1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

PHẦN MỞ ĐẦU

5 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 20,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN MỞ ĐẦU 1 Lý do chọn đề tài Tính cấp thiết của đề tài Theo Tổng cục thống kê vào quý 1 năm 2021, dân số Việt Nam khoảng 98 triệu người, trong đó tỷ lệ tham gia lực lượng lao động khoảng 68,7% Phải[.]

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tính cấp thiết của đề tài

Theo Tổng cục thống kê vào quý 1 năm 2021, dân số Việt Nam khoảng 98 triệu người, trong đó tỷ lệ tham gia lực lượng lao động khoảng 68,7%.Phải chăng toàn bộ lực lượng

lao động này đã nắm rõ hoàn toàn hay một cách cơ bản nhất những quy định của Bộ Luật Lao Động 2019 ( BLLĐ 2019) để nhận diện được Hợp Đồng Lao Động (HĐLĐ) một cách chính xác nhất và bảo vệ được quyền, lợi ích của cá nhân Người Lao Động (NLĐ) hay bản thân cá nhân, tổ chức Người Sử Dụng Lao Động (NSDLĐ) trước pháp luật Có thể nói hiện nay, Việt Nam đang rơi vào tình trạng khủng hoảng kinh tế sau đại dịch COVID 19 Để giải quyết vấn đề đó, Việt Nam đang từng bước khôi phục lại nền kinh tế

đã mất bằng bằng các kêu gọi nhiều nhà đầu tư, công ty, xí nghiệp xây dựng nhà máy tạo công việc cho người lao động Khi đó xuất hiện nhiều những mâu thuẫn phức tạp giữa người lao động và người sử dụng lao động trong quá trình thực hiện, lập, ký kết hợp đồng lao động (HĐLĐ), gây ra nhiều khó khan cho việc xây dựng các mối quan hệ hài hòa, tái

cơ cấu, ổn định trong các cơ quan, doanh nghiệp.

Chính vì những quan điểm trên, vấn đề cấp thiết đặt ra ở đây là tiếp tục nghiên cứu, tham gia hoàn thiện các chính sách, quy định liên quan trực tiếp đến người sử dụng lao động và người lao động để khoa học hóa, nâng cao chất lượng thương lượng, ký kết và thực hiện hợp đồng lao động một cách sao cho có hiệu quả cao nhất Đồng thời tăng cường thực hiện kiểm tra, đánh giá việc thực hiện hợp đồng để giảm tránh những tranh cãi, mâu thuẫn tranh chấp giữa người lao động và người sử dụng lao động trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động.

Do vậy, nhóm tác giả đã thống nhất ý kiến thực hiện việc nghiên cứu về đề tài: “Nhận diện hợp đồng theo bộ luật lao động năm 2019” và viết bài báo cáo cho Bài tập lớn trong chương trình môn học Pháp luật Việt Nam đại cương.

Khái quát đề tài thuộc lĩnh vực nào

Nội dụng của đề tài nêu trên thuộc về lĩnh vực “Luật Kinh tế”.

Trang 2

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu, tìm hiểu các quy định của pháp luật theo

Bộ luật lao động năm 2019 về thực hiện hợp đồng lao động và thực trực hợp đồng lao động tại các cơ quan, doanh nghiệp trên cả nước.

Ý nghĩa lý luận và tính thực tiến của đề tài

Với nội dung nêu trong bài báo cáo, một phần nào đó giúp cho người đọc có cái nhìn

tổng quan về chế định thực hiện hợp đồng lao động Đồng thời nắm được các quy định, chính sách cơ bản của Bộ luật lao động năm 2019 về thực hiện hợp đồng lao động.

Bài báo cáo đưa ra một số phương hướng và đề xuất kiến nghị với mong muốn hoàn thiện hơn các quy định, chính sách của pháo luật Việt Nam về thực hiện hợp đồng lao động Ngoài ra, bài báo cáo có thể được dùng để tham khảo, phục vụ quá trình nghiên cứu, học tập cho các bạn học sinh, sinh viên.

2 Nhiệm vụ của đề tài

Một là, làm rõ lý luận về chế định hợp đồng lao động theo pháp luật lao động Việt

Nam Trong đó, nhóm tác giả nghiên cứu những vấn đề về khái niệm; đối tượng và phạm vi điều chỉnh của hợp đồng lao động; các loại hợp đồng lao động theo quy định pháp luật hiện hành.

Hai là, từ lý luận về hợp đồng lao động từ đó nhóm tác giả tập trung là sáng tỏ đặc

trưng của hợp đồng lao động để nhận diện trong thực tế.

Ba là, nghiên cứu thực tiễn xét xử của Toà án về hợp đồng lao động để nhận thấy

những bất cập giữa quy định của pháp luật và thực tiễn xét xử.

Bốn là, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về chế định hợp đồng lao động.

Trang 3

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I

LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG THEO BỘ LUẬT LAO ĐỘNG NĂM 2019 1.1 Khái quát về hợp đồng lao động

1.1.1 Khái niệm hợp đồng lao động theo Bộ luật Lao động năm 2019

Khái niệm hợp đồng lao động của Tổ chức Lao động quốc tế ILO:

1. Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động

2. Trường hợp được gọi bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thì được coi là hợp đồng lao động.

Hợp đồng lao động ở Hàn Quốc:“Hợp đồng có nội dung về việc thoả thuận NLĐ cung cẩp sức lao

động của mình cho NSDLĐ, ngược lại NSDLĐ trả lương tương xứng với sức lao động của NLĐ”

Pháp luật của nước Pháp coi nguồn gốc của HĐLĐ là hợp đồng

dân sự Án lệ nước này ghi nhận “hợp đồng lao động là sự thỏa thuận theo đó một người cam kết tiến hành một hoạt động theo sự chỉ đạo của người khác, lệ thuộc vào người đó và được trả công” (án lệ ngày

2/7/1954).

Tại Việt Nam, từ Sắc lệnh 29-SL ngày 12/3/1947, Sắc lệnh 77-SL

ngày 22/5/1950 đến những văn bản quy phạm pháp luật liên quan được ban hành sau này đều có khái niệm về hợp đồng lao động

Tại Điều 26 BLLĐ năm 1994 (sửa đổi, bổ sung năm 2002, 2006, 2007) quy định về HĐLĐ như sau:“HĐLĐ là sự thoả thuận giữa NLĐ và

NSDLĐ về việc làm có trả công, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ

Trang 4

của mỗi bên trong QHLĐ” Khái niệm này gần như trùng khớp với khái niệm HĐLĐ trong Từ điển luật học: “Hợp đồng lao động là văn bản thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, trong đó quy định điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động”2.So với những khái niệm về HĐLĐ trước đây, khái niệm về HĐLĐ theo quy định của BLLĐ năm 1994 tạo được

sự bao quát hơn, phản ánh được bản chất của HĐLĐ.

Tại kỳ họp thứ 3 ngày 18/06/2012, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII đã thông qua BLLĐ năm 2012 Theo quy định tại Điều 15 BLLĐ năm 2012:“Hợp đồng lao động là sự thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả

lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động” Tuy có chỉnh sửa một số cụm từ như: “trả lương” thay cho

“trả công”, “điều kiện làm việc” thay cho “điều kiện lao động” nhưng quy định này gần như tương đồng với quy định về HĐLĐ trong BLLĐ năm 1994.

Điều 15 BLLĐ năm 2012: Hợp đồng lao động là sự thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động

Điều 13 BLLĐ 2019:

1 Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động

2 Trường hợp hai bên thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm

có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thì được coi là hợp đồng lao động

3 Trước khi nhận người lao động vào làm việc thì người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động với người lao động

Nhận xét:

BLLĐ 2019 cơ bản kế thừa BLLĐ 2012 khi quy định về hợp đồng lao động như sau:

Hợp đồng lao động là sự thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động

Từ đó, ta nhận thấy những đặc điểm cơ bản của hợp đồng lao động,cụ thể là sau:

Trang 5

Trước hết là sự tự nguyện ,bình đẳng, thiện chí và hợp tác Rõ ràng nhận thấy hợp đồng là sự thỏa thuận bình đẳng giữa các bên vì vậy để dẫn đến việc kí kết hợp đồng, 2 bên cần tự nguyện, thiện chí và tôn trọng các bên

Thứ hai là sự tự do giao kết hợp đồng Ở đây ta hiểu là hai bên được tự do giao kết hợp đồng lao đồng tuy nhiên không được vượt quá khuôn phép, nói cách khác là không được làm trái với pháp luật, thỏa thuận lao động hay chuẩn mực đạo đức, xã hội

BLLĐ 2019 bổ sung thêm trường hợp 2 bên thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thì được coi là hợp đồng lao động Điều đó có nghĩa việc xác định một họp đồng là hợp đồng lao động không quá phụ thuộc vào tên gọi của hợp đồng mà phụ thuộc vào nội dung của nó Nếu nội dung thoả thuận của các bên trong hợp đồng có các điều khoản của hợp đồng lao động (các dấu hiệu của hợp đồng lao động) thì vẫn xác định đó

là hợp đồng lao động Quy định này nhằm hạn chế tình trạng NSDLĐ “biến tướng” hợp đồng lao động dưới các hình thức hợp đồng khác, bảo vệ quyền lợi cho NLĐ

BLLĐ 2019 bắt buộc người sử dụng lao động trước khi nhận người lao động vào làm việc thì phải giao kết hợp đồng lao động với người lao động

Như vậy, HĐLĐ là sự thỏa thuận trên nguyên tắc bình đẳng, tự

nguyện giữa NLĐ và NSDLĐ về các nội dung của hợp đồng Trong đó, NLĐ chịu sự quản lý của NSDLĐ, cam kết làm một hoặc một số công việc để hưởng lương và thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo thỏa thuận.

Ngày đăng: 28/04/2022, 16:10

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w