Bài 1 ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM RA ĐỜI VÀ CƯƠNG LĨNH CHÍNH TRỊ ĐẦU TIÊN CỦA ĐẢNG A Mục đích Về nhận thức Giúp người học nhận thức sâu sắc về tính tất yếu sự ra đời của Đảng, nội dung và giá trị của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Về tư tưởng Giúp người học củng cố niềm tin và lòng tự hào về Bác Hồ và Đảng Cộng sản Việt Nam, nâng cao ý thức trách nhiệm, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao Về kỹ năng Giúp người học nâng cao năng lực tư duy, khả năng vận dụng, chỉ đạo thực tiễn B Yêu cầu Có.
Trang 1Bài 1:
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM RA ĐỜI
VÀ CƯƠNG LĨNH CHÍNH TRỊ ĐẦU TIÊN CỦA ĐẢNG
A Mục đích:
- Về nhận thức: Giúp người học nhận thức sâu sắc về tính tất yếu sự ra đời của
Đảng, nội dung và giá trị của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng
- Về tư tưởng: Giúp người học củng cố niềm tin và lòng tự hào về Bác Hồ và
Đảng Cộng sản Việt Nam, nâng cao ý thức trách nhiệm, hoàn thành xuất sắc nhiệm
vụ được giao
- Về kỹ năng: Giúp người học nâng cao năng lực tư duy, khả năng vận dụng,
chỉ đạo thực tiễn
B Yêu cầu:
- Có tinh thần thái độ nghiên cứu, học tập nghiêm túc, tự giác
- Nắm vững những nguyên lý chủ nghĩa Mác – Lênin liên quan đến bài học
C Nội dung:
1 TÍNH TẤT YẾU SỰ RA ĐỜI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VÀ VAI TRÒ CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH THÀNH LẬP ĐẢNG
1.1 Những biến đổi của thế giới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX tác động đến sự ra đời của Đảng
- Chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn độc quyền (Chủ nghĩa đế quốc).Các nước đế quốc đua nhau đi xâm chiếm các nước thuộc địa, đến năm 1914
“riêng các nước đế quốc Anh, Nga, Pháp, Đức, Mỹ, Nhật (chỉ có 16,5 triệu km2 với
số dân 437,2 triệu người) mà xâm chiếm 65 triệu km2 với 523,4 triệu người ở cácnước thuộc địa Riêng diện tích các nước thuộc địa của Pháp là 10,6 triệu km2 với
số dân 55,5 triệu người (nhiều hơn so với nước Pháp 0,5 triệu km2 và 39,6 triệungười”)1 Chính sách xâm lược của chủ nghĩa đế quốc đã hình thành nên một hệ
Trang 2thống thuộc địa, làm cho mâu thuẫn giữa chủ nghĩa đế quốc và các dân tộc thuộcđịa càng gây gắt Sự thức tỉnh về ý thức dân tộc và phong trào đấu tranh dân tộc, để
tự giải phóng mình khỏi ách thực dân của nhân dân các nước thuộc địa càng pháttriển mạnh mẽ Chính sách xâm lược của chủ nghĩa đế quốc đã biến chúng thành
kẻ thù chung của nhân dân chính quốc và nhân dân thuộc địa Nguyễn Ái Quốc đã
ví chủ nghĩa đế quốc giống như con đĩa hai vòi, một vòi bám vào nhân dân chínhquốc, hút máu nhân dân chính quốc, một vòi bám vào nhân dân thuộc địa, hút máunhân dân thuộc địa Muốn giết chết con quái vật đó phải đồng thời chặt đứt cả haivòi, nghĩa là cách mạng vô sản ở chính quốc và cách mạng giải phóng dân tộc ởthuộc địa có quan hệ biện chứng với nhau Trong thời đại ngày nay, cách mạng giảiphóng dân tộc muốn giành thắng lợi hoàn toàn phải phát triển theo con đường cáchmạng vô sản, như Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóngdân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”2 Muốn vậy,cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa phải do Đảng Cộng sản lãnh đạo, cáchmạng Việt Nam muốn phát triển theo phương hướng “làm tư sản dân quyền cáchmạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản” nhất định phải do Đảng cộngsản Việt Nam lãnh đạo Do đó, Đảng ra đời là yêu cầu khách quan
- Năm 1917, cách mạng tháng Mười Nga thành công Đối với nước Nga, đó làcuộc cách mạng vô sản, nhưng đối với các dân tộc thuộc địa của đế quốc Nga thì
đó còn là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, bởi vì trước cách mạng “nước Nga lànhà tù của các dân tộc”, cách mạng tháng Mười thành công các dân tộc thuộc địacủa đế quốc Nga được giải phóng Cách mạng tháng Mười Nga thành công đã mở
ra một thời đại mới, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trênphạm vi toàn thế giới Trong quá trình đi tìm đường cứu nước, năm 1917 Nguyễn
Ái Quốc từ nước Anh về nước Pháp, ở đây Người đã đến với cách mạng thángMười Nga, Người khẳng định trong thời đại ngày nay, cách mạng Nga là cuộc cáchmạng triệt để nhất, nước Nga có chuyện lạ đời, biến người nô lệ thành người tự do
và Người quyết định chọn con đường cho cách mạng Việt Nam là đi theo cách
2 Hồ Chí Minh: Toàn tập Nxb.Chính trị quốc gia, H.1995, tập 9, tr 314
Trang 3mạng vô sản Nga, muốn vậy thì cách mạng Việt Nam phải do Đảng Cộng sản lãnhđạo Do đó, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là yêu cầu khách quan.
- Tháng 3 năm 1919, Quốc tế Cộng sản được thành lập, sự kiện này đã ảnhhưởng đến phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, đặc biệt đối với quá trìnhvận động thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam Nhiều cán bộ của Đảng được đàotạo qua các trường của Quốc tế Cộng sản như Nguyễn Ái Quốc, Trần Phú, LêHồng Phong, Hà Huy Tập… Quốc tế Cộng sản theo dõi, chỉ đạo quá trình thànhlập Đảng ta, khi ở Việt Nam xuất hiện ba tổ chức cộng sản thì Quốc tế Cộng sản đã
ra chỉ thị hợp nhất ba tổ chức cộng sản thành một Đảng cộng sản Chính sự giúp đỡcủa Quốc tế Cộng sản đã tạo điều kiện thuận lợi để Đảng Cộng sản Việt Nam rađời
- Chủ nghĩa Mác - Lênin có thể truyền bá vào các nước thuộc địa và ViệtNam Các Mác và Ănghen nghiên cứu xã hội tư bản trong thời kỳ tự do cạnh tranh
và xây dựng học thuyết Mác, nhưng khi chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạnchủ nghĩa đế quốc, một vấn đề mới cần giải quyết mà thời kỳ Các Mác và Ănghenchưa có, đó là vấn đề thuộc địa Đáp ứng yêu cầu đó, Lênin đã vận dụng chủ nghĩaMác vào điều kiện chủ nghĩa đế quốc để xây dựng lý luận về cách mạng giải phóngdân tộc Nguyễn Ái Quốc khi đọc Bản sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về
vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin đăng trên báo L.Humanitê ngày 17 tháng 7
năm 1920, Người rất cảm động “Luận cương của Lênin làm cho tôi cảm động,phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng, vui mừng đến phát khóc, ngồi một mình trong phòngkín mà tôi nói to như nói trước đông đảo quần chúng Hỡi đồng bào đọa đày đaukhổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”3.Điều đó cho thấy chủ nghĩa Mác – Lênin là phù hợp với Việt Nam và có thể truyền
bá vào Việt Nam, là hệ tư tưởng để tiến tới thành lập Đảng cộng sản Việt Nam.Tóm lại: Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX tình hình thế giới có nhiều biến đổisâu sắc, qua đó một mặt đặt ra những đòi hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam phải ra đời,mặt khác tạo ra những tiền đề cho phép Đảng ta ra đời Do đó, Đảng Cộng sản ViệtNam ra đời là tất yếu khách quan
3 Hồ Chí Minh: Biên niên tiểu sử, Nxb Chính trị quốc gia, H.2006, tập 1, tr 98, 99.
Trang 41.2 Chính sách thống trị của thực dân Pháp và những biến đổi của xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
- Chính sách thống trị của thực dân Pháp đối với Việt Nam:
+ Về chính trị:
Thực hiện chính sách chuyên chế, sử dụng bộ máy người Pháp gồm: Toànquyền Đông Dương, Thống đốc Nam Kỳ, Khâm sứ Trung Kỳ, thống sứ Bắc Kỳ,công sứ ở các tỉnh, cho đến bộ máy quân đội, cảnh sát, tòa án thâu tóm mọi quyềnhành chính trị vào tay người Pháp Xóa tên Việt Nam trên bản đồ thế giới, chúngchia nước ta thành ba kỳ (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ) tìm mọi cách chia rẽ, gâymâu thuẫn giữa nhân dân ba kỳ, thực hiện âm mưu bẻ đũa từng chiếc nhằm làmsuy yếu sức mạnh đại đoàn kết của dân tộc Việt Nam để chúng dễ bề thống trị.Thực hiện chính sách chuyên chế về chính trị, nhưng thực dân Pháp khôngphá bỏ chế độ phong kiến để mở đường cho chủ nghĩa tư bản ở Việt Nam pháttriển, mà trái lại duy trì chế độ phong kiến như một công cụ để kìm hãm nước tatrong vòng lạc hậu Bởi vậy, gần một trăm năm thống trị của chủ nghĩa tư bản Phápnhưng chủ nghĩa tư bản ở Việt Nam không phát triển được bao nhiêu cả
Ra sức đàn áp dã man các phong trào yêu nước của nhân dân ta, hòng dập tắt
ý chí, quyết tâm đấu tranh cho khát vọng không có gì quý hơn độc lập, tự do củanhân dân Việt Nam
+ Về kinh tế:
Thực hiện chính sách độc quyền về kinh tế: công nghiệp, nông nghiệp, giaothông vận tải, nội thương, ngoại thương đều do người Pháp nắm, nhằm làm chonền kinh tế nước ta hoàn toàn lệ thuộc vào kinh tế Pháp, để chúng dễ bề cai trị
Vơ vét tài nguyên của nước ta, khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897-1914),lần thứ hai (1919-1929), chúng biến nước ta thành nơi cung cấp nguyên liệu, nơithị trường tiêu thụ hàng hóa ế thừa của Pháp Ra sức bóc lột sức lao động rẻ mạtcủa nhân dân ta, người công nhân Việt Nam phải làm việc từ mười đến mười haithậm chí mười bốn giờ trong một ngày, trong khi với đồng lương chết đói, không
đủ để tái sản xuất sức lao động “bán thân đổi mấy đồng xu, thịt xương vùi gốc cao
su mấy tầng” Còn người nông dân Việt Nam phải chịu hàng trăm thứ thuế, thuế
Trang 5nhà, thuế vườn, thuế ruộng, thuế chùa chiền, thuế thân… mà Bác Hồ gọi đây là
“thuế máu” Chính sách thuế khóa của thực dân Pháp đã đẩy người dân Việt Namlâm vào cảnh bần cùng, không lối thoát
+ Về văn hóa - xã hội:
Phương châm của người Pháp là dân ngu thì dễ bề cai trị, cho nên chúng thựchiện chính sách ngu dân một cách triệt để, không cho chúng ta xây dựng trườnghọc nâng cao dân trí (90% dân Việt Nam mù chữ)
Tuyên truyền tư tưởng khai hóa, văn minh, nước “đại Pháp” nhằm tạo ra tâm
lý tự ty, phục Pháp, sợ Pháp, không dám chống lại Pháp, ngăn chặn cấm đoán dunhập những tư tưởng tiến bộ, nhất là chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam
Đầu độc nhân dân ta bằng lối sống gấp, lối sống thực dụng, trái đạo đức vănhóa Việt Nan, khuyến khích các tệ nạn xã hội Tất cả là nhằm mục đích làm suyyếu dân tộc Việt Nam để thực dân Pháp dễ bề cai trị nước ta
Với những chính sách thống trị về chính trị, kinh tế, văn hóa của thực dânPháp đã làm biến đổi sâu sắc xã hội Việt Nam
- Những biến đổi của xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX:
+ Biến đổi về tính chất và mâu thuẫn cơ bản của xã hội Việt Nam:
Về tính chất xã hội: Trước khi thực dân Pháp xâm lược, xã hội Việt Nam là xãhội phong kiến độc lập, nhưng từ khi thực dân Pháp xâm lược, đã biến xã hội ViệtNam trở thành xã hội thuộc địa nửa phong kiến
Về mâu thuẫn cơ bản: trước khi thực dân Pháp xâm lược, trong xã hội ViệtNam chỉ có một mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn giữa nông dân Việt Nam với địachủ phong kiến Nhưng từ khi thực dân Pháp xâm lược xã hội Việt Nam trở thành
xã hội có hai mâu thuẫn cơ bản: một là, mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Namvới thực dân Pháp xâm lược; hai là, mâu thuẫn giữa nông dân Việt Nam với địachủ phong kiến, cách mạng Việt Nam muốn thành công, dân tộc Việt Nam muốnphát triển thì phải giải quyết triệt để hai mâu thuẫn cơ bản này Để đáp ứng đòi hỏi
đó, cách mạng Việt Nam cần có một chính đảng, đại diện cho lợi ích nhân dân, dântộc, đủ năng lực lãnh đạo nhân dân ta thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ đánh đổ đế
Trang 6quốc và đánh đổ phong kiến, đem lại độc lập cho dân tộc, ruộng đất cho dân cày.Cho nên, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là tất yếu khách quan.
