chế hoặc thiết chế không chặt chẽ Nó khuyến khích những hành vi đúng chuẩn mực xã hội và ngăn ngừa những hành vi lệch chuẩn, đồng thời thực hiện chức năng kiểm soát xã hội
và sử dụng các biện pháp chế tài Bảo đảm sự tuân thủ, sự kiên định xã hội mà bất
kỳ giai cấp thống trị nào cũng sử dụng nó làm vũ khí quản lý xã hội
Mỗi thiết chế đề cao giá trị khác nhau Thiết chế gia đình đề cao lòng chung thủy, sự hạnh phúc Thiết chế tôn giáo đềâ cao đạo đức còn thiết chế NN đề cao lòng trung thành
Thiết chế xã hội là tập hợp những chuẩn mực, giá trị XH tương đối bền vững vận động biến đổi chậm Trong khi đó xã hội luôn vận động, phát triển dẫn đến những thiết chế lạc hậu lỗi thời không kịp sửa đổi cải cách sẽ kìm hãm sự phát triển của
xã hội do đó phải đặt ra cải cách thiết chế cho phù hợp
Xã hội là hệ thống các thiết chế có mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau, do đó 1 thiết chế thay đổi sẽ làm các thiết chế khác thay đổi theo, đặc biệt là thiết chế kinh tế Các thiết chế ra đời do nhu cầu khách quan của XH do đó chúng đều có xu hướng trở thành tiêu điểm của xã hội Bất kỳ sự đổ vỡ của thiết chế nào cũng dẫn đến vấn đề nghiêm trọng cho xã hội Do đó, trong quản lý không được coi trọng hay xem nhẹ thiết chế nào, phải tạo điều kiện cho các thiết chế thực hiện các chức năng đồng bộ
Nội dung nghiên cứu của cơ cấu xã hội gồm phân tầng, di động và các phân hệ
Phân tầng xã hội khác bất bình đẳng xã hội Bất bình đẳng chỉ sự chênh lệch giữa các cá nhân mang tính tạm thời còn phân tầng xã hội chỉ sự chênh lệch của nhóm và về lâu dài có thể dẫn đến cách mạng xã hội
Trang 8Cổng thông tin điện tử Đoàn – Hội Học viện Hành chính cơ sở HCM 8
Trong xã hội đóng (đẳng cấp) không có sự di động xã hội, ai sinh ra ở tầng lớp nào thì đời này sang đời khác phải ở tầng lớp đó Còn trong xã hội mở các cá nhân
có thể di động từ giai cấp, tầng lớp này sang giai cấp, tầng lớp khác
Mác dựa vào yếu tố kinh tế để phân tầng, cho rằng ai nắm được TLSX thì người
đó có quyền lực Còn Mác-Weber dựa vào 3 yếu tố kinh tế, địa vị xã hội và quyền lực
Hiện nay phân tầng xã hội là 1 hiện tượng mang tính chất toàn cầu nhưng mức
độ diễn ra có sự khác nhau giữa các quốc gia Riêng phân tầng xã hội ở Việt
nam hiện nay ngày càng sâu sắc Sự chênh lệch về trình độ, địa vị và nhất là
mức sống, mức thu nhập chênh lệch hàng chục, thậm chí hàng trăm lần
Di động xã hội là sự chuyển đổi vị thế của cá nhân hoặc nhóm từ vị thế này sang
vị thế khác Có thể di động theo chiều ngang, chiều dọc, liên thế hệ và di động thế
hệ Những yếu tố ảnh hưởng đến sự di động xã hội: trình độ học vấn, kinh tế, nguồn gốc xuất thân, giới tính, sức khỏe, tuổi tác
Các phân hệ cơ bản của cơ cấu xã hội
Cơ cấu xã hội-giai cấp, là hạt nhân của mọi cơ cấu xã hội, khi nó biến đổi sẽ kéo theo sự thay đổi của cơ cấu xã hội
Cơ cấu xã hội-nghề nghiệp, được hình thành chủ yếu do sự phát triển của LLSX
và phân công lao động xã hội
Cơ cấu xã hội-dân số mà xã hội học nghiên cứu là mức sinh, mức chết, di dân, cơ cấu tuổi, giới tính để tính đến sự hài hòa giữa dân số và chất lượng của nó
Cơ cấu xã hội-lãnh thổ, được nhận diện thông qua đường phân ranh giới lãnh thổ như nông thôn, thành thị…
Cơ cấu xã hội-dân tộc, nghiên cứu quy mô, tỷ trọng giữa các dân tộc trên một lãnh thổ và mối quan hệ giữa các dân tộc, đặc điểm dân số, phân bố dân cư, trình độ sản xuất…
Cơ cấu xã hội ở Việt Nam hiện nay cũng theo hướng cơ cấu toàn cầu, tức ngày càng phức tạp, đa dạng, phong phú và khoảng cách ngày càng xa
Trạng thái cơ cấu xã hội là rất năng động, do đó cần phải luôn điều chỉnh nó về trạng thái cân bằng bằng hệ thống các chính sách xã hội Phải có chính sách cụ thể đúng đắn với từng phân hệ, chính sách với từng nhóm với phân hệ 1, với từng ngành nghề với phân hệ 2, chính sách dân số với phân hệ 3, chính sách vùng miền với phân hệ 4 và chính sách dân tộc, sắc tộc với phân hệ 5
Trang 9Cổng thông tin điện tử Đoàn – Hội Học viện Hành chính cơ sở HCM 9
Tóm lại, khi nghiên cứu cơ cấu xã hội chúng ta cần nhắm đến mục đích cuối cùng
là tăng cường sự ổn định và phát triển xã hội bằng cách luôn điều chỉnh các phân
hệ của cơ cấu xã hội ở trạng thái cân bằng bởi hệ thống các chính sách xã hội đúng đắn
Câu 3: Trình bày khái niệm, ý nghĩa và nội dung nghiên cứu cơ cấu XH?
