1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

TT01-15

4 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 202,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Microsoft Word TT01 15 doc Xuất khẩu cá rô phi sẽ thay thế một phần cá tra Theo Tổng cục Thủy sản, đến hết tháng 11/2014, diện tích nuôi cá rô phi trong ao, hồ đạt 15 992 ha, nuôi lồng bè đạt 410 732[.]

Trang 1

Xuất khẩu cá rô phi sẽ

thay thế một phần cá tra

Theo Tổng cục Thủy sản, đến

hết tháng 11/2014, diện tích nuôi

cá rô phi trong ao, hồ đạt 15.992

ha, nuôi lồng bè đạt 410.732 m3,

sản lượng đạt 118.800 tấn Ước

sản lượng nuôi cá rô phi năm

2014 trên cả nước đạt 125.000

tấn, tăng 25% so với cùng kỳ Cá

rô phi hiện đang là đối tượng

nuôi có thị trường tiêu thụ tốt

trong nước và xuất khẩu Gần

đây, một số doanh nghiệp tại An

Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp,

Thanh Hóa đã xuất khẩu sản

phẩm cá rô phi vào thị trường Mỹ

và EU mang lại giá trị xuất khẩu

cao

Năm 2015, mục tiêu diện tích

thả nuôi cá rô phi cả nước đạt

21.000 ha với sản lượng 140.000

tấn, trong đó sản phẩm đủ tiêu

chuẩn xuất khẩu 50.000 tấn và

xuất khẩu 30.000 tấn Đến năm

2020, diện tích nuôi cá rô phi cả

nước đạt 25.000 ha với sản

lượng 200.000 tấn, trong đó sản

lượng đủ tiêu chuẩn xuất khẩu

100.000 tấn và sản lượng xuất

khẩu 80.000 tấn Mới đây, Bộ

NN&PTNT đã xác định ngoài 2

sản phẩm cá tra và tôm, Việt

Nam phấn đấu đưa cá rô phi trở

thành một trong những sản phẩm

xuất khẩu chủ lực với giá trị xuất

khẩu 200 - 300 triệu USD vào

năm 2015 trong chương trình

xuất khẩu thủy sản đến năm

2015 và định hướng đến 2020

Cá rô phi cũng là một trong

những đối tượng chủ lực trong

kế hoạch tái cơ cấu ngành thủy

sản

Để chủ động lên kế hoạch sản xuất và cung cấp đủ cá rô phi đảm bảo chất lượng cho người nuôi trong năm 2015, Tổng cục thủy sản cũng đã có văn bản chỉ đạo Sở NN&PTNT các địa phương tăng cường công tác quản lý chất lượng cá rô phi, xác định nhu cầu cá rô phi giống của địa phương hàng năm để tính toán số lượng đàn cá rô phi bố

mẹ cần thiết cho sản xuất Xác định đàn cá bố mẹ bổ sung hoặc loại bỏ, số lượng cá hậu bị hàng năm nhập về để thay thế cá già cho phù hợp và thống kê tình hình sản xuất và cung ứng cá rô phi tại địa phương

Theo khoahocphothong.com vn, 14/01/15

Thực trạng thực hiện các quy định về đo lường và chất lượng vàng trang sức, mỹ nghệ

Ngày 26/9/2013, Bộ Khoa học

và Công nghệ đã ban hành Thông tư số 22/2013/TT-BKHCN quy định về quản lý đo lường trong kinh doanh vàng và quản lý chất lượng vàng trang sức, mỹ nghệ lưu thông trên thị trường

Qua 02 lần tổ chức hội nghị phổ biến, tuyên truyền các quy định pháp luật về đo lường và chất lượng vàng trang sức, mỹ nghệ vào tháng 5 và tháng 10/2014 cho các cơ sở kinh doanh vàng trang sức, mỹ nghệ;

Chi cục Tiêu chuẩn- Đo lường-

Chất lượng đã phối hợp các

ngành chức năng tiến hành kiểm tra nhà nước về đo lường và chất lượng vàng trang sức, mỹ nghệ lưu thông trên địa bàn tỉnh Tiền Giang từ ngày 10/11/2014 và kết thúc ngày 30/12/2014

