Tôn giáo: Hồng Kông được hưởng mức độ tự do tôn giáo cao, đa số dân theo Phật giáo.2.2 Chế độ chính trị: Từng bộ phận của Hồng Kông trở thành thuộc địa của Anh từ lãnh thổ Trung Quốcđại
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG VIỆN KINH TẾ & KINH DOANH QUỐC TẾ
-*** -TIỂU LUẬN:
ĐỊA LÝ KINH TẾ HỒNG KÔNG
Giảng viên hướng
dẫn:
Sinh viên thực hiện:
ThS Ngô Hoàng Quỳnh Anh Đỗ Ngọc Sơn
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
MỤC LỤC BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH VẼ 3
NỘI DUNG 4
1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên Hồng Kông 4
1.1 Vị trí địa lý 4
1.2 Điều kiện tự nhiên 4
1.3 Tài nguyên thiên nhiên 4
2 Dân cư – xã hội, chế độ chính trị Hồng Kông 5
2.1 Dân cư – xã hội 5
2.2 Chế độ chính trị: 6
3 Kinh tế Hồng Kông 7
3.1 Tổng quan tình hình kinh tế Hồng Kông 7
3.2 Các ngành kinh tế 8
3.2.1 Nông nghiệp 8
3.2.2 Công nghiệp 8
3.2.3 Dịch vụ 8
3.3 Các vùng kinh tế của Hồng Kông 13
3.3.1 Đảo Hồng Kông: 13
3.3.2 Cửu Long 13
3.3.3 Tân Giới 14
4 Mối quan hệ Việt Nam – Hồng Kông 14
5 Bài học kinh nghiệm 15
TÀI LIỆU THAM KHẢO 19
Trang 3MỤC LỤC BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH VẼ
Hình 2.1-1: Biểu đồ dân số Hồng Kông qua các năm 5
Hình 2.1-2: Biểu đồ tốc độ gia tăng dân số Hồng Kông qua các năm 5
Hình 2.1-3: Phân bố độ tuổi của Hồng Kông 5Hình 3.1-1: Biểu đồ so sánh tốc độ tăng trưởng kinh tế của Hồng Kông và CHND Trung
Trang 4Nằm ở phía đông của cửa sông Châu Giang.
Nó được bao quanh bởi Biển Đông ở tất cả các phía ngoại trừ phía bắc, nằm cạnh thành phố Thâm Quyến của tỉnh Quảng Đông dọc theo sông Thâm Quyến
Hồng Kông có diện tích là 2.755 km2 bao gồm đảo Hồng Kông, bán đảo Cửu Long, các vùng của Tân Giới, đảo Đại Tự Sơn, và hơn 200 hòn đảo lớn nhỏ khác.
1.2 Điều kiện tự nhiên
Địa hình chủ yếu là các đảo với đồi núi ở giữa và vùng đất bằng phía ngoài rìa là nơi phát triển mạnh
Khoảng 40% diện tích đất còn lại là dành cho vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên
Khí hậu Hồng Kông thuộc kiểu cận nhiệt đới và chịu ảnh hưởng của gió mùa, gần giống với khí hậu miền Bắc Việt Nam
Hồng Kông có hệ sinh thái đa dạng; hơn 3.000 loài thực vật có mặt trong khu vực và hàng ngàn loài côn trùng, gia cầm và các loài sinh vật biển
1.3 Tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên thiên nhiên của Hồng Kông có thể được chia thành ba loại chính:Khoáng sản kim loại và khoáng sản công nghiệp phi kim loại trong khu vực trên bờ;
Đá khai thác và đá xây dựng;
Lớp trầm tích cát ở ngoài khơi.
Mặc dù có diện tích nhỏ nhưng Hồng Kông có số lượng khoáng sản tương đối lớn Một số mỏ khoáng sản đã được khai thác thương mại
Trang 52 Dân cư – xã hội, chế độ chính trị Hồng Kông
2.1 Dân cư – xã hội
Dân số: 7.537.254 người (21/03/2021 – Liên Hợp Quốc), chiếm 0.1% dân số thế giới, đứng thứ 104 trên thế giới trong bảng xếp hạng dân số các nước và vùng lãnh thổ.
Mật độ dân số: 7.178 người/km2 với tổng diện tích đất 1.050 km2
Hình 2.1-1: Biểu đồ dân số Hồng Kông qua các năm
Hình 2.1-2: Biểu đồ tốc độ gia tăng dân số Hồng Kông qua các năm
100% dân số sống ở thành thị.
Độ tuổi trung bình: 45,1 tuổi.
Tuổi thọ trung bình: 84,9 tuổi.
