Microsoft Word TT01 15 doc Xuất khẩu cá rô phi sẽ thay thế một phần cá tra Theo Tổng cục Thủy sản, đến hết tháng 11/2014, diện tích nuôi cá rô phi trong ao, hồ đạt 15 992 ha, nuôi lồng bè đạt 410 732[.]
Trang 1Xuất khẩu cá rô phi sẽ
thay thế một phần cá tra
Theo Tổng cục Thủy sản, đến
hết tháng 11/2014, diện tích nuôi
cá rô phi trong ao, hồ đạt 15.992
ha, nuôi lồng bè đạt 410.732 m3,
sản lượng đạt 118.800 tấn Ước
sản lượng nuôi cá rô phi năm
2014 trên cả nước đạt 125.000
tấn, tăng 25% so với cùng kỳ Cá
rô phi hiện đang là đối tượng
nuôi có thị trường tiêu thụ tốt
trong nước và xuất khẩu Gần
đây, một số doanh nghiệp tại An
Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp,
Thanh Hóa đã xuất khẩu sản
phẩm cá rô phi vào thị trường Mỹ
và EU mang lại giá trị xuất khẩu
cao
Năm 2015, mục tiêu diện tích
thả nuôi cá rô phi cả nước đạt
21.000 ha với sản lượng 140.000
tấn, trong đó sản phẩm đủ tiêu
chuẩn xuất khẩu 50.000 tấn và
xuất khẩu 30.000 tấn Đến năm
2020, diện tích nuôi cá rô phi cả
nước đạt 25.000 ha với sản
lượng 200.000 tấn, trong đó sản
lượng đủ tiêu chuẩn xuất khẩu
100.000 tấn và sản lượng xuất
khẩu 80.000 tấn Mới đây, Bộ
NN&PTNT đã xác định ngoài 2
sản phẩm cá tra và tôm, Việt
Nam phấn đấu đưa cá rô phi trở
thành một trong những sản phẩm
xuất khẩu chủ lực với giá trị xuất
khẩu 200 - 300 triệu USD vào
năm 2015 trong chương trình
xuất khẩu thủy sản đến năm
2015 và định hướng đến 2020
Cá rô phi cũng là một trong
những đối tượng chủ lực trong
kế hoạch tái cơ cấu ngành thủy
sản
Để chủ động lên kế hoạch sản xuất và cung cấp đủ cá rô phi đảm bảo chất lượng cho người nuôi trong năm 2015, Tổng cục thủy sản cũng đã có văn bản chỉ đạo Sở NN&PTNT các địa phương tăng cường công tác quản lý chất lượng cá rô phi, xác định nhu cầu cá rô phi giống của địa phương hàng năm để tính toán số lượng đàn cá rô phi bố
mẹ cần thiết cho sản xuất Xác định đàn cá bố mẹ bổ sung hoặc loại bỏ, số lượng cá hậu bị hàng năm nhập về để thay thế cá già cho phù hợp và thống kê tình hình sản xuất và cung ứng cá rô phi tại địa phương
Theo khoahocphothong.com vn, 14/01/15
Thực trạng thực hiện các quy định về đo lường và chất lượng vàng trang sức, mỹ nghệ
Ngày 26/9/2013, Bộ Khoa học
và Công nghệ đã ban hành Thông tư số 22/2013/TT-BKHCN quy định về quản lý đo lường trong kinh doanh vàng và quản lý chất lượng vàng trang sức, mỹ nghệ lưu thông trên thị trường
Qua 02 lần tổ chức hội nghị phổ biến, tuyên truyền các quy định pháp luật về đo lường và chất lượng vàng trang sức, mỹ nghệ vào tháng 5 và tháng 10/2014 cho các cơ sở kinh doanh vàng trang sức, mỹ nghệ;
Chi cục Tiêu chuẩn- Đo lường-
Chất lượng đã phối hợp các
ngành chức năng tiến hành kiểm tra nhà nước về đo lường và chất lượng vàng trang sức, mỹ nghệ lưu thông trên địa bàn tỉnh Tiền Giang từ ngày 10/11/2014 và kết thúc ngày 30/12/2014
Tổng số có 34/258 cơ sở được kiểm tra, trong đó chỉ có
01/33 cơ sở thực hiện đầy đủ, đúng các quy định về đo lường
và chất lượng
Các vi phạm về đo lường chủ yếu là sử dụng cân mua bán vàng không phù hợp quy định về giá trị độ chia kiểm (e) của cân tại các mức cân sử dụng đến 200
