TNN So1 2013 (xuat file) Layout 1 qxd SÖË 16 2013 N ếu tấ t c ả c húng ta cùng nhau chia sẻ, ai cũng sẽ có cơ hội sử dụ ng nư ớc � Trưởng Ban biên tập Ths LÊ HỮU THUẦN � Giấy phép xuất bản số 64/GP XB[.]
Trang 1SÖË 16 2013
N ế u
t ấ t c
ả chú ng
ta c ùn g n hau ch i a sẻ, ai c ũ ng s ẽ c ó c ơ
hộ i s ử
d ụn g
nư ớc
Trang 2Trưởng Ban biên tập: Ths LÊ HỮU THUẦN
Giấy phép xuất bản số: 64/GP-XBBT Bộ Thông tin và Truyền thông cấp ngày 24/8/2011
Trụ sở: số 68 - Bùi Thị Xuân - Hai Bà Trưng - Hà Nội ĐT: (04) 39437516 - 39438057 Fax: (04) 39437417 Email: ttkttnn@gmail.com
thế giới và Việt Nam đều tô
chức các hoat đông ky niêm
Ngày Nước thế giới 22/3 để
kêu goi sư quan tâm cua cộng đồng trên
toàn thế giới về tầm quan trong cua tài
nguyên nước và vân đông chính sách về
quan lý bền vững tài nguyên nước, đăc
biêt là các nguồn nước ngot Ngày Nước
thế giới năm 2013 có chu đề “Hợp tác vì
nước” với thông điệp “Nếu tất cả chúng
ta cùng nhau chia sẻ, ai cũng sẽ có cơ
hội sử dụng nước” nhằm nhấn mạnh sự
cần thiết và kêu gọi tăng cường hợp tác
để khai thác, sử dụng hài hòa, bền vững
nguồn nước
Năm 2013, Bộ Tài nguyên và Môi
trường tổ chức chương trình kỷ niệm
Ngày nước thế giới, 22/3, tại thành phố
Cần Thơ, trung tâm cua đồng bằng sông
Cưu Long và cưa ngõ cua ca vùng ha lưu
sông Mê Công, đồng thời là nơi sẽ diễn ra
Hội thảo ASEM về quản lý nước và lưu
vực sông - cách tiếp cận tăng trưởng
xanh dự kiến tổ chức từ ngày 20-21
tháng 3 năm 2013
Chương trình chào mừng Ngày nước
thế giới năm 2013 sẽ bao gồm các hoạt
động chính sau: Lễ Mít tinh quốc gia
hương ứng Ngày Nước thế giới, hôi thao
khoa hoc “Hơp tác vì nước”, triên lãm anh
“Nước - Khơi nguồn cua sư sống”, lễ trao
giải cuộc thi vẽ tranh “Bảo vệ nguồn
nước là bảo vệ bản thân” và môt số hoat
đông tuyên truyền khác
Ngày nước thế giới 2013 tại Việt Nam
hướng tới mục tiêu nâng cao nhận thức
của cộng đồng các nhà hoạch định chính
sách, nhà quản lý, doanh nghiệp, nhà
khoa học, nhà tài trợ, học sinh, sinh viên
và người dân về chia sẻ - hợp tác vì nước như sau:
- Tầm quan trọng của hợp tác vì nước (xóa đói giảm nghèo, công bằng và
an ninh xã hội; phát triển kinh tế; gìn giữ nguồn nước, bảo vệ môi trường);
- Các thách thức trong hợp tác vì nước (nhu cầu sử dụng nước; số lượng
và chất lượng nước; phát triển cơ sở hạ tầng; biến đổi khí hậu; lợi ích kinh tế và nhu cầu tài chính);
- Lợi ích của hợp tác vì nước (tiết kiệm chi phí, phát triển công nghệ, quản
lý lũ, hợp tác vùng, huy động nguồn lực, bảo vệ hệ sinh thái, giảm thiểu rủi ro);
- Thúc đẩy hợp tác vì nước (phương pháp tiếp cận đa cấp, phát huy các sáng kiến, xây dựng bộ công cụ thúc đẩy hợp tác vì nước bao gồm khung pháp lý và thể chế, trao đổi thông tin, cùng giám sát
và đánh giá, cơ chế giải quyết xung đột, chia sẻ chi phí và lợi ích, công cụ tài chính);
Trong bối cảnh dân số ngày càng gia tăng, kéo theo đó tất cả các nhu cầu cơ bản của con người, các hoạt động phát triển kinh tế, năng lượng, lượng thực, công nghiệp cũng đều gia tăng và gây nên áp lực to lớn đến nguồn tài nguyên nước Trong khi đó, nguồn tài nguyên nước trên toàn cầu nói chung và trên các quốc gia nói riêng là hữu hạn và đang bị suy thoái Tình trạng khan hiếm và tranh chấp nguồn nước đã và đang diễn ra và đôi khi đến mức căng thẳng, gây nên các
“mâu thuẫn vì nước” giữa khu vực thượng lưu và hạ lưu, giữa các nhóm dùng nước, giữa các mục đích sử dụng
nước và thậm chí giữa các nền văn hóa, chính trị khác nhau khi cùng chia sẻ chung một nguồn nước Chính vì thế, hợp tác hiệu quả giữa các cấp, các ngành, các quốc gia cùng chia sẻ chung nguồn nước có ý nghĩa sống còn trong quá trình phát triển bền vững
Chủ đề “Hợp tác vì nước” nhằm nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hợp tác trong khai thác, sử dụng tài nguyên nước, cũng như thúc đẩy các nỗ lực quản
lý và sử dụng tài nguyên nước ngọt một cách hoà bình, ở các cấp địa phương, quốc gia; cấp vùng và quốc tế; giữa các ngành, đối tượng khác nhau Khái niệm này đòi hỏi một hành động thống nhất, cùng hướng tới một mục tiêu chung: khai thác, sử dụng nguồn nước một cách bền vững, hiệu quả và công bằng Có thể nói,
“Hợp tác vì nước” là chất xúc tác thúc đẩy hợp tác phát triển, là nhân tố mang lại cho cộng đồng và xã hội sự gắn kết
“Hợp tác vì nước” giúp giải tỏa các căng thẳng về văn hóa, chính trị, xã hội đồng thời xây dựng niềm tin giữa mọi người, giữa cộng đồng, các vùng miền và các quốc gia
Nước là nhân tố then chốt trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Việt Nam luôn coi trọng vấn đề “Hợp tác
vì nước” và kêu gọi cộng đồng quốc tế, các nhà nghiên cứu và các bên hữu quan cùng nhau thúc đẩy hợp tác vì nước, đặc biệt là các nguồn nước xuyên biên giới Chính phủ Việt Nam luôn cố gắng tìm kiếm và thúc đẩy các sáng kiến hợp tác
vì nước và chủ trương giải quyết các bất đồng về nước thông qua con đường ngoại giao và đối thoại.
