Xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu về thông tin theo đó ngày càng phát triển lên, thông tin thì ngày càng một đa dạng hơn. Do đó con người không những đòi hỏi về chất lượng thông tin cao mà cần phải nhanh và kịp thời. Những mạng viễn thông sử dụng những thiết bị tương tự và truyền dẫn tín hiệu tương tự nên chất lượng thông tin kém, dung lượng nhỏ. Nên một yêu cầu mới được đặt ra cho ngành viễn thông nói chung và ngành thông tin nói riêng cần phải đổi mới mạng lưới thông tin cả về phương thức truyền dẫn lẫn thiết bị để sao cho phù hợp và đáp ứng mọi nhu cầu thông tin cho người dùng hiện nay. Đối với nước ta để trang bị hoàn toàn với một mạng lưới viễn thông là quá tốn kém với ngân sách Nhà nước. Do vậy, trên quan điểm phát triển tuỳ theo khả năng tối đa về ngân sách tài chính có thể đáp ứng được, nên bên cạnh việc phải trang bị các thiết bị mới hiện đại cũng cần phải tận dụng kế thừa có cơ sở những thiết bị hiện có, không ngừng cải tiến sao cho có thể bắt kịp với yêu cầu của mạng viễn thông hiện đại và yêu cầu của khách hàng. Trong hệ thống viễn thông thì hệ thống tổng đài đóng vai trò hết sức quan trọng. Trong bản báo cáo này, chúng em xin trình bày về hệ thống tổng đài điện tử số nói chung và tổng đài điện tử SPC nói riêng. Được sự giúp đỡ tận tình của giảng viên hướng dẫn thầy Nguyễn Nhật Tiến cùng các thầy cô và bạn bè, với sự nỗ lực của chúng em nên em đã hoàn thành các nhiệm vụ của đồ án. 2. NỘI DUNG VÀ BỐ CỤC Nội dung của đề tài trình bày các vấn đề theo bố cục sau: Mở đầu. . Chương 1: Tổng quan về tổng đài điện thoại Chương 2: Phương thức truyền dẫn tín hiệu trong tổng đài. Chương 3: Tổng đài điện tử số SPC Chương 4:Phân tích một cuộc gọi trong tổng đài SPC Kết luận 3. Ý NGHĨA Đồ án này sẽ cung cấp cho chúng ta một số kiến thức về môn học hệ thống viễn thông. Với sự phát triển của nghành Bưu chính viễn thông quốc tế nói chung và Việt Nam nói riêng cùng với sự phát triển của công nghệ, điện tử, tin học, quang học…Nhờ đó sự thành công tạo ra một tổng đài mới là tổng đài điện tử số thay thế cho các tổng đài cơ nhằm đáp ứng nhu cầu trao đổi thông tin trong và ngoài nước một cách thuận lợi và nhanh chóng đáp ứng được nhu cầu người sử dụng.
Trang 1Họ và tên: MSSV:
Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Nhật Tiến
Tp HCM, tháng 3 năm 2021
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN KHOA ĐIỆN TỬ VIỄN THÔNG
2 Chương 1: Tổng quan về tổng đài điện thoại
3 Chương 2: Phương thức truyền dẫn tín hiệu trong tổng đài
3 Chương 3: Tổng đài điện tử số SPC
4 Chương 4: Phân tích một cuộc gọi trong tổng đài SPC
Huỳnh Thị Bảo Trân 3118500057
Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Nhật Tiến
Tp HCM, tháng 3 năm 2021
Trang 3Trường Đại học Sài Gòn
Khoa Điện Tử Viễn Thông
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT
NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TP HCM, ngày … tháng … năm 2021
PHIẾU GIAO NHIỆM VỤ THIẾT KẾ ĐỒ ÁN MÔN HỌC
TÊN MÔN HỌC: HỆ THỐNG VIỄN THÔNG
MÃ MÔN HỌC: 850308
Giảng viên bộ môn giao nhiệm vụ thiết kế đồ án môn học cho sinh viên thực hiện
đề tài đồ án môn học như sau:
1 Tên đề tài. TỔNG ĐÀI ĐIỆN TỬ SỐ
2 Mã số đề tài: 10.
3 Sinh viên thực hiện:
Nội dung thực hiện Chữ ký
1 Nguyễn Hoàng Chí 3118500005
2 Nguyễn Pháp 3118500040
3 Lê Thị Cẩm Tiên 3118500053
4 Huỳnh Thị Bảo Trân 3118500057
4 Thời gian thực hiện: Học kỳ II, Năm học 2020 – 2021 KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ ĐỒ ÁN MÔN HỌC
4 Thời gian chấm đồ án: …/…/2021
4.1 Ngày nộp đồ án: …/…/2021 4.2 Ngày báo cáo: …/…/2021
Kết quả chấm điểm của Giảng viên:
STT Họ và tên
thưởng
Điểm tổng
Trang 41
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bài báo cáo này, trước tiên chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành sâu sắc tới các Thầy, Cô giảng viên trong Khoa Điện Tử Viễn Thông Trường Đại học Sài Gòn đã trang bị vốn kiến thức cho em trong suốt quá trình học tập
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn đến thầy Nguyễn Nhật Tiến – Giảng viên hướng dẫn học phần Hệ thống viễn thông, Thầy đã tận tình giúp đỡ, trực tiếp chỉ bảo, hướng dẫn em trong suốt quá trình làm báo cáo, trang bị cho em kiến thức về môn học cũng như kiến thức của chuyên ngành đào tạo kỹ thuật điện tử viễn thông Trong thời gian làm việc với Thầy, em không những tiếp thu thêm nhiều kiến thức bổ ích
mà còn học tập được tinh thần làm việc nghiêm túc, hiệu quả, đây là những điều cần thiết cho em trong suốt quá trình học tập và công tác sau này
Trong quá trình làm báo cáo, mặc dù đã rất cố gắng, nhưng trong một khoảng thời gian cho phép, kinh nghiệm và kiến thức bản thân còn hạn chế nên báo cáo không thể tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, chúng em rất mong nhận được sự góp ý của các Thầy, các bạn sinh viên
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
TP HCM, ngày … tháng … năm 2021
Trang 52
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
MỤC LỤC 2
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC HÌNH ẢNH 4
MỞ ĐẦU 5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TỔNG ĐÀI ĐIỆN THOẠI 6
1.1 LỊCH SỬ KỸ THUẬT TỔNG ĐÀI 6
1.2 XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN 7
1.3.1 Phân loại theo phương thức chuyển mạch 7
1.3.2 Phân loại theo phương thức điều khiển: 8
1.3.3 Phân loại theo vị trí 8
1.3.4 Phân loại theo tín hiệu 9
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG THỨC TRUYỀN DẪN TÍN HIỆU TRONG TỔNG ĐÀI 9
2.1 CÁC ĐƯỜNG KẾT NỐI ĐỘC LẬP 9
2.2 GHÉP KÊNH PHÂN TẦN (FDM ) 10
2.3 GHÉP KÊNH PHÂN THỜI (TDM ) 10
2.4 ĐIỀU XUNG MÃ (PCM ) 11
CHƯƠNG 3 TỔNG ĐÀI ĐIỆN TỬ SỐ SPC 12
3.1 SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TỔNG ĐÀI ĐIỆN TỬ SPC 12
3.2 ƯU ĐIỂM CỦA TỔNG ĐÀI SPC 14
3.3 SƠ ĐỒ KHỐI CHỨC NĂNG CỦA TỔNG ĐÀI SỐ 17
3.3.1 Sơ đồ khối 17
3.3.2 Chức năng 18
CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH MỘT CUỘC GỌI TRONG 24
TỔNG ĐÀI SPC 24
4.1 QUÁ TRÌNH MỘT CUỘC GỌI ĐƯỢC ĐỊNH TUYẾN QUA MỘT TỔNG ĐÀI NỘI HẠT 24