+ Biến đổi về kết cấu xã hội: chính sách thống trị của thực dân Pháp khôngchỉ làm phân hóa các giai cấp vốn có từ trước là nông dân và địa chủ, mà còn hìnhthành thêm nhiều giai cấp mới như: giai cấp công nhân, giai cấp tư sản và tầng lớptiểu tư sản, xã hội Việt Nam chuyển từ xã hội có hai giai cấp cơ bản trở thành xãhội kết cấu bởi nhiều giai cấp
+ Biến đổi về địa vị lịch sử của các giai cấp trong xã hội:
Giai cấp địa chủ phong kiến: Giai cấp địa chủ phong kiến, từng là giai cấp
thống trị, lãnh đạo nhân dân, dân tộc trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước.Nhưng từ khi thực dân pháp xâm lược Việt Nam, giai cấp địa chủ cấu kết và làmtay sai cho thực dân Pháp Mặt khác, do chính sách chính trị và kinh tế của thựcdân Pháp có phân biệt đối xử, mà giai cấp địa chủ bị phân hóa thành ba bộ phận rõrệt: tiểu địa chủ, trung địa chủ và đại địa chủ, vốn sinh ra ở một dân tộc có truyềnthống yêu nước, chống ngoại xâm, lại bị thực dân Pháp chèn ép về chính trị vàkinh tế nên một bộ phận không nhỏ trung và tiểu địa chủ tham gia đấu tranh chốngthực dân Pháp để giành độc lập, bảo vệ chế độ phong kiến tiêu biểu là phong tràoCần Vương, một bộ phận nhỏ thì chuyển sang kinh doanh theo lối tư bản chủnghĩa Nhìn chung, giai cấp địa chủ trở nên lạc hậu, phản động, cùng với đế quốctrở thành kẻ thù của dân tộc, không còn địa vị lịch sử là người lãnh đạo Do vậy,muốn cứu nước và giải phóng dân tộc mà đứng trên lập trường địa chủ phong kiếnthì sẽ thất bại
Giai cấp nông dân: Là thành phần đông đảo nhất trong xã hội, chiếm 90%
dân số Họ bị đế quốc, phong kiến và tư sản áp bức bóc lột nặng nề, nông dân ViệtNam bị bần cùng hóa bởi chính sách chiếm đoạt ruộng đất của đế quốc và phongkiến để lập các đồn điền, bởi sưu cao, thuế nặng, cho vay nặng lãi Nông dân mâuthuẫn gay gắt với đế quốc, phong kiến và sẵn sàng vùng dậy đấu tranh chống áchthống trị của đế quốc thực dân, phong kiến Họ vừa có yêu cầu độc lập dân tộc lạivừa có yêu cầu về ruộng đất Giai cấp nông dân có truyền thống đấu tranh kiêncường bất khuất là lực lượng to lớn, một động lực cách mạng mạnh mẽ, giai cấpnông dân nếu được tổ chức chặt chẽ, được sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản sẽ phát
Trang 7huy vai trò cực kỳ to lớn trong sự nghiệp đấu tranh vì độc lập, tự do cho dân tộcViệt Nam Tuy vậy, nông dân Việt Nam cũng không có địa vị người lãnh đạo cáchmạng, bởi vì họ không đại diện cho một phương sản xuất nào trong lịch sử, hơnnữa nếu tự mình thì nông dân không thể phát huy được sức mạnh to lớn của mình
và cũng không thể đòi được quyền lợi độc lập dân tộc, ruộng đất cho mình Sứcmạnh của nông dân được phát huy, quyền lợi của nông dân được đảm bảo chỉ khinào đi theo giai cấp công nhân, chịu sự lãnh đạo của giai cấp công nhân
Giai cấp tư sản Việt Nam: Hình thành trong quá trình khai thác thuộc địa của
thực dân Pháp Trước chiến tranh thế giới thứ nhất, tư sản Việt Nam mới là tầnglớp nhỏ bé, nhưng sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, giai cấp tư sản Việt Namphát triển rõ rệt Trong quá trình phát triển, giai cấp tư sản Việt Nam phân hóa
thành hai bộ phận: Tư sản mại bản, là những tư sản lớn, hợp tác kinh doanh với đế
quốc, có quyền lợi về chính trị và kinh tế gắn liền với đế quốc thực dân Pháp, đốilập với lợi ích dân tộc, trở thành kẻ thù của dân tộc cần đánh đổ cùng với đế quốc,
phong kiến Tư sản dân tộc, là bộ phận đông nhất trong giai cấp tư sản Việt Nam,
bao gồm những tư sản nhỏ và vừa, thường hoạt động trong các ngành thươngnghiệp, công nghiệp Do chính sách độc quyền và chèn ép của tư bản Pháp, nên tưsản dân tộc không thể phát triển, tư sản dân tộc cùng chịu chung số phận mất nướccủa dân tộc, nên có tinh thần yêu nước, chống đế quốc và phong kiến Giai cấp tưsản dân tộc là một lực lượng không thể thiếu được trong phong trào cách mạng giảiphóng dân tộc Tuy vậy, giai cấp tư sản dân tộc không có địa vị lịch sử người lãnhđạo cách mạng, vì tư sản dân tộc Việt Nam ra đời khi giai cấp tư sản thế giới trởnên lạc hậu, phản động không còn là giai cấp trung tâm của thời đại, hơn nữa giaicấp tư sản dân tộc ra đời sau giai cấp công nhân Việt Nam, đang là giai cấp trungtâm thời đại, giai cấp có địa vị người lãnh đạo cách mạng Vì vậy, cứu nước và giảiphóng dân tộc mà đứng trên lập trường giai cấp tư sản thì sẽ thất bại
Tầng lớp tiểu tư sản: Gồm nhiều bộ phận khác nhau từ những người thợ thủ
công, tiểu thương, tiểu chủ, viên chức, trí thức, học sinh, sinh viên Giữa những bộphận đó có sự khác nhau về kinh tế và cách sinh hoạt, nhưng đều bị đế quốc, tưbản, phong kiến chèn ép bóc lột và khinh rẻ, địa vị kinh tế bấp bênh, luôn bị đe dọathất nghiệp, phá sản nên có tinh thần dân tộc, yêu nước, hăng hái cách mạng, nhạy
Trang 8cảm với chính trị và thời cuộc, thường đóng vai trò là người châm ngòi pháo chophong trào cách mạng Nếu được tổ chức, giác ngộ cùng với công nhân và nôngdân, đây là lực lượng đông đảo quan trọng, là một trong những động lực cáchmạng, đặc biệt là ở các đô thị trong công cuộc giải phóng dân tộc trước đây, cũngnhư xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay Tuy vậy, tiểu tư sản cũng không có địa
vị lịch sử là người lãnh đạo cách mạng, bởi vì họ không đại diện cho một phươngthức sản xuất nào cả; không có bản lĩnh chính trị vững vàng khi cách mạng thuậnlợi, thành công thì hăng hái tích cực, khi khó khăn, thất bại thì dao động, mất niềmtin
Giai cấp công nhân Việt Nam: Giai cấp công nhân hình thành và phát triển
cùng với quá trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất, lần thứ hai của thực dân Pháp ởnước ta Lớp công nhân đầu tiên xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX khi thực dân Phápxây dựng cơ sở công nghiệp và thành phố phục vụ cho chương trình khai thácthuộc địa ở nước ta, đặc biệt phát triển nhanh khi thực dân Pháp tiến hành chươngtrình khai thác thuộc địa lần thứ hai Từ 10 vạn người năm 1913 tăng lên 22 vạnngười năm 1929, trong đó có hơn 53.000 là công nhân ngành mỏ và 81.200 côngnhân đồn điền cao su, chủ yếu là ở Nam Bộ Giai cấp công nhân Việt Nam tuy cònnon trẻ, số lượng chưa nhiều chỉ chiếm khoảng 1,2% dân số, trình độ học vấn, kỹthuật thấp, nhưng sống tập trung tại các thành phố, các trung tâm công nghiệp vàcác đồn điền Giai cấp công nhân Việt Nam đã mang trong mình những đặc trưngcủa giai cấp công nhân quốc tế như: Đại diện cho phương thức sản xuất tiến bộnhất, cách mạng triệt để nhất, có ý thức tổ chức kỷ luật nhất, có tinh thần đoàn kết
ý thức giai cấp nhất, có tinh thần quốc tế nhất Ngoài ra, giai cấp công nhân ViệtNam có những đặc điểm riêng như: Ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc; kế thừađược các truyền thống tốt đẹp của dân tộc; chịu ba tầng áp bức đế quốc, phongkiến, tư sản nên rất cách mạng Phần lớn xuất thân từ nông dân, đây là cơ sở thuậnlợi để công nhân và nông dân liên minh chặt chẽ, hình thành liên minh công nôngvững chắc, trên cơ sở đó mà giai cấp công nhân Việt Nam xác lập vai trò lãnh đạocách mạng của mình; ngay từ khi mới ra đời giai cấp công nhân Việt Nam đã chịuảnh hưởng của cách mạng tháng Mười Nga; sớm tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin,nhanh chóng chuyển từ đấu tranh tự phát sang đấu tranh tự giác Từ những đặctrưng và những đặc điểm trên đã khẳng định giai cấp công nhân Việt Nam là giai
Trang 9cấp duy nhất có địa vị lịch sử người lãnh đạo cách mạng, nhưng để thực hiện sứmệnh đó, thì giai cấp công nhân phải tổ chức ra Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tóm lại: Với những chính sách thống trị về chính trị, kinh tế, văn hóa xã hộicủa thực dân Pháp đã làm biến đổi sâu sắc xã hội Việt Nam về tính chất và mâuthuẫn cơ bản xã hội, về kết cấu xã hội và địa vị lịch sử của các giai cấp Nhữngbiến đổi đó vừa đặt ra đòi hỏi vừa tạo tiền đề cho phép Đảng Cộng sản Việt Nam rađời
1.3 Các phong trào yêu nước trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời
và sự khủng hoảng về lực lượng lãnh đạo và đường lối cứu nước
Năm 1858 thực dân Pháp nổ súng đánh vào cửa biển Đà Nẵng, mở đầu chocuộc chiến tranh xâm lược nước ta Mặc dù triều đình phong kiến nhà Nguyễn kýHiệp ước Ácmăng (Harmand) năm 1883 và Patơnốt (Patenôtre) năm 1884, đầuhàng thực dân Pháp, song phong trào yêu nước chống thực dân Pháp của nhân dân
ta liên tục nổ ra
Các phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến, tiêu biểu như cácvăn thân, sỹ phu yêu nước ở Nam Kỳ như phong trào của Trương Định, Ông đượcnhân dân Nam kỳ suy tôn “Bình Tây đại nguyên soái”; phong trào của NguyễnTrung Trực với ý chí, quyết tâm chống thực dân Pháp đến cùng “Bao giờ ngườiTây nhổ hết cỏ nước Nam mới hết người Nam đánh Tây”, phong trào của Võ DuyDương, Nguyễn Hữu Huân lãnh đạo.v.v
Khi thực dân Pháp đánh ra Bắc Kỳ lần thứ nhất (1873) và lần thứ hai (1882 1883), nhân dân Trung Kỳ, Bắc Kỳ liên tục đấu tranh chống thực dân Pháp, tiêubiểu như phong trào do Thống đốc Nguyễn Tri Phương, Thống đốc Hoàng Diệu…lãnh đạo Tiêu biểu cho khuynh hướng phong kiến đó là phong trào Cần Vương(1885-1896) do Vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết phát động mở cuộc tấn côngvào trại lính cạnh kinh thành Huế năm 1885 Việc không thành, Tôn Thất Thuyếtđưa Hàm Nghi chạy ra Tân sở (Quảng Trị) hạ chiếu Cần Vương Mặc dù sau đóHàm Nghi bị bắt nhưng phong trào Cần Vương tiếp tục phát triển, nhất là ở BắcTrung Kỳ và Bắc Kỳ tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa: Ba Đình của Phạm Bành vàĐinh Công Tráng (Thanh Hóa kéo dài đến 1887); Bãi Sậy của Nguyễn Thiện Thuật
Trang 10-(kéo dài đến 1892 ); Khởi nghĩa Hương Khê của Phan Đình Phùng (1885-1895);Cuộc khởi nghĩa Yên Thế ở Bắc Giang của Hoàng Hoa Thám kéo dài đến năm
1913 Qua các phong trào yêu nước trên đây thể hiện tinh thần quật cường chốngngoại xâm của nhân dân ta Nhưng ngọn cờ phong kiến không còn là ngọn cờ tiêubiểu để tập hợp lực cách mạng, thể hiện sự bất lực của hệ tư tưởng phong kiếntrong việc giải quyết nhiệm vụ giành độc lập dân tộc do lịch đặt ra, lịch sử khôngchấp nhận con đường quay trở lại chế độ phong kiến Sự thất bại của các phongtrào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến, đã làm xuất hiện phong trào yêunước theo khuynh hướng mới
Phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản, đầu thế kỷ XX, PhanBội Châu chủ trương dựa vào sự giúp đỡ bên ngoài, chủ yếu là Nhật Bản “Đồngvăn, đồng chủng” để đánh Pháp, giành độc lập dân tộc, thiết lập một nhà nước theo
mô hình quân chủ lập hiến của Nhật Bản Ông lập ra Hội Duy Tân (1904), tổ chứcphong trào Đông Du (1906 – 1908) đưa thanh niên yêu nước sang học tập Nhật,dựa vào Nhật để đánh Pháp, nhưng thực dân Pháp cấu kết với Nhật đã trục xuất lưuhọc sinh Việt Nam và những người đứng đầu về nước Chủ trương dựa vào Nhật đểchống Pháp, giành độc lập không thành công, Ông về Xiêm nằm chờ thời Giữa lúc
đó cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc (1911) nổ ra và giành thắng lợi Ông sangTrung Quốc lập ra Việt Nam Quang Phục Hội (1912) với ý định tập hợp lực lượng,rồi kéo quân về nước võ trang bạo động đánh Pháp, giải phóng dân tộc, thành lậpnước Cộng hòa dân quốc Việt Nam nhưng cũng không thành công, cuối năm 1913,Phan Bội Châu bị thực dân Pháp bắt giam tại Trung Quốc đến năm 1917 ông mớiđược thả ra
Đầu thế kỷ XX, ở Việt Nam còn xuất hiện xu hướng cứu nước bằng conđường cải cách – canh tân đất nước do Phan Châu Trinh khởi xướng và tổ chức,chủ trương cải cách văn hóa, mở mang dân trí, nâng cao dân khí, phát triển kinh tếtheo hướng tư bản chủ nghĩa trong khuôn khổ hợp pháp, Phan Châu Trinh đã đềnghị Nhà nước “Bảo hộ” Pháp tiến hành cải cách chế độ phong kiến tạo điều kiệncho chủ nghĩa tư bản Việt Nam phát triển Đây cũng chính là hạn chế trong xuhướng cải cách để cứu nước của Phan Châu Trinh, Ông không hiểu được tâm địacủa đế quốc thực dân, chính Nguyễn Ái Quốc đã phê phán cách làm của ông,
Trang 11chẳng khác nào kêu giặc rủ lòng thương, Giáo sư Trần Văn Giàu cho rằng PhanChu Trinh đã “đặt vào lòng độ lượng của Pháp cái hy vọng cải tử hoàn sinh choViệt Nam… Cụ không hiểu được bản chất của đế quốc thực dân”4 Đúng vậy, khiphong trào Duy Tân lan rộng ra Trung Kỳ và Nam Kỳ mà đỉnh cao là cuộc đấutranh chống thuế ở Trung Kỳ năm 1908, thực dân Pháp đàn áp dã man, giết hạinhiều sỹ phu yêu nước và nhân dân ta, nhiều người bị đem đi tù đày trong đó cóPhan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Đặng Nguyên Cần… Trường tư thục ĐôngKinh Nghĩa Thục do Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Hoàng Tăng Bí sáng lậpcũng bị đóng cửa, kết thúc phong trào yêu nước theo khuynh hướng cải cách ở ViệtNam.