Mít tinh quốc gia hưởng ứng ngày Nước thế
giới 22/3/2013 tại thành phố Cần Thơ
Trang 3Cuộc thi vẽ tranh “Bảo vệ nguồn nước là bảo vệ cuộc sống”
năm 2013
Cuộc thi “Bảo vệ nguồn nước là
bảo vệ cuộc sống” năm 2013
là hoạt động hưởng ứng chủ
đề của Ngày Nước thế giới
năm nay do Bộ Tài nguyên và Môi
trường phát động thông qua Hội đồng
Đội Trung ương, Dự án tăng cường bảo
vệ nguồn nước ngầm tại Việt Nam,
Chương trình hợp tác kỹ thuật Đức - Việt
và hơn 1000 các em hoc sinh trường
THCS Nguyễn Du, Hà Nôi đã phối hợp tô
chức và tham gia cuộc thi này
Cuộc thi được tổ chức rộng khắp tại
các cơ sở Đội và các Cung, Nhà Thiếu nhi
trong cả nước nhằm tuyên truyền, giáo
dục, trang bị những kiến thức, hiểu biết
về nước sạch cho Thiếu nhi và cộng đồng
Cuộc thi được triển khai trong thời gian gần 03 tháng, từ tháng 01 năm
2013 đến trung tuần tháng 03 năm
2013 trên quy mô toàn quốc Các em thiếu nhi Việt Nam, có độ tuổi từ 6 đến
15 đang sinh hoạt, học tập tại các trường Tiểu học, Trung học cơ sở, các Cung, Nhà Thiếu nhi, Trung tâm hoạt động Thanh Thiếu nhi trong cả nước đều được tham gia cuộc thi bằng cách
vẽ tranh với chủ đề “Bảo vệ nguồn nước là bảo vệ cuộc sống” Nội dung tranh vẽ phê phán những việc làm, hành động, thiếu ý thức gây lãng phí nước, hủy hoại nguồn nước sạch;
tuyên truyền, vận động, hướng dẫn mọi người cùng chung tay trong việc
bảo vệ nguồn tài nguyên nước ; kêu gọi sự thay đổi hành vi lãng phí nước, hình thành thói quen trong việc sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn tài nguyên nước
Ngay sau lễ phát đông, hơn 1000
em hoc sinh trường THCS Nguyễn Du
Hà Nội đã đồng loạt tham gia vẽ tranh hưởng ứng cuộc thi vẽ tranh “Bảo vệ nguồn nước là bảo vệ cuộc sống” Các tác phẩm dự thi xuất sắc sẽ được lựa chọn để trưng bày tại Triển lãm tranh “Bảo vệ nguồn nước là bảo
vệ cuộc sống” nhân sự kiện Ngày nước thế giới được Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức tại Thành phố Cần Thơ vào 2 ngày 20 và 21/3/2013.
Hội thảo ASEM về Quản lý nước và lưu vực sông - Cách tiếp cận tăng trưởng xanh
Thực hiện Sáng kiến của Thủ
tướng Chính phủ tại Hội nghị
cấp cao Á-Âu (ASEM) lần thứ
9 tại Lào tháng 11 năm 2012,
Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp
với Bộ Ngoại giao tổ chức “Hội thảo
ASEM về quản lý nước và lưu vực sông
– cách tiếp cận tăng trưởng xanh” vào
ngày 21-22 tháng 3 năm 2013 tại
thành phố Cần Thơ
Mục tiêu của Hội thảo là tăng
cường đối thoại và hợp tác giữa các
nước ASEM hướng tới phát triển bền
vững trọng tâm là quản lý nước, lưu
vực sông và tăng trưởng xanh đóng
góp xây dựng một khu vực ASEM xanh, đạt được tăng trưởng kinh tế bền vững; bảo vệ môi trường; khai thác và
sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên Tham gia Hội nghị, ngoài các đại biểu Việt Nam còn có 100 đại biểu các nước thành viên ASEM đến từ hơn 50 quốc gia của hai Châu lục Á-Âu, các tổ chức và chuyên gia quốc tế
“Hội thảo ASEM về quản lý nước và lưu vực sông – cách tiếp cận tăng trưởng xanh” diễn ra đúng vào dịp mà
cả thế giới đang tổ chức các hoạt động hưởng ứng Ngày nước thế giới 22 tháng 3 Năm 2013 được Liên Hợp
Quốc chọn là năm hợp tác quốc tế về nguồn nước với thông điệp “Nếu tất cả chúng ta cùng nhau chia sẻ, ai cũng sẽ
có cơ hội sử dụng nước”
Hội thảo này sẽ góp phần tăng cường hơn nữa sự hợp tác giữa các nước ASEM trong quản lý và bảo vệ tài nguyên nước vì mục tiêu phát triển bền vững, qua đó các quốc gia phát triển
sẽ tăng cường hỗ trợ các quốc gia đang phát triển trong việc áp dụng các công nghệ sử dụng nước hiệu quả và tiết kiệm, đầu tư cho các công trình xử lý nước thải và khôi phục các nguồn tài nguyên nước bị suy thoái, cạn kiệt.
Trang 4PHÓ CỤC TRƯỞNG CỤC QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC CHÂU TRẦN VĨNH:
PV: Thưa ông, Ngày Nước thế
giới năm 2013 có chủ đề "Hợp
tác để bảo vệ nguồn nước".
Vậy, ông có thể cho biết, Bộ
TN&MT sẽ triển khai những
hoạt động gì để hưởng ứng
Ngày Nước thế giới năm nay?