g và cân không có cơ cấu niêm
phong hoặc kẹp chì (26/41 cân
không phù hợp, chiếm tỉ lệ 63,4
%); nguyên do cơ sở tiếp tục sử
dụng cân kỹ thuật trước đây (cân
2 số lẻ theo đơn vị gram)
Ngoài ra nội dung không phù hợp là do các chứng chỉ kiểm định không đúng quy định của các tổ chức được chỉ định kiểm định phương tiện đo nhóm 2 cấp cho cơ sở…
Các vi phạm về ghi nhãn hàng hóa vàng trang sức bao gồm: nhãn in đính kèm không có tên hàng hóa; không ghi tên, mã ký hiệu của tổ chức, cá nhân sản xuất; ghi đơn vị đo khối lượng vàng không đúng quy định;
… hoặc không có nhãn in đính kèm hàng hóa; không ghi khắc
mã ký hiệu của tổ chức, cá nhân
sản xuất trên hàng hóa (92/107
mẫu hàng hóa ghi nhãn không
tỉ lệ 86,0 %)
Phần lớn cơ sở chưa thực hiện việc công bố tiêu chuẩn áp dụng đối với vàng trang sức
(103/107 mẫu hàng hóa chưa thực hiện việc công bố tiêu chuẩn
áp dụng, chiếm tỉ lệ 96,3 %) Vì
Thông tư số 22/2013/TT-BKHCN
là văn bản mới ban hành (có hiệu
lực thi hành kể từ ngày 01/06/2014) để quản lý, kiểm
soát về chất lượng đối với vàng trang sức, mỹ nghệ nên các cơ
sở sản xuất, kinh doanh vàng thực hiện chưa đầy đủ, chưa
Số
01/2015
Trang 2đúng quy định và việc công bố
tiêu chuẩn cũng chưa thống nhất
tại các tỉnh, thành
Do đó, để việc triển khai thực
hiện đúng quy định về đo lường
và chất lượng đối với vàng trang
sức, mỹ nghệ cần tăng cường
công tác tuyên truyền, hướng
dẫn thực hiện Thông tư
22/2013/TT-BKHCN cho các cơ
sở kinh doanh vàng; đồng thời
tiếp tục tăng cường công tác
kiểm tra, kiểm soát đối với hoạt
động kinh doanh vàng trên địa
bàn từng bước đưa hoạt động
này đi vào nề nếp
Trần Minh Hùng
Nghiệm thu Chương trình
Hỗ trợ phát triển toàn diện
cây vú sữa Lò Rèn
Vĩnh Kim – Châu Thành
Tiền Giang
Từ tháng 4/2007, Sở Khoa
học & Công nghệ Tiền Giang
được UBND tỉnh giao chủ trì triển
khai chương trình “Hỗ trợ và phát
triển toàn diện Vú sữa Lò Rèn
Vĩnh Kim- Châu Thành- Tiền
Giang” (sau đây gọi là Chương
trình) tại 13 xã của huyện Châu
Thành và 3 xã của huyện Cai Lậy
với mục tiêu xây dựng vùng
chuyên canh cây vú sữa áp dụng
tiêu chuẩn GAP và các giải pháp
khoa học công nghệ tiên tiến để
nâng cao chất lượng, năng suất
phục vụ xuất khẩu và tiêu thụ nội
địa
Chương trình do CN Nguyễn
Văn Châu và ThS Cao Thanh
Hùng đồng chủ nhiệm, gồm 6
hợp phần: Điều tra, khảo sát, xác
định vùng trồng vú sữa Lò Rèn
(Chủ nhiệm: KS Phan Vĩnh
Thân); Áp dụng những tiến bộ kỹ
thuật vào sản xuất vú sữa Lò
Rèn Vĩnh Kim nhằm nâng cao
năng suất, sản lượng, chất lượng
an toàn theo tiêu chuẩn GAP
(Chủ nhiệm: KS Trần Thị Bạch
Vân); Biện pháp quản lý bệnh
thối rễ chết cành, rễ tre trên
vườn vú sữa Lò Rèn Vĩnh Kim
(Chủ nhiệm: ThS Nguyễn Thành
Hiếu); Nhân rộng và phát triển
mô hình GAP trên vú sữa Lò Rèn
Vĩnh Kim (Chủ nhiệm: TS
Nguyễn Hồng Thủy); Nghiên cứu
xây dựng và chuyển giao quy
trình thu hoạch, bảo quản trái vú
sữa tươi để xuất khẩu (Chủ nhiệm: KS Nguyễn Ngữ); Hỗ trợ đăng ký nhãn hiệu, xuất xứ hàng hóa, chỉ dẫn địa lý vùng vú sữa
Lò Rèn Vĩnh Kim (Chủ nhiệm:
KS.Ngô Kỷ)