Năm 1927-1930, Phong trào quốc gia tư sản gắn liền với sự ra đời và hoạtđộng của Quốc Dân Đảng (25-12-1927) do Nguyễn Thái Học, Nguyễn Xư Nhu,Nguyễn Tuấn Tài, Phó Đức Chính sáng lập, đây là tổ chức chính trị tiêu biểu nhấtcho xu hướng tư sản ở Việt Nam, tập hợp các thành phần tư sản, tiểu tư sản, địachủ và cả hạ sỹ quan người Việt Nam trong quân đội Pháp Mục đích của QuốcDân Đảng là đánh đổ đế quốc giành độc lập, xây dựng chế độ cộng hòa tư sản,phương pháp cách mạng: đấu tranh vũ trang bạo động, ám sát cá nhân Ngày 9tháng 2 năm 1930, Quốc Dân Đảng do Nguyễn Thái Học lãnh đạo quyết định phátđộng cuộc khởi nghĩa Yên Bái với tư tưởng “không thành công cũng thành nhân”,quân khởi nghĩa tấn công trại lính Pháp ở trung tâm thị xã Yên Bái, cuộc khởinghĩa đã lan sang một số địa phương như Thái Bình, Hải Dương Cuộc khởi nghĩaYên Bái nổ ra khi chưa có thời cơ vì thế nhanh chóng bị thực dân Pháp dìm trongbiển máu Các lãnh tụ của Quốc Dân Đảng cùng hàng ngàn chiến sỹ yêu nước bịbắt và tử hình cố Tổng Bí thư Lê Duẩn đã nhận xét cuộc khởi nghĩa Yên Bái là
“Một cuộc khởi nghĩa bất đắc dĩ, một cuộc bạo động non, để rồi chết luôn khôngbao giờ ngóc đầu lên nổi “khẩu hiệu không thành công cũng thành nhân” biểu lộtính chất hấp tấp của tiểu tư sản, tính chất hăng hái nhất thời và đồng thời cũngbiểu lộ tính chất không vững chắc, non yếu của phong trào tư sản”5
4 Trần Văn Giàu: Sự phát triển tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XIX đến cách mạng tháng Tám - Ý thức hệ tư
sản và sự thất bại của nó trước nhiệm vụ lịch sử, Nxb.Khoa học xã hội, H.1975, tr 442
Trang 12Nhìn chung, các phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản ởViệt Nam đã diễn ra liên tục, sôi nổi, lôi cuốn đông đảo quần chúng tham gia vớinhững hình thức đấu tranh phong phú, thể hiện ý thức dân tộc, tinh thần chống đếquốc của giai cấp tư sản Việt Nam, nhưng cuối cùng thất bại vì giai cấp tư sản ViệtNam nhỏ yếu về kinh tế và chính trị, không đủ sức giương cao ngọn cờ lãnh đạo sựnghiệp giải phóng dân tộc, cách mạng Việt Nam lâm vào khủng hoảng, bế tắc vềngười lãnh đạo và đường lối cách mạng, đang cần có một chính đảng cách mạng
đủ năng lực, bản lĩnh với đường lối đúng đắn để lãnh đạo sự nghiệp giải phóng dântộc thắng lợi
1.4 Vai trò của Nguyễn Ái Quốc đối với quá trình vận động thành lập Đảng
- Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước: Chứng kiến cảnh đất nước bị
đế quốc xâm lược, nhân dân bị áp bức bóc lột nặng nề của kiếp làm nô lệ, nhiềucuộc đấu tranh nổ ra nhưng đều thất bại Nguyễn Ái Quốc rất khâm phục lòng yêunước, tinh thần đấu tranh anh dũng của các nhà yêu nước lúc bấy giờ, nhưng lạikhông tán đồng con đường cứu nước của họ và Người quyết định ra đi tìm conđường để cứu nước, cứu dân như Người đã khẳng định: Tôi phải sang nước Pháp
và các nước khác xem xét họ làm như thế nào để về giúp đồng bào ta
Ngày 5 tháng 6 năm 1911, bằng thiên tài trí tuệ và nhãn quan chính trị sắc béncủa mình, Nguyễn Tất Thành (tên của Nguyễn Ái Quốc lúc đó) đã từ Bến NhàRồng ra đi tìm đường cứu nước, Người đi qua nhiều nước, nghiên cứu nhiều cuộccách mạng như cách mạng Pháp, cách mạng Mỹ, cách mạng Anh đồng thời thamgia lao động, đấu tranh cùng với giai cấp công nhân và nhân dân lao động cácnước, qua đó mà người rút ra kết luận: “Cách mệnh Pháp, cũng như cách mệnh
Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư sản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dânchủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa”6 Ởđâu bọn đế quốc thực dân cũng đều tàn bạo, ở đâu người lao động cũng bị bóc lột
dã man Từ đó người không chọn con đường theo cách mạng tư sản
6 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2002, tập 2, tr 274
Trang 13Nguyễn Ái Quốc đến với cách mạng tháng Mười Nga: Cuối năm 1917 giữa
lúc cuộc chiến thế giới thứ nhất sắp kết thúc, Người từ nước Anh trở lại nước Pháp,tại đây Người tham gia vào cuộc đấu tranh của công nhân và nhân dân lao độngPháp Đầu năm 1919 tham gia Đảng xã hội Pháp, lập Hội những người Việt Namyêu nước với tờ báo “Việt Nam hồn” để tuyên truyền, giáo dục Việt kiều ta ở Pháp.Tại Hội nghị VécXay (Pháp) 6-1919, Nguyễn Ái Quốc thay mặt những người ViệtNam yêu nước gửi đến hội nghị Bản yêu sách tám điểm, nhưng không được hộinghị chấp nhận, điều đó làm cho Nguyễn Ái Quốc càng hiểu rõ hơn bản chất củachủ nghĩa đế quốc thực dân, những lời tuyên bố dân tộc tự quyết của bọn đế quốcchỉ là trò bịp bợm, các dân tộc bị áp bức muốn có độc lập, tự do thật sự, trước hếtphải dựa vào lực lượng của chính bản thân mình, phải tự mình giải phóng chomình Cũng trong thời gian Người ở Pháp, cách mạng tháng Mười Nga thành công,cách mạng tháng Mười là sự kiện mang tính thời đại, ảnh hưởng của nó nhanhchóng lan tỏa khắp thế giới, trong đó có thủ đô Paris nước Pháp, nhờ vậy mà chưađến nước Nga, nhưng Nguyễn Ái Quốc có thể nghiên cứu, tìm hiểu được cáchmạng tháng Mười Người cho rằng trong thời đại ngày nay cách mạng Nga là cuộccách mạng triệt để nhất và quyết định chọn con đường cho cách mạng Việt Namtheo con đường cách mạng tháng Mười Nga, vạch ra con đường giải phóng dân tộcViệt Nam theo con đường cách mạng vô sản
Nguyễn Ái Quốc đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và trở thành người cộng sản: Sau cách mạng tháng Mười Nga, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế
phát triển mạnh mẽ Quốc tế III do Lênin đứng đầu được thành lập (1919) và tuyên
bố kiên quyết ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc phương Đông Tháng 7 năm
1920, Nguyễn Ái Quốc đọc được Bản sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về
vấn đề dân tộc và thuôc địa của Lênin đăng trên báo L.Humanitê ngày 17 tháng 7
năm 1920, Luận cương của Lênin đã chỉ ra cho Nguyễn Ái Quốc con đường giảiphóng dân tộc đúng đắn, Người khẳng định “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩanhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủnghĩa Mác - Lênin”7 Tháng 12 năm 1920 tại Đại hội lần thứ XVIII của Đảng Xãhội Pháp tại Tua, Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế thứ ba do
Trang 14Lênin đứng đầu và thành lập Đảng Cộng sản Pháp, người trở một trong nhữngngười sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, sự kiện đó đánh dấu bước ngoặt đối vớiNguyễn Ái Quốc, Người từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, từngười yêu nước trở thành người cộng sản và Người đã tìm ra con đường đúng đắncho cách mạng Việt Nam: Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có conđường nào khác con đường cách mạng vô sản.
Nguyễn Ái Quốc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin về nước, chuẩn bị tư tưởng, chính trị và tổ chức để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam: Sau khi tìm
được con đường cứu nước theo cách mạng tháng Mười Nga và chủ nghĩa Mác-Lênin, một câu hỏi luôn thường trực trong tư tưởng Nguyễn Ái Quốc: cách mệnhtrước hết phải có gì? đã được trả lời “Cách mệnh trước hết phải có Đảng cáchmệnh”, vì vậy sau khi tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin việc đầu tiên mà Nguyễn ÁiQuốc làm là truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin về nước, chuẩn bị về tư tưởng, chínhtrị và tổ chức để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
Về tư tưởng: Năm 1921 được sự giúp đỡ của Đảng Cộng sản Pháp, cùng vớicác chiến sỹ cách mạng các thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc sáng lập Hội liên hiệpthuộc địa tập hợp những người thuộc địa trên đất Pháp để đấu tranh chống chủ
nghĩa đế quốc thực dân, ra tờ báo Le Paria (Người cùng khổ) Năm 1922, Ban
nghiên cứu thuộc địa của Đảng Cộng sản Pháp được thành lập, Nguyễn Ái Quốcđược cử làm Trưởng ban nghiên cứu Đông Dương Nguyễn Ái Quốc viết nhiều bàiđăng trên các báo như: Báo Người cùng khổ, báo Nhân đạo của Đảng Cộng sảnPháp, đặc biệt Người viết tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp (Le Procês de lacolonisation Francaise) được xuất bản lần đầu tiên ở Pari, tác phẩm đã tố cáo, kếttội chế độ thực dân Pháp, thức tỉnh nhân dân Việt Nam nói riêng và nhân dân thuộcđịa nói chung Tháng 6 năm 1925, Nguyễn Ái Quốc thành lập tổ chức yêu nướcHội Việt Nam cách mạng Thanh niên tại Quảng Châu, Trung Quốc để truyền báchủ nghĩa Mác – Lênin cho những người yêu nước Việt Nam Năm 1927, tác phẩmĐường Kách mệnh ra đời trên cơ sở tập hợp những bài giảng của Nguyễn Ái Quốccho những người yêu nước trong Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên, tác phẩmđược trình bày có hệ thống những nguyên lý chủ nghĩa Mác – Lênin được vậndụng sáng tạo Thông qua những bài báo, những tác phẩm và những bài giảng của
Trang 15mình Nguyễn Ái Quốc đã truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin về Việt Nam, chuẩn bị
về tư tưởng để tiến tới thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, vì “Đảng muốn vữngthì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủnghĩa ấy”8
Về chính trị: Cùng với chuẩn bị về tư tưởng, Nguyễn Ái Quốc còn chuẩn bị
về đường lối chính trị cho Đảng Qua những bài viết trên các báo, bài phát biểutrên các diễn đàn quốc tế và các tác phẩm của Nguyễn Ái Quốc đặc biệt là tronggiai đoạn 1927 đến 1930 trong đó có tác phẩm Đường Kách mệnh, dần dần hìnhthành đường lối cách mạng Việt Nam nổi lên những vấn đề cơ bản:
- Người chỉ rõ vì sao phải làm cách mạng, “Muốn sống thì phải làm cáchmệnh”, Người chỉ ra có mấy loại cách mệnh, cách mệnh Mỹ (1776) cách mệnhPháp (1789), cách mệnh Nga (1917) và Người khẳng định cách mệnh Nga là triệt
để nhất vì thế mà cách mạng Việt Nam phải đi theo cách mạng Nga
- Trong thời đại ngày nay cách mạng giải phóng dân tộc muốn giành thắng lợitriệt để, phải đi theo con đường cách mạng vô sản, Người chỉ rõ cách mạng ViệtNam “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộngsản”
- Nguyễn Ái Quốc chỉ rõ, bản chất của chủ nghĩa thực dân là “ăn cướp” và
“giết người”, vì vậy chủ nghĩa thực dân là kẻ thù của các dân tộc thuộc địa, giaicấp công nhân và nhân dân lao động trên toàn thế giới, Người nhấn mạnh tính chất,nhiệm vụ cách mạng Việt Nam là cách mạng giải phóng dân tộc, đánh đổ đế quốc
và phong kiến làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập
- Cách mạng giải phóng dân tộc thuộc địa và cách mạng vô sản ở chính quốc
có quan hệ khăng khít với nhau, nhưng không phụ thuộc lẫn nhau, cách mạng giảiphóng dân tộc có thể nổ ra và giành thắng lợi trước cách mạng vô sản chính quốc
- Cách mạng là sự nghiệp của cả dân chúng, không phải của một hai người,hay một nhóm người, Nguyễn Ái Quốc chỉ rõ lực lượng cách mạng bao gồm “sỹ,nông, công, thương” trong đó công nông là “chủ cách mệnh” là “gốc cách mệnh”,
Trang 16còn học trò, nhà buôn, điền chủ nhỏ cũng bị đế quốc áp bức, song không cực khổbằng công nông, nên ba hạng ấy chỉ là “bầu bạn cách mạng của công nông”.
- Cách mạng muốn thành công trước hết phải có Đảng lãnh đạo, Đảng cóvững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thì thuyền mớichạy Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu,
ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy Đảng mà không có chủ nghĩa như người không cótrí khôn, tàu không có la bàn chỉ nam
- Cách mạng giải phóng dân tộc là một bộ phận của cách mạng vô sản thếgiới Cách mạng giải phóng dân tộc thuộc địa có quan hệ khăng khít với cách mạngchính quốc
Về tổ chức: Tháng 11 năm 1924 Nguyễn Ái Quốc từ Liên Xô về Quảng ChâuTrung Quốc, để xúc tiến công việc tổ chức thành lập một chính Đảng mácxít.Tháng 6 năm 1925, Người thành lập Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên tạiQuảng Châu, gồm có 5 cấp: Tổng bộ, Kỳ bộ, tỉnh bộ, huyện bộ và chi bộ, thànhphần 90% tiểu tư sản trí thức, 10% công - nông, về sau tỉ lệ công - nông tăngnhanh, trí thức chỉ còn chiếm 40%, hội lập ra tờ báo Thanh Niên bằng chữ quốcngữ để tuyên truyền và ra được 208 số Hội đã mở được nhiều lớp huấn luyện chủnghĩa Mác – Lênin do Nguyễn Ái Quốc trực tiếp giảng dạy, hội còn cử một số hộiviên đi học trường đại học Cộng sản Phương Đông (Liên Xô), trường quân chínhHoàng Phố (Trung Quốc) Trong những năm 1926-1927, Hội Việt Nam Cách mạngThanh niên đã phát triển nhiều cơ sở ở trong nước và ở trong Việt kiều tại TháiLan, đến năm 1929 hội đã có 1.700 hội viên, một số hội viên tiên tiến của Tân Việtcũng ngả theo Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên
Trước sự đòi hỏi của phong trào cách mạng, cần có một Đảng Cộng sản lãnhđạo đã dẫn đến cuộc đấu tranh trong nội bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên
về việc thành lập Đảng Cộng sản hay chưa, tháng 3 năm 1929 tại số nhà 5D phốHàm Long Hà Nội chi bộ đầu tiên được thành lập, gồm: Trần Văn Cung, Ngô Gia
Tự, Nguyễn Đức Cảnh, Trịnh Đình Cửu
Đến tháng 5 năm 1929, tại Đại hội đại biểu của Hội Việt Nam Cách mạngThanh niên họp ở Hương Cảng (Trung Quốc), vấn đề thành lập Đảng được Đại hội
Trang 17đưa ra thảo luận, tranh luận, nhưng không thống nhất được Trước tình hình đóđoàn đại biểu Bắc kỳ do đồng chí Ngô Gia Tự dẫn đầu rút khỏi đại hội về nước,ngày 17 tháng 6 năm 1929 tại số nhà 312 phố Khâm Thiên họ tuyên bố thành lậpĐông Dương Cộng sản Đảng, thông qua Tuyên ngôn, điều lệ, cử ra Ban Chấp hànhTrung ương lâm thời, ra báo Búa Liềm của Đảng.
Trước tác động và ảnh hưởng của Đông Dương Cộng sản Đảng, Kỳ bộ Nam
Kỳ quyết định thành lập An Nam Cộng sản Đảng vào tháng 11 năm 1929
Dưới tác động của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên tại Trung Kỳ, ngày1-1-1930, Tân Việt cách mạng Đảng tuyên bố thành lập Đông Dương Cộng sảnLiên Đoàn
Trải qua quá trình chuẩn bị về tư tưởng, chính trị và tổ chức của Nguyễn ÁiQuốc, đã dẫn đến sự ra đời của ba tổ chức cộng sản ở nước ta, đây là một bướcphát triển về chất, từ những tổ chức yêu nước phát triển thành những tổ chức cộngsản, nó thúc đẩy phong trào cách mạng phát triển Nhưng ở một nước lại có ba tổchức cộng sản, tuy đều là cộng sản nhưng họ lại chỉ trích nhau, tranh giành ảnhhưởng quần chúng của nhau Cách mạng Việt Nam đang đòi hỏi cần hợp nhất ba tổchức cộng sản lại thành một Đảng Cộng sản Việt Nam Nhận thức được điều nàyNguyễn Ái Quốc đã chủ động triệu tập Hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sảnthành Đảng Cộng sản Việt Nam
2 HỘI NGHỊ THÀNH LẬP ĐẢNG VÀ CƯƠNG LĨNH CHÍNH TRỊ ĐẦU TIÊN CỦA ĐẢNG
2.1 Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
Ngày 27 tháng 10 năm 1929, Quốc tế Cộng sản đã gửi cho những người cộngsản ở Đông Dương tài liệu về việc thành lập Đảng Cộng sản ở Đông Dương nhấnmạnh “Nhiệm vụ quan trọng nhất và cấp bách nhất của tất cả những người cộngsản Đông Dương là thành lập một đảng cách mạng có tính chất giai cấp của giaicấp vô sản nghĩa là một Đảng Cộng sản có tính chất quần chúng ở Đông Dương.Đảng đó phải chỉ có một và là tổ chức cộng sản duy nhất ở Đông Dương”9 Song,tài liệu đó chưa đến được với những người cộng sản Việt Nam Lúc đó, Nguyễn Ái
Trang 18Quốc đang ở Xiêm tìm đường về nước thì nhận được tin Hội Việt Nam Cách mạngThanh niên phân liệt “những người cộng sản chia thành nhiều phái”, Nguyễn ÁiQuốc rời Xiêm đến Hương Cảng (Trung Quốc) với tư cách phái viên của Quốc tếCộng sản có đủ quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến cách mạng ở ĐôngDương, Người chủ động triệu tập và chủ trì Hội nghị hợp nhất, gồm đại diện choĐông Dương Cộng sản Đảng có: Trịnh Đình Cửu, Nguyễn Đức Cảnh; đại diện cho
An Nam Cộng sản Đảng có Châu Văn Liêm, Nguyễn Thiệu (Tổng số đảng viêncủa Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng là 310 người) cònĐông Dương Cộng sản Liên Đoàn do mới thành lập nên không kịp cử đại biểu đến
dự Hội nghị tiến hành vào ngày 6 tháng 1 năm 1930 (sau này Đại hội đại biểu toànquốc lần thứ III (1960) trên cơ sở những tài liệu hiện có đã ra nghị quyết về ngàythành lập Đảng, trong đó ghi rõ: “Lấy ngày 3 tháng 2 dương lịch hàng năm làmngày kỷ niệm thành lập Đảng”)
Sau khi thảo luận những vấn đề Nguyễn Ái Quốc nêu ra, Hội nghị hoàn toànnhất trí, tán thành việc hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Đông Dương thành mộtđảng duy nhất, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam; thông qua Chính cương vắntắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam; Lời kêu gọicủa Nguyễn Ái Quốc nhân ngày thành lập Đảng đến công nhân, nông dân, binhlính, học sinh, anh chị em bị áp bức, bóc lột hãy gia nhập Đảng, đi theo Đảng đểđánh đổ đế quốc, phong kiến An Nam làm cho nước An Nam được độc lập
Theo chủ trương của Hội nghị, ngày 8 tháng 2 năm 1930 các đại biểu về nướcbầu ra Ban Chấp hành Trung ương lâm thời gồm: Trịnh Đình Cửu, Trần Văn Lan,Nguyễn Văn Hới, Nguyễn Phong Sắc, Hoàng Quốc Việt, Phan Hữu Lầu, Lưu LậpĐạo và do Trịnh Đình Cửu phụ trách Sau đó các xứ ủy được thành lập gồm: Xứ ủyBắc Kỳ do Đỗ Ngọc Du làm Bí thư; Xứ ủy Trung Kỳ do Nguyễn Phong Sắc làm Bíthư; Ngô Gia Tự làm Bí thư xứ ủy Nam Kỳ Xây dựng hệ thống tổ chức của Đảng:Tỉnh, Thành bộ; Huyện, Thị Bộ; Chi bộ; đề ra nhiệm vụ của đảng viên
2.2 Nội dung cơ bản của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng
Trang 19Các văn kiện: Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt
do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng tháng 2năm 1930 hợp thành Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, những nội dung cơbản của Cương lĩnh:
+ Về phương hướng chiến lược: trên cơ sở phân tích tính chất, mâu thuẫn cơbản của xã hội Việt Nam, Cương lĩnh xác định phương hướng chiến lược phát triểncủa cách mạng Việt Nam là “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cáchmạng để đi tới xã hội cộng sản”10
+ Về nhiệm vụ và mục tiêu cụ thể:
Về nhiệm vụ chính trị: “Đánh đổ chủ nghĩa đế quốc Pháp và bọn phong kiến.Làm cho nước Nam hoàn toàn độc lập”11, Cương lĩnh xác định chống đế quốc vàphong kiến là hai nhiệm vụ cơ bản để giành độc lập cho dân tộc, ruộng đất cho dâncày, trong đó chống đế quốc giành độc lập cho dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu,
“dựng nên chính phủ công nông binh” và quân đội công nông
Về kinh tế: Tịch thu toàn bộ các sản nghiệp lớn (như công nghiệp, vận tải,ngân hàng ) của tư bản đế quốc Pháp giao cho chính phủ công nông binh quản lý;tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc làm của công và chia cho dân cày nghèo; mởmang công nghiệp, nông nghiệp, miễn thuế cho dân cày nghèo, thi hành luật làmviệc ngày 8 giờ
Về văn hóa xã hội: Dân chúng được tự do tổ chức, nam nữ bình quyền, phổcập giáo dục theo hướng công nông hóa
+ Lực lượng cách mạng, Đảng chủ trương tập hợp đại bộ phận giai cấp côngnhân, nông dân và phải dựa vào hạng dân cày nghèo lãnh đạo nông dân làm cáchmạng ruộng đất, lôi kéo tiểu tư sản, trí thức, trung nông… đi vào phe vô sản giaicấp; đối với phú nông, trung tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phảncách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ trung lập Bộ phận nào ra mặtphản cách mạng thì phải đánh đổ cùng đế quốc
10 , 11 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.1998, tập 2, tr 2.
Trang 20+ Về phương pháp cách mạng: Phải bằng con đường bạo lực cách mạng quầnchúng, tuyệt đối không thể đi vào cải lương, thỏa hiệp “Không khi nào nhượng mộtchút lợi ích gì của công, nông mà đi vào đường thỏa hiệp”12.
+ Lãnh đạo cách mạng là giai cấp công nhân thông qua đội tiền phong làĐảng cộng sản “Đảng là đội tiền phong của vô sản giai cấp, phải thu phục chođược đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dânchúng”13 Người cầm lái có vững thuyền mới chạy, Đảng lãnh đạo, cách mạng mớithành công
3 Ý NGHĨA THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VÀ CƯƠNG LĨNH CHÍNH TRỊ ĐẦU TIÊN CỦA ĐẢNG
3.1 Ý nghĩa thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là bước ngoặt lịch sử của cách mạng ViệtNam, chấm dứt tình trạng bế tắc, khủng hoảng về người lãnh đạo và đường lối cứunước: Từ khi thực dân Pháp xâm lược, các phong trào yêu nước theo ý thức hệphong kiến và ý thức hệ tư sản liên tục nổ ra, nhưng đều thất bại, cách mạng ViệtNam lâm vào khủng hoảng, bế tắc về người lãnh đạo và con đường cứu nước.Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời được lịch sử giao cho sứ mệnh nắm quyền lãnhđạo duy nhất cách mạng, đã chỉ ra con đường cứu nước đúng đắn, đó là cứu nướctheo con đường cách mạng vô sản Đảng ra đời là kết quả của cuộc đấu tranh dântộc, đấu tranh giai cấp ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Đảng ra đời trở thành nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng ViệtNam Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: ngay từ khi mới thành lập “Đảng
ta liền giương cao ngọn cờ cách mạng, đoàn kết và lãnh đạo toàn dân tiến lên đấutranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp Màu cờ đỏ của Đảng chói lọi nhưmặt trời mới mọc, xé tan cái màn đen tối, soi đường dẫn lối cho nhân dân ta vữngbước tiến lên con thắng lợi trong cuộc cách mạng phản đế phản phong”14 Đúngvậy, mới mười lăm tuổi Đảng lãnh đạo nhân dân làm nên cuộc cách mạng thángTám thành công, đánh bại các cuộc chiến tranh xâm lược giải phóng và bảo vệ
12, 13 Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.1998, tập 2, tr 4.
13
14 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.1996, tập 10, tr 8.
Trang 21vững chắc độc lập Tổ quốc, ngày nay dưới sự lãnh đạo của Đảng công cuộc đổimới đạt được nhiều thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu sự trưởng thành của giai cấp côngnhân Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định “Việc thành lập Đảng là mộtbước ngoặt vô cùng quan trọng đối với lịch sử cách mạng Việt Nam Nó chứng tỏgiai cấp vô sản nước ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng” Từ naygiai cấp công nhân Việt Nam chính thức bước lên vũ đài chính trị, là người lãnhđạo duy nhất cách mạng Việt Nam
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin vớiphong trào công nhân và phong trào yêu nước, là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩaMác - Lênin vào điều kiện của một nước thuộc địa, công nghiệp chưa phát triển,giai cấp công nhân còn nhỏ bé, trình độ thấp như nước ta Việc Nguyễn Ái Quốcđưa phong trào yêu nước vào đã làm cho Đảng ta ra đời sớm hơn so với quy luật,đáp ứng yêu cầu của cách mạng Việt Nam, làm cho Đảng ta gắn bó với nhân dân,trở thành Đảng của nhân dân, của dân tộc; biến lý tưởng của Đảng thành lý tưởngcủa dân, biến lý tưởng của nhân dân thành lý tưởng của Đảng; biến sức mạnh củaĐảng thành sức mạnh của nhân dân, biến sức mạnh của nhân dân thành sức mạnhcủa Đảng và trở thành sức mạnh vô địch
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời làm cho cách mạng Việt Nam trở thành một
bộ phận cách mạng thế giới Từ đây Đảng đưa giai cấp công nhân và nhân dân ViệtNam tự giác tham gia vào sự nghiệp đấu tranh của nhân dân thế giới là độc lập dântộc và chủ nghĩa xã hội, từ nay cách mạng Việt Nam trở thành một bộ phận khăngkhít của cách mạng thế giới
3.2 Ý nghĩa của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng đối với tiến trình cách mạng Việt Nam
- Giá trị lý luận của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng:
Trên cơ sở đánh giá đúng tính chất, mâu thuẫn cơ bản, mâu thuẫn chủ yếu,thái độ của các giai cấp, tầng lớp của xã hội Việt Nam, nắm vững xu thế phát triểncủa thời đại Cương lĩnh đã xác định đúng đắn những vấn đề chiến lược, sách lượccủa cách mạng Việt Nam, cương lĩnh phản ánh được quy luật khách quan của xã
Trang 22hội Việt Nam, đáp ứng được yêu cầu cấp bách và cơ bản của cách mạng Việt Nam,phù hợp với xu thế thời đại.
Những nội dung của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng là sự vận dụng,sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện nước ta, một nước thuộc địa nửaphong kiến, giải quyết đúng đắn hàng loạt vấn đề như: mối quan hệ giữa dân tộc vàgiai cấp, giữa hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến, về mối quan hệgiữa cách mạng thuộc địa và cách mạng chính quốc, về lực lượng cách mạng…Qua giải quyết những vấn chiến lược, sách lược của cách mạng Việt Nam màcương lĩnh đã góp phần bổ sung, phát triển làm phong phú chủ nghĩa Mác – Lênin
- Giá trị thực tiễn của Cương lĩnh chính trị đầu tiên đối với cách mạng Việt Nam
Cương lĩnh chính trị đầu tiên ngay khi mới ra đời đã đáp ứng được nguyệnvọng của nhân dân và thâm nhập vào quần chúng trở thành sức mạnh vật chất, biếnthành phong trào cách mạng, chấm dứt tình trạng bế tắc, khủng hoảng về đường lốicách mạng
Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng trở thành ngọn cờ dẫn dắt nhân dân ta
đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, đưa dân tộc Việt Nam từ dân tộc thuộc địatrở thành dân tộc độc lập, đưa nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người làmchủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình Cương lĩnh ra đời gần một thế kỷ,nhưng đến nay giá trị của nó đối cách mạng Việt Nam vẫn còn nguyên vẹn, Cươnglĩnh đã, đang, sẽ được toàn Đảng, toàn dân trung thành, vận dụng vào công cuộcđổi mới hiện nay
*Câu hỏi thảo luận: Bằng lý luận và thực tiễn phân tích, chứng minh làm rõ
tính đúng đắn chủ trương “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng
để đi tới xã hội cộng sản” được đề ra trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên củaĐảng?
*Câu hỏi ôn tập: Bằng lý luận và thực tiễn trên thế giới và trong nước phân
tích, chứng minh Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là một tất yếu khách quan?
*Tài liệu bắt buộc:
Trang 231 Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam - Chương trình cao cấp Tập 5,
Nhà xuất bản Lý luận chính trị, H.2014
2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb.CTQG, H.2005
3 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb.CTQG, H.1998
4 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb.CTQG, H.2000
5 Hồ Chí Minh Tiểu sử, Nxb.Lý luận chính trị, H.2006
7 Giáo trình Lịch sử Đảng CSVN - Chương trình cao cấp Ủy Ban biên soạn
giáo trình chuẩn quốc gia, Nxb.CTQG
*Tài liệu tham khảo:
1 Các tổ chức tiền thân của Đảng Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung
ương, H.1997
2 Lê Duẩn: Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập tự do vì chủ nghĩa xã hội tiến lên giành thắng lợi mới, Nxb Sự Thật, H.1970.
Trang 24Bài 2:
ĐẢNG LÃNH ĐẠO CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC
(1930 - 1945)
A Mục đích:
- Về kiến thức: Cung cấp cho người học hệ thống kiến thức về quá
trình Đảng lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ giải phóng dân tộc thời kỳ 1930 –1945; từ đó nhận thức rõ đường lối độc lập, tự chủ, sáng tạo của Đảngtrong thời kỳ này
- Về tư tưởng: Thông qua bài giảng, người học khẳng định niềm tin
vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sảnViệt Nam, quyết tâm góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh, dân chủ,công bằng, văn minh
- Về kỹ năng: Trên cơ sở kiến thức lịch sử Đảng giai đoạn 1930 –
1945, người học rèn luyện được tư duy độc lập, sáng tạo, nhạy bén nắm bắttình hình trong nước, quốc tế, tình hình ở địa phương và có quyết địnhđúng trong giải quyết công việc thực tiễn
Trang 25lại chiến tranh thế giới Mâu thuẫn xã hội trong lòng các nước tư bản ngàycàng gay gắt.
Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô đạt được nhiềuthành tựu về kinh tế, xã hội, văn hóa, quốc phòng đã cổ vũ mạnh mẽ giaicấp công nhân và nhân dân lao động thế giới trong sự nghiệp đấu tranh cho
tự do, hòa bình, dân chủ
Cùng với phong trào bãi công, biểu tình đấu tranh đòi dân chủ, dânsinh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở các nước tư bản, phongtrào giải phóng dân tộc trên thế giới trỗi dậy mạnh mẽ, đặc biệt ở châu Ávới sự phát triển của phong trào cách mạng ở Trung Quốc và Ấn Độ
Ở trong nước, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới tác động sâu sắc đếnmọi lĩnh vực sản xuất và đời sống xã hội Nhiều nhà máy, xí nghiệp, đồnđiền thu hẹp sản xuất Ruộng đất bị bỏ hoang hàng trăm ngàn ha Đời sốngcủa quần chúng lao động vô cùng khó khăn Công nhân bị sa thải, nông dân
bị bần cùng, thợ thủ công phá sản, nhà buôn nhỏ đóng cửa, viên chức thấtnghiệp, sinh viên, học sinh ra trường không có việc làm Nhiều tư sản dântộc và địa chủ nhỏ cũng bị sa sút, phá sản hàng loạt… Thêm vào đó, thựcdân Pháp tăng cường áp bức nhân dân, đặc biệt sau khởi nghĩa Yên Bái.Hàng ngàn cuộc bắt bớ, đàn áp diễn ra trên khắp cả nước, tạo nên bầukhông khí vô cùng ngột ngạt Dưới ách thống trị của thực dân, đời sống củacác tầng lớp nhân dân đều chịu ảnh hưởng và bị đe dọa Mâu thuẫn giữadân tộc ta với thực dân Pháp và tay sai ngày càng trở nên sâu sắc Phongtrào công nhân, phong trào yêu nước phát triển mạnh mẽ, lôi cuốn đôngđảo các tầng lớp, giai cấp trong xã hội tham gia
Đầu năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời tạo nên một bướcngoặt quan trọng trong lịch sử dân tộc Ngay khi Đảng vừa ra đời đã nhanhchóng tập hợp quần chúng, lãnh đạo nhân dân Việt Nam đấu tranh đòi cácquyền dân tộc, dân chủ, dẫn đến cao trào cách mạng 1930 - 1931 diễn rarộng khắp trong cả nước
1.2 Chủ trương của Đảng
Trong Lời kêu gọi nhân ngày thành lập Đảng, đồng chí Nguyễn ÁiQuốc thay mặt Đảng đã kêu gọi quần chúng công nhân, nông dân, binhlính, thanh niên, học sinh, và tất cả những người bị áp bức, bóc lột gia nhậpĐảng, ủng hộ Đảng và đi theo Đảng nhằm thực hiện mục tiêu: “Đánh đổ đếquốc Pháp, phong kiến An Nam và giai cấp tư sản phản cách mạng (…)Làm cho nước An Nam được độc lập”
Trang 26Đảng chủ trương phát động quần chúng đấu tranh đòi tự do, dân chủ,cải thiện đời sống; chống địch khủng bố trắng, đòi trả tự do cho nhữngngười yêu nước bị bắt, đòi bồi thường cho gia đình những nạn nhân và làngmạc bị tàn phá.
Tháng 4-1930, đồng chí Trần Phú về nước, sau đó được bổ sung vàoBan Chấp hành Trung ương lâm thời của Đảng và được phân công cùngcác đồng chí trong Ban Thường vụ Trung ương dự thảo Luận cương chínhtrị của Đảng Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ nhất của Đảngđược triệu tập từ ngày 14 đến ngày 30 - 10 - 1930 tại Hương Cảng (TrungQuốc) dưới sự chủ trì của đồng chí Trần Phú Hội nghị thông qua Nghịquyết về tình hình và nhiệm vụ cần kíp của Đảng, dự thảo Luận cươngchính trị của Đảng, Điều lệ Đảng và Điều lệ các tổ chức quần chúng
Thực hiện chỉ thị của Quốc tế Cộng sản, Hội nghị đổi tên Đảng Cộngsản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương Việc đổi tên Đảng nhằmmục đích lãnh đạo cách mạng 3 nước Đông Dương: Việt Nam, Lào,Campuchia cùng đấu tranh chống lại kẻ thù chung là thực dân Pháp, thựchiện khẩu hiệu Đông Dương hoàn toàn độc lập, người cày có ruộng và tiếnlên chủ nghĩa xã hội Hội nghị kiện toàn bộ máy tổ chức của Đảng: bầuBan Chấp hành Trung ương chính thức gồm có 7 người, trong đó có TrầnPhú, Nguyễn Trọng Nhã, Trần Văn Lan, Nguyễn Phong Sắc, Ngô ĐứcTrì, Ban Thường vụ Trung ương gồm có Trần Phú, Ngô Đức Trì vàNguyễn Trọng Nhã Đồng chí Trần Phú là Tổng Bí thư Đồng thời quyếtđịnh khôi phục lại cấp bộ Xứ ủy, là cơ quan lãnh đạo của Đảng ở mỗi miền.Hội nghị quyết định một số chủ trương biện pháp để phát triển phong tràocách mạng, phát triển các tổ chức quần chúng và công tác đảng
Trên cơ sở phân tích tình hình thế giới và xứ Đông Dương, vận dụngnhững nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin và Đề cương cách mạng thuộc
địa của Quốc tế Cộng sản, Luận cương chính trị nêu lên những vấn đề
chiến lược và sách lược của cách mạng Đông Dương
Luận cương phân tích xã hội Đông Dương là xã hội thuộc địa nửaphong kiến, mâu thuẫn giai cấp diễn ra gay gắt giữa một bên là thợ thuyền,dân cày và các phần tử lao khổ với một bên là địa chủ phong kiến, tư bản
và đế quốc
Luận cương khẳng định tính chất cách mạng Đông Dương là cáchmạng tư sản dân quyền sau khi thắng lợi sẽ tiếp tục phát triển bỏ qua giai
Trang 27đoạn tư bản chủ nghĩa tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội “Tư sản dân quyềncách mạng là thời kỳ dự bị để làm xã hội cách mạng”15.