Phó Cục trưởng Châu Trần
Vĩnh: Như chúng ta đều biết, mỗi năm
Liên hiệp quốc đều chọn một chủ đề
được cho là nổi cộm, mấu chốt để giải
quyết các vấn đề về Nước nhân Ngày
Nước thế giới Và, chủ đề “Hợp tác để
bảo vệ nguồn nước” đã được chọn cho
Ngày Nước thế giới năm nay
Hưởng ứng chủ đề của Ngày Nước
thế giới năm nay, Bộ TN&MT đang triển
khai nhiều hoạt động nhằm bảo vệ tài
nguyên nước, đặc biệt sẽ phối hợp với
UBND một số tỉnh, thành phố tổ chức
Lễ mít tinh “Ngày Nước thế giới” tại
Thành phố Cần Thơ vào ngày
22/3/2013, với sự phát biểu chỉ đạo Hội
nghị của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn
Tấn Dũng và sự tham gia của nhiều tổ
chức quốc tế và các Bộ, ngành liên
quan, UBND các tỉnh, thành phố
Đồng thời, trong Ngày nước thế giới
tại Cần Thơ, Bộ TN&MT cũng sẽ phối
hợp với Sở Văn hóa, thể thao và Du lịch
của một số địa phương thuộc đồng
bằng sông Cửu Long tổ chức một số
hoạt động hướng tới chủ đề “Hợp tác để
bảo vệ nguồn nước” thực hiện Cụ thể:
- Tổ chức Hội thảo khoa học với nội
dung “Hợp tác vì Nước” (dự kiến sẽ có
6 báo cáo tham luận của các Sở, Ban
ngành của các tỉnh và các cơ quan liên
quan của Trung ương)
- Tổ chức buổi giao lưu văn nghệ
về chủ đề “Tiếng hát và Dòng sông”;
tổ chức Lễ trao giải cuộc thi vẽ tranh
“Bảo vệ nguồn nước là bảo vệ cuộc
sống” nhằm tuyên truyền, nâng cao tình yêu quê hương đất nước, yêu các dòng sông và tăng cường ý thức bảo
vệ nguồn nước
- Triển lãm ảnh “Nước-Con người-Cuộc sống”; Triển lãm tranh “Bảo vệ nguồn nước là bảo vệ cuộc sống” của học sinh; Trưng bày các mô hình, ấn phẩm liên quan đến tài nguyên nước…
- Phát sóng quảng cáo về Ngày nước thế giới, trên đài truyền hình VTV
và các đài địa phương
PV: Theo ông, đâu là nguyên nhân dẫn đến thực trạng khan hiếm và suy thoái nguồn nước trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng?
Phó Cục trưởng Châu Trần Vĩnh: Nước là nguồn tài nguyên thiên
nhiên vô cùng quý giá, không có gì có thể quý và hữu ích hơn nước nhưng do chúng ta chưa nhìn nhận đúng đắn về giá trị cũng như cho rằng đây là nguồn tài nguyên vô hạn nên đã sử dụng không hợp lý nguồn tài nguyên quý giá này, khiến cho nước sạch ngày càng khan hiếm Theo dự báo, đến năm
2030 sẽ có tới 3,95 tỷ người trên thế giới phải sống trong tình trạng thiếu nước sạch Nguyên nhân chủ yếu là do:
Sử dụng lãng phí nước ngọt: Trên thế giới hiện nay, mỗi năm con người khai thác khoảng 3.800 tỷ m3 nước ngọt để sử dụng nhưng cũng có tới khoảng 40.000 tỷ m3nước ngọt chảy ở các vùng đất ngập nước - gấp 10 lần lượng nước ngọt khai thác phục vụ cho những nhu cầu con người, xấp xỉ 5.800
m3/người/năm, trong khi đó, có tới 1/3 dân số thế giới sống trong tình trạng được gọi là "căng thẳng về nước", với mức chưa đến 1.700m3 nước
ngọt/người/năm Theo điều tra của Liên hiệp quốc, hệ thống cống và đường ống dẫn nước trên khắp thế giới thường xuyên bị hư hại Đường ống rò
rỉ thấm vào đất ½ lượng nước ngọt Sau khi sử dụng, ½ lượng nước còn lại này hầu như không được xử lý, chảy thẳng vào sông hồ hoặc ngấm vào đất Chỉ 5% lượng nước thải được đưa vào các nhà máy xử lý, dùng lại làm nước uống Thêm vào đó là việc quản lý nguồn nước kém, dẫn tới tỉ lệ sử dụng nước ngọt trên toàn thế giới vẫn còn rất thấp, chỉ khoảng 9% tổng lượng cung cấp Con số này ở vùng vịnh đạt mức cao nhất là 20%, trong khi ở châu Phi và Mỹ Latinh chỉ 6%
Sự gia tăng dân số thế giới, tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ của quá trình đô thị hóa, các ngành công nghiệp cùng nền kinh tế đã gây ra một hậu quả to lớn là ô nhiễm nguồn nước và làm tổn hại nghiêm trọng đến nguồn cung nước sạch trên thế giới Ngân hàng Thế giới (WB) đã dự báo trong một báo cáo mới đây rằng, đến năm 2030, nhu cầu toàn cầu đối với nước sẽ vượt quá mức cung cấp đến 40%
Ngành nông nghiệp là một trong những ngành chính gây nên tình trạng khan hiếm nước Đây là ngành tiêu thụ tới 75% tổng lượng nước ngọt Các loại phân bón và thuốc phòng trừ sâu bệnh
là nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước Trong 10 tấn ngũ cốc thu hoạch,
có 4 tấn được trồng trên các cánh đồng cần nước tưới Tỷ lệ này đang ngày càng tăng vì ở nhiều quốc gia, việc tự túc lương thực đang được coi là ưu tiên cao nhất Nhiều loại cây trồng được trồng trong môi trường không phù hợp với tính chất lý sinh của chúng Do đó,
Không gì có thể quý và hữu ích
hơn nước
Trang 5con người phải trồng theo những
phương pháp đặc biệt và cần tưới nước
Điều này làm cho nguồn nước tưới bổ
sung tăng thêm 1.000m3/năm/người
Thực trạng tài nguyên nước của