Hình 2.1-3: Phân bố độ tuổi của Hồng Kông
Trang 6Tôn giáo: Hồng Kông được hưởng mức độ tự do tôn giáo cao, đa số dân theo Phật giáo.
2.2 Chế độ chính trị:
Từng bộ phận của Hồng Kông trở thành thuộc địa của Anh từ lãnh thổ Trung Quốcđại lục thời nhà Thanh qua các Điều ước Nam Kinh (1842), Công ước Bắc Kinh (1860)
và việc cho Anh thuê phần lãnh thổ Tân Giới trong vòng 99 năm từ năm 1898.
Năm 1984, Trung Quốc và Anh ký Tuyên bố chung Trung – Anh, trao trả toàn
bộ Hồng Kông về Trung Quốc sau khi hết kỳ hạn thuê vùng Tân Giới
Ngày 01/07/1997, Hồng Kông chính thức trở về với Trung Quốc và trở thành Khu hành chính đặc biệt Hồng Kông, gọi tắt là Đặc khu hành chính Hồng Kông Tên gọi quốc tế: HongKong Special Administrative Region – HK SAR.Theo Tuyên bố chung Trung Quốc – Anh và chính sách “một quốc gia, hai chế độ” được đề xuất bởi cựu lãnh tụ Trung Quốc Đặng Tiểu Bình, chính quyền Trung ương Trung Quốc chịu trách nhiệm về quốc phòng và ngoại giao, chính quyền Đặc khu hành chính Hồng Kông chịu trách nhiệm về hệ thống luật pháp, cảnh sát, tiền tệ, thuế quan, nhập cư và cử người tham gia vào các tổ chức quốc tế và các sự kiện quốc tế Tuyên bố chung này cũng quy định rằng Hồng Kông sẽ duy trì chế độ kinh
tế tư bản chủ nghĩa ít nhất 50 năm nữa trong thời kỳ chuyển giao chế độ.
Chính quyền Hồng Kông gồm 3 nhánh chính:
Hành pháp: Chính phủ đứng đầu là Đặc khu trưởng, dưới có các Ty trưởng các ty
(đồng cấp với Bộ trưởng) và Hội nghị Hành
chính Lập pháp: Hội đồng Lập pháp
Tư pháp: Tòa phúc thẩm cuối cùng, Tòa án tối cao, Tòa án tài phán, Tòa án quận Các đảng phái: tại Hồng Kông tồn tại nhiều đảng và tổ chức chính trị nhưng chủ yếu đi theo hai con đường đối lập nhau, tạo nên hai phe phái nhấn mạnh theo hai vế trong
tên gọi chính sách “một quốc gia, hai chế độ”
Phe kiến chế: còn gọi là phe thân Bắc Kinh hay phe thân Trung, chủ trương
ủng hộ chính sách “một Trung Quốc”, tập trung vào vế “một quốc gia”.
Trang 7Phe dân chủ: ủng hộ nền dân chủ, đòi quyền bầu cử phổ thông đầu phiếu
Đặc khu trưởng và Hội đồng Lập pháp theo Luật Cơ bản trong khuôn khổ
“một quốc gia, hai chế độ”, tập trung vào vế “hai chế độ”.
Chính trị ở Hồng Kông có nhiều bất ổn, nhất là sau khi được chuyển giao về Trung Quốc từ năm 1997 do sự bất đồng quan điểm về nền dân chủ, sự can thiệp quá sâu vào các hoạt động của Hồng Kông từ phía chính quyền Trung Quốc đại lục tạo nên cao trào là các cuộc biểu tình năm 2014 và 2019-2020
3 Kinh tế Hồng Kông
3.1 Tổng quan tình hình kinh tế Hồng Kông
Hồng Kông là một cửa ngõ quan trọng giữa Trung Quốc và phần còn lại của thế giới thời kỳ đầu mở cửa
Hồng Kông là một nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa phát triển cao, mộttrong những trung tâm tài chính của thế giới, là một trong “4 con rồng châu Á” về kinh tế cùng với Hàn Quốc, Singapore và Đài Loan
GDP: 365,7 tỷ USD, đứng thứ 75 trong số các quốc gia và vùng lãnh thổ (World Bank, 2019)
GDP bình quân đầu người: 48.713 USD, đứng thứ 18 trong số các quốc gia và vùng lãnh thổ (World Bank, 2019)
Hình 3.1-1: Biểu đồ so sánh tốc độ tăng trưởng kinh tế của Hồng Kông và CHND Trung Hoa.
Trang 8Hình 3.1-2: Biểu đồ so sánh tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người của Hồng Kông và CHND Trung
Hoa.