Nhiệm vụ cách mạng tư sản dân quyền gồm hai nhiệm vụ chiến lược:đánh đổ phong kiến giành ruộng đất cho dân cày, thực hành cách mạngruộng đất triệt để và đánh đổ đế quốc thực dân Pháp làm cho Đông Dươnghoàn toàn độc lập “Hai mặt tranh đấu có liên lạc mật thiết với nhau, vì cóđánh đổ đế quốc chủ nghĩa mới phá được cái giai cấp địa chủ và làm cáchmạng thổ địa được thắng lợi; mà có phá tan chế độ phong kiến thì mới đánh
đổ được đế quốc chủ nghĩa.”16
Về lực lượng cách mạng: Luận cương nêu rõ lực lượng chính của cáchmạng tư sản dân quyền là giai cấp công nhân và giai cấp nông dân, trong
đó giai cấp công nhân là động lực chính và mạnh, là giai cấp lãnh đạo cáchmạng, nông dân có số lượng đông đảo là động lực mạnh
Về hình thức và phương pháp cách mạng: Luận cương khẳng định đểđạt được mục tiêu cơ bản của cuộc cách mạng là đánh đổ đế quốc và phongkiến, giành chính quyền về tay công nông thì phải ra sức chuẩn bị cho quầnchúng về con đường “võ trang bạo động” Khi có tình thế trực tiếp cáchmạng thì Đảng phải lãnh đạo quần chúng khởi nghĩa vũ trang giành chínhquyền về tay công nông
Về vai trò lãnh đạo của Đảng, Luận cương chính trị nhấn mạnh: điềukiện cốt yếu cho sự thắng lợi của cuộc cách mạng ở Đông Dương là cầnphải có một Đảng Cộng sản có một đường lối chính trị đúng, có kỷ luật tậptrung, mật thiết liên lạc với quần chúng, và từng trải qua tranh đấu màtrưởng thành Đảng là đội tiền phong của giai cấp vô sản, lấy chủ nghĩaMác - Lênin làm gốc, đại biểu quyền lợi chính và lâu dài chung cho cả giaicấp vô sản ở Đông Dương
Về quan hệ quốc tế: cách mạng Đông Dương là một bộ phận khăngkhít của cách mạng thế giới, liên minh chặt chẽ với vô sản thế giới, nhất là
vô sản Pháp, liên lạc với quần chúng cách mạng các nước thuộc địa và bánthuộc địa, nhất là Trung Quốc và Ấn Độ
Những nội dung cơ bản của Luận cương chính trị cho thấy Luậncương đã xác định được những vấn đề chiến lược của cách mạng ĐôngDương Luận cương đã khẳng định lại nhiều vấn đề cơ bản của cách mạngdân tộc dân chủ được nêu trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên Tuy nhiên,
15 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.1998, tập 2, tr.93
Trang 28Luận cương còn có một số hạn chế, không chỉ ra được mâu thuẫn giữa dântộc và đế quốc là mâu thuẫn chủ yếu của xã hội Việt Nam lúc đó, do vậykhông đặt mục tiêu chống đế quốc thực hiện nhiệm vụ giải phóng dân tộclên hàng đầu mà nặng về đấu tranh giai cấp và cách mạng ruộng đất Luậncương đánh giá không đúng khả năng cách mạng của tầng lớp tiểu tư sản,khả năng chống đế quốc, phong kiến của giai cấp tư sản dân tộc, khả năngtham gia cách mạng của một bộ phận địa chủ vừa và nhỏ Nguyên nhân củahạn chế, về chủ quan là do Luận cương chưa nắm vững đặc điểm của xãhội Việt Nam thuộc địa, nửa phong kiến, giáo điều rập khuôn trong vậndụng nghị quyết của Quốc tế Cộng sản và kinh nghiệm của các nước Vềkhách quan, chịu ảnh hưởng quan điểm tả khuynh của Quốc tế Cộng sản.Những hạn chế này sau đó nhanh chóng được Đảng ta khắc phục qua thựctiễn đấu tranh cách mạng, tiếp tục lãnh đạo đưa phong trào cách mạng pháttriển.
Ngày 18-11-1930, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị về việcthành lập Hội phản đế đồng minh, đánh giá đúng thái độ, vai trò của cácgiai tầng trong xã hội trên cơ sở đó để tập hợp lực lượng chống đế quốc.Tháng 3-1931, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ hai
ở Sài Gòn, phê phán các sai lầm “hữu” khuynh và “tả” khuynh, chỉ đạo đấutranh chống địch đàn áp phong trào cách mạng
1.3 Đảng lãnh đạo quần chúng đấu tranh trong cao trào cách mạng 1930 – 1931
Thực hiện chủ trương của Đảng, phong trào đấu tranh của quần chúngnhân dân diễn ra rộng khắp cả nước Từ tháng 2 đến tháng 4-1930, nhiềucuộc đấu tranh của công nhân đã nổ ra, đánh dấu bước mở đầu của cao tràocách mạng Tiêu biểu là các cuộc bãi công của công nhân đồn điền cao suPhú Riềng, công nhân nhà máy sợi Nam Định, công nhân nhà máy Diêm vàCưa Bến Thủy,… đình công đòi tăng lương và cải thiện điều kiện làm việc.Cùng với phong trào của công nhân là phong trào của nông dân Hà Nam,Thái Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh và của các tầng lớp nhân dân khác đòi giảmsưu thuế nổ ra vào tháng 4-1930
Đến tháng 5-1930, phong trào bãi công của công nhân kết hợp biểutình của nông dân và nhân dân lao động nổ ra khắp nơi trong phạm vi cảnước: từ Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Hà Nam, Thái Bình, Nghệ An, HàTĩnh, Sài Gòn, Chợ Lớn đến Vĩnh Long, Bến Tre, Cần Thơ, Trà Vinh, Những cuộc đấu tranh này đánh dấu bước phát triển mạnh mẽ của phongtrào công nhân, nông dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
Trang 29Lần đầu tiên công nhân và nông dân Việt Nam đã biểu tình để kỷ niệmngày Quốc tế lao động đòi quyền lợi cho nhân dân lao động ở trong nước
và thể hiện tình đoàn kết cách mạng với nhân dân lao động thế giới
Từ tháng 6 đến tháng 8 năm 1930, phong trào cách mạng sôi nổi thànhcao trào Đến tháng 9-1930, phong trào tiếp tục phát triển lên đỉnh cao.Trong những cuộc đấu tranh của quần chúng có sự kết hợp chặt chẽ giữayêu cầu dân sinh, dân chủ với mục tiêu đấu tranh chính trị
Đỉnh cao nhất của cao trào 1930-1931 diễn ra ở hai tỉnh Nghệ An và
Hà Tĩnh Những cuộc biểu tình, đấu tranh chính trị có vũ trang, tự vệ củanông dân với quy mô từ vài nghìn đến vài vạn người tham gia đã nổ ra ởcác huyện Nam Đàn, Thanh Chương, Diễn Châu, Anh Sơn (Nghệ An), KỳAnh (Hà Tĩnh)… Tiêu biểu là cuộc biểu tình của hàng vạn nông dân HưngNguyên (Nghệ An) (12-09-1930) tập trung và kéo đến huyện lỵ với cáckhẩu hiệu: “Đả đảo chủ nghĩa đế quốc”, “đả đảo Nam Triều”, “nhà máy vềtay thợ thuyền, ruộng đất về tay dân cày” Thực dân Pháp hoảng sợ đàn áp
dã man đoàn biểu tình, cho máy bay ném bom và xả súng liên thanh làmchết, bị thương hàng trăm người, đốt cháy gần 300 nóc nhà Từ đó, ngày12-9 đã được lấy làm ngày kỷ niệm Xô viết Nghệ Tĩnh
Sự đàn áp dã man của thực dân Pháp không thể dập tắt ngọn lửa đấutranh của nhân dân Nghệ An, Hà Tĩnh Trong tháng 9, tháng 10-1930, nôngdân các huyện Thanh Chương, Diễn Châu (Nghệ An), Hương Sơn (HàTĩnh) kéo đến các huyện lỵ, nhà giam, nhà ga, xe lửa, cắt dây điện tín, đốt
sổ sách, phá nhà lao, phá đồn điền của thực dân Pháp Hưởng ứng cuộc đấutranh của nông dân, công nhân Vinh, Bến Thủy bãi công 2 tháng liền đểủng hộ phong trào nông dân và phản đối chính sách đàn áp của thực dânPháp Phong trào đấu tranh sôi nổi và quyết liệt của quần chúng ở Nghệ
An, Hà Tĩnh đã giành được quyền làm chủ cơ sở ở nhiều nơi Chính quyềnthực dân tay sai cấp cơ sở tan rã ở nhiều địa phương Các tổ chức Đảng ởcác thôn, xã đã lãnh đạo Nông hội và quần chúng lập ra chính quyền cáchmạng của công nhân, nông dân và quần chúng lao động, tự quản đời sốngchính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội ở địa phương, thực hiện chức năng củachính quyền nhân dân theo hình thức Xô-viết Sau này, hình thức chínhquyền này được gọi là Xô-viết Nghệ Tĩnh Xô-viết Nghệ Tĩnh đã thực sựlàm chức năng của một chính quyền cách mạng do giai cấp công nhân lãnhđạo, điều hành mọi mặt của đời sống xã hội như một tổ chức chính quyền
cơ sở, tạo nên một bộ mặt xã hội mới ở nông thôn Nghệ -Tĩnh
Trang 30Khi Xô-viết Nghệ Tĩnh nổ ra, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đang hoạtđộng cách mạng ở nước ngoài Người đã góp ý với Trung ương Đảng vềmục tiêu đấu tranh, chỉ thị cho Trung ương phải nhanh chóng có kế hoạchchống địch khủng bố, bảo vệ dân, bảo vệ tổ chức Đảng Đồng thời, Ngườigửi báo cáo yêu cầu Quốc tế Cộng sản giúp đỡ
Hưởng ứng chủ trương ủng hộ Xô-viết Nghệ Tĩnh của Đảng, nhiều địaphương trong cả nước sôi nổi đấu tranh bằng nhiều hình thức Trong haitháng 9, 10-1930, cả nước có hơn 300 cuộc đấu tranh của quần chúng nhândân
Hoảng sợ trước sức mạnh của quần chúng, cuối năm 1930, đầu năm
1931, thực dân Pháp điên cuồng khủng bố trắng, uy hiếp tinh thần cáchmạng của nhân dân Chúng mở chiến dịch chiêu hàng, cưỡng bức, phát “thẻquy thuận”, cô lập đảng viên, tách quần chúng ra khỏi ảnh hưởng của cáchmạng, nhằm tiêu diệt tận gốc phong trào Tuy nhiên, ngọn lửa cách mạngcủa cao trào 1930-1931 mà đỉnh cao là Xô-viết Nghệ Tĩnh vẫn cháy mãi,như khẳng định của đồng chí Nguyễn Ái Quốc: Bom đạn, súng máy, đốtnhà, dồn binh… đều bất lực không dập tắt nổi phong trào cách mạng củaNghệ Tĩnh
1.4 Ý nghĩa của cao trào cách mạng 1930 – 1931
Cao trào cách mạng 1930 -1931 là cao trào cách mạng triệt để, có quy
mô rộng lớn nhất và hình thức đấu tranh quyết liệt nhất so với trước đó.Mặc dù thất bại nhưng cao trào 1930 -1931 với đỉnh cao Xô-viết NghệTĩnh đã để lại nhiều ý nghĩa lịch sử
Cao trào cách mạng 1930 -1931 đã khẳng định đường lối cách mạngđúng đắn của Đảng ta được đề ra từ hội nghị thành lập Đảng năm 1930.Con đường cứu nước chỉ có thể là con đường cách mạng vô sản dưới sựlãnh đạo của Đảng, là con đường sử dụng bạo lực cách mạng của quầnchúng giành chính quyền về tay nhân dân
Cao trào đã khẳng định vai trò, năng lực lãnh đạo của giai cấp côngnhân đối với cách mạng Việt Nam thông qua đội tiên phong là Đảng Cộngsản Việt Nam Cao trào cũng đã thức tỉnh, lôi cuốn đông đảo quần chúngnhân dân tham gia cách mạng, đem lại cho quần chúng công, nông niềm tinvào sức mạnh, năng lực làm chủ đất nước và làm chủ vận mệnh của chínhmình
Cao trào đã rèn luyện lực lượng cách mạng cho Tổng khởi nghĩa thángTám sau này Qua cao trào đã hình thành nên lực lượng chính trị vững
Trang 31mạnh, đặc biệt đã thiết lập được khối liên minh chiến đấu công - nông vữngchắc - là cơ sở cho thắng lợi của cách mạng.
Thực tiễn lịch sử qua cao trào cách mạng 1930 -1931 có tác dụng giáodục tư tưởng, nâng cao trình độ chính trị, rèn luyện tinh thần đấu tranh chođảng viên và quần chúng, tạo điều kiện cho Đảng tiếp tục tập hợp, xâydựng lực lượng chuẩn bị cho giai đoạn tiếp theo của cách mạng
Cao trào 1930-1931 của nhân dân ta được đánh giá cao trong phongtrào cộng sản và công nhân quốc tế Qua phong trào này, Quốc tế Cộng sản
đã công nhận Đảng Cộng sản Đông Dương là một phân bộ độc lập trựcthuộc Quốc tế Cộng sản
Cao trào 1930-1931 với đỉnh cao Xô-viết Nghệ Tĩnh để lại cho Đảngnhững kinh nghiệm quý báu trong lãnh đạo cách mạng Trong mỗi thời kỳcách mạng, phải xuất phát từ thực tiễn tình hình thế giới và trong nước, từtương quan so sánh lực lượng mà xác định mục tiêu đấu tranh cụ thể củaphong trào cách mạng Khi chưa có tình thế cách mạng trực tiếp, phải sửdụng phương pháp và hình thức đấu tranh thích hợp nhằm xây dựng lựclượng, chuẩn bị cho cuộc cách mạng sau này Trong điều kiện một nướcthuộc địa nửa phong kiến, bên cạnh việc coi trọng kết nạp những công nhân
ưu tú vào Đảng cần chú ý phát triển Đảng trong những người yêu nước tiêntiến thuộc các giai tầng khác, đảm bảo tính chất giai cấp của Đảng, khắcphục những khuynh hướng “tả”, “hữu” khuynh, xa rời nguyên tắc tổ chức
và đường lối đúng đắn của Đảng…
2 ĐẢNG LÃNH ĐẠO ĐẤU TRANH KHÔI PHỤC HỆ THỐNG TỔ CHỨC ĐẢNG, KHÔI PHỤC PHONG TRÀO CÁCH MẠNG VÀ ĐẠI HỘI LẦN THỨ I CỦA ĐẢNG (1932–1935)
2.1 Hoàn cảnh lịch sử
Khí thế cách mạng của cao trào 1930–1931 làm cho thực dân Pháp vôcùng hoảng sợ Sau khi Xô-viết Nghệ Tĩnh ra đời, đế quốc Pháp và tay saithẳng tay khủng bố đẫm máu hòng dập tắt phong trào cách mạng và tiêudiệt Đảng Cộng sản Hàng chục vạn chiến sĩ cộng sản và quần chúng yêunước bị bắt, bị tù đày hoặc bị giết hại Các cơ quan lãnh đạo của Đảng từTrung ương đến địa phương bị đánh phá ác liệt, lần lượt bị phá vỡ Đi đôivới sự khủng bố, tàn sát, thực dân Pháp đưa ra những chiêu bài lừa bịp, mịdân, hòng làm lung lay tinh thần cách mạng của nhân dân
Mặc dù bị đàn áp, khủng bố dã man, nhưng tinh thần cách mạng củanhững người cộng sản và quần chúng cách mạng vẫn không bị khuất phục
Trang 32Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, kể cả trong khi bị tù đày, bị tra tấn dã man,những người cộng sản vẫn tin tưởng vào con đường cách mạng, ra sức hoạtđộng để phục hồi tổ chức đảng và phong trào của quần chúng
2.2 Quá trình khôi phục hệ thống tổ chức Đảng
Từ năm 1932-1934, những người cộng sản còn lại ở cả ba miền đấtnước vẫn bám sát quần chúng, từng bước gây dựng lại cơ sở đảng và cơ sởcách mạng
Ở Bắc kỳ, các cơ sở đảng từ chi bộ, huyện bộ, ban tỉnh ủy lâm thờiđược tổ chức, xây dựng lại trên các địa bàn hoạt động: Thái Bình, VĩnhYên, Hà Nội, Sơn Tây, Hưng Yên, Hải Dương, Hà Nam, Nam Định, HảiPhòng Đầu năm 1934, Xứ ủy lâm thời Bắc kỳ được thành lập
Ở Trung kỳ, ở nhiều địa phương, tuy bị khủng bố nặng nề nhưng cácđồng chí đã chuyển hướng hoạt động kịp thời nên vẫn duy trì được cơ sởcách mạng Các cấp ủy bị phá đi lập lại nhiều lần nhưng vẫn hoạt động liêntục
Ở Nam kỳ, đầu năm 1932, Xứ ủy Nam kỳ được lập lại, sau đó bị phá
vỡ Đầu năm 1933, Xứ ủy Nam kỳ mới được thành lập lại Giữa năm 1934,cấp ủy Đông Nam kỳ và Tây Nam kỳ cùng với Cấp ủy Nam Trung kỳ đã tổchức ra Cấp ủy Nam Đông Dương
Giai đoạn lịch sử đấu tranh khôi phục tổ chức Đảng, phục hồi phongtrào cách mạng đặc biệt này còn được đánh dấu bằng các hoạt động của cácchiến sĩ cộng sản bị giam trong nhà tù đế quốc Tuy bị giam cầm, nhưngnhững người cộng sản đã biến nhà tù đế quốc thành trường học cách mạng,thành trận tuyến đấu tranh, thành cơ hội rèn luyện, thử thách tinh thần cáchmạng
Các đảng viên cộng sản ở các nhà tù Hỏa Lò (Hà Nội), Khám Lớn(Sài Gòn), nhà tù Vinh (Nghệ An), Lao Bảo (Quảng Trị), Hải Phòng, CônĐảo, Kon Tum đã thành lập các chi bộ lãnh đạo đấu tranh chống chế độlao dịch hà khắc, đòi cải thiện chế độ sinh hoạt Các chi bộ trong nhà tù đã
bí mật tổ chức huấn luyện, bồi dưỡng lý luận chính trị, đường lối cáchmạng của Đảng, tổ chức học tập văn hóa, ngoại ngữ, ra báo tường bí mật đểtuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối của Đảng, giáo dục đảngviên, giác ngộ quần chúng
Năm 1932, theo chỉ thị của Quốc tế Cộng sản, đồng chí Lê HồngPhong và một số cán bộ chủ chốt tổ chức Ban lãnh đạo Trung ương củaĐảng Tháng 6-1932, Trung ương lâm thời chấp ủy của Đảng đã công bố
Trang 33Chương trình hành động của Đảng Cộng sản Đông Dương, được Quốc tế
Cộng sản công nhận
Nội dung của bản Chương trình hành động khẳng định cuộc võ trangbạo động của giai cấp công nhân và nông dân Đông Dương dưới sự lãnhđạo của Đảng sẽ được tiến hành nhằm thực hiện những nhiệm vụ chống đếquốc, chống phong kiến và tiến lên thực hiện chủ nghĩa xã hội BảnChương trình chỉ ra những khả năng tổ chức mặt trận thống nhất các lựclượng phản đế; đề ra các yêu cầu chung và các yêu cầu cụ thể riêng chotừng giai cấp và tầng lớp nhân dân; nêu rõ việc tuyên truyền, mở rộng ảnhhưởng của Đảng trong quần chúng, củng cố và phát triển các đoàn thể cáchmạng, nhất là công hội và nông hội; dẫn dắt quần chúng đấu tranh chonhững quyền lợi hàng ngày tiến lên đấu tranh chính trị, chuẩn bị cho khởinghĩa giành chính quyền khi có điều kiện; về vấn đề xây dựng Đảng, làmcho Đảng vững mạnh, giáo dục, rèn luyện đảng viên về tư tưởng, chínhtrị Chương trình hành động của Đảng Cộng sản Đông Dương đã gópphần nhanh chóng khôi phục phong trào cách mạng và hệ thống tổ chứcĐảng
Các Xứ ủy ở ba miền lần lượt được lập lại từ 1931-1933 Đồng thời,nhiều tỉnh ủy, huyện ủy, chi bộ được phục hồi Đến đầu năm 1934, hệ thống
tổ chức của Đảng đã được khôi phục ở ba miền đất nước, ở Lào và tạođược cơ sở ở Phnômpênh
Tháng 3-1934, với sự giúp đỡ của Quốc tế Cộng sản, Ban Chỉ huy ởngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương được thành lập tại Ma Cao (TrungQuốc) do đồng chí Lê Hồng Phong làm Trưởng ban Ban thực hiện nhiệm
vụ của Ban Chấp hành Trung ương Lâm thời, tiếp tục tập hợp, phục hồi các
cơ sở đảng thành hệ thống, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, lãnh đạo thực hiệnChương trình hành động của Đảng, khôi phục phong trào cách mạng, chuẩn
bị tiến tới Đại hội Đảng
2.3 Đảng lãnh đạo phong trào đấu tranh giai đoạn 1932-1935
Trên cơ sở nội dung bản Chương trình hành động của Đảng Cộng sảnĐông Dương, các đoàn thể quần chúng cách mạng được thành lập, sử dụngcác hình thức tổ chức hợp pháp tập hợp quần chúng đấu tranh như hội cấy,hội cày, hội gặt lúa, hội hiếu hỉ, hội đọc sách Từ năm 1932, phong tràocách mạng từng bước khôi phục và phát triển
Phong trào đấu tranh của công nhân từ năm 1930 đến 1935 đã liên tục
nổ ra ở Sài Gòn, Chợ Lớn, Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Huế, Campuchia, Lào
Trang 34Phong trào đấu tranh của công nhân sử dụng cả hình thức hợp pháp vàkhông hợp pháp làm giới chủ vô cùng lo lắng Trong các năm 1932, 1933,
1934 có khoảng 100 cuộc đấu tranh và hàng trăm vụ xung đột của côngnhân với giới chủ
Phong trào nông dân cũng phát triển mạnh Tháng 3, tháng 4 -1932, ởHương Sơn (Hà Tĩnh), Hóc Môn (Gia Định), nông dân nổi dậy đấu tranh.Tháng 7-1932, nông dân các tỉnh Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuậndiễu hành chống đối kéo về Sài Gòn đòi hoãn sưu, giảm thuế Nổi bật làcác phong trào đấu tranh kỷ niệm các ngày lễ 1-5, 1-8, cách mạng ThángMười của nông dân các tỉnh miền núi phía Bắc như Cao Bằng, Lạng Sơn
do Xứ ủy lâm thời tổ chức
Ở một số thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Sài Gòn, Chợ Lớn,…
đã diễn ra một số cuộc bãi thị của thương nhân, bãi khóa của học sinh Thời
kỳ này, Đảng ta đã sử dụng một số hình thức đấu tranh công khai như tuyêntruyền về Đảng, vận động bầu cử Đảng chọn những người ứng cử củaquần chúng lao động, đứng đầu là đảng viên cộng sản ra tranh cử nghịtrường ở Hội đồng thành phố Sài Gòn và Hội đồng quản hạt Nam kỳ nhằm
cổ vũ tinh thần đấu tranh của nhân dân thành thị, mở rộng ảnh hưởng củaĐảng
Báo chí là một hình thức đấu tranh hợp pháp được Đảng ta sử dụng đểđấu tranh phê phán một số quan điểm chính trị, triết học, văn học – nghệthuật tư sản, vạch trần tư tưởng nô lệ của một số bồi bút tay sai thực dân vàtuyên truyền quan điểm cách mạng của Đảng Từ năm 1933-1935, trên báochí công khai như các tờ Phụ nữ thời đàm, Đời mới, Ánh sáng, Tiến bộ,…diễn ra cuộc tranh luận về duy vật hay duy tâm, về vấn đề “nghệ thuật vịnghệ thuật” hay “nghệ thuật vị nhân sinh” giữa những người cộng sản đứngtrên lập trường mácxít và một số trí thức tiểu tư sản lớp trên Các cuộctranh luận công khai trên báo chí có tiếng vang lớn trong giới trí thức,thanh niên, học sinh
Ngoài ra, một số báo và tạp chí của Đảng ở Trung ương và các đảng
bộ địa phương được phát hành bí mật góp phần tuyên truyền đường lối, chủtrương và kinh nghiệm đấu tranh của Đảng Trong các nhà tù đế quốc, hìnhthức báo viết tay được sử dụng phổ biến để đấu tranh với quan điểm tư sảnphản động của các đảng viên Việt Nam Quốc dân Đảng và bọn tờrốtkít.Dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào đấu tranh của quần chúng đãđược nhen nhóm và khôi phục hoàn toàn
Trang 352.4 Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ nhất của Đảng (3-1935)
Đầu năm 1935, trên cơ sở hệ thống tổ chức của Đảng được khôi phục,xây dựng lại, phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng phục hồi vàphát triển, Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương quyếtđịnh triệu tập Đại hội Đảng lần thứ nhất
Đại hội họp từ ngày 27 đến ngày 31-3-1935 tại Ma Cao (Trung Quốc)dưới sự chủ trì của đồng chí Hà Huy Tập Tham dự Đại hội có 13 đại biểuthay mặt cho 600 đảng viên thuộc các đảng bộ trong nước và các tổ chứcĐảng hoạt động ở nước ngoài
Đại hội đã kiểm điểm phong trào cách mạng, quá trình hoạt động củacác cấp bộ Đảng từ năm 1932-1935, tiếp tục khẳng định nội dung củaLuận cương chính trị tháng 10-1930 và Chương trình hành động của Đảngtháng 6-1932
Đại hội đề ra 3 nhiệm vụ chủ yếu của toàn Đảng trong thời gian trướcmắt là: củng cố và phát triển Đảng, tranh thủ quần chúng rộng rãi, chốngchiến tranh đế quốc
Về nhiệm vụ phát triển và củng cố Đảng, đại hội khẳng định phải chútrọng tăng cường phát triển đảng ở những nơi tập trung đông công nhânnhư các xí nghiệp, đồn điền, hầm mỏ, đường giao thông quan trọng, biếnmỗi xí nghiệp thành một thành lũy của Đảng; đồng thời phải đưa nông dânlao động và trí thức cách mạng đã trải qua thử thách vào Đảng Phải chăm
lo tăng cường các đảng viên ưu tú xuất thân từ công nhân vào các cơ quanlãnh đạo của Đảng Để bảo đảm sự thống nhất về tư tưởng và hành động,các đảng bộ cần tăng cường phê bình và tự phê bình đấu tranh trên cả haimặt chống “tả” khuynh và “hữu” khuynh, giữ vững kỷ luật của Đảng
Về thu phục quảng đại quần chúng, mở rộng mặt trận thống nhất phản
đế, Đại hội chỉ rõ Đảng mạnh là căn cứ vào ảnh hưởng và thế lực của Đảngtrong quần chúng Nếu Đảng không mật thiết liên lạc với quần chúng,không được quần chúng tán thành và ủng hộ những khẩu hiệu của mình thìnhững nghị quyết cách mạng đưa ra vẫn chỉ là lời nói suông “Thâu phụcquảng đại quần chúng là một nhiệm vụ trung tâm, căn bản, cần kíp củaĐảng hiện thời”17 Về vấn đề chống chiến tranh đế quốc, Đại hội cho rằngphải vạch trần luận điệu “hoà bình” giả dối của bọn đế quốc, giải thích choquần chúng thấy rõ chiến tranh đế quốc đã bắt đầu Khẳng định nhiệm vụ
17 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.2002, tập 5, tr.26
Trang 36chống chiến tranh đế quốc, ủng hộ Liên bang Xô Viết, ủng hộ cách mạngTrung Quốc Đại hội quyết định thành lập Ban Chống chiến tranh đế quốc
do Đảng lãnh đạo, bao gồm đại biểu nhiều tổ chức cách mạng và cá nhânyêu nước, hoà bình và công lý
Đại hội đã thông qua Nghị quyết chính trị, Điều lệ Đảng, các nghịquyết về vận động công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ, binh lính, vềcông tác liên minh phản đế, công tác vận động các dân tộc thiểu số, về đội
tự vệ, Cứu tế đỏ
Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương Đảng gồm 13 uỷ viên (9
uỷ viên chính thức và 4 uỷ viên dự khuyết) Đồng chí Lê Hồng Phong đượcbầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Ban Chấp hànhTrung ương Đảng nhất trí cử đồng chí Nguyễn Ái Quốc là đại biểu củaĐảng bên cạnh Quốc tế Cộng sản
Đại hội lần thứ nhất của Đảng có ý nghĩa lịch sử vô cùng quan trọng.Đại hội đánh dấu sự thắng lợi của cuộc đấu tranh khôi phục hệ thống tổchức của Đảng từ Trung ương đến địa phương Đại hội đã quy tụ, thốngnhất phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng dưới sự lãnh đạo củaĐảng Đại hội đã đem lại cho toàn thể đảng viên và quần chúng niềm tinvào Đảng, vào cách mạng Đại hội cũng có một số hạn chế như: chủ trươngvạch ra không sát với phong trào cách mạng thế giới và trong nước thờiđiểm đó; chưa thấy hết nguy cơ của chủ nghĩa phát xít và chiến tranh đếquốc nên chưa đề cập vấn đề lợi dụng mâu thuẫn, chĩa mũi nhọn đấu tranhvào chủ nghĩa phát xít; chưa đề ra được chủ trương và phương pháp đấutranh phù hợp tình hình mới khi chủ nghĩa phát xít đang ráo riết chuẩn bịchiến tranh
Mặc dù còn một số hạn chế nhưng Đại hội lần thứ nhất của Đảng đãđánh dấu thắng lợi căn bản cuộc đấu tranh giữ gìn, khôi phục hệ thống tổchức Đảng, chuẩn bị cho Đảng bước vào thời kỳ đấu tranh mới Dưới sựchỉ đạo của Đảng, phong trào cách mạng của quần chúng được khôi phụcnhanh chóng là điều kiện cơ bản để Đảng phát động và lãnh đạo cao tràodân tộc dân chủ những năm 1936-1939
Từ thực tiễn phong trào đấu tranh khôi phục tổ chức Đảng và phục hồiphong trào cách mạng, Đảng đã rút ra nhiều kinh nghiệm quý báu, đặc biệt
là những kinh nghiệm đấu tranh giữ vững lòng tin vào tiền đồ cách mạng,giữ vững khí tiết cộng sản, đấu tranh xây dựng cơ sở đảng trong bí mật,kinh nghiệm tận dụng triệt để mọi hình thức tổ chức và phương pháp đấu
Trang 37tranh lãnh đạo quần chúng đòi quyền dân sinh, dân chủ, khôi phục phongtrào, chuẩn bị cho bước phát triển tiếp theo của cách mạng.