nước ta cũng không nằm ngoài thực
trạng chung của thế giới và có phần
nghiêm trọng hơn Việt Nam có 2378
con sông, trong đó có 10 sông/hệ
thống sông lớn có lưu vực lớn hơn
10.000km2 và 15 lưu vực có diện tích
lớn hơn 2.500km2 Lượng mưa trung
bình hàng năm của nước ta khoảng
1960mm Tổng lượng dòng chảy hàng
năm của tất cả con sông vào khoảng
từ 830 đến 840 tỷ m3, trong đó có
khoảng 300 tỷ m3phát sinh trong lãnh
thổ (chiếm 40%) và khoảng 500 đến
510 tỷ m3là nước từ ngoài lãnh thổ Về
nước dưới đất, tổng lượng sản sinh
trung bình hàng năm của các tầng
chứa nước là khoảng 63 tỉ m3/năm Tuy
nhiên, theo đánh giá của Hiệp hội Tài
nguyên nước Quốc tế (IWRA), nước ta
thuộc vào nhóm quốc gia thiếu nước
với ngưỡng dưới 4000m3/năm khi
lượng nước mặt bình quân theo đầu
người của Việt Nam năm 2010 chỉ có
3.850m3/năm Nguyên nhân dẫn đến
tình trạng này là do: Chưa có biện pháp
thực sự hiệu quả để phát triển nguồn
nước, điều hòa hợp lý dòng chảy trên lưu vực sông, trong mạng lưới sông ngòi; Việc khai thác, sử dụng nước chưa hợp lý; Các công trình thủy điện, thủy lợi làm thay đổi lớn chế độ nguồn nước, chất lượng nước; Khai thác, sử dụng chưa đi đôi với bảo vệ, phòng chống suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm; Tài nguyên nước chưa được sử dụng một cách tiết kiệm, hiệu quả, đa mục tiêu như mong muốn Khai thác, sử dụng nước quá mức cho phép, lại lãng phí diễn ra ở nhiều nơi; chưa kết hợp hài hòa giữa khai thác, sử dụng nước mặt với nước dưới đất…
Ngoài ra còn biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, nạn phá rừng bừa bãi đang diễn ra phổ biến… cũng là những áp lực làm khan hiếm và suy thoái nguồn nước ngọt trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng
PV: Trước những thách thức ngày càng lớn về an ninh nguồn nước, theo ông, Việt Nam cần
có giải pháp gì để bảo vệ nguồn nước?
Phó Cục trưởng Châu Trần Vĩnh: Các thách thức ngày càng lớn về
an ninh nguồn nước đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước đang
là một thực tế hiện hữu, đòi hỏi chúng
ta phải nhận rõ những tồn tại, bất cập
và đề ra những giải pháp tổng thể, toàn diện để bảo vệ, quản lý và sử dụng hợp lý, hiệu quả, tiết kiệm và đa mục tiêu nguồn nước vốn hữu hạn lại
dễ bị tổn thương ở nước ta, trong đó cần ưu tiên chú trọng thực hiện các giải pháp như sau:
- Đẩy mạnh công tác quy hoạch sử dụng tài nguyên nước trên các lưu vực sông, xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các Bộ, ngành, cơ quan, hoàn chỉnh các quy hoạch các ngành, lĩnh vực liên quan đến tài nguyên nước
- Tăng cường quản lý tổng hợp tài nguyên nước, bảo vệ, bảo tồn, phát triển hợp lý nguồn nước; xây dựng cơ chế để sử dụng nước hợp lý, tránh khai thác quá mức, sử dụng nước phải tiết kiệm, hiệu quả và phòng chống suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm nguồn nước; cải tiến phương thức sử dụng nước để phù hợp với điều kiện tài nguyên nước trên mỗi vùng; nghiên cứu và thực thi các giải pháp để chuyển từ cách quản
lý truyền thống là “đáp ứng nhu cầu, cần bao nhiêu cấp bấy nhiêu” sang quản lý nhu cầu dùng nước
- Cần xây dựng một cơ chế, chính sách kinh tế, tài chính, đầu tư thích hợp
để bảo đảm tài nguyên nước được quản lý, được bảo vệ và bảo đảm sử dụng đa mục tiêu, hiệu quả và tiết kiệm, tiến tới làm rõ giá trị kinh tế, giá trị hàng hóa (ngoài giá trị xã hội) và nâng cao giá trị đóng góp của tài nguyên nước trong phát triển để xây dựng cơ chế, chính sách để thực hiện
“dùng nước, sử dụng nước của quốc gia thì phải trả tiền”
- Cần phải gìn giữ, bảo vệ, bảo tồn nguồn nước; ứng xử hợp lý với tài nguyên nước; sử dụng nước tiết kiệm
- Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến cho toàn dân về pháp luật tài nguyên nước, nhằm nâng cao năng lực, sự hiểu biết, ý thức của nhân dân trong khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên nước.
Trang 6HỢP TÁC VÌ NƯỚC LÀ GÌ?
Nhắc đến cụm từ “Hợp tác vì nước”
là nhắc đến những nỗ lực quản lý và sử
dụng tài nguyên nước ngọt một cách hoà
bình ở các cấp địa phương, quốc gia, cấp
vùng và quốc tế, giữa các ngành, đối
tượng khác nhau Khái niệm này đòi hỏi
một hành động thống nhất, cùng hướng
tới một mục tiêu chung, tuân theo
nguyên tắc - đôi bên cùng hưởng lợi
Lịch sử đã chỉ ra rằng chính chức
năng duy trì sự sống của nguồn nước là
động lực lớn lao thúc đẩy hợp tác và kêu
gọi sự đồng thuận từ các bên bất kể mọi
khác biệt về quan điểm Nước, nhân tố
luôn mang lại cho cộng đồng và xã hội sự
gắn kết hơn là chia rẽ
TẠI SAO HỢP TÁC VÌ NƯỚC
LẠI QUAN TRỌNG?