Tăng trưởng kinh tế: trung bình 3.17%/năm từ 1997 đến 2019 (World Bank, 2019)
Hồng Kông là nền kinh tế tự do nhất trên thế giới, được xem như là một ví
dụ tiêu biểu về lợi ích của chủ nghĩa tư bản tự vận hành nhờ vào việc áp dụng chính sách kinh tế tự do không can thiệp tích cực được cựu Bộ trưởng Tài chính Anh Cowperthwaite soạn thảo và áp dụng từ thời thuộc địa
Là nơi có mức sống và chi phí sinh hoạt thuộc top cao nhất thế giới nhưng cũng có
tỷ lệ hộ nghèo cao dao động xung quanh mức 20% dân số cùng với mức độ bất bình đẳng thu nhập lớn với hệ số Gini cao: 53,9 (CIA World Factbook, 2016).
3.2 Các ngành kinh tế
3.2.1 Nông nghiệp
Nông nghiệp đóng góp vào cơ cấu GDP của Hồng Kông gần như là 0% Do ítđất bằng phẳng để trồng trọt và ít tài nguyên thiên nhiên nên Hồng Kông nhậphầu hết lương thực, thực phẩm, tài nguyên từ nước ngoài
Trang 9Tỉ trọng của khu vực này trong GDP của nơi đây lên đến hơn 90% với 4 lĩnhvực chính: Thương mại, Logistics; du lịch; dịch vụ tài chính; các dịch vụ nghềnghiệp và dịch vụ sản xuất khác
Ngành du lịch
Ngành du lịch là một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế Hồng Kông kể từ khi vùng lãnh thổ này chuyển dịch sang mô hình kinh tế dịch vụ vào cuối những năm 1980 và đầu thập niên 90 của thế kỷ trước Ngành du lịch bao gồm cả du lịch trong nước và du lịch ngoài nước trong đó du lịch trong nước chiếm phần lớn giá trị gia tăng của du lịch.
Du lịch trong nước bao gồm thương mại bán lẻ, dịch vụ lưu trú (bao gồm khách sạn, nhà nghỉ, nhà trọ và các cơ sở cung cấp chỗ ở ngắn hạn), dịch vụ ăn uống, vận chuyển Do sự sụt giảm đáng kể về số lượng lượng khách du lịch đến trong năm 2019, giá trị gia tăng của du lịch trong nước giảm 23,1% từ 98,3 tỷ đô la năm 2018 xuống còn 75,6 tỷ đô la vào năm 2019 (chiếm 2,8% GDP) Du lịch trong nước đã tạo việc làm cho 197 900 người năm 2019
Du lịch nước ngoài bao gồm dịch vụ vận tải hành khách xuyên biên giới và đại lý du lịch, dịch vụ đặt chỗ và các hoạt động liên quan Giá trị gia tăng của du lịch nước ngoài lên tới 23,0 tỷ đô la vào năm 2019 (chiếm 0,8% GDP), tăng 3,7% so với năm
2018 Du lịch nước ngoài tạo việc làm cho 33 200 người (chiếm 0,9% tổng
số việc làm)
Từ 2003, chương trình Du lịch cá nhân đã cho phép những du khách từ một số thành phố Trung Quốc đại lục thăm Hồng Kông mà không cần đi theo đoàn Kết quả là, ngành du lịch Hồng Kông đã thu lợi từ sự gia tăng du khách đại lục, đặc biệt là sự mở cửa của Khu giải trí Hồng Kông Disneyland năm 2005
Tuy nhiên, du lịch Hồng Kông bị tàn phá nghiêm trọng bởi cuộc khủng hoảng sức khỏe cộng đồng vì dịch Covid-19 Lượng du khách đến thành phố trong tháng 8 năm 2020 chỉ đạt chưa đầy 4.500 người, có nghĩa là giảm tới 99,9% so với cùng kỳ năm ngoái Trong tám tháng đầu năm 2020, lượng khách du lịch đến thành phố giảm 91,9% xuống còn 3,54 triệu người Khách du lịch xuyên biên giới giảm 99,9% xuống 2.323 vào tháng
8 và 92,2% xuống 2,68 triệu người trong tám tháng đầu năm Tính đến nay, chính
quyền Hong Kong đã tiếp cận 11 quốc gia để đàm phán về việc thành
Trang 10lập bong bóng du lịch, bao gồm Thái Lan, Nhật Bản và Singapore Đó đều lànhững quốc gia đạt thành công tương tự trong việc kiểm soát dịch Covid-19.