Tổng số có 34/258 cơ sở được kiểm tra, trong đó chỉ có

01/33 cơ sở thực hiện đầy đủ, đúng các quy định về đo lường

và chất lượng

Các vi phạm về đo lường chủ yếu là sử dụng cân mua bán vàng không phù hợp quy định về giá trị độ chia kiểm (e) của cân tại các mức cân sử dụng đến 200

g và cân không có cơ cấu niêm

phong hoặc kẹp chì (26/41 cân

không phù hợp, chiếm tỉ lệ 63,4

%); nguyên do cơ sở tiếp tục sử

dụng cân kỹ thuật trước đây (cân

2 số lẻ theo đơn vị gram)

Ngoài ra nội dung không phù hợp là do các chứng chỉ kiểm định không đúng quy định của các tổ chức được chỉ định kiểm định phương tiện đo nhóm 2 cấp cho cơ sở…

Các vi phạm về ghi nhãn hàng hóa vàng trang sức bao gồm: nhãn in đính kèm không có tên hàng hóa; không ghi tên, mã ký hiệu của tổ chức, cá nhân sản xuất; ghi đơn vị đo khối lượng vàng không đúng quy định;

… hoặc không có nhãn in đính kèm hàng hóa; không ghi khắc

mã ký hiệu của tổ chức, cá nhân

sản xuất trên hàng hóa (92/107

mẫu hàng hóa ghi nhãn không

tỉ lệ 86,0 %)

Phần lớn cơ sở chưa thực hiện việc công bố tiêu chuẩn áp dụng đối với vàng trang sức

(103/107 mẫu hàng hóa chưa thực hiện việc công bố tiêu chuẩn

áp dụng, chiếm tỉ lệ 96,3 %) Vì

Thông tư số 22/2013/TT-BKHCN

là văn bản mới ban hành (có hiệu

lực thi hành kể từ ngày 01/06/2014) để quản lý, kiểm

soát về chất lượng đối với vàng trang sức, mỹ nghệ nên các cơ

sở sản xuất, kinh doanh vàng thực hiện chưa đầy đủ, chưa

Số

01/2015

Trang 2

đúng quy định và việc công bố

tiêu chuẩn cũng chưa thống nhất

tại các tỉnh, thành

Do đó, để việc triển khai thực

hiện đúng quy định về đo lường

và chất lượng đối với vàng trang

sức, mỹ nghệ cần tăng cường

công tác tuyên truyền, hướng

dẫn thực hiện Thông tư

22/2013/TT-BKHCN cho các cơ

sở kinh doanh vàng; đồng thời

tiếp tục tăng cường công tác

kiểm tra, kiểm soát đối với hoạt

động kinh doanh vàng trên địa

bàn từng bước đưa hoạt động

này đi vào nề nếp

Trần Minh Hùng

Nghiệm thu Chương trình

Hỗ trợ phát triển toàn diện

cây vú sữa Lò Rèn

Vĩnh Kim – Châu Thành

Tiền Giang

Từ tháng 4/2007, Sở Khoa

học & Công nghệ Tiền Giang

được UBND tỉnh giao chủ trì triển

khai chương trình “Hỗ trợ và phát

triển toàn diện Vú sữa Lò Rèn

Vĩnh Kim- Châu Thành- Tiền

Giang” (sau đây gọi là Chương

trình) tại 13 xã của huyện Châu

Thành và 3 xã của huyện Cai Lậy

với mục tiêu xây dựng vùng

chuyên canh cây vú sữa áp dụng

tiêu chuẩn GAP và các giải pháp

khoa học công nghệ tiên tiến để

nâng cao chất lượng, năng suất

phục vụ xuất khẩu và tiêu thụ nội

địa

Chương trình do CN Nguyễn

Văn Châu và ThS Cao Thanh

Hùng đồng chủ nhiệm, gồm 6

hợp phần: Điều tra, khảo sát, xác

định vùng trồng vú sữa Lò Rèn

(Chủ nhiệm: KS Phan Vĩnh

Thân); Áp dụng những tiến bộ kỹ

thuật vào sản xuất vú sữa Lò

Rèn Vĩnh Kim nhằm nâng cao

năng suất, sản lượng, chất lượng

an toàn theo tiêu chuẩn GAP

(Chủ nhiệm: KS Trần Thị Bạch

Vân); Biện pháp quản lý bệnh

thối rễ chết cành, rễ tre trên

vườn vú sữa Lò Rèn Vĩnh Kim

(Chủ nhiệm: ThS Nguyễn Thành

Hiếu); Nhân rộng và phát triển

mô hình GAP trên vú sữa Lò Rèn

Vĩnh Kim (Chủ nhiệm: TS

Nguyễn Hồng Thủy); Nghiên cứu

xây dựng và chuyển giao quy

trình thu hoạch, bảo quản trái vú

sữa tươi để xuất khẩu (Chủ nhiệm: KS Nguyễn Ngữ); Hỗ trợ đăng ký nhãn hiệu, xuất xứ hàng hóa, chỉ dẫn địa lý vùng vú sữa