Nước là vấn đề mang tính liên ngành đòi
hỏi sự quan tâm từ tất cả các cấp và lĩnh vực
Hợp tác vì nước là rất cần thiết để ứng phó
với các vấn đề về phân bổ nước, ảnh hưởng
giữa thượng lưu và hạ lưu; về ô nhiễm
nguồn nước và sử dụng nước; về việc xây
dựng các công trình; các vấn đề liên quan
đến tình trạng khai thác quá mức nguồn
nước; về quyết định quản lý tài chính trong
tài nguyên nước và dịch vụ ngành nước
Hợp tác vì nước sẽ góp phần:
• Xoá đói giảm nghèo và mang
lại công bằng xã hội
Hợp tác vì nước giữa mọi đối tượng
càng diễn ra một cách toàn diện càng
giúp xóa bỏ được tình trạng phân bổ
nước không đồng đều, tăng cường thêm
cơ hội tiếp cận tới nguồn nước sạch bảo
đảm nhu cầu tối thiểu của người dân,
hướng tới đạt các mục tiêu Thiên niên kỷ
• Mang lại lợi ích kinh tế
Trong chuỗi giá trị nếu vận dụng
được sự hợp tác giữa các bên với nhau,
thì không những có thể giải quyết được những khó khăn gây ra bởi tình trạng khan hiếm nước đang ngày một leo thang
mà có phòng tránh được những phát sinh khó có thê lường trước đươc
• Bảo tồn tài nguyên nước và bảo vệ môi trường
Hợp tác có thể thúc hỗ trợ quá trình trao đổi thông tin và dữ liệu cũng như tìm kiếm các chiến lược phối hợp quản lý
• Thúc đẩy hoà bình thế giới
Hợp tác về nước giúp giải tỏa các căng thẳng về văn hóa, chính trị và xã hôi đồng thời xây dựng niềm tin giữa mọi người, giữa công đồng, vùng miền và toàn quốc gia
CÁC THÁCH THỨC ĐẶT RA?
Xung đột có thể nảy sinh từ nhiều đối tượng thuộc nhiều cấp về nhiều loại vấn
đề Hợp tác vì nước đang đối diện với các thách thức về:
• Nhu cầu sử dụng nước
Do đặc tính của nguồn nước là phi biên giới, bởi vậy, nhu cầu dùng nước luôn chịu sự cạnh tranh bởi các mục đích
sử dụng khác nhau, như cạnh tranh giữa các ngành kinh tế, cạnh tranh giữa nông thôn và thành thị, cạnh tranh giữa các quốc gia…
• Số lượng nước và chất lượng nước
Những lo ngại về tình hình số lượng và chất lượng nước có thể làm tăng thêm các thách thức đối với diễn biến hợp tác, mà điển hình như việc sử dụng và xử lý nước ở thương lưu có thể gây nên những tác động tiêu cực đối với các đối tượng sử dụng ở hạ lưu
• Phát triển hạ tầng
Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng có thể đem lại cho xã hội những lợi ích to lớn, nhưng mặt trái của nó là lại có thể mang đến những tác động xấu đối với hệ sinh thái
và cộng đồng xung quanh, mà ở đây, việc
xây dựng các con đập là ví dụ điển hình
• Biến đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu sẽ làm tăng thêm các
áp lực đối với tài nguyên nước ở nhiều lĩnh vực, làm thay đôi chất lượng và sự sẵn có của nguồn nước
• Lợi ích kinh tế
Lợi ích kinh tế mà nước mang lại đối với các đối tượng sử dụng là một trong nguyên nhân phát sinh xung đột và từ đó, thay đổi cân bằng quyền lực trong cả một vùng
• Tài chính
Nhu cầu đầu tư nhằm duy trì nguồn tài chính một cách bền vững cho hoạt động quản lý tài nguyên nước xuyên biên giới luôn vượt quá nguồn lực mà các nước ven sông có thể có được
LỢI ÍCH HỢP TÁC VÌ NƯỚC MANG LẠI?
Một số lợi ích mà Hợp tác vì nước có thể mang lại:
• Hợp tác có thể tránh được chi phí thông qua giảm thiểu căng thẳng và tranh chấp giữa các nước láng giềng
• Hợp tác trong phạm vi lưu vực sông
có thể khuyến khích việc áp dụng các kỹ thuật bảo vê và phân phối nước hiệu quả,
mở rộng diện tích gieo trồng
• Hợp tác trong phạm vi lưu vực sông
có thể tăng cường khả năng quản lý lũ lụt
• Hợp tác sử dung các nguồn nước quốc tế có thể tạo điều kiện thúc đây hợp tác mang tính chất khu vực về kinh tế, chính trị, môi trường và văn hóa
• Hợp tác giữa nhà cung cấp nhà nước và tư nhân có thể đẩy mạnh quá trình huy động nguồn lực
• Hợp tác vì nước tạo điều kiện cho chính quyền địa phương cùng hợp tác đối phó với các mối đe dọa từ bên ngoài như bệnh dịch, các hiện tượng thời tiết bất thường.
nửa tổng lượng nước mặt , do đó, Hợp tác vì nước là tối quan trọng đối với hoà bình thế giới.”
(Irina Bokova, Tổng giám đốc UNESCO phát biểu tại Hội nghị Rio+20 2012)
Trang 7ĐÓNG GÓP CHO HỢP TÁC VÌ
NƯỚC
Bất kể tính phức tạp của các vấn đề
về nước và các lợi ích đang bị đe dọa,
con số thống kê cho thấy các bất đồng
về nước có thể được giải quyết bằng
con đường ngoại giao Con số các hiệp
ước, nghị định thư, hiệp định và các
thỏa thuận ngoại giao được ký kết ngày
càng gia tăng trong lĩnh vực sử dụng,
phát triển và bảo vệ nguồn nước sạch
và các hệ sinh thái liên quan Các
khuôn khổ và dàn xếp ngày càng gia
tăng này giúp kết tinh các cơ chế ngăn
ngừa và giải pháp hòa bình cho các bất
đồng về nguồn tài nguyên nước (Rio +
20, năm 2012) Rà soát nghiên cứu
tình huống cho thấy thành tựu của các
giải pháp hợp tác được hỗ trợ bởi:
• Khung chính sách tại nơi phù hợp
• Mối quan hệ đối tốt giữa các bên
• Việc tạo nên các thể chế chung
để giải quyết vấn đề
• Các thỏa thuận về cơ chế giải
quyết bất đồng
• Không có tác động lớn tiêu cực về
chất lượng và số lượng nước chảy qua
nước lân cận
CÁC KHUNG CHÍNH SÁCH
Các nguyên tắc và quy tắc
quốc tế
Công ước LHQ về Luật sử dụng
sông quốc tế (không bao gồm hàng
hải) Khuôn khổ của Công ước này
được Đại hội đồng LHQ thông qua vào
tháng 05/1997 trong đó tái xác nhận
ba nguyên tắc chính hướng dẫn các
quốc gia trong các vấn đề liên quan
đến các dòng sông xuyên biên giới: Sử
dụng hợp lý và công bằng, các nghĩa
vụ ngăn ngừa các tổn hại nghiêm trọng đến các nước láng giềng và nghĩa vụ hợp tác Công ước cũng bao gồm cơ chế thông báo trước và tư vấn về các biện pháp can thiệp được hoạch định trước 29 quốc gia tham gia Công ước này; cần thêm 6 quốc gia tham gia để công ước này có hiệu lực
Nghị định của Đại hội đồng LHQ trong Luật về các tầng nước ngầm xuyên biên giới: Nghị định này được Đại hội đồng LHQ thông qua tháng 12/2011, kêu gọi hợp tác giữa các quốc gia nhằm ngăn ngừa, giảm và kiểm soát ô nhiễm các tầng ngầm nước xuyên biên giới và cung cấp nền tảng cho các công cụ pháp lý ràng buộc trong tương lai về các tầng ngậm nước xuyên biên giới
Thỏa thuận cấp khu vực và song phương
Nhiều thỏa thuận đa phương và song phương đã được thiết lập hỗ trợ quản lý những nguồn nước có sự chia
sẻ như Công ước về Bảo vệ và sử dụng các sông xuyên biên giới và các hồ quốc tế (gọi là Công ước về nước) được
Ủy ban kinh tế Châu Âu (UNECE) thông qua năm 1992 nhằm thúc đẩy hợp tác
về nước mặt và nước ngầm xuyên biên giới và tăng cường bảo vệ nguồn nước
và quản lý bền vững
Công ước hướng đến tăng cường các giải pháp cấp địa phương, quốc gia
và quốc tế cho công Tác bảo vệ và quản lý tốt về mặt sinh thái nước mặt
và nước ngầm xuyên biên giới Công ước Về Nước ràng buộc các nước ven sông ký kết các thỏa thuận và thiết lập các nhóm hợp tác
Công ước về nước của Ủy ban kinh tế Châu Âu (UNECE) mở rộng ra toàn cầu
Công ước về Nước khởi đầu như một công ước mang tính khu vực Nó được thương thảo bởi các nước thành viên của Ủy ban Kinh tế Châu Âu của LHQ và được thông qua ngày 17/3/1992 tại Helsiki 38 quốc gia và các nước Hội đồng Châu Âu đều là thành viên của Công ước Ba “trụ cột” của Công ước là: Nghĩa vụ khai thác bền vững và công bằng nước xuyên biên giới; nghĩa vụ phòng ngừa, giảm
và kiểm soát tác động xuyên biên giới nghiêm trọng và nghĩa vụ hợp tác thông qua các thỏa thuận cụ thể và các nhóm hợp tác Quyền hành cao nhất của công ước là Cuộc họp các thành viên Nó gia tăng sự hợp tác trong khuôn khổ của Công ước thông qua việc xây dựng các nghị định thư, các tài liệu hướng dẫn, các báo cáo đánh giá định kỳ cũng như các dự án và các hoạt động thực tiễn
Vào năm 2003, Các bên hiệu chỉnh Công ước nhằm giúp bất kì nước nào của UB Châu Âu đều có thể tán thành công cụ này Việc hiệu chỉnh này được đưa ra nhằm thúc đẩy hợp tác xuyên biên giới trên toàn cầu để chia sẻ các kinh nghiệm của Công ước và mang lại lợi ích từ kinh nghiệm ở các khu vực khác Việc chỉnh sửa này sẽ có hiệu lực vào tháng 02/2013 và mang Công ước
về nước này ra phạm vi toàn thế giới Công ước “sắp” hiệu lực toàn cầu này
sẽ là đóng góp chính cho Năm hợp tác
vì nước.
Thúc đẩy hợp tác vì nước Khung chính sách và các dàn xếp về mặt thể chế
Trang 8Các vấn đề về tài chính
Việc thúc đẩy hợp tác xuyên biên giới thường không đủ tài chính và khó đạt được cơ chế giải quyết phù hợp Nhiều chính phủ và nhà tài trợ quốc tế đang do dự về vấn đề tài trợ cho các chương trình mà không có kết quả rõ ràng cũng như thời gian thi hành cụ thể Tuy nhiên, việc phòng tránh các xung đột và các biện pháp tránh suy giảm môi trường thường ít tốn kém hơn so với những hậu quả sau đó của những xung đột và suy giảm môi trường (GEF 2012)
NHỮNG THÁCH THỨC VỀ
VẤN ĐỀ TÀI CHÍNH
Thúc đẩy hợp tác về nước là một
quá trình chuyên sâu và dài hạn Nguồn
tài chính cần phải được huy động theo
các hoạt động dài hơi ví dụ như thiết
lập cơ cấu tổ chức, phát triển năng lực,
xây dựng lòng tin và sự đồng thuận
Ngoài ra, các chương trình quản lý tài
nguyên nước và vấn đề phát triển cơ sở
hạ tầng về tài nguyên nước cũng cần
có nguồn tài chính bền vững, hiệu quả
Đồng thời, hợp tác xuyên biên giới
thường làm giảm chi phí, các biện
pháp chung để thích ứng với biến đổi
khí hậu, xu hướng đa phương bao giờ
cũng có hiệu quả về mặt chi phí hơn
biện pháp đơn phương (UNECE,2009)
Ngân quỹ chỉ cho cấp địa phương,
quốc gia hay liên quốc gia sẽ khó đạt
được phát triển bền vững và khó làm
giảm những căng thẳng về nước Việc
này cần những hoạt động ở cả ba cấp
một cách hài hòa để đạt được sự thay
đổi thể chế một cách bền vững
PHÂN BỔ TÀI CHÍNH CHO
HỢP TÁC VỀ NƯỚC
Việc hợp tác về nước xuyên quốc
gia yêu cầu các vấn đề liên quan đến
tài chính như sau:
• Phát triển và thi thành khung
pháp lý
• Phát triển năng lực
• Thành lập và sửa đổi cơ cấu, thể
chế
• Quản lý chi phí của các thể chế,
cơ cấu xuyên biên giới
• Chi phí quản lý lưu vực: Thu thập
dữ liệu chung, lập kế hoạch và theo
dõi
• Đầu tư dài hạn vào cơ sở hạ tầng ngành nước cho việc chia sẻ quản lý lưu vực sông
CÔNG CỤ CHO HỢP TÁC TÀI CHÍNH VÌ NƯỚC XUYÊN BIÊN GIỚI
Một cơ chế tài chính tổng hợp cần được xác lập dùng cho quản lý nước xuyên quốc gia Cơ chế tài chính cho hợp tác vì nước xuyên quốc gia yêu cầu
sự hỗ trợ chính trị lớn, có cơ chế, thể chế chính phủ tốt
Cơ chế tài chính cho việc hợp tác vì nước xuyên biên giới bao gồm những nội dung chính như sau:
• Nguồn tài chính phân bổ cho toàn
bộ sông quốc tế qua các phương tiện công cộng: yêu cầu các nước trong khu vực cấp kinh phí cho các hoạt động tại lãnh thổ của mỗi nước
• Công-Tư kết hợp
• Quay vòng vốn để khuyến khích các nhà đầu tư tư nhân trong những dự
án hợp tác xuyên biên giới
• Quỹ tín dụng cho các hoạt động thực thi các chương trình được quản lý bởi một tổ chức xuyên quốc gia hoặc phi chính phủ (ví du Quỹ Lưu vực sông Nile được quản lý bởi World Bank)
NGUỒN TÀI CHÍNH CHO CÁC CHƯƠNG TRÌNH HỢP TÁC XUYÊN QUỐC GIA VÌ NƯỚC
Nguồn tài chính này bao gồm:
• Ngân sách quốc gia
• Hợp tác song phương
• Tổ chức và hiệp hội quốc tế
• Các tổ chức tài chính quốc tế
• Tư nhân
• Thị trường vốn quốc tế
• Các loại thuế, phí và lệ phí quốc tế
• Các thị trường kinh doanh
• Quan hệ đối tác toàn cầu và khu vực Nhu cầu đầu tư thường vượt quá nguồn lực sẵn có của các quốc gia ven sông Các tổ chức quốc tế nói chung và các tổ chức tài chính quốc tế hoặc các quỹ phát triển đặc biệt đóng vai trò quan trọng việc cải thiện nguồn tài chính (ví dụ quá trình giải ngân) để xây dựng và đẩy mạnh môi trường mà ở
đó nguồn tài chính cho các hoạt động hợp tác vì nước có thể thực hiện được
Sự tồn tại của tổ chức lưu vực sông tăng cơ hội cho lưu vực nhận được thêm các nguồn tài trợ khác.
Trang 9Chia sẻ thông tin và đánh giá hỗn hợp
Việc thu thập các thông tin tài
nguyên nước một cách chính
xác thông qua hoạt động
giám sát và đánh giá tài
nguyên nước ngày càng trở nên cấp
thiết đối với công tác ra quyết định và
thiết lập chính sách, ở cả cấp quốc gia
và xuyên biên giới
Công tác Giám sát và đánh giá tài
nguyên nước đòi hỏi sự hợp tác gữa
nhiều bên, nhiều quốc gia bởi lưu vực
sông trải rộng bất kể giới hạn về hành
chính, địa lý và biên giới
Hoạt động Trao đổi thông tin bao
gồm cả các thông tin về tình trang ô
nhiễm, cơ sở hạ tầng, các hiện tượng
thời tiết cực đoan, phát triển thuỷ điện,
vận tải thuỷ và tưới tiêu – là thực sự
rất quan trọng để bồi đắp sự tin tưởng,
thúc đẩy chia sẻ tầm nhìn giữa các bên,
các quốc gia
HỖ TRỢ HOẠT ĐỘNG GIÁM
SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ HỖN HỢP
Các chương trình và hoạt động
điển hình của Liên hợp quốc (UN):
• Chương trình đánh giá nước thế
giới của UN
• Chương trình đồng quan trắc đối
với cấp nước sạch và vệ sinh môi
trường của Tổ chức Y tế Thế giới
(WHO)/ Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc
(UNICEF)
• Chương trình Phát triển Liên hợp
quốc (UNDP) về Quan trắc và đánh giá
quản lý nước tại SIWI
• Hướng dẫn Quan trắc và Đánh giá
Hồ nước quốc tế và xuyên biên giới do
Uỷ ban Kinh tế của Liên hiệp quốc ở
Châu Âu (UNECE) phát hành năm
2006)
• Hệ thống kế toán Môi trường –
Kinh tế trong ngành nước (Cục số liệu
liên hợp quốc (UNSD)
• Chương trình đánh giá nước
xuyên biên giới (GEF, UNEP)
CẤP LƯU VỰC SÔNG
Để công tác quản lý lưu vực sông xuyên biên giới được thực hiện một cách hiệu quả, các thể thể chế hỗn hợp
và tổ chức chính phủ cần phải có được nguồn thông tin mang tính so sánh Và
để đạt được điều này thì cần phải kể đến các biện pháp đánh giá đã được chuẩn hoá, hệ thống quản lý dữ liệu và các thủ tục báo cáo đồng bộ Hạn chế
về công nghệ và tri thức cũng là các nhân tố kìm hãm sự hiệu quả của hoạt động trao đổi thông tin dữ liệu
Hợp tác để cùng hướng tới một mục tiêu chung đòi hỏi phải đạt được một thoả thuận mang tính nền tảng về nguồn tài nguyên nước cùng với các điều kiện về số lượng, chất lượng, và tính sẵn có của nguồn nước dưới tác động của biến đổi khí hậu và tính đến các nhu cầu tổng thể xuất phát từ các hoạt động kinh tế và dân sinh
Quốc gia nào không thực hiện chia
sẻ dữ liệu về dòng chảy và chất lượng nước, quốc gia đó sẽ phải đối mặt với tình trạng cực đoan như lũ lụt và hạn hán do thiếu đi các thông tin quan trọng trên lưu vực
Các tổ chức quốc tế, với đại diện đến từ các nước liên quan, cần hỗ trợ điều phối các hoạt động chia sẻ thông tin, giám sát và đánh giá hỗn hợp tài nguyên nước
HIỆP ƯỚC CỦA UNECE VỀ BẢO VỆ VÀ SỬ DỤNG HỒ, NGUỒN NƯỚC QUỐC TẾ VÀ XUYÊN BIÊN GIỚI
Trong khuôn khổ Hiệp ước, nhóm công tác về Giám sát và đánh giá đã thực hiện Hoạt động đánh giá vùng nhằm theo dõi thực trạng tài nguyên nước xuyên biên giới trong vùng UNECE, đẩy nhanh tiến trình và cung cấp nền tảng tiếp tục hợp tác song phương và đa phương Bản đánh giá đầu tiên về Sông, Hồ và Nước ngầm
xuyên biên giới trong vùng UNECE đã được phát hành vào năm 2006, bản thứ 2 vào năm 2011 Các tổ chức ven sông liên quan đến Hiệp ước
có nghĩa vụ phải trao đổi thông tin về số lượng, chất lượng nước mặt và nước dưới đất Các tổ chức này đồng thời phải thiết lập và thực thi chương trình giám sát hỗn hợp và hoạt động đánh giá hỗn hợp hoặc đồng phối hợp
về tình trạng nguồn nước xuyên biên giới (UNECE 2011 II)
CHIA SẺ THÔNG TIN VÀ ĐÁNH GIÁ HỖN HỢP: ĐIỀU KIỆN ĐỂ THÀNH CÔNG
• Có nguồn vốn và hỗ trợ dài hạn
để duy trì bền vững hoạt động giám sát
và đánh giá
• Xây dựng được được hệ thống chất lượng nhằm đảm bảo độ tin cậy của
dữ liệu thu được từ công tác quan trắc
• Thiết lập được các Sắp xếp thể chế cấp xuyên biên giới, quốc gia và địa phương đối với các tổ chức thực hiện hoạt động giám sát và đánh giá hỗn hợp
• Thực hiện tích hợp Chương trình Giám sát và đánh giá hỗn hợp vào các Chương trình giám sát mang tính quốc gia ở các nước ven sông.
