1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

ÔN tập HỌC KÌ II lớp 10

14 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 156,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cảnh vật xung quanh không thể san sẻ mà ngược lại như cộng hưởng với nỗi sầu miên man của người chinh phụ, khiến nàng càng đớn đau, sầu tủi: “Gà eo óc gáy sương năm trống,

Trang 1

I HỆ THỐNG KIẾN THỨC PHẦN ĐỌC – HIỂU

- Nắm lí thuyết

- Làm bài tập

1 Các phương thức biểu đạt:

- Tự sự: có nhân vật, diễn biến sự việc

- Biểu cảm: bộc lộ tình cảm, cảm xúc

- Miêu tả: gợi tả hình dáng, đặc điểm, tính chất

- Thuyết minh: cung cấp tri thức

- Nghị luận: Luận điểm, lí lẽ, dẫn chứng

- Hành chính – công vụ: Khuôn mẫu, chính xác

2 Phong cách ngôn ngư

- Phong cách ngôn ngư sinh hoạt (HKI)

- Phong cách ngôn ngư nghệ thuật (HKII)

3 Các thao tác nghị luận

Diễn dịch Từ tiền đề chung đi đến cái riêng ( câu chủ đề (câu khái quát)

đặt ở đầu đoạn )

Qui nạp Từ cái riêng suy ra cái chung ( câu chủ đề, câu khái quát ở cuối

đoạn)

Phân tích Chia vấn đề bàn luận thành các bộ phận, các phương diện, các

nhân tố để xem xét một cách kĩ càng

Tổng hợp Là kết hợp các phần, các mặt các nhân tố của vấn đề bàn luận

thành một chỉnh thể thống nhất để xem xét

So sánh Đối chiếu 2 đối tượng để chỉ ra nét tương đồng và khác biệt

4 Cách thức trình bày đoạn văn/ trình tự lập luận đoạn văn nghị luận: Diễn dịch, quy nạp, song hành, tổng – phân – hợp

5 Văn bản văn học

Cấu trúc của văn bản văn học

6 Các biện pháp tu tư

- Ẩn dụ

- Hoán dụ

- So sánh (A như B, A là B)

- Nhân hóa

- Liệt kê

- Phép điệp (điệp từ, điệp ngữ, điệp cấu trúc)

- Phép đối

Tính hình tượng Tính truyền cảm Tính cá thể hóa

Tầng ngôn từ – từ ngữ âm đến ngữ nghĩa Tầng hình tượng

Tầng hàm nghĩa

Trang 2

II PHẦN VĂN BẢN

Ôn tập các văn bản đã học:

1 Phú sông Bạch Đằng – Trương Hán Siêu (xem lại bài giảng và vở ghi)

2 Bình Ngô Đại Cáo – Nguyễn Trãi (xem lại bài giảng và vở ghi)

3 Chuyện chức phán sự đền Tản Viên – Nguyễn Dư

4 Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ – Đặng Trần Côn – Đoàn Thị Điểm

5 Trao duyên (Trích Truyện Kiều – Nguyễn Du)

6 Chí khí anh hùng (Trích Truyện Kiều – Nguyễn Du)

***********************************************

CHUYỆN CHỨC PHÁN SỰ ĐỀN TẢN VIÊN

(Trích Truyền kì mạn lục – Nguyễn Dư)

MỞ BÀI

- Nguyễn Dữ là tác giả nổi tiếng của văn học trung đại Việt Nam, tên tuổi của ông gắn liền

với danh tiếng của tập truyện “Truyền kì mạn lục”, tác phẩm được đánh giá là “thiên cổ kì but”

- Trong đó “Chuyện chức phán sự đền tản Viên” là một câu chuyện đặc sắc Truyện ca ngội đức tính cương trực khảng khái dũng cảm của chàng Ngô Tử văn – một trí thức đất Việt Chàng đã dám chống lại yêu ma, tiêu diệt cái ác trừ họa cho dân