Bài làm
Cơ cấu XH là gì: một câu hỏi thoạt nghe tưởng như đơn giản nhưng có nhiều cách
trả lời câu hỏi này
Theo từ điển bách khoa toàn thư Liên Xô : cơ cấu XH là một hệ thống các mối liên hệ ổn định và có sự sắp xếp các yếu tố của hệ thống XH được quy định của các mối quan hệ giữa các giai cấp và nhóm XH khác nhau, bởi sự phân công lao động, bởi đặc điểm của các chế độ XH có sự khác biệt giữa cơ cấu XH Nói chung bao gồm toàn bộ các mối quan hệ XH với các phân hệ và lĩnh vực cơ cấu XH riêng biệt của nó: SX, CT, KH, VH
Còn theo nhà XHH người Mỹ Robertson: thì cơ cấu XH là mô hình của các quan
hệ giữa các thành phần cơ bản trong hệ thống XH , những thành phần này tạo nên
bộ khung cho tất cả XH loài người mặc dù tính chất giữa các thành phần và các quan hệ giữa chúng biến chuyển từ Xh này sang XH khác, những thành phần quan trọng nhất của cơ cấu XH là : vị thế, vai trò, nhóm, các thiết chế
Còn theo các nhà XHH Việt nam thì cơ cấu XH là kết cấu và hình thức tổ chức bên trong của 1 hệ thống XH nhất định biểu hiện như là sự thống I tương đối bền vững của các nhân tố, các mối liên hệ, các thành phần cơ bản nhất của XH đó, những thành tố này tạo ra bộ khung cho tất cả XH loài người, những thành tố cơ bản I của cơ cấu XH là: nhóm; với vai trò, vị thế của nó và các thiết chế
Ý nghĩa:
Nghiên cứu cơ cấu XH giúp ta hiểu được bức tranh chung, kháiquát XH từ đó
dễ chọn lựa xây dựng 1 cơ cấu XH tối ưu bảo đảm cho sự pát triển ổn định XH; Nghiên cứu cơ cấu XH đặc biệt là cơ cấu XH giai cấp cho phép chúng ta hiểu được các giai cấp, các tầng lớp đóng vai trò quyết định XH Hiểu được sự phân tầng của XH và do đ1o hiểu được xu hướng biến đổi của XH để có được những chính sách đúng đúng đối tượng để phát huy tiềm năng tinh hoa, nguồn nhân lực con người
Trang 10Cổng thông tin điện tử Đoàn – Hội Học viện Hành chính cơ sở HCM 10
Khi nghên cứu các phân hệ cơ cấu XH cho phép chúng ta có cách nhìn, đánh giá 1 cách sâu sắc về cơ cấu XH trong quá trình tiếp cận nghiên cứu cơ cấu XH
Nội dung nghiên cứu cơ cấu XH
Nhóm XÃ HỘI
Là tập hợp người có liên hệ với nhau theo 1 kiểu nhất định hay nói cách khác nhóm XH là tập hợp người có liên hệ với nhau về vị thế, vai trò, những nhu cầu lợi ích và những định hướng giá trị nhất định Ở góc độ XHH nghiên cứu nhóm không phải chỉ là số lượng các thành viên mà còn là quan hệ đặc trưng tạo nhóm
từ đó người ta chia là 2 loại:
Nhóm sơ cấp (nhóm vi mô, nhòm cấp I): là nhóm có số lượng thành viên ít nhưng quan hệ tình cảm trực tiếp và mật thiết như nhóm: gia đình, bạn bè, đồng nghiệp
Nhóm thứ cấp (nhóm cấp II) số lượng thành viên đông nhưng quan hệ tình cảm
ít mật thiết, nhóm thứ c6áp thường được tạo thành các tổ chức như đoàn thể xí
nghiệp, cơ quan
Ngoài ra còn có nhóm chính thức : (thành lập bằng văn bản và có ngạch bậc) và nhóm không chính thức (thành lập không có văn bản và có ngạch bậc)
Mỗi nhóm có người đứng đầu nhóm Thủ trưởng lãnh đạo nhóm chính thức bằng mệnh lậnh, uy tín các nhân, còn thủ lĩnh, đại ca lãnh đạo nhóm không chính thức uy tíncá nhân
Chú ý: Trong nhóm chính thức lúc nào cũng có nhóm không hcính thức, trong
nóm lớn có nhóm nhỏ người lãnh đạo quản lý cần chú ý các nhóm nhỏ và các nhóm không chính thức
Vai trò XH là nghĩa vụ và quyền lợi của 1 cá nhân khi đứng ở một vị thế nhất
định Vai trò XH là vô vàng, có bao nhiêu vai trò XH thì có bấy nhiêu vai trò XH khác nhâu, vai trò XH nhiều hay ít còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố như : nghể
Trang 11Cổng thông tin điện tử Đoàn – Hội Học viện Hành chính cơ sở HCM 11
nghiệp, địa bàn cư trú… Trong XH hiện đại cá nhân thực hiện nhiều vai trò XH
hơn do đ1o dễ xảy ra trường hợp căn thẳng, mâu thuẩn giữa các vai trò (Phụ nữ:
vợ, mẹ, nội trợ, công tác chuyên môn, các vai trò nhiều khi mâu thuẩn nhau)
Giưã vị thế XH và vai trò XH có mối quan hệ mật thiết hữu cơ Vị thế XH quyết định vai trò XH Vị thế XH như thế nào thì vai trò XH như thế đó Ngược lại vai trò XH cững cững cố vị thế XH Mất vai trò là mất vị thế, mấy uy tín là mất phần thăng hoa
Thiết chế XH (định chế, thể chế XH) là tập hợp những chuẩn mực XH tương
đối bền vững và những vai trò XH hội gắn bó qua lại với nhau đưop75c tạo ra và hoạt động để thỏa mãn những nhu cầu và thực hiện các chức năng XH quan trọng hey thiết chế XH là một hệ thống XH có quan hệ XH nhất định bảo đảm tính bền vững và tính kế thừa của các quan hệ đó (gia đình, nhà trường, các tổ chức cơ uan đều có thể tiếp cận các thiết chế XH)
Trong bất cứ XH nào cững có 5 thiết chế cơ bản Mỗi thiết chế cơ bản đều được kèm theo thiết chế phụ thuộc đều thực hiện chức năng riêng của nó:
Thiết chế gia đình, thiết chế KT, thiết chế kinh tế, thiết chế nhà nước (thiết chế chính trị) và thiết chế tông giáo Chính thiết chế XH tạo nên sự ổn định kế thừa trong các quan hệ XH, XH sẽ rối loạn nếu không có thiết chế XH và thiết chế không chặt chẽ XH không có kỷ cương Nó xác định phần lớn vai trò các cá nhân
và khueý6n khích những hành vi đúng chuẩn mực XH và ngăn ngừa những hành
vi lệch chuẩn Đồng thời thực hiện chức năng kiểm soát và quản lý XH mà bất kỳ giai cấp thống trị nào cũng sử dụng nó làm vũ khí đảm bảo sự tuân thủ XH và thiết chế XH cũng được giao quyển sử dụng các biện pháp thưởng phạt (Hình phạt ø hình thức giao cho thiết chế pháp luật còn hình phạt phi hình thức giao cho thiết chế đạo đức là dư luận XH)
Mỗi thiết chế đề cao giá trị khác nhau Thiết chế gia đình đề cao lòng chung thủy, sự hạnh phúc Thiết chế tôn giaó đềâ cao đạo đức còn thiết chế NN đề coa lòng trung thành
Thiết chế XH là tập hợp những chuẩn mực tương đối bền vững vận động biến đổi chậm trong khi đó XH luơn vận động, phát triển dẫn đến những thiết chế lạc hậu lổi thờinkhông kịp sửa đổi cải cách sẽ kìm hảm sự phát triển của XH do đó phải đặt ra cải cách cải tại thiết chế cho phù hợp
XH là phức hợp các thiết chế XH Trong hệ thống đó thì các thiết chế XH có mối quan hệ gắn bó, phụ thuộc lẫn nhau do đó 1 thiết chế thay đổi sẽ làm ảnh hưởng làm cho các thiết chế khác thay đổi đặc biệt là thiết chế KT,…
Trang 12Cổng thông tin điện tử Đoàn – Hội Học viện Hành chính cơ sở HCM 12
Các thiết chế có xu hướng trở thành tiêu điểm của các vấn đề XH mỗi 1 thiết chế thực hiện một chức năng quan trọng của XH, bất kỳ sự đổ vở của thiết chết nào cũng dẫn đến vấn đề nghiêm trọng trong XH(thiết chế KT đổ vở thất nghiệp tăng, thiết chế pháp luật đổ vở tội phạm tăng, chính trị đổ vở XH rối loạn)
Phải nhạy bén phát hiện những thiết chế đã lỗi thời để kịp thời cải cách, trong quản lý không được coi trọng thiết chế nào, xem nhẹ thiết chế nào, phải tạo điều kiện cho các thiết chế thực hiện các chức năng đồng bộ
Phân tầng XH: là sự chên lệch nhau về KT, địa vị, quyền lực, trình độ học vấn,
kể cả những yếu tố khác như : địa bàn cư trú, cách ứng xử, thị hiếu nghệ thuậ, y phục…
Phân tầng XH khác bất bình đẳng XH Bất bình đẳng chỉ sự chên lậch giữa các
cá nhân còn phân tầng XH chỉ sự chên lệch của nhóm Bất bình đẳng XH chỉ là tạm thời còn phân tầng XH kéo dài có thể dẫn đến cách mạng XH
Phân tầng trong XH đóng khác với phân tầng trong XH mở Trong XH đóng không có sự di động XH ai sinh ra ở tầng lớp nào thì đời này sang đời khác phải ở tầng lớp đó (Aán độ) còn trong XH mở các cá nhân có thể di động từ giai cấp này sang giai cấp khác hay từ tầng lớp này sang tầng lớp khác
Mác dựa vào yếu tố KT để phân tầng ai nắm được TLSX thì người người đó có quyền lực Mác-Weber dự vào 3 yếu tố đề phân tầng: KT, địa vị XH và yếu tố quyền lực chính trị
Hiện nay phân tầng XH là 1 hiện tượng mang tính chất toàn cầu nhưng mức độ điễn ra có sự khác nhau giữa các quốc gia Riêng phân tầng XH ở Việt nam hiện
nay ngày càng sâu sắc Sự chênh lệch về trình độ, địa vị và nhất là mức sống , mức thu nhập chênh lệch vài chục lần trăm chí hàng trăm lần
Chú ý: di động XH là sự chuyển đổi vị thế của cá nhân từ vị thế này sang vị thế khác Có thể di động theo chiều ngang, chiều dọc, liên thế hệ và di động thế hệ Những yếu tố ảnh hưởng đến sự di động XH : trình độ học vấn, KT, nguồn gốc xuất thân, giới tính, sức khỏe, tuổi tác
Trang 13Cổng thông tin điện tử Đoàn – Hội Học viện Hành chính cơ sở HCM 13
Câu 4: Phân tích hiện tượng xã hội hóa cá nhân và rút ra ý nghĩa của nó đối với công tác quản lý xã hội
Bài làm
Xã hội hóa là quá trình tương tác giữa cá nhân và xã hội, là quá trình mà cá nhân học hỏi những chuẩn mực xã hội, giá trị xã hội, học đóng vai để có thể thực hiện tốt các vai trò xã hội, để có thể hội nhập vào xã hội
Quá trình xã hội hóa diễn ra liên tục từ lúc sinh ra đến khi chết Diễn tiến của xã hội học yêu cầu có ba điều điều kiện đó là: Phải có sự mong đợi chúng của xã hội,
từ gia đình đến nhà trường đến xã hội Thí dụ như gia đình mong đợi con mình sau này trở thành người chuẩn mực, thành đạt, mong đợi những người xung quanh đối
xử với nó đúng theo vai trò của nó… Sự hình thành nhân cách con người không phải chỉ riêng cá nhân đó rèn luyện, mà còn có sự tác động của xã hội đối với con người ấy Khi đến với môi trường mới phải học cái mới, thay đổi hành vi cũ Phải hình thành thói quen khuôn phép, buộc con người phải tuân thủ những chuẩn mực, giá trị nhất định
Xã hội hóa chính là quá trình truyền đạt văn hóa từ thế hệ này sang thế hệ khác, làm cho các thành viên thích ứng với những nếp sống, hoạt động đã được chấp nhận của xã hội đương thời Xã hội hóa là quá trình các thành viên tiếp nhận thấm nhuần văn hóa, thực hiện vai trò là thành viên xã hội, hòa nhập xã hội Quá trình
xã hội hóa là quá trình tương tác hai chiều giữa cá nhân và xã hội
Quá trình xã hội hóa kéo dài suốt cuộc đời con người Hoạt động lao động là hoạt động chủ yếu nhất của con người, người ta lấy đó làm cơ sở đẻ chia các giai đoạn xã hội hóa
Giai đoạn trước tuổi lao động, từ khi sinh ra đến lúc bắt đầu lao động, 18 tuổi Giai đoạn này hoạt động học tập là chủ đạo Giai đoạn này phụ thuộc rất lớn từ người xã hội hóa đó là gia đình, nhà trường và xã hội Ơû tuổi thơ hoạt động chủ yếu của các em là vui chơi trong vườn trẻ, mẫu giáo và gia đình Giai đoạn thanh thiếu niên, hoạt động chủ yếu của các em là học tập trong các lớp học, từng bước thiết lập các tương tác và quan hệ xã hội mới
Giai đoạn lao động phụ thuộc lớn từ bản thân người được xã hội hóa Nội dung
xã hội hóa giai đoạn trước được sử dụng, vận dụng lại một phần cho giai đoạn này tùy theo hoạt động lao động, đồng thời sáng tạo những kinh nghiệm mới bên cạnh tiếp thu xã hội hóa từ xã hội
Giai đoạn sau tuổi lao động, ở giai đoạn này các nhân tiếp tục truyền đạt kinh nghiệm cho thế hệ sau nhưng đồng thời cũng tiếp thu những kiến thức, kỹ năng mới cho sự phát triển của xã hội Phải học để tiếp nhận những điều sẽ đến Học cách cư xử để hòa nhập với cuộc khủng hoảng mới trong cuộc sống, thích nghi với điều kiện điều kiện sống luôn có những cú sốc
Trang 14Cổng thông tin điện tử Đoàn – Hội Học viện Hành chính cơ sở HCM 14
Tóm lại, xã hội hóa là quá trình từ trẻ em tiếp nhận chuẩn mực hành vi đến nhận thức bản chất giá trị Khi nhận thức bản chất giá trị sẽ tiến tới chọn lọc giá trị, lúc này đã hình thành người lớn
Mục đích của xã hội hóa là xã hội hóa để cá nhân lĩnh hội những kỹ năng cần thiết mà xã hội yêu cầu : giao tiếp, nghề nghiệp, …và xã hội hóa làm cho cá nhân thấm nhuần các giá trị, chuẩn mực để có niềm tin vào xã hội, vào chính mình Giá trị xã hội theo quan niệm xã hội hóa là những gì cần thiết cho xã hội, cho cộng đồng như là học vấn cao, đạo đức tốt Thông qua các chuẩn mực người ta đánh giá hành động của các cá nhân, có 2 loại chuẩn mực là chuẩn mực đạo đức và chuẩn mực luật pháp Xã hội hóa là để cá nhân hình thành cái tôi của mình một cách hợp
lý, đáp ứng yêu cầu xã hội, biến đổi những giá trị xã hội thành những giá trị quy tắc của mình
Tất cả những nhân tố khách quan đều quan trọng đến quá trình xã hội hóa Tuy nhiên có thể chia thành 2 yếu tố: yếu tố môi trường gồm gia đình, nhà trường và
xã hội và yếu tố thứ hai là giai cấp, dân tộc
Gia đình : là tác nhân đầu tiên của quá trình xã hội hóa, ở đó cá nhân do nhu cầu của mình (là 1 đứa bé) đả phụ thuộc rất lớn vào gia đình và các thành viên của nó, đây là mô hình xã hội thu nhỏ là hình ảnh những xã hội đầu tiên về mặt nhận thức, cảm xúc, trạng thái ổn định về tâm lý để góp phần tốt nhất cho việc hình thành nhân cách Mọi hiểu biết về thế giới bên ngoài của đứa bé đều thông qua thái độ hành vi của người lớn trong gia đình Khoản thời gian từ 1-7 tuổi ảnh hưởng rất lớn đến nhân cách của người lớn Giai đoạn sau chỉ là lập lại tiếp tục ảnh hưởng của giai đoạn trước ở mức độ cao hơn Tác nhân của gia đình rất quan trọng đối với mỗi cá nhân trong quá trình xã hội hóa Do đó, xã hội và bản thân của mỗi người trong chúng ta cần có ý thức trong việc xây dựng truyền thống gia đình trên
cơ sở tình thương và trách nhiệm giữa các thành viên, người lớn yêu thương dạy
dỗ và làm gương cho con trẻ xây dựng cho bé ý thức quý trọng và giữ gìn những giá trị nền tảng của gia đình
Trường học là môi trường thứ 2 sau gia đình trực tiếp làm công việc xã hội hóa người công dân tương lai của xã hội Trường học là nơi trang bị các kiến thức mà nhân loại đã tích lũy, những môn khoa học căn bản đặc trưng khác nhau nhưng nhằm mục tiêu chung là dạy cho thế hệ trẻ những kiến thức mà sau này nó vẫn có thể phát triển vận dụng và tiếp tục học hỏi ở mức độ cao hơn, chuyên sâu hơn, bao gồm cả chuyên môn nghề nghiệp, đạo đức, nhân cách… Trường học còn là nơi hình thành tình bạn, tình yêu trong sáng, tình cảm thầy trò
Chính vì vị trí quan trọng như vậy việc nhà trường được xã hội, gia đình, nhà nước quan tâm đầu tư là rất cần thiết theo đúng như tinh thần đầu tư cho giáo dục
là đầu tư cho tương lai tốt đẹp
Xã hội là yếu tố thường xuyên tác động đến con người Có hai cách tác động đó
là tiên tiến, truyền thông đại chúng và nhóm ngang hàng
Trang 15Cổng thông tin điện tử Đoàn – Hội Học viện Hành chính cơ sở HCM 15
Yếu tố truyền thông đại chúng (phát thanh, truyền hình, internet, báo chí ) tùy
theo tính chất, chức năng, mục tiêu đã chọn lựa, các phương tiện truyền thông đã
tỏ sức mạnh của nó trong các mô hình hoạt động mang tính chất đại chúng trong
xã hội, truyền tải những giá trị tích cực và có cả tiêu cực Do đó những người có
trách nhiệm trong việc này phải tăng cường các giá trị, các chuẩn mực văn hóa có tính giáo dục cao, hạn chế sự méo mó các giá trị các chuẩn mực văn hóa, đạo đức, lối sống từng làm cho giới trẻ ngộ nhận, lầm tưởng rằng tất cả những gì đăng tải
trên đó điều là chân lý chân thực của cuộc sống và được xã hội chấp nhận và đặc
biệt là không để cho các yếu tố thương mại chi phối
Trong xã hội con người tồn tại, liên kết với nhau trong các loại hình tổ chức xã hội 1 người có thể tham gia 1 hoặc nhiều loại hình tổ chức xã hội Nhóm là khái niệm để tập hợp những người có hành vi tương tác, quan hệ hỗ tương với nhau trên cơ sở những kỳ vọng chung có liên quan có lối ứng xử của người trong cùng nhóm
Mức độ phức tạp giữa các nhóm nói chung và nhóm ngang hàng nói riêng gắn liền với tính chất của xã hội đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường và mở rộng giao lưu văn hóa như hiện nay Quan hệ xã hội càng mở rộng con người càng có điều kiện tham gia vào các nhóm hoạt động xã hội trở thành thành viên của nhiều nhóm xã hội khác nhau có lẽ tác động sớm nhất, chi phối nhiều, cơ sở nhất trong quá trình xã hội hóa của con người để hình thành nhân cách, cái tôi của mỗi cá nhân có thể là nhóm cùng địa vị, nhóm ngang hàng và nhóm bạn bè
Xã hội hóa còn bị chi phối bởi yếu tố giai cấp, chủng tộc và văn hóa Mỗi giai cấp, chủng tộc có hoàn cảnh sống, hoạt động và vai trò, vị thế xã hội khác nhau,
do đó có nhu cầu và nội dung xã hội hóa các thành viên khác nhau, có những phương pháp và điều kiện xã hội hóa khác nhau Mỗi một nền văn hóa có hệ thống giá trị, chuẩn mực hành vi và phương thức xã hội hóa khác nhau Do đó, giai cấp, chủng tộc và văn hóa cũng là những yếu tố quan trọng của xã hội hóa
Xã hội hóa xem như một quá trình tương tác mà trong đó cá nhân hội nhập- xã hội tiếp nhận cá nhân với tư cách là một thành viên sẽ góp phần xây dựng và phát triển xã hội
3 Ý nghĩa đối với bản thân và đối với xã hội
Từ việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng quá trình xã hội hóa cá nhân ta có thể rút ra một số ý nghĩa đối với bản thân và xã hội sau đây:
Đối với xã hội : từ gia đình đến các tổ chức xã hội dù quy mô, phạm vi hoạt động thế nào thì cũng không ngừng nâng cao và hoàn thiện vai trò, nhiệm vụ của mình tạo điều kiện cho các cá nhân tham gia, thể hiện, phát huy hết năng lực trong nhóm của mình, xem sự phát triển cá nhân là sự phát triển lành mạnh của tế bào trong cơ thể của mình Xã hội còn phải tham gia vào chi phối, kiểm soát, định hướng, điều chỉnh hành vi các nhân trong quá trình xã hội hóa sao cho sự phát triển quyền lợi của người này, nhóm này không ảnh hưởng đến sự phát triển quyền
Trang 16Cổng thông tin điện tử Đoàn – Hội Học viện Hành chính cơ sở HCM 16
lợi chính đáng của người khác, nhóm khác tạo thành một quá trình xã hội hóa đồng bộ, thống nhất không chỉ trong hiện đại mà còn gắn với tương lai phát triển toàn diện và bền vững Xã hội chăm lo đáp ứng chủ những nhu cầu vật chất, tinh thần của mỗi con người đặc biệt là những nhu cầu gắn bó cơ sở xuất phát từ bình đẳng, dân chủ và lòng nhân ái
Đối với bản thân cần chủ động tích cực tham gia vào tiến trình xã hội hóa làm sao biến quá trình được giáo dục thành quá trình tự học hỏi, tự ý thức vươn lên bằng bản lĩnh và ý chí của mình trở thành những con người độc lập có tri thức, có lý luận chính trị, làm chủ đời sống xã hội mà mình đang sống, hòa nhập mà không hòa tan vào đời sống xã hội góp phần thúc đẩy phát triển xã hội theo hướng dân chủ-bình đẳng-ấm no-hạnh phúc
Câu 5 : Sai lệch xã hội là gì ? Cách ứng xử của nhà qủan lý trước một sai lệch cụ thể ?
Bài làm :
XH hiện đại ngày nay, các thành viên của nó do nhiều nguyên nhân tác động, không phải bao giờ họ cũng thực hiện những hành vi đúng như những giá trị, những chuẩn mực VH, những qui phạm của XH, những yêu cầu của nhóm mà họ tham gia, mặc dù bất kỳ XH nào cũng có những cơ chế ràng buộc hành động của các thành viên, các nhóm phải tuân thủ đúng những điều nêu trên Là nhà QLXH phải nắm vững và kiểm soát được những hiện tượng XH này, trong phạm vi qlý của mình, để đảm bảo tổ chức của mình và XH tồn tại và phát triển
Sai lệch XH là những hành vi của cá nhân hay nhóm không phù hợp với những giá trị, chuẩn mực đang được XH thừa nhận Hành vi sai lệch là những hành vi phần nào đi chệch khỏi khuôn mẫu, chuẩn mực XH, không đáp ứng được những điều mong muốn, chờ đợi của nhóm, của những người xung quanh
Khi xem xét, đánh giá một hành vi xác định của cá nhân hay của nhóm XH phải luôn căn cứ vào hệ thống giá trị, chuẩn mực hiện hành tại một thời điểm, một phạm vi không gian nhất định Những giá trị, chuẩn mực đó luôn luôn vận động, biến đổi theo không gian thời gian, do đó hành vi lệch chuẩn chỉ mang tính tương đối
Hệ thống giá trị, chuẩn mực VHXH vô cùng phong phú, quy định mọi hành vi
XH của con người Trong đó hệ thống giá trị, chuẩn mực pháp luật, đạo đức, phong tục tập quán và lối sống có ý nghĩa quan trọng Nó đã được sàng lọc thử thách và lưu truyền từ đời nay sang đời khác trongđó có những chuẩn mực giá trị chung cho cả nhân loại, những chuẩn mực riêng cho mỗi quốc gia, nhóm XH, địa phương khác nhau
Trang 17Cổng thông tin điện tử Đoàn – Hội Học viện Hành chính cơ sở HCM 17
Đánh giá hành vi XH của cá nhân hay nhóm không chỉ căn cứ vào những giá trị chuẩn mực chung của XH mà còn căn cứ vào những giá trị chuẩn mực của vai tròXH cá nhân hoặc nhóm đó đang đảm nhận Những hành vi XH mà chủ thể thực hiện vượt qua ngoài những giá trị, chuẩn mực của vai trò XH mà họ đang giữ cũng là hành vi sai lệch XH
Đánh giá hành vi sai lệch XH bao giờ cũng xem xét chúng trong mối tương quan
và ảnh hưởng của nó với những người xung quanh, với XH
Sai lệch XH có thể xuất hiện khi có những xung đột về vai trò XH của chủ thể Cùng một lúc chủ thể phải đảm nhận nhiều vai trò khác nhau, trong đó có những vai trò trái ngược nhau
Dựa vào các căn cứ khác nhau người ta chia sai lệch XH làm nhiều loại :
-Dựa vào số lượng người thực hiện : Sai lệch cá nhanâ và sai lệch nhóm
-Dựa vào mức độ sai lệch của hành vi so với chuẩn mực, qui tắc XH : Hành vi sai lệch mức độ thấp và hành vi sai lệch mức độ cao
-Dựa vào động cơ : sai lệch vô ý ( do nhận thức trình độ kém); Sai lệch cố ý ( có
hệ thống, ảnh hưởng đến quốc gia, người khác )
-Dựa vào tính chất tác động của hành vi đối với XH : Hành vi sai lệch tích cực
và hành vi sai lệch tiêu cực
Hành vi sai lệch XH chịu tác động của nhiều yếu tố, từ những góc độ tiếp cận khác nhau người ta đưa ra những lý thuyết giải thích nguồn gốc sai lệch khác nhau Ta có thể chia làm hai nhóm : Nhóm giải thích bằng nguồn gốc tâm sinh lý và nhóm giải thích bằng nguồn gốc XH
-Nguồn gốc tâm sinh lý của sai lẹch XH :
Wiliam Sheldon, nhà nhân chủng học Mỹ, phân loại loài ngừơi theo ba kiểu cơ thể cơ bản : Endomorph ( tròn, béo, mềm); Mesomorph (lực lưỡng , cơ bắp); Ectomorph (mong manh yếu ớt gầy ) Oâng cho rằng những người có cơ thể mesomorph dễ mắc tộiphạm nhất, vì dễ bị kích động, hay nổi nóng, dễ rơi vào tình trạng căng thẳng thần kinh Còn những người endomorph thì khoan dung dễ bằng lòng, dễ thân thiện Những người Ectomorph thì nhạy cảm, dễ nản chí nên ít mắc sai lệch
Trang 18Cổng thơng tin điện tử Đồn – Hội Học viện Hành chính cơ sở HCM 18
Trong quá trình nghiên cứu, mặc dù các nhà KH theo trường phái này thu được một số dữ liệu mang tính kinh nghiệm nhưng họ vẫn bị nhiều ý kiến phê phán Trên thực tế, những kết quả nghiên cứu của họ thường khơng thỏa mãn được các tiêu chí KH
+Lý thuyết nhiễm sắc thể :
Nhiều nhà KH lại quan tâm đến việc tìm ra mối quanhệ giữa nhiễm sacé thể giới tính và hành vi sai lệch Dựa trên một số kết quả thu được những nhà nghiên cứu này đang cố gắng chứng minh mối quan hệ giữa những người cĩ nhiễm sắc thể giới tính khơng bình thường (XXY) với hành vi sai lệch cĩ quy luật Tuy nhiên lý thuyết này vẫn chưa cĩ tính thuyết phục, vì thực tế những người sai lệch phần lớn
là những người cĩ nhiễm sắc thể giới tính bình thường
+ Giải thích hành vi sai lệch bằng tâm lý :
Một số nhà KH cho rằng : sở dĩ cĩ hành vi sai lệch là do những cá nhân này trong tâm lý của họ cĩ những vấn đề khơng ỗn, quan hệ của họ thường khép kín hơn người khác
Sigmund Freud, Nhà phân tâm học người Aùo đã phân chia nội tại cá nhân thành
3 ba phần : bản năng, bản ngã và siêu ngã Bản năng tượng trưng cho phần vơ thức, bản ngã biểu iện phần ý thức, cĩ lý trí của cá nhân cịn siêu ngã biểu hiện phần giá trị VHXH với chức năng như là lương tâm của cá nhân
Theo các nhà phân tâm học cho rằng hành vi sai lệch XH là khi mà ở cá nhân phần bản năng đã phát huy một cách quá mức, mà phần siêu ngã khơng thể biện minh được Phần bản ngã với chức năng kiểm sốt sự tác động giữa bản năng và siêu ngã hoạt động khơng tương xứng Từ đĩ cá nhân hoạt động vượt ra ngồi khuơn khổ của XH
Phân tâm học đã đề cao hoạt động bản năng, coi nhẹ hoạt động cĩ ý thức của con người Trong quá trình hoạt động phát triễn bản năng của con người bị chi phối bởi ý thức Hầu hết hoạt động của con người là hoạt động cĩ ý thức
-Nguồn gốc XH của sai lệch : Nhiều nhà XHH thừa nhận nguồn gốc hành vi sai lệch là XH, Nhưng họ cũng cĩ nhiều kiến giải khác nhau
+Lý thuyết về nền VH phụ :Những nhà XHH theo lý thuyết naỳ cho rằng trong một XH xác định bao giờ cũng cĩ một nền VH chính thống Nền VH này cĩ hệ thống giá trị, chuẩn mực quy tắc hành vi do nhĩm thống trị chi phối Bên cạnh
đĩ, XH vẫn tồn tại nền VH của các nhĩm XH khác nhau Hoạt động của mỗi
thành viên trong nhĩm chịu sự chi phối của nền VH chung đồng thời chịu sự tác động của nần VH nhĩm Vì vậy cĩ thể cĩ những xung đột, mâu thuẫn gữa các giá trị, chuẩn mực, quy tắc của nền VH này với nền VH chính thống,đây chính
là nguồn gốc của các hành vi sai lệch