Đặc biệt, những bất ổn chính trị tạo nên những cuộc biểu tình năm 2014 và 2019-20 gây thiệt hại lớn cho du lịch Hồng Kông Cục Du lịch quốc gia Trung Quốc phải ngừng cấp phép cho các tour du lịch theo nhóm từ Trung Quốc Đại lục sang Hồng Kông với lý
do lo ngại ảnh hưởng đến sự an toàn của họ, trong bối cảnh Hồng Kông đang diễn ra các cuộc biểu tình căng thẳng dẫn tới lượng khách du lịch giảm dần Cụ thể cuộc biểu tình 2019, sân bay Hồng Kông hủy 300 chuyến bay, tỉ lệ đặt phòng khách sạn tại Hồng Kông đã giảm "hai con số", trong khi lượng đặt tour theo nhóm giảm đến 50% Công
viên giải trí Disneyland cũng cho biết bị ảnh hưởng bởi du kháchgiảm đi, trong khi ngành bán lẻ cũng lao đao vì thiếu khách và phải đóng cửatrong những ngày biểu tình
Ngành dịch vụ tài chính
Hồng Kông là một trung tâm tài chính quốc tế.Tính đến năm 2019, vốn hóa thị trường của Hồng Kông thị trường chứng khoán đứng thứ ba ở châu Á và thứ năm trên thế giới Đồng thời, Hồng Kông là một trong những thị trường sôi động nhất cho các đợt phát hành lần đầu ra công chúng (IPO), đứng đầu thế giới về các quỹ IPO được huy
động vào năm 2019
Ngành dịch vụ tài chính là ngành công nghiệp lớn nhất và then chốt về giá trị gia tăng ở Hồng Kông Trong năm 2019, giá trị gia tăng của ngành này lên tới 580,1 tỷ đô la (chiếm 21,2% của GDP) với mức tăng 8,4% từ 535,1 tỷ đô la năm 2018 và tạo việc làm cho 272 600 người (chiếm 7,1% tổng số việc làm) với mức tăng trưởng 3,7% từ 263 000 người vào năm 2018
Các dịch vụ tài chính bao gồm ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán môi giới, quản lý tài sản và tài chính khác:
Ngân hàng và hoạt động bảo hiểm trong năm 2019 tạo nên sự tăng trưởng liên tục
của sản lượng ròng trong ngành dịch vụ tài chính Các ngân hàng ở Hồng Kông tham gia vào một loạt các kinh doanh ngân hàng bán lẻ và bán buôn như tiền gửi lấy, tài trợ thương mại, tài chính doanh nghiệp, kho bạc hoạt động và môi giới chứng khoán.
Giá trị gia tăng của ngành ngân hàng là 364,9 tỷ đô la trong năm 2019 (chiếm
13,3%GDP), với mức tăng trưởng 4,6% từ 349,0 tỷ đô la trong 2018.
Trang 11Ngành này cũng tạo công ăn việc làm cho 99 800 người (chiếm 2,6% tổng
số việc làm) vào năm 2019
Bảo hiểm chủ yếu bao gồm bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm chung; các dịch vụ
tài chính khác gồm môi giới chứng khoán, quản lý tài sản, cho thuê tài chính Giá trị gia tăng của bảo hiểm và các dịch vụ tài chính khác tăng 15,6% từ 186,1 tỷ đô
la năm 2018 lên 215,2 tỷ đô la (chiếm 7,9% GDP) vào năm 2019 và tạo việc làm cho 172 800 người (chiếm 4,5% tổng số việc làm) vào năm 2019.
Đặc biệt, kể từ năm 2014, Hồng Kông đã mở Stock Connect, một nền tảngcho phép giao dịch chứng khoán xuyên biên giới giữa thành phố này và TrungQuốc đại lục, và hiện chiếm 8% giao dịch cổ phiếu tại Hồng Kông
Ngành thương mại, logistics
Năm 2019, Hồng Kông đứng thứ 8 thế giới về kinh tế buôn bán hàng hoá lớnnhất Giá trị tổng số thương mại hàng hóa năm 2019 giảm 5,4%, trong đó xuất và nhập khẩu giảm 6,5% và 4,1% Trong cùng năm, lượng hàng hóa thông qua của sân bay Quốc tế Hồng Kông lên tới 4,8 triệu tấn, đứng đầu trong số tất cả các sân bay ở thế giới
Ngành thương mại và dịch vụ logistics tạo ra giá trị gia tăng 541,2 tỷ đô la vào năm
2019 (chiếm 19,8% GDP), giảm 5,3% so với năm 2018 Thương mại và dịch
vụ logistics hoạt động yếu trong năm 2019 trong bối cảnh suy thoái kinh tếtoàn cầu và thương mại Hoa Kỳ - Đại lục căng thẳng Về việc làm, thươngmại và dịch vụ logistics tạo việc làm cho 673 700 người vào năm 2019(chiếm 17,5% tổng số việc làm)
Thương mại chiếm phần chính với giá trị gia tăng của nó lên tới 460,6 tỷ đô
la trong năm 2019 (chiếm 16,8% GDP), giảm 5,4% tương ứng 486,8 tỷ đô la trong năm 2018 Đồng thời, ngành thương mại giải quyết việc làm cho 497
600 vào năm 2019 (chiếm 12,9% tổng số việc làm)
Các hoạt động logistics bao gồm vận chuyển hàng hóa, vận tải, giao nhận hàng hóa, lưu kho, bưu chính và dịch vụ chuyển phát nhanh Trong năm 2019, giá trị gia tăng của ngành logistics lên tới 80,6 tỷ USD (chiếm 2,9% GDP), giảm 5,0% tương ứng 84,8 tỷ đô la năm 2018 và cung cấp việc làm cho 176 200 người vào năm 2019
Trang 12vụ này ghi nhận mức tăng trưởng nhẹ trong năm 2019.
Dịch vụ nghề nghiệp bao gồm pháp lý, kế toán, hoạt động kiểm toán, kiến trúc và kỹ thuật, thử nghiệm và phân tích kỹ thuật, nghiên cứu khoa học và phát triển, quản lý
và quản lý hoạt động tư vấn, Giá trị gia tăng của ngành này tăng từ 128,1 tỷ đô la trong năm 2018 lên 130,8 tỷ USD vào năm 2019 (chiếm 4,8% GDP) và giải quyết vấn đề việc làm cho 236 600 người vào năm 2019 (chiếm 6,1% tổng số việc làm) Các dịch vụ sản xuất khác bao gồm các dịch vụ được sử dụng bởi các công ty khác
và các dịch vụ được xuất khẩu đến các công ty và cá nhân khác Năm 2019, giá trị gia tăng của các dịch vụ sản xuất khác (ngoài dịch vụ tài chính dịch vụ, thương mại
và hậu cần, du lịch và dịch vụ chuyên nghiệp) là 194,3 tỷ đô la (chiếm 7,1% GDP), tăng 0,5% tương ứng 193,3 tỷ USD so với năm 2018 và giải quyết việc làm cho 333
500 người vào năm 2019 (chiếm 8,7% tổng số việc làm)
Hình 3.2-1: Biểu đồ giá trị gia tăng (trái) và lao động (phải) mà các ngành dịch vụ của Hồng Kông
đóng góp qua các năm.
Trang 133.3 Các vùng kinh tế của Hồng Kông
Hồng Kông chia thành 3 vùng kinh tế l ớn:
Đảo Hồng Kông
Cửu Long
Tân Giới
3.3.1 Đảo Hồng Kông:
Là trung tâm kinh tế chính trị của Hong Kong
Diện tích đảo: 80.5 km 2 , chiếm 7,2% diện tích Hong Kong
Dân cư đông đúc, tổng dân số 1.253.417 người, mật độ dân số: 15.691 người/
km2
Phần phía Bắc (gồm Quận Trung Tây, quận Đông và Loan Tử)
Là phần phát triển nhất của đảo và của toàn Hong Kong
Là trái tim của các hoạt động kinh doanh, tài chính và thương mại, xuất nhập khẩu
Trung tâm kinh tế: Trung Hoàn, Thượng Hoàn, Loan Tử, Vịnh
Causeway và Phần phía Nam (gồm quận Nam)
Dân cư thưa thớt hơn ở phần phía Bắc, tập trung chủ yếu ở rìa
phía Tây Phía Nam tập trung phát triển du lịch biển
Các khu trung tâm: Aberdeen, Stanley và Repulse Bay
3.3.2 Cửu Long
Là nơi đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế Hong Kong
Diện tích: 47 km2, chiếm 4.2 % diện tích Hong Kong
Đây là nơi có mật độ dân cư đông đúc nhất Hong Kong và trên thế giới
Dân số: 2.241.347 người, mật độ dân số: 47.778 người/ km2
Cửu Long tập trung vào phát triển du lịch và thương mại Có thể nói rằng, dulịch và thương mại đóng vai trò là ngành kinh tế xương sống của vùng
Các khu trung tâm: Tiêm Sa Chủy, Vượng Giác, Du Ma Địa
Các địa danh nổi tiếng ở Cửu Long: Đại lộ Ngôi Sao, Chùa Huỳnh Đại Tiên, Bảotàng không gian Hong Kong, Công viên Kam Shan, chợ đêm Temple Street,…