3 ĐẢNG LÃNH ĐẠO CAO TRÀO CÁCH MẠNG 1936-1939
3.1 Hoàn cảnh lịch sử
Sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929-1933) với những hậuquả kinh tế - xã hội nặng nề, mùa thu năm 1937, cuộc khủng hoảng kinh tếmới lại nổ ra, tác động mạnh mẽ đến các nước tư bản chủ nghĩa Mâu thuẫntrong lòng mỗi nước tư bản và mâu thuẫn giữa các nước đế quốc ngày càngtrở nên gay gắt hơn Trong khi đó, cùng với sự phát triển ngày càng lớnmạnh của Liên Xô, phong trào cách mạng và giải phóng dân tộc bùng nổ ởnhiều nơi
Trong bối cảnh đó, giới cầm quyền một số nước tư bản chủ nghĩa đãchuyển sang thống trị đất nước bằng chế độ chuyên chính phát xít Chế độphát xít chuyển toàn bộ nền kinh tế sang phục vụ chiến tranh, bóc lột thậm
tệ giai cấp công nhân và nhân dân lao động, xóa bỏ mọi quyền tự do dânchủ tư sản, tiến hành khủng bố trắng đàn áp lực lượng tiến bộ và nhữngngười chống đối, gieo rắc tư tưởng sôvanh, phân biệt chủng tộc Từ năm
1935, các nước đế quốc phát xít tiến hành xâm lược một số nước, xúc tiếnchuẩn bị chiến tranh thế giới phân chia lại thị trường, tiêu diệt Liên Xô.Phong trào đấu tranh chống phát xít, chống chiến tranh diễn ra ở nhiềunước
Trước nguy cơ chiến tranh đe dọa hủy diệt thế giới của phát xít, tháng7-1935, Quốc tế Cộng sản tiến hành triệu tập Đại hội VII tại Matxcova với
sự tham dự của 65 đoàn đại biểu thay mặt cho các Đảng Cộng sản trên thếgiới Đoàn đại biểu của Đảng Cộng sản Đông Dương do đồng chí Lê HồngPhong dẫn đầu
Đại hội VII Quốc tế Cộng sản đã giải quyết nhiều vấn đề quan trọngcủa phong trào cộng sản và công nhân quốc tế Đại hội phân tích nguy cơ,
âm mưu, thủ đoạn và bản chất chủ nghĩa phát xít đối với cách mạng thếgiới Đại hội xác định rõ kẻ thù nguy hiểm trước mắt của nhân dân thế giớilúc này không phải là chủ nghĩa đế quốc nói chung mà là chủ nghĩa phátxít Nhiệm vụ trước mắt của giai cấp công nhân quốc tế chưa phải là đấutranh đánh đổ toàn bộ chủ nghĩa tư bản, thiết lập chuyên chính vô sản, xâydựng chủ nghĩa xã hội mà là đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít, chốngchiến tranh đế quốc, giành dân chủ, bảo vệ hòa bình
Trang 38Để thực hiện được mục tiêu trước mắt, Đại hội chủ trương xây dựng
sự thống nhất hành động của giai cấp công nhân và nhân dân ở từng nước
và trên toàn thế giới Trên cơ sở khối liên minh giữa giai cấp công nhân vàgiai cấp nông dân, thiết lập mặt trận nhân dân rộng rãi đấu tranh chống chủnghĩa phát xít và chiến tranh, đòi tự do, dân chủ, hòa bình và cải thiện đờisống Đại hội chỉ rõ, đối với các nước thuộc địa và nửa thuộc địa, trong tìnhhình hiện tại, vấn đề xây dựng mặt trận thống nhất chống đế quốc có tầmquan trọng đặc biệt trong công cuộc đấu tranh cách mạng của mỗi nước Nghị quyết của Đại hội VII Quốc tế Cộng sản đã kịp thời đề ra chủtrương, nhiệm vụ trong thời kỳ mới cho phong trào cách mạng thế giới,giúp cho các đảng Cộng sản ở các nước xác định được phương hướng pháttriển của cách mạng phù hợp hoàn cảnh cụ thể từng nước, đồng thời thốngnhất hành động cách mạng của giai cấp công nhân thế giới trong một mụctiêu chung
Ở Pháp, tháng 5-1935, Mặt trận nhân dân Pháp giành thắng lợi trongcuộc tổng tuyển cử Tháng 6-1935, Chính phủ Mặt trận nhân dân Pháp lênnắm quyền lãnh đạo, ban hành một số quyết định quan trọng đối với cácnước thuộc địa (thả chính trị phạm, thành lập Ủy ban điều tra tình hìnhthuộc địa, đặc biệt ở Bắc Phi và Đông Dương, thi hành một số cải cách xãhội cho người lao động)
Thời gian này, ở trong nước, do chính sách tăng cường áp bức, bóc lộtcủa thực dân Pháp và khủng hoảng kinh tế, cuộc sống của các giai cấp, tầnglớp nhân dân vô cùng khó khăn Nguyện vọng bức thiết của nhân dân là đòiquyền sống, quyền tự do, dân chủ
Tóm lại, tình hình thế giới, trong nước có nhiều biến đổi sâu sắc đặt rađòi hỏi Đảng phải kịp thời đề ra chủ trương mới, phù hợp để lãnh đạo, chỉđạo cách mạng Việt Nam tiến lên
3.2 Chủ trương mới của Đảng
Căn cứ vào diễn biến tình hình, tháng 7-1936 Ban Chấp hành Trungương Đảng Cộng sản Đông Dương họp ở Thượng Hải (Trung Quốc), dođồng chí Lê Hồng Phong chủ trì đã kịp thời đề ra chủ trương mới bao gồmmục tiêu, nhiệm vụ trước mắt của cách mạng, xây dựng lực lượng, cũngnhư phương pháp tổ chức và đấu tranh trong tình hình mới
Hội nghị khẳng định hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng tư sảndân quyền là chống đế quốc và phong kiến, giành độc lập dân tộc và ruộngđất cho dân cày là không thay đổi, nhưng để phù hợp với tình hình mới,
Trang 39Hội nghị của Đảng xác định mục tiêu trực tiếp trước mắt là đấu tranh chốngchế độ phản động thuộc địa, chống phát xít và chiến tranh đế quốc, đòi dânchủ, dân sinh, hòa bình Kẻ thù chủ yếu trước mắt của nhân dân ĐôngDương là bọn phản động thuộc địa và bè lũ tay sai của chúng Khẩu hiệu
“Đánh đổ đế quốc Pháp”, “Tịch thu ruộng đất của địa chủ chia cho dân càynghèo” được tạm thời gác lại, chỉ nêu khẩu hiệu mới “Tự do, dân chủ, cơm
áo và hòa bình”
Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận thống nhất nhân dân phản đếĐông Dương bao gồm các giai cấp, đảng phái, dân tộc, tổ chức chính trị, xãhội và tôn giáo với nòng cốt là liên minh công – nông Hội nghị chủ trươngchuyển các hình thức tổ chức và phương pháp đấu tranh của quần chúng từhình thức bí mật, bất hợp pháp là chủ yếu sang hình thức công khai, hợppháp và nửa hợp pháp là chủ yếu nhằm tập hợp rộng rãi quần chúng, mởrộng mối liên hệ giữa Đảng với quần chúng, giáo dục và lãnh đạo quầnchúng đấu tranh theo những khẩu hiệu thích hợp Về công tác xây dựngĐảng, Hội nghị khẳng định Đảng cần phải củng cố tổ chức và công tác bímật, thu nạp đảng viên và củng cố hàng ngũ của Đảng
Những chủ trương mới của Đảng tại hội nghị Trung ương tháng
7-1936 đã thể hiện bước phát triển mới trong nhận thức của Đảng về chỉ đạochiến lược và sách lược, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa mục tiêuchiến lược và mục tiêu cụ thể trước mắt của cách mạng, mối quan hệ giữamục tiêu đấu tranh và hình thức tổ chức, hình thức đấu tranh, mối quan hệgiữa liên minh công nông và mặt trận, giữa phong trào cách mạng ĐôngDương với phong trào cách mạng Pháp và thế giới, bước đầu giải quyếtđúng đắn mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp trong điềukiện một nước thuộc địa nửa phong kiến Những quyết định của Hội nghịphản ánh Đảng ta đã vận dụng đúng đắn, sáng tạo đường lối của Quốc tếCộng sản vào điều kiện cụ thể của các dân tộc Đông Dương trong bối cảnhlúc bấy giờ, bổ khuyết cho Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất, mở racho cách mạng Đông Dương một thời kỳ phát triển mới
Ngày 30-10-1936, Đảng công bố văn kiện “Chung quanh vấn đề chínhsách mới”, nhấn mạnh chủ trương thành lập Mặt trận nhân dân phản đế dẫndắt nhân dân đấu tranh thực hiện mục tiêu trước mắt, đòi những quyền dânchủ tối thiểu Đảng khẳng định, hai nhiệm vụ chiến lược không nhất thiếtphải thực hiện cùng lúc ngang bằng mà tùy hoàn cảnh cụ thể và căn cứ vàoviệc xác định kẻ thù chính, nguy hiểm nhất để tập trung lực lượng của mộtdân tộc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chiến lược đó
Trang 40Tháng 3-1937, Trung ương Đảng họp hội nghị mở rộng, sau đó là cáchội nghị Trung ương tháng 8-1937, tháng 3-1938 bổ sung, phát triển cácchủ trương, biện pháp cụ thể về công tác tổ chức, công tác mặt trận, côngtác đấu tranh hợp pháp để đẩy mạnh phong trào Tại hội nghị Trung ươngtháng 3-1938, Mặt trận thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương đổithành Mặt trận dân chủ Đông Dương, gọi tắt là Mặt trận Dân chủ.
3.3 Đảng lãnh đạo phong trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ
Khởi đầu phong trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ là phong tràoĐông Dương đại hội Nhân dịp Quốc hội Pháp cử phái đoàn sang điều tratình hình Đông Dương, Đảng chủ trương phát động và tổ chức các tầng lớpnhân dân thu thập nguyện vọng tự do, dân chủ, dân sinh thảo ra các bản dânnguyện gửi tới phái đoàn điều tra Đảng đã vận động Nguyễn An Ninhđứng ra cổ động thành lập Đông Dương Đại hội Chỉ trong thời gian ngắn,phong trào nhân dân hưởng ứng Đông Dương Đại hội lan nhanh từ Nam raBắc Các Ủy ban hành động thu thập dân nguyện được thành lập khắp nơi.Thực dân Pháp đã ra lệnh cấm và đàn áp phong trào Nhưng trước sứcmạnh đấu tranh của quần chúng, tháng 10-1936, thực dân Pháp phải đưa ramột số quy định về quyền lợi cho công nhân và người dân lao động nhưngày làm 8 giờ, được nghỉ chủ nhật, nghỉ phép năm có lương, thi hành mộtphần “ân xá” tù chính trị Phong trào Đông Dương Đại hội đã đánh dấubước phục hồi mạnh mẽ của phong trào cách mạng
Đầu năm 1937, đặc phái viên của chính phủ Pháp Giuytxtanh Gôđasang Đông Dương điều tra và Toàn quyền Brêviê đến Đông Dương nhậmchức Nhân cơ hội này, Đảng tiếp tục vận động, tập hợp quần chúng thamgia đi đón Gôđa và Brêviê, đưa yêu sách đòi quyền dân sinh, dân chủ.Nhiều cuộc mittinh, biểu tình lớn diễn ra từ Nam tới Bắc trở thành nhữngcuộc biểu dương lực lượng lớn của quần chúng, đánh dấu bước phát triểnmới của phong trào
Song song với cuộc vận động Đông Dương Đại hội, Đảng lãnh đạo tổchức các tầng lớp nhân dân đấu tranh đòi quyền lợi khắp nơi trên cả nước.Công nhân bãi công đòi tăng lương, giảm giờ làm, chống cúp phạt, đánhđập, đòi tự do nghiệp đoàn Nông dân đấu tranh đòi giảm sưu thuế, cải cáchhương thôn Tiểu thương, tiểu chủ bãi thị, đòi giảm thuế chợ, thuế hàng.Học sinh bãi khóa, công chức đòi tăng lương Từ năm 1936 - 1938, mỗinăm diễn ra hàng trăm cuộc đấu tranh của các tầng lớp nhân dân Từ thực
tế phát triển của phong trào, Đảng đã quyết định thành lập Đoàn thanh niênphản đế Đông Dương thay Đoàn thanh niên cộng sản, Hội Cứu tế bình dân