Trên diện tích khoảng 2.230ha, cùng với sự năng động của nhà vườn, sự quan tâm của nhà nước và các nhà khoa học, trái vú sữa đã có một vị thế nhất định trên thị trường trái cây trong nước và đã được nhà nước cấp nhãn hiệu hàng hóa tập thể “Vú sữa Lò Rèn Vĩnh Kim” thời hạn
10 năm (Giấy chứng nhận số A7288/QĐ-ĐK ngày 8/7/2005)
Sau 7 năm thực hiện, Chương trình đã đạt được những kết quả như sau: Xác định được vùng trồng đặc trưng; Xác định được 3 cây đầu dòng (sắp tới công nhận vườn cây đầu dòng); Áp dụng kỹ thuật mới, tiên tiến; Đạt Chứng nhận GlobalG.A.P; và Phát triển chỉ dẫn địa lý Đây là công sức
và trí tuệ rất lớn của các đối tượng tham gia
Bên cạnh đó, đây là loại cây đầu tiên đạt chứng nhận GlobalG.A.P, là cơ sở ban đầu
để phát triển các loại cây trồng khác; đồng thời giúp người dân ý thức được đây là tiêu chuẩn thế giới quy định
Chương trình đạt mục tiêu tổng thể, chi tiết, thực hiện đúng các nội dung, mang lại hiệu quả kinh tế xã hội cho vùng Tuy vẫn còn hạn chế do thực tế triển khai năng lực HTX chưa đáp ứng được yêu cầu và chưa có được
sự tham gia phối hợp của các doanh nghiệp
Chương trình được Hội đồng Khoa học và Công nghệ tỉnh đánh giá xếp loại B và giao cho Phòng Nông nghiệp & PTNT các huyện Châu Thành và Cai Lậy ứng dụng; Sở Nông nghiệp &
PTNT phối hợp với Sở Khoa học
& Công nghệ mời gọi doanh nghiệp cùng hợp tác, củng cố hợp tác xã
Lê Ngọc
Xây dựng mô hình nhân rộng kỹ thuật sản xuất gà ta Gò Công
Ngày 22/01/2015 Hội đồng Khoa học và Công nghệ thị xã
Gò Công đã tiến hành nghiệm
thu dự án: “Xây dựng mô hình nhân rộng kỹ thuật sản xuất gà ta
Gò Công trên địa bàn xã Bình Xuân, thị xã Gò Công”, do Hợp tác xã Chăn nuôi và Thủy sản Gò Công chủ trì, KS Nguyễn Quốc Kiệt làm chủ nhiệm
Với mục tiêu triển khai mô hình chăn nuôi an toàn theo chuỗi giá trị đến các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ từ cung cấp đầu vào như con giống, thuốc thú y, thức ăn, dịch vụ thú y… đến cung cấp đầu
ra là bao tiêu sản phẩm; Tổ chức chăn nuôi bền vững, ổn định trên
cơ sở chủ động nâng cao chất lượng, số lượng dồi dào, nâng cao hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi
Dự án đã triển khai thực hiện quy trình sản xuất bao gồm chăm sóc gà, tiêm phòng, thực hiện công tác dịch vụ thú y, kỹ thuật cho ăn tại ấp 6 và Thành Nhì,
xã Bình xuân, thị xã Gò Công Tổng diện tích chuồng trại và sân chơi triển khai thực hiện dự án 3.600 m2 với 08 hộ chăn nuôi tham gia
- Trong công tác sản xuất giống, con giống đã đáp ứng được các nhu cầu về năng suất, chất lượng, khả năng kháng bệnh, giá thành sản phẩm Sản phẩm dự án có đủ các tiêu chí, đảm bảo chất lượng, số lượng dồi dào, giá cả hợp lý và có
thương hiệu trên thị trường
- Dự án đã tác động đến sự thay đổi tư duy của người chăn nuôi từ tư tưởng chăn nuôi theo hình thức nông hộ, cá thể, tự do tùy tiện, không đảm bảo dịch bệnh sang tư tưởng chăn nuôi theo hướng hợp tác chú trọng đến an toàn dịch bệnh, đến môi trường và an toàn vệ sinh thực
phẩm
Sau hơn 1 năm thực hiện, dự
án đạt được những kết quả sau: Tạo nguồn giống có nguồn gốc bản địa, phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng và gà thương phẩm có chất lượng thịt ngon, dễ tìm đầu ra, điều kiện nuôi ít tốn kém, không có tồn dư chất kích