Lò Rèn Vĩnh Kim (Chủ nhiệm:

KS.Ngô Kỷ)

Trên diện tích khoảng 2.230ha, cùng với sự năng động của nhà vườn, sự quan tâm của nhà nước và các nhà khoa học, trái vú sữa đã có một vị thế nhất định trên thị trường trái cây trong nước và đã được nhà nước cấp nhãn hiệu hàng hóa tập thể “Vú sữa Lò Rèn Vĩnh Kim” thời hạn

10 năm (Giấy chứng nhận số A7288/QĐ-ĐK ngày 8/7/2005)

Sau 7 năm thực hiện, Chương trình đã đạt được những kết quả như sau: Xác định được vùng trồng đặc trưng; Xác định được 3 cây đầu dòng (sắp tới công nhận vườn cây đầu dòng); Áp dụng kỹ thuật mới, tiên tiến; Đạt Chứng nhận GlobalG.A.P; và Phát triển chỉ dẫn địa lý Đây là công sức

và trí tuệ rất lớn của các đối tượng tham gia

Bên cạnh đó, đây là loại cây đầu tiên đạt chứng nhận GlobalG.A.P, là cơ sở ban đầu

để phát triển các loại cây trồng khác; đồng thời giúp người dân ý thức được đây là tiêu chuẩn thế giới quy định

Chương trình đạt mục tiêu tổng thể, chi tiết, thực hiện đúng các nội dung, mang lại hiệu quả kinh tế xã hội cho vùng Tuy vẫn còn hạn chế do thực tế triển khai năng lực HTX chưa đáp ứng được yêu cầu và chưa có được

sự tham gia phối hợp của các doanh nghiệp

Chương trình được Hội đồng Khoa học và Công nghệ tỉnh đánh giá xếp loại B và giao cho Phòng Nông nghiệp & PTNT các huyện Châu Thành và Cai Lậy ứng dụng; Sở Nông nghiệp &

PTNT phối hợp với Sở Khoa học

& Công nghệ mời gọi doanh nghiệp cùng hợp tác, củng cố hợp tác xã

Lê Ngọc

Xây dựng mô hình nhân rộng kỹ thuật sản xuất gà ta Gò Công

Ngày 22/01/2015 Hội đồng Khoa học và Công nghệ thị xã

Gò Công đã tiến hành nghiệm

thu dự án: “Xây dựng mô hình nhân rộng kỹ thuật sản xuất gà ta

Gò Công trên địa bàn xã Bình Xuân, thị xã Gò Công”, do Hợp tác xã Chăn nuôi và Thủy sản Gò Công chủ trì, KS Nguyễn Quốc Kiệt làm chủ nhiệm

Với mục tiêu triển khai mô hình chăn nuôi an toàn theo chuỗi giá trị đến các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ từ cung cấp đầu vào như con giống, thuốc thú y, thức ăn, dịch vụ thú y… đến cung cấp đầu

ra là bao tiêu sản phẩm; Tổ chức chăn nuôi bền vững, ổn định trên

cơ sở chủ động nâng cao chất lượng, số lượng dồi dào, nâng cao hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi

Dự án đã triển khai thực hiện quy trình sản xuất bao gồm chăm sóc gà, tiêm phòng, thực hiện công tác dịch vụ thú y, kỹ thuật cho ăn tại ấp 6 và Thành Nhì,

xã Bình xuân, thị xã Gò Công Tổng diện tích chuồng trại và sân chơi triển khai thực hiện dự án 3.600 m2 với 08 hộ chăn nuôi tham gia

- Trong công tác sản xuất giống, con giống đã đáp ứng được các nhu cầu về năng suất, chất lượng, khả năng kháng bệnh, giá thành sản phẩm Sản phẩm dự án có đủ các tiêu chí, đảm bảo chất lượng, số lượng dồi dào, giá cả hợp lý và có

thương hiệu trên thị trường

- Dự án đã tác động đến sự thay đổi tư duy của người chăn nuôi từ tư tưởng chăn nuôi theo hình thức nông hộ, cá thể, tự do tùy tiện, không đảm bảo dịch bệnh sang tư tưởng chăn nuôi theo hướng hợp tác chú trọng đến an toàn dịch bệnh, đến môi trường và an toàn vệ sinh thực

phẩm

Sau hơn 1 năm thực hiện, dự

án đạt được những kết quả sau: Tạo nguồn giống có nguồn gốc bản địa, phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng và gà thương phẩm có chất lượng thịt ngon, dễ tìm đầu ra, điều kiện nuôi ít tốn kém, không có tồn dư chất kích

thích và kháng sinh Quy trình

chăn nuôi dễ áp dụng trong thực

tiễn sản xuất

Lợi nhuận đạt được trong nuôi thương phẩm là 20.000.000đ /

1.000 con

Trang 3

Dự án đã có những tác động

tích cực về mặt xã hội: Tạo việc

làm cho người dân, tăng thu

nhập cho nông hộ; Quản lý dịch

bệnh trên gà đạt hiệu quả cao;

Cung cấp cho thị trường con

giống gà và gà thương phẩm

chất lượng cao…

Hội đồng thống nhất nghiệm

thu dự án và giao cho Trạm

Khuyến nông Thị xã Gò Công

ứng dụng

ThS Hồ Thị Giàu

Sản xuất thủy canh

trong nông nghiệp đô thị

Hiện nay, vấn đề vệ sinh an

toàn thực phẩm, nguy cơ tồn dư

thuốc bảo vệ thực vật trên rau

xanh vẫn là mối quan tâm hàng

đầu của cư dân đô thị Với mong

muốn tự sản xuất nguồn rau cho

gia đình, nhiều hộ dân tại các đô

thị đã tự tay chăm bón, sản xuất

rau ngay chính mảnh vườn mà

mình thiết kế, xây dựng Với các

khoảng không gian nhỏ hẹp như

ban công, sân thượng,… người

dân có thể tự trồng, chăm sóc và

chủ động được nguồn rau xanh,

sạch, an toàn cho gia đình của

mình

Sản xuất rau bằng phương

pháp thủy canh là một hướng đi

phù hợp với chương trình sản

xuất nông nghiệp đô thị hiện nay

Sản xuất rau bằng phương pháp

thủy canh tại nhà tuy còn khá xa

lạ với người dân tại các đô thị

nhưng nhìn chung đây là hướng

đi chiến lược cho sự phát triển

nhanh, bền vững của các đô thị

trong tiến trình đô thị hóa hiện

nay của nước ta

Việc xây dựng hệ thống thủy

canh tại nhà góp phần cung ứng

nguồn lương thực, thực phẩm

tươi sống tại chỗ cho gia đình tại

các đô thị Những lo ngại về dư

lượng các chất hóa học trong

sản phẩm được đảm bảo khi

người sản xuất cũng chính là

người sử dụng chúng Hình thức

sản xuất thủy canh tại hộ gia

đình sẽ tạo không gian xanh cho

đô thị và “đô thị xanh” là cụm từ

sẽ trở nên phổ biến hơn khi môi

trường sống và cảnh quan trở

nên thân thiện với nhiên nhiên,

đảm bảo các tiêu chuẩn tốt cho

sức khỏe cộng đồng

Nắm bắt nhu cầu phát triển sản xuất nông nghiệp tại các đô thị, Trung tâm Kỹ thuật và Công nghệ Sinh học Tiền Giang không ngừng tiếp nhận, thử nghiệm các

kỹ thuật, xây dựng các mô hình thí điểm sản xuất thủy canh nhằm có thể chuyển giao các kết quả đạt chất lượng tốt nhất đến người dân vì sự phát triển cuộc sống của xã hội

Sản xuất nông nghiệp đô thị nói chung và sản xuất bằng phương pháp thủy canh nói riêng một mặt vừa đảm bảo các nhu cầu về dinh dưỡng, mặt khác nó cũng chính là một hình thức lao động, giải trí góp phần nâng cao thể lực, trí lực cho cư dân đô thị

Mặc dù mức độ phát triển chưa cao, chưa toàn diện, hi vọng nông nghiệp đô thị sẽ phát triển mạnh mẽ góp phần vào sự phát triển nông nghiệp bền vững của nước nhà

Trần Phong

Trẻ hóa cho cây ăn trái

Việc tiến hành trẻ hóa (hay còn gọi là đốn tái sinh) cho cây

ăn trái được thực hiện khi tán cây quá lớn, khả năng sinh trưởng và cho năng suất kém hay khi cây già cỗi Thời gian trẻ hóa có thể kéo dài trong 3-4 năm

Đốn tái sinh cây ăn trái có những ưu điểm là cây mau cho trái, năng suất cao và ổn định hơn so với cây trồng mới Công tác trẻ hóa được thực hiện như sau:

- Kỹ thuật cưa đốn: Cắt ngang thân chính ở độ cao 1,0 – 1,5 m, nghiêng góc 45o để tránh đọng nước, hạn chế sự gây hại của nấm bệnh Nên giữ lại một số cành nhỏ có là để quang hợp cho cây ra cành mới

- Thời kỳ cưa đốn: Nên cưa đốn trong mùa khô, cây trong thời kỳ nghỉ, dự trữ nhiều chất dinh dưỡng, khả năng phát triển chồi mới sẽ mạnh hơn Ngoài ra, trong mùa khô vết cắt cũng ít bị gây hại bởi nấm bệnh

- Tuyển chồi: Sau khi cưa đốn thân chính, cây sẽ ra rất nhiều đọt, nên tuyển lại một vài chồi khỏe nhất để nuôi cho phát triển thành thân mới

Biện pháp trẻ hóa hay đốn tái sinh có thể áp dụng trên một số cây có mầm ngủ phát triển tốt như cây có múi, nhãn, xoài, chôm chôm, vú sữa

Cây có màm ngủ phát triển kém như mít, bòn bon, măng cụt, sầu riêng,… không nên đốn tái sinh

Hiện nay, phương pháp trẻ hóa trên cây nhãn tiêu da bò còn

là biện pháp để nông dân loại bỏ cành bị bệnh chổi rồng trên cây nhãn

Lê Ngọc

Những khó khăn khi

áp dụng sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP trên cây trồng

Có thể khẳng định, định hướng phát triển sản xuất cây trồng theo tiêu chuẩn VietGAP là chủ trương đúng đắn của Nhà nước trong bối cảnh xu thế toàn cầu hóa hiện nay Khi mức sống của người dân tăng cao, các yêu cầu về chất lượng, an toàn sản phẩm, bảo vệ môi trường và an toàn cho người lao động ngày càng tăng và VietGAP là mô hình sản xuất đáp ứng yêu cầu đó

Tuy nhiên, từ thực tế tại các

mô hình áp dụng theo tiêu chuẩn VietGAP cho thấy, người dân chưa thật sự mặn mà với hoạt động canh tác theo tiêu chuẩn VietGAP Do thị trường chưa phân định được giá trị của sản phẩm VietGAP so với sản phẩm khác nên hoạt động sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP chưa đáp ứng như mong đợi cả về quy

mô sản xuất, chất lượng sản phẩm và khả năng duy trì hoạt động sản xuất

Sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP đòi hỏi hộ sản xuất phải ghi chép đầy đủ, thật chi tiết các thông tin liên quan đến hoạt động sản xuất như ghi chép hồ sơ sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật,…Tuy nhiên, các hộ chưa có thói quen ghi chép nên

hồ sơ ghi chép thường thiếu sót, không đầy đủ và thiếu chính xác Các hộ chưa cập nhật hồ sơ sau khi thực hiện công việc hoặc không quan tâm đến

Nhận thức của phần lớn nhà sản xuất về tầm quan trọng đối

Trang 4

với an toàn sức khỏe người tiêu

dùng cũng như bản thân chưa

cao là một thách thức lớn cho

việc áp dụng tiêu chuẩn VietGAP

vào sản xuất Việc sử dụng hóa

chất nông nghiệp vào ruộng đồng

vẫn còn cao và chưa tuân thủ

nghiêm ngặt các yêu cầu của tiêu

chuẩn VietGAP về cách li sản

phẩm, bảo vệ sức khỏe người

lao động, môi trường…

Khó khăn lớn nhất là các mô

hình sản xuất theo tiêu chuẩn

VietGAP đang thiếu “bà đỡ” cho

sản phẩm sau khi được chứng

nhận Các hợp tác xã, hộ sản

xuất vẫn loay hoay tìm đầu ra

cho sản phẩm Đầu ra không có,

giá cả thấp khiến người sản xuất

dễ trở nên chán nản với hoạt

động sản xuất theo tiêu chuẩn

VietGAP Do đó, sản xuất theo

tiêu chuẩn VietGAP chưa thật sự

phát huy hiệu quả để có thể mở

rộng vùng sản xuất

Để tháo gỡ những khó khăn

trên đòi hỏi phải có sự vào cuộc

tích cực của các ban ngành, cơ

quan, chức năng, tổ chức liên

quan định hướng chiến lược

dòng sản phẩm đạt chất lượng

nhằm ổn định đầu ra với giá cao

tại các siêu thị, tạo niềm tin và

động lực cho các hộ dân sản

xuất

Trần Phong

“Kỹ sư chân đất”

khắc phục bệnh thối gốc

xì mủ trên cây sầu riêng

Sầu riêng là cây cho giá trị

kinh tế cao, tuy nhiên, nhà vườn

trồng sầu riêng luôn đối mặt với

bệnh thối gốc xì mủ - loại bệnh

hại nguy hiểm nhất có thể làm

cây chết hàng loạt

Là nông dân có kinh nghiệm trồng sầu riêng gần 20 năm, với bao phen thăng trầm vì bệnh và thất mùa, anh Lê Văn Hiền (ấp Sơn Lân, xã Sơn Định, huyện Chợ Lách, Bến Tre) nắm được

“bài thuốc” phòng trị bệnh thối gốc xì mủ, phục hồi lại vườn sầu riêng, được nông dân trong và ngoài tỉnh biết đến như “bác sĩ cây trồng”, “kỹ sư chân đất”

Anh cho biết, cây cũng giống như người, khi đề kháng kém thì bệnh dễ tấn công Những cây sầu riêng bệnh thường do bón phân không cân đối, bón nhiều phân hóa học… Bệnh thối gốc xì

mủ chủ yếu là do nấm Phytophthora gây ra, loại nấm này phát triển tháng mưa, khi vừa chuyển sang mùa khô, trời lạnh thì bệnh xuất hiện trên thân

Cây sầu riêng rất nhạy cảm với thời tiết, gặp yếu tố bất lợi thì bệnh phát triển rất nhanh Vì vậy,

để phòng bệnh xì mủ, theo anh Hiền, thì nông dân phải áp dụng quy trình canh tác bền vững, mô đất trồng cao ráo, bón nhiều phân hữu cơ… Khi cây bị bệnh xì

mủ, tùy mức độ nặng nhẹ mà áp dụng cách điều trị

Anh Hiền chia sẻ “bí quyết”, cây bệnh như cơ thể yếu nên vừa cho uống thuốc vừa cung cấp dinh dưỡng thì cây nhanh hết hơn so với chỉ sử dụng thuốc trị bệnh Vì vậy, kinh nghiệm của anh là điều trị song song Bài thuốc anh chọn đó là sử dụng phân hữu cơ Vina Super Humate (Công ty TNHH Hoàng Đại) kết hợp với loại thuốc trị bệnh phổ

thông trên thị trường Pha chung hai loại với nhau rồi phun 2 lần, mỗi lần cách nhau 5 ngày Khi cây đứng bệnh thì tiếp tục phun Vina Super Humate kết hợp tưới gốc 7 ngày/lần cây sẽ phục hồi nhanh chóng Với những vườn sầu riêng suy yếu, để phòng ngừa bệnh, trước khi xử lý

ra hoa 20 - 30 ngày thì pha Vina Super Humate với thuốc trừ bệnh

xử lý một lần

Ngoài khả năng phục hồi, phân hữu cơ Vina Super Humate còn được anh Hiền áp dụng tăng sức cho cây và “giải độc” chất Paclobutrazol (dùng xử lý ra hoa trên sầu riêng) Anh Hiền cho biết, Paclo gây ức chế để cây sầu riêng ra hoa nhưng để lại hậu quả nặng nề, nếu không “giải độc” kịp thời, vườn cây có nguy

cơ suy kiệt nhanh và chết dần chỉ sau vài mùa xử lý Cách tốt nhất

là phải “giải” chất độc tồn dư, trong đó phân hữu cơ Vina Super Humate được xem là giải pháp rất hữu hiệu Sau khi xử lý cây hoa xong thì sử dụng phân này tưới gốc kết hợp phun lá

Anh Hiền có khả năng nhìn cây chẩn đoán bệnh, cũng như khuyến cáo nông dân sử dụng phân, thuốc gì để điều trị cho cây hiệu quả Nhờ vậy mà nông dân trong vùng hay gọi anh là “bác sĩ sầu riêng”, “kỹ sư chân đất” Niềm vui lớn của anh chính là nhìn thấy nhiều vườn sầu riêng

xì mủ được phục hồi, vườn cây suy kiệt mất mùa được xanh tốt trở lại và cho năng suất gấp đôi

Trích khoahocphothong.com vn, 09/01/15

Ngày đăng: 29/04/2022, 23:52

w