Trang 10Các biện pháp giải quyết tranh chấp
Các biên pháp giải quyết tranh
chấp (ADR) là một thuật ngữ
chung sử dụng để định nghĩa
quá trình thiết lập các
phương án tiếp cận cũng như cách
thức trong việc giải quyết các tranh
chấp một cách phi đối đầu như : trọng
tài trung gian, hòa giải, thương lượng
Trong khi các phương án giải quyết
bằng pháp lý có thể dẫn đến một bên
được, một bên mất thì ADR có thể đạt
được phương án cả hai bên cùng có lợi
lâu dài (win-win outcomes for
long-term gain) Các phương án đạt được từ
ADR có thể áp dụng trong bất kì trường
hợp nào phụ thuôc vào hoàn cảnh cụ
thể và bối cảnh của xung đột
Ngay cả các đối thủ thù địch nhau
cũng có khả năng hợp tác với nhau về
nước Hầu hết các nước đều nhận ra
rằng xung đột bạo lực về nước hiếm
khi là sự lựa chọn chiến lược khả thi
hay ít nhất là ít khả khi về mặt kinh tế
HÒA GIẢI
Hòa giải đã trở thành một phương
án khả thi để xét xử và làm trọng tài
trong giải quyết xung đột về tài nguyên
nước Nó đóng vai trò quan trọng trong
việc giải quyết các xung đột trong nội
bộ quốc gia và quốc tế
• Trong quá trình hòa giải thì người
“Hòa Giải” sẽ đóng vai trò trung gian
trong các cuộc thương lượng giữa các
bên
• Những người “Hòa Giải” này
không có một mối liên quan trực tiếp
nào đến xung đột và kết quả của nó
Họ là người quan sát và kiểm soát tiến
trình giải quyết xung đột chứ không
phải kết quả của xung đột
• Mục đích là để đạt được giải pháp
khiến hai bên cùng đồng ý chấp thuận
một thỏa thuận chung
• Các bên đều tự nguyên tham gia
hòa giải
• Mục đích của hòa giải là để khôi
phục và cải thiện mối quan hệ của các
bên tranh chấp
Các bước của quá trình hòa giải:
• Làm rõ xung đột và xác định các bên liên quan chính;
• Thiết lập mối quan hệ khả khi để làm việc;
• Thiết lập các tổ chức và các bên liên quan;
• Xác định các phương án để đạt được mục đích chung;
• Xem xét lợi ích các bên đối lập với nhau theo cách hợp lý nhất;
• Cân nhắc và lựa chọn phương án tiềm năng;
• Đạt được phương án thi hành
Chìa khóa cho cuộc hòa giải thành công:
• Phân chia người đàm phán theo các chủ đề để tránh những cảm xúc chủ quan của các bên;
• Tập trung vào những vấn đề chung chứ không tập trung vào vị trí, mục đích là đạt được những mối quan tâm chính đáng của các bên tham gia;
• Phát triển nhiều phương án lựa chọn, tìm kiếm phương án đạt được lợi ích chung;
• Nhấn mạnh việc sử dụng các tiêu chí khách quan
ĐÀM PHÁN
Đàm phán là một quá trình và các bên tranh chấp thảo luận các phương
án giải quyết chung trực tiếp với nhau
Các bên đưa ra những yêu cầu chung,
tiến hành tranh luận và tiếp tục thảo luận cho đến khi đạt được một phương
án nào đó hay có thể là một bế tắc nào
đó được công bố (Nguồn: Shamir 2003)
PHÂN XỬ
Trong quá trình phân xử một bên khách quan (được chấp nhận bởi các bên tranh chấp) sẽ áp đặt một quyết định sau khi nghe các bên đối chất, thảo luân của các bên có liên quan đến xung đột (Nguồn: Visscher 2008)
ÁP DỤNG CÁC CƠ CHẾ ADR
Một số vấn đề trọng điểm kĩ thuật:
• Xây dựng cơ chế đồng thuận
• Tầm nhìn chung
• Xây dựng kịch bản Một số trọng điểm kĩ năng:
• Kĩ năng truyền thông: tích cực lắng nghe, trao đổi rõ ràng và chính xác
• Thấu hiểu và nhận ra được điểm chính của vấn đề và các bên liên quan
• Khách quan và hợp lý cho cả hai phía
• Khả năng tạo sự tin tưởng
• Tái đinh hình vị trí theo mức quan tâm của mỗi bên
• Đặt những câu hỏi mở
• Phân chia người tham gia theo chủ đề
(nguồn: Shamir 2003, Visscher 2008).