TÀI LIỆU THAM KHẢO 28
Trang 63
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
B- ISDN Broadband ISDN Mạng số liên kết đa dịch vụ băng
rộng RFID Radio Frequency Identification Nhận dạng qua tần số vô tuyến
SHF Supper Low Frequency Tần số siêu cao
TDMA Time Division Multiplexer Access Đa truy nhập theo thời gian
ATM Asynchronous Transfer Mode Phương thức truyền không đồng bộ ISDN Integrated Services Digital
Network
Mạch sổ liên kết đa dịch vụ)
PABX Private Automatic Branch
Exchange
Tổng đài cơ quan PABX
PCM Pulse Code Modulation Điều chế xung mã
SLTU Subscriber Line Terminal Unit Đơn vị kết cuối đường dây thuê bao
TA Terminal Adapter Thiết bị thích ứng đầu cuối
TDM Time division multiplexing Ghép kênh phân thời gian
FDM Frequency Division Multiplexing Ghép kênh phân chia tần số
SSB Single SideBand Modulation Điều chế sóng mang đơn biên
Trang 74
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1 Mô hình phân loại tổng quát ……… 8
Hình 2.1 Kết nối thuê bao với tổng đài………9
Hình 2.2 Các sub-band trong băng tần……… 10
Hình 2.3 Các sub-band trong băng tần thoại……… 10
Hình 2.4 Điều chế tín hiệu PAM………11
Hình 2.5 Điều chế tín hiệu PCM……….…11
Hình 2.6 8 bit nhị phân của một khe……… …12
Hình 3.1 Cấu trúc tổng quát của tổng đài SPC ………17
Hình 3.2 Sơ đồ khối bộ xử lí chuyển mạch…….……… …21
Hình 4.1 Một cuộc gọi được định tuyến qua một tổng đài nội hạt ….24
Hình 4.2 Một cuộc gọi được định tuyến qua một tổng đài thứ 2………27
Trang 8Đối với nước ta để trang bị hoàn toàn với một mạng lưới viễn thông là quá tốn kém với ngân sách Nhà nước Do vậy, trên quan điểm phát triển tuỳ theo khả năng tối đa
về ngân sách tài chính có thể đáp ứng được, nên bên cạnh việc phải trang bị các thiết
bị mới hiện đại cũng cần phải tận dụng kế thừa có cơ sở những thiết bị hiện có, không ngừng cải tiến sao cho có thể bắt kịp với yêu cầu của mạng viễn thông hiện đại và yêu cầu của khách hàng
Trong hệ thống viễn thông thì hệ thống tổng đài đóng vai trò hết sức quan trọng Trong bản báo cáo này, chúng em xin trình bày về hệ thống tổng đài điện tử số nói chung và tổng đài điện tử SPC nói riêng Được sự giúp đỡ tận tình của giảng viên hướng dẫn thầy Nguyễn Nhật Tiến cùng các thầy cô và bạn bè, với sự nỗ lực của chúng em nên em đã hoàn thành các nhiệm vụ của đồ án
2 NỘI DUNG VÀ BỐ CỤC
Nội dung của đề tài trình bày các vấn đề theo bố cục sau:
Mở đầu
Chương 1: Tổng quan về tổng đài điện thoại
Chương 2: Phương thức truyền dẫn tín hiệu trong tổng đài
Chương 3: Tổng đài điện tử số SPC
Chương 4:Phân tích một cuộc gọi trong tổng đài SPC
Kết luận
3 Ý NGHĨA
Đồ án này sẽ cung cấp cho chúng ta một số kiến thức về môn học hệ thống viễn thông Với sự phát triển của nghành Bưu chính viễn thông quốc tế nói chung và Việt Nam nói riêng cùng với sự phát triển của công nghệ, điện tử, tin học, quang học…Nhờ đó
sự thành công tạo ra một tổng đài mới là tổng đài điện tử số thay thế cho các tổng đài
cơ nhằm đáp ứng nhu cầu trao đổi thông tin trong và ngoài nước một cách thuận lợi
và nhanh chóng đáp ứng được nhu cầu người sử dụng
Trang 9an toàn hơn, chất lượng hơn và hiệu quả hơn
Năm 1837, Samuel F B Morse phát minh ra máy điện tín, các chữ số và chữ cái được mã hoá và được truyền đi như một phương tiện truyền dẫn Từ đó khả năng liên lạc, trao đổi thông tin được nâng cao, nhưng vẫn chưa được sử dụng rộng rãi vì
sự không thân thiện, tương đối khó gợi nhớ của nó Năm 1876, Alecxander Graham Bell phát minh ra điện thoại, ta chỉ cần cấp nguồn cho hai máy điện thoại cách xa nhau và nối với nhau thì có thể trao đổi với nhau bằng tiếng nói như mơ ước của con người từ ngàn xưa đến thời bấy giờ Nhưng để cho nhiều người có thể trao đổi với
nhau tùy theo yêu cầu cụ thể thì cần có một hệ thống hỗ trợ
Đến năm 1878, hệ thống tổng đài đầu tiên được thiết lập, đó là một tổng đài nhân công điện từ được xây dựng ở New Haven Đây là tổng đài đầu tiên thương mại thành công trên thế giới Những hệ tổng đài này hoàn toàn sử dụng nhân công nên thời gian thiết lập và giải phóng cuộc gọi là rất lâu, không thỏa mãn nhu cầu ngày
càng tăng của xã hội
Để giải quyết điều này, năm 1889, tổng đài điện thoại không sử dụng nhân công được A.B Strowger phát minh Trong hệ tổng đài này, các cuộc gọi được kết nối liên tiếp tuỳ theo các số điện thoại trong hệ thập phân và do đó gọi là hệ thống gọi theo từng bước EMD do công ty của Đức phát triển cũng thuộc loại này Hệ thống này còn gọi là tổng đài cơ điện vì nguyên tắc vận hành của nó, nhưng với kích thước lớn, chứa nhiều bộ phận cơ khí, khả năng hoạt động bị hạn chế rất nhiều
Năm 1962, hãng SIEMENS (Đức) đã cho khai thác tổng đài điện tử thông dụng ESM Đồng thời tại Anh cũng đã cho sản xuất và khai thác thử tổng đài chuyển mạch thời gian Hãng ERICSSON cũng đã cho sản xuất loại tổng đài này để dùng cho mục đích chiến tranh Cũng trong năm này, tại Tiệp Khắc đã sản xuất các tổng
Trang 107
đài điện tử cơ quan loại nhỏ Năm 1965, tổng đài ESS số 1 của Mỹ là tổng đài điện
tử có dung lượng lớn ra đời thành công, đã mở ra một kỷ nguyên cho tổng đài điện
tử Chuyển mạch tổng đài ESS số 1 được làm bằng điện tử, đồng thời, để vận hành
và bảo dưỡng tốt hơn, đặc biệt, tổng đài này trang bị chức năng tự chuẩn đoán và vận hành theo nguyên tắc SPC và là một tổng đài nội hạt Cũng ở Mỹ, hãng Bell System Laboratory cũng đã hoàn thiện một tổng đài số dùng cho liên lạc chuyển tiếp vào đầu thập kỷ 70 với mục đích tăng cao tốc độ truyền dẫn giữa các tổng đài kỹ thuật số
Tháng 1 năm 1976, tổng đài điện tử số chuyển tiếp hoạt động trên cơ sở chuyển mạch số máy tính thương mại đầu tiên trên thế giới được lắp đặt và đưa vào khai thác
Kỹ thuật vi mạch và kỹ thuật số phát triển đẩy nhanh sự phát triển của các tổng đài điện tử số với khả năng phối hợp nhiều dịch vụ với tốc độ xử lý cao, ngày càng phù hợp với nhu cầu của một thời đại thông tin
1.2 XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN
Cùng với sự phát triển như vũ bão của công nghệ điện tử, công nghệ thông tin nói chung và công nghệ thiết bị chuyển mạch đã và đang có những bước tiến nhảy vọt Trong thời gian tới kỹ thuật chuyển mạch tập trung vào những vấn đề chủ yếu như sau:
- Tiếp tục hoàn thiện độ an toàn, rút gọn cấu trúc phần cứng, phát triển thêm các dịch vụ mới
- Hoàn thiện các phần mềm để đảm bảo an toàn cho vận hành, bảo trì và cho
người sử dụng
- Tiếp tục phát triển cao phần mềm ứng dụng mới, đáp ứng nhu cầu ngày càng
tăng của người sử dụng dịch vụ
- Phát triển tiếp theo hướng hoàn chỉnh ISDN (Integrated Services Digital Network- Mạch sổ liên kết đa dịch vụ) và mở rộng phạm vi sử dụng B- ISDN (Broadband ISDN - Mạng số liên kết đa dịch vụ băng rộng) Tăng cường thông tin theo công nghệ ATM (Asynchronous Transfer Mode - Phương thức truyền
không đồng bộ), đáp ứng nhu cầu dịch vụ đa phương tiện (Multimedia)
- Tiếp tục hoàn thiện các tổng đài theo công nghệ chuyển mạch quang
1.3 PHÂN LOẠI TỔNG ĐÀI ĐIỆN TỬ
1.3.1 Phân loại theo phương thức chuyển mạch
- Chuyển mạch phân kênh không gian: cấu trúc các mắt (các tiếp điểm) chuyển mạch
là các linh kiện điện tử hai trạng thái: đèn điện tử, tranzito hay IC Loại này hiện nay vẫn đang sử dụng
- Chuyển mạch phân kênh theo thời gian: đang được sử dụng
- Chuyển mạch phân kênh theo tần số: hiện thời không sử dụng trong viễn thông
- Chuyển mạch phân kênh theo bước sóng (chuyển mạch quang): đang nghiên cứu để
sử dụng trong tương lai
Trang 118
- Chuyển mạch số: sử dụng nguyên lý PCM Đây là phương thức rất phù hợp cho hệ thống thông tin hợp nhất và đa dịch vụ, hệ thống thông tin số, truyền số liệu Xét về mặt kinh tế và kỹ thuật thì trong giai đoạn hiện nay đây là phương thức ưu việt nhất
1.3.2 Phân loại theo phương thức điều khiển:
Theo phương thức này, việc điều khiển trong tổng đài điện tử được chia thành hai loại:
- Tổng đài điện tử điều khiển phân tán: phương thức này giống như nguyên lý điều khiển trong tổng đài cơ điện Gồm có các thiết bị nhận dạng, ghi phát riêng biệt v.v các thiết bị điều khiển đều được điện tử hoá
- Tổng đài điện tử điều khiển tập trung (điều khiển bằng chương trình): ở loại này việc điều khiển đều tập trung ở thiết bị logic trung tâm (CPU) Thiết bị CPU 25 này
sẽ thông qua các thiết bị giao tiếp ngoại vi để điều hành mọi hoạt động của tổng đài
- Về mặt cấu trúc logic thì thiết bị điềụ khiển có thể chia làm hai loại:
+ Điều khiển theo chương trình đã được lập sẵn (SPC)
+ Điều khiển theo chương trình được lập ra tức thời bởi các mạch điện logic
Hình 1.1 Mô hình phân loại tổng quát
1.3.3 Phân loại theo vị trí
Hiện nay, các tổng đài được phân thành bốn loại:
Trang 129
- Tổng đài quốc tế
- Tổng đài chuyển tiếp quốc gia
- Tổng đài chuyển tiếp vùng
- Tổng đài nội hạt
Ngoài ra có một số tổng đài nằm giữa tổng đài nội hạt và tổng đài chuyển tiếp vùng,
đó là tổng đài có nhiệm vụ nội hạt và chuyển tiếp Cách phân loại này cũng là cách phân loại dựa trên quan điểm lưu lượng Tổng đài nội hạt làm nhiệm vụ chuyển mạch, phục vụ các cuộc gọi nội hạt (nội đài), tổ chức các cuộc liên lạc từ trong ra qua các đường trung kế ra, hoặc các cuộc gọi từ ngoài vào qua các trung kế vào hoặc trung
kế vào - ra Tốc độ xử lý của tổng đài thường là 100 cuộc gọi/giây do tốc độ xử lý của mạch vi xử lý và tốc độ chuyển mạch quy định Tổng đài chuyển tiếp nhằm phục
vụ các cuộc gọi chuyển tiếp (tức là gọi đường dài), ở tổng đài chuyển tiếp thì tốc độ
xử lý nhanh hơn ở tổng đài nội hạt (khoảng 150 cuộc gọi/giây và lớn hơn)
1.3.4 Phân loại theo tín hiệu
Hình 2.1: Kết nối thuê bao với tổng đài
Vào thời kỳ đầu của kỹ thuật điện thoại, các kênh trung kế liên đài để chuyển các cuộc liên lạc của các thuê bao trong các tổng đài được kết nối với nhau bằng các cặp dây dẫn bằng kim loại giữa các tổng đài
Tuy nhiên, điều này sẽ gây ra một chi phí rất lớn cho mạng điện thoại, khi dung lượng thuê bao lớn, nên đã cố gắng nghiên cứu và không ngừng cải thiện để tạo
ra tính hiệu quả về kinh tế và dần dần làm thoả mãn các yêu cầu về kỹ thuật trong việc truyền thông tin trên các khoảng cách dài nhờ kỹ thuật dồn kênh (multiplexing)
Trang 1310
Và điều này dẫn tới sự ra đời của kỹ thuật ghép kênh phân chia tần số (FDM- Frequency Division Multiplexing)
2.2 GHÉP KÊNH PHÂN TẦN (FDM – FREQUENCY DIVISION MULTIPLE)
Việc truyền tiếng nói chỉ yêu cầu một băng tần hẹp Băng tần tiếng nói trong
kỹ thuật điện thoại được giới hạn từ 300 Hz đến 3400 Hz Tuy nhiên băng tần tiếng nói không sử dụng hết toàn bộ băng thông (Band Width - BW) của đường truyền Vì vậy, để sử dụng hết băng thông, một băng tần rộng hơn sẽ được chia thành các băng tần nhỏ hơn (sub-bands) liên tiếp nhau với BW = 4 kHz
Mỗi sub-band truyền một cuộc gọi Vì thế 12 cuộc gọi có thể được kết nối đồng thời thông qua một băng tần
Tuy nhiên, kỹ thuật thực hiện sẽ gặp nhiều khó khăn đối với các băng tần thấp,
vì sự xuyên nhiễu, nên băng tần nhỏ nhất được chọn tại vị trí 60 kHz trong dãi băng tần Các băng tần nhỏ hơn không được sử dụng
Nhờ các phương tiện điều chế sóng mang nên từng băng thoại được chuyển sang các băng nhỏ hơn (sub-band) và sau đó được truyền đi, đó là kỹ thuật điều chế sóng mang đơn biên SSB (single sideband modulation)
Sau khi giải điều chế (demodulation) tại phía thu, từng băng thoại một lần nữa được trả về dạng sóng ban đầu của chúng
Hình 2.3 Các sub-band trong băng tần thoại
2.3 GHÉP KÊNH PHÂN THỜI (TDM – TIME DIVISION MULTIPLEXING)
Nguyên tắc của ghép kênh phân thời, phía phát không phát đi một dạng sóng liên tục Vì vậy, đặc trưng của kỹ thuật này là lấy mẫu dạng sóng từng khoảng đều đặn và chỉ cần phát đi những mẫu (samples) này Trong mỗi chu kỳ, mỗi kênh được truyền đi một xung
thoại
Trang 1411
Phía thu, dạng sóng gốc có thể được khôi phục từ các mẫu đó Các mẫu này được phát như là các xung với các biên độ khác nhau Công việc này được thực hiện bởi phương pháp điều chế biên độ xung (PAM – Pulse Amplitude Modulation)
Hình 2.4 Điều chế tín hiệu PAM
2.4 ĐIỀU XUNG MÃ (PCM – PULSE CODE MODULATION)
Các mẫu biên độ của các dạng sóng được chuyển sang thành các chuổi mã nhị nhị phân có số đo tương ứng, như vậy không còn được phát với các xung có biên độ khác nhau mà là phát đi với các bit nhị phân Các mã nhị phân này hạn chế đáng kể các tác động của nhiễu so với các tín hiệu tương tự
Hình 2.5 Điều chế tín hiệu PCM
Trang 1512
Các tín hiệu PAM được mã hoá thành các mã nhị phân 8 bit và được phát đi nhờ một khe thời gian (time slot – khoảng cách giữa hai mẫu)
CHƯƠNG 3 TỔNG ĐÀI ĐIỆN TỬ SỐ SPC
3.1 SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TỔNG ĐÀI ĐIỆN TỬ SPC
Các tổng đài điện tử hoàn hảo là biểu hiện sự kết hợp thành công giữa kỹ thuật điện tử - máy tính với kỹ thuật điện thoại Các dấu hiệu thành công xuất hiện từ những năm 60 của thế kỷ 20 Sau hai thập kỷ phát triển, các thể hệ của tổng đài điện tử chứa đựng nhiều thành tựu từ sự phát triển của kỹ thuật điện tử Sự phát triển này được thúc đẩy bởi nhu cầu gia tăng chất lượng, cải thiện giá cả, tính duy trì và linh hoạt của các tổng đài cơ điện, và nhờ vào khai thác các ưu điểm tuyệt đối trong kỹ thuật điện tử và máy tính
Ứng dụng đầu tiên của các thiết bị điện tử vào các tổng đài điện thoại thuộc về lĩnh vực điều khiển: stored-program control Tổng đài SPC công cộng đầu tiên là lESS được phát triển bởi các phòng thí nghiệm của AT&T Bell, được giới thiệu tại Succasunna, New Jersey, USA vào tháng 5 năm 1965 Sự kiện lịch sử này khởi đầu
sự quan tâm của toàn thế giới vào SPC, kết quả trong những năm 70, một số các hệ thống tổng đài mới dùng kỹ thuật điều khiển máy tính với các mức độ khác nhau ra đời Tuy nhiên, các hệ thống đầu tiên này tất cả dùng các thiết bị chuyển mạch cơ vì vấp phải các vấn đề trong việc phát triển các dãy chuyển mạch bán dẫn phù hợp với ứng dụng điện thoại công cộng Có hai trở ngại cản trở việc dùng các chuyển mạch bán dẫn cho tổng đài điện thoại Trước tiên là khó chế tạo một ma trận chuyển mạch bán dẫn lớn với đặc tính xuyên nhiễu thấp Các chuyển mạch hình thành nên các ma trận như vậy yêu cầu trở kháng ngõ nhập rất cao nếu muốn các nhiễu bị loại trừ Làm việc trong chể độ tương tự, các chuyển mạch bán dẫn không thể so bì được với đặc điểm truyền tuyến tính và trở kháng ngõ nhập gần như vô hạn của các chuyển mạch
Hình 2.6: 8 bit nhị phân của một khe thời gian