thích và kháng sinh Quy trình
chăn nuôi dễ áp dụng trong thực
tiễn sản xuất
Lợi nhuận đạt được trong nuôi thương phẩm là 20.000.000đ /
1.000 con
Trang 3Dự án đã có những tác động
tích cực về mặt xã hội: Tạo việc
làm cho người dân, tăng thu
nhập cho nông hộ; Quản lý dịch
bệnh trên gà đạt hiệu quả cao;
Cung cấp cho thị trường con
giống gà và gà thương phẩm
chất lượng cao…
Hội đồng thống nhất nghiệm
thu dự án và giao cho Trạm
Khuyến nông Thị xã Gò Công
ứng dụng
ThS Hồ Thị Giàu
Sản xuất thủy canh
trong nông nghiệp đô thị
Hiện nay, vấn đề vệ sinh an
toàn thực phẩm, nguy cơ tồn dư
thuốc bảo vệ thực vật trên rau
xanh vẫn là mối quan tâm hàng
đầu của cư dân đô thị Với mong
muốn tự sản xuất nguồn rau cho
gia đình, nhiều hộ dân tại các đô
thị đã tự tay chăm bón, sản xuất
rau ngay chính mảnh vườn mà
mình thiết kế, xây dựng Với các
khoảng không gian nhỏ hẹp như
ban công, sân thượng,… người
dân có thể tự trồng, chăm sóc và
chủ động được nguồn rau xanh,
sạch, an toàn cho gia đình của
mình
Sản xuất rau bằng phương
pháp thủy canh là một hướng đi
phù hợp với chương trình sản
xuất nông nghiệp đô thị hiện nay
Sản xuất rau bằng phương pháp
thủy canh tại nhà tuy còn khá xa
lạ với người dân tại các đô thị
nhưng nhìn chung đây là hướng
đi chiến lược cho sự phát triển
nhanh, bền vững của các đô thị
trong tiến trình đô thị hóa hiện
nay của nước ta
Việc xây dựng hệ thống thủy
canh tại nhà góp phần cung ứng
nguồn lương thực, thực phẩm
tươi sống tại chỗ cho gia đình tại
các đô thị Những lo ngại về dư
lượng các chất hóa học trong
sản phẩm được đảm bảo khi
người sản xuất cũng chính là
người sử dụng chúng Hình thức
sản xuất thủy canh tại hộ gia
đình sẽ tạo không gian xanh cho
đô thị và “đô thị xanh” là cụm từ
sẽ trở nên phổ biến hơn khi môi
trường sống và cảnh quan trở
nên thân thiện với nhiên nhiên,
đảm bảo các tiêu chuẩn tốt cho
sức khỏe cộng đồng
Nắm bắt nhu cầu phát triển sản xuất nông nghiệp tại các đô thị, Trung tâm Kỹ thuật và Công nghệ Sinh học Tiền Giang không ngừng tiếp nhận, thử nghiệm các
kỹ thuật, xây dựng các mô hình thí điểm sản xuất thủy canh nhằm có thể chuyển giao các kết quả đạt chất lượng tốt nhất đến người dân vì sự phát triển cuộc sống của xã hội
Sản xuất nông nghiệp đô thị nói chung và sản xuất bằng phương pháp thủy canh nói riêng một mặt vừa đảm bảo các nhu cầu về dinh dưỡng, mặt khác nó cũng chính là một hình thức lao động, giải trí góp phần nâng cao thể lực, trí lực cho cư dân đô thị
Mặc dù mức độ phát triển chưa cao, chưa toàn diện, hi vọng nông nghiệp đô thị sẽ phát triển mạnh mẽ góp phần vào sự phát triển nông nghiệp bền vững của nước nhà
Trần Phong
Trẻ hóa cho cây ăn trái
Việc tiến hành trẻ hóa (hay còn gọi là đốn tái sinh) cho cây
ăn trái được thực hiện khi tán cây quá lớn, khả năng sinh trưởng và cho năng suất kém hay khi cây già cỗi Thời gian trẻ hóa có thể kéo dài trong 3-4 năm
Đốn tái sinh cây ăn trái có những ưu điểm là cây mau cho trái, năng suất cao và ổn định hơn so với cây trồng mới Công tác trẻ hóa được thực hiện như sau:
- Kỹ thuật cưa đốn: Cắt ngang thân chính ở độ cao 1,0 – 1,5 m, nghiêng góc 45o để tránh đọng nước, hạn chế sự gây hại của nấm bệnh Nên giữ lại một số cành nhỏ có là để quang hợp cho cây ra cành mới
- Thời kỳ cưa đốn: Nên cưa đốn trong mùa khô, cây trong thời kỳ nghỉ, dự trữ nhiều chất dinh dưỡng, khả năng phát triển chồi mới sẽ mạnh hơn Ngoài ra, trong mùa khô vết cắt cũng ít bị gây hại bởi nấm bệnh
- Tuyển chồi: Sau khi cưa đốn thân chính, cây sẽ ra rất nhiều đọt, nên tuyển lại một vài chồi khỏe nhất để nuôi cho phát triển thành thân mới
Biện pháp trẻ hóa hay đốn tái sinh có thể áp dụng trên một số cây có mầm ngủ phát triển tốt như cây có múi, nhãn, xoài, chôm chôm, vú sữa
Cây có màm ngủ phát triển kém như mít, bòn bon, măng cụt, sầu riêng,… không nên đốn tái sinh
Hiện nay, phương pháp trẻ hóa trên cây nhãn tiêu da bò còn
là biện pháp để nông dân loại bỏ cành bị bệnh chổi rồng trên cây nhãn
Lê Ngọc
Những khó khăn khi
áp dụng sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP trên cây trồng
Có thể khẳng định, định hướng phát triển sản xuất cây trồng theo tiêu chuẩn VietGAP là chủ trương đúng đắn của Nhà nước trong bối cảnh xu thế toàn cầu hóa hiện nay Khi mức sống của người dân tăng cao, các yêu cầu về chất lượng, an toàn sản phẩm, bảo vệ môi trường và an toàn cho người lao động ngày càng tăng và VietGAP là mô hình sản xuất đáp ứng yêu cầu đó
Tuy nhiên, từ thực tế tại các
mô hình áp dụng theo tiêu chuẩn VietGAP cho thấy, người dân chưa thật sự mặn mà với hoạt động canh tác theo tiêu chuẩn VietGAP Do thị trường chưa phân định được giá trị của sản phẩm VietGAP so với sản phẩm khác nên hoạt động sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP chưa đáp ứng như mong đợi cả về quy
mô sản xuất, chất lượng sản phẩm và khả năng duy trì hoạt động sản xuất
Sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP đòi hỏi hộ sản xuất phải ghi chép đầy đủ, thật chi tiết các thông tin liên quan đến hoạt động sản xuất như ghi chép hồ sơ sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật,…Tuy nhiên, các hộ chưa có thói quen ghi chép nên
hồ sơ ghi chép thường thiếu sót, không đầy đủ và thiếu chính xác Các hộ chưa cập nhật hồ sơ sau khi thực hiện công việc hoặc không quan tâm đến
Nhận thức của phần lớn nhà sản xuất về tầm quan trọng đối
Trang 4với an toàn sức khỏe người tiêu
dùng cũng như bản thân chưa
cao là một thách thức lớn cho
việc áp dụng tiêu chuẩn VietGAP
vào sản xuất Việc sử dụng hóa
chất nông nghiệp vào ruộng đồng
vẫn còn cao và chưa tuân thủ
nghiêm ngặt các yêu cầu của tiêu
chuẩn VietGAP về cách li sản
phẩm, bảo vệ sức khỏe người
lao động, môi trường…
Khó khăn lớn nhất là các mô
hình sản xuất theo tiêu chuẩn
VietGAP đang thiếu “bà đỡ” cho
sản phẩm sau khi được chứng
nhận Các hợp tác xã, hộ sản
xuất vẫn loay hoay tìm đầu ra
cho sản phẩm Đầu ra không có,
giá cả thấp khiến người sản xuất
dễ trở nên chán nản với hoạt
động sản xuất theo tiêu chuẩn
VietGAP Do đó, sản xuất theo
tiêu chuẩn VietGAP chưa thật sự
phát huy hiệu quả để có thể mở
rộng vùng sản xuất
Để tháo gỡ những khó khăn
trên đòi hỏi phải có sự vào cuộc
tích cực của các ban ngành, cơ
quan, chức năng, tổ chức liên
quan định hướng chiến lược
dòng sản phẩm đạt chất lượng
nhằm ổn định đầu ra với giá cao
tại các siêu thị, tạo niềm tin và
động lực cho các hộ dân sản
xuất
Trần Phong
“Kỹ sư chân đất”
khắc phục bệnh thối gốc
xì mủ trên cây sầu riêng
Sầu riêng là cây cho giá trị
kinh tế cao, tuy nhiên, nhà vườn
trồng sầu riêng luôn đối mặt với
bệnh thối gốc xì mủ - loại bệnh
hại nguy hiểm nhất có thể làm
cây chết hàng loạt
Là nông dân có kinh nghiệm trồng sầu riêng gần 20 năm, với bao phen thăng trầm vì bệnh và thất mùa, anh Lê Văn Hiền (ấp Sơn Lân, xã Sơn Định, huyện Chợ Lách, Bến Tre) nắm được
“bài thuốc” phòng trị bệnh thối gốc xì mủ, phục hồi lại vườn sầu riêng, được nông dân trong và ngoài tỉnh biết đến như “bác sĩ cây trồng”, “kỹ sư chân đất”
Anh cho biết, cây cũng giống như người, khi đề kháng kém thì bệnh dễ tấn công Những cây sầu riêng bệnh thường do bón phân không cân đối, bón nhiều phân hóa học… Bệnh thối gốc xì
mủ chủ yếu là do nấm Phytophthora gây ra, loại nấm này phát triển tháng mưa, khi vừa chuyển sang mùa khô, trời lạnh thì bệnh xuất hiện trên thân
Cây sầu riêng rất nhạy cảm với thời tiết, gặp yếu tố bất lợi thì bệnh phát triển rất nhanh Vì vậy,
để phòng bệnh xì mủ, theo anh Hiền, thì nông dân phải áp dụng quy trình canh tác bền vững, mô đất trồng cao ráo, bón nhiều phân hữu cơ… Khi cây bị bệnh xì
mủ, tùy mức độ nặng nhẹ mà áp dụng cách điều trị
Anh Hiền chia sẻ “bí quyết”, cây bệnh như cơ thể yếu nên vừa cho uống thuốc vừa cung cấp dinh dưỡng thì cây nhanh hết hơn so với chỉ sử dụng thuốc trị bệnh Vì vậy, kinh nghiệm của anh là điều trị song song Bài thuốc anh chọn đó là sử dụng phân hữu cơ Vina Super Humate (Công ty TNHH Hoàng Đại) kết hợp với loại thuốc trị bệnh phổ
thông trên thị trường Pha chung hai loại với nhau rồi phun 2 lần, mỗi lần cách nhau 5 ngày Khi cây đứng bệnh thì tiếp tục phun Vina Super Humate kết hợp tưới gốc 7 ngày/lần cây sẽ phục hồi nhanh chóng Với những vườn sầu riêng suy yếu, để phòng ngừa bệnh, trước khi xử lý
ra hoa 20 - 30 ngày thì pha Vina Super Humate với thuốc trừ bệnh
xử lý một lần
Ngoài khả năng phục hồi, phân hữu cơ Vina Super Humate còn được anh Hiền áp dụng tăng sức cho cây và “giải độc” chất Paclobutrazol (dùng xử lý ra hoa trên sầu riêng) Anh Hiền cho biết, Paclo gây ức chế để cây sầu riêng ra hoa nhưng để lại hậu quả nặng nề, nếu không “giải độc” kịp thời, vườn cây có nguy
cơ suy kiệt nhanh và chết dần chỉ sau vài mùa xử lý Cách tốt nhất
là phải “giải” chất độc tồn dư, trong đó phân hữu cơ Vina Super Humate được xem là giải pháp rất hữu hiệu Sau khi xử lý cây hoa xong thì sử dụng phân này tưới gốc kết hợp phun lá
Anh Hiền có khả năng nhìn cây chẩn đoán bệnh, cũng như khuyến cáo nông dân sử dụng phân, thuốc gì để điều trị cho cây hiệu quả Nhờ vậy mà nông dân trong vùng hay gọi anh là “bác sĩ sầu riêng”, “kỹ sư chân đất” Niềm vui lớn của anh chính là nhìn thấy nhiều vườn sầu riêng
xì mủ được phục hồi, vườn cây suy kiệt mất mùa được xanh tốt trở lại và cho năng suất gấp đôi
Trích khoahocphothong.com vn, 09/01/15