THÂN BÀI

- Nhân vật chính của tác phẩm “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” xuất hiện ngay từ đầu truyện bằng mấy dòng giới thiệu trực tiếp ngắn gọn về tên họ, quê quán, tính tình, phẩm chất Ngô Tử Văn được giới thiệu là người tính tình cương trực, thẳng thắn, khảng khái,

nóng nảy, thấy sự gian tà thì không thể chịu được Lời giới thiệu mang giọng ngợi khen, có tác dụng định hướng cho người đọc về hành động kiên quyết của nhân vật này

- Minh chứng rõ ràng cho tính cách cứng cỏi của Ngô Tử Văn là hành động đốt đền tà của chàng Trong khi mọi người đều lắc đầu, lè lưỡi, không dám làm gì quỷ thần ở ngôi đền gần

làng quấy hại nhân dân thì Tử Văn cương quyết, công khai, đường hoàng, ung dung, tắm rửa sạch sẽ, khấn trời rồi châm lửa đốt hủy ngôi đền Hành động đó xuất phát từ muốn diệt trừ yêu ma, trừ hại cho dân, từ lòng tự tin vào chính nghĩa của Ngô Tử Văn, chứng tỏ cốt cách khảng khái của kẻ sĩ

- Sự cương trực, khảng khái của Ngô Tử Văn còn bộc lộ rõ qua thái độ của chàng với hồn

ma tên tướng giặc Tướng giặc khi sống là kẻ xâm lược nước ta, tàn hại dân ta, khi chết rồi

vẫn quen thói ỷ mạnh hiếp yếu, cướp nơi trú ngụ của thổ thần nước Việt, lại còn gian trá bày trò đút lót rồi tác yêu tác quái với nhân dân trong vùng Hắn bị Tử Văn đốt đền là đáng đời nhưng lại hiện hình, xảo quyệt làm như mình là kẻ bị hại, dùng tà phép khiến cho chàng bị sốt nóng sốt rét, đầu lảo đảo Hồn ma tướng giặc buông lời mắng mỏ, đe dọa, quyết kiện Tử Văn xuống tận Diêm Vương Trước sự ngang ngược trắng trợn, quyền phép đáng sợ của hồn

ma tướng giặc, Ngô Tử Văn vẫn điềm nhiên, không hề run sợ mà tự tin, không coi những lới

đe dọa ra gì, thậm chí chẳng thèm tiếp lời hồn ma tướng giặc Thái độ ấy thể hiện một khí phách cứng cỏi, một niềm tin mạnh mẽ vào chính nghĩa, sự đúng đắn trong hành động của

Trang 3

Ngô Tử Văn Mặt khác, bản lĩnh của chàng còn thể hiện qua thái độ biết ơn lời chỉ dẫn của thổ thần nước Việt Do Tử Văn dũng cảm, trừ hại cho dân nên thần linh mới phù trợ giúp đỡ chàng

- Tính cách kiên định chính nghĩa của Ngô Tử Văn còn thể hiện rõ trong quá trình chàng

bị lôi xuống địa phủ Cảnh địa phủ rùng rợn với quỷ sứ hung ác, con sông đầy gió tanh sóng

xám Tử Văn bị bọn quỷ sai lôi đi rất nhanh, bị phán xét lạnh lùng là kẻ “tội sâu ác nặng, không được liệt vào hàng khoan giảm”, bị kết thêm tội ngoan cố bướng bỉnh nhưng chàng chẳng hề run sợ, không hề nhụt chí, một mực kêu oan, đòi phải được phán xét công khai, minh bạch Khi đối diện trước Diêm vương uy nghiêm, Tử Văn đấu tranh vạch tội tên tướng giặc bằng những lí lẽ cứng cỏi, bằng chững không thể chối cãi, giọng điệu rất đanh thép vững vàng Chàng đã bảo vệ lẽ phải mà bất chấp tính mạng của mình, không chịu khuất phục trước

uy quyền, kiên quyết đấu tranh cho công lí và lẽ phải đến cùng Kết quả, chàng đã chiến thắng hồn ma gian tà của tên tướng giặc, bảo toàn được sự sống của mình, được tiến cử vào chức phán sự đền Tản Viên, chịu trách nhiệm giữ gìn bảo vệ công lí Chiến thắng ấy của Ngô

Tử Văn có nghĩa vô cùng to lớn, đã trừng trị đích đáng hồn ma tướng giặc xảo trá, làm sáng

tỏ nỗi oan khuất, phục hồi chức vị cho thổ thần nước Việt, giải trừ tai họa cho nhân dân

- Qua cuộc đấu tranh không khoan nhượng, chống lại cái ác, Ngô Tử Văn đã nổi bật lên là người chính trực, khảng khái, dũng cảm bảo vệ công lí đến cùng, là một kẻ sĩ cứng cỏi của nước Việt Từ đó, tác giả Nguyễn Dữ đã khẳng định niềm tin chính nghĩa nhất định thắng gian tà, thể hiện tinh thần tự tôn dân tộc, bộc lộ quyết tâm đấu tranh triệt để với cái xấu cái ác

KẾT BÀI: Bên cạnh những yếu tố hiện thực, những yếu tố hoang đường đã góp phần làm

cho câu chuyện trở nên đặc sắc và hấp dẫn Chính vì thế mà mặc dù biết là hư cấu nhưng người đọc vẫn không thể ngừng theo dõi diễn biến của câu chuyện được Qua việc sử dụng yếu tố hoang đường, kì ảo, Nguyễn Dữ cũng nhằm thể hiện một ý tưởng nghệ thuật của mình, đó là: thế giới cõi âm cũng chính là sự phản chiếu bóng dáng cuộc đời thực “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” vì thế đã trở thành một bức tranh hiện thực về một xã hội đen tối, ở đó những kẻ đại diện cho công lý lại chính là những kẻ bất lương, vô nhân đạo nhất Truyện cũng còn ca ngợi con người dám đấu tranh đến cùng cho chính nghĩa qua hình tượng nhân vật Ngô Tử Văn

TÌNH CẢNH LẺ LOI CỦA NGƯỜI CHINH PHU

Trang 4

(Trích Chinh phụ ngâm khúc – Tác giả: Đặng Trần Côn, Dịch giả Đoàn Thị Điểm) MỞ BÀI

- Những năm bốn mươi của thế kỉ XVIII - thời Lê Mạt (Cảnh Hưng) - Chúa Trịnh là một thời kì nhiễu nhương và thối nát Bọn vua chúa hoang dâm, ích kỉ, tàn bạo đã đẩy dân chúng vào cảnh lầm than, điêu đứng Đất nước chìm đắm triền miên trong cảnh loạn lạc, máu lửa và binh đao Hàng ngàn gia đình phải rơi vào tình cảnh chia li tan tác, tạo nên số phận bi thảm của những chinh phu và chinh phụ

- “Chinh Phụ Ngâm” (Nguyên tác chữ Hán của Đặng Trần Côn; Bản dịch chữ Nôm của bà Đoàn Thị Điểm) ra đời như tiếng than vãn thống thiết của con người, của tình yêu đôi lứa, của gia đình trong cái thời đại đen tối ấy Đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ”

đã diễn tả sâu sắc sự cô đơn, sầu tủi của người chinh phụ nơi khuê phòng lẻ bóng một mình

THÂN BÀI

1 Phân tích 16 câu thơ đầu

a) 8 câu đầu

- Người chồng ra trận, chỉ có một mình người chinh phụ ở nhà Những ngày tháng cô đơn đó

đã tái hiện rõ nét qua những câu thơ đầu tiên Nàng xuất hiện hiện như có như không, vừa tỉnh vừa thức trong từng bước đi, từng động tác buông thả tấm rèm - nhưng liền đó lại quên tất thảy, thờ ơ với tất thảy:

“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước, Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.”

- Người chinh phụ đi đi lại lại ngoài hiên, buông rèm xuống rồi lại cuốn rèm lên nhiều lần… những hành động lặp đi lặp lại một cách vô thức, không có mục đích rõ ràng Bởi tâm trí nàng còn đang rong ruổi nơi chiến trận - nơi chồng nàng đang chinh chiến Những hành động đó đi liền với ba động từ: "dạo” (chậm chạp), “gieo” (nặng nề), “ngồi” (bất định, vô hồn) đã đặc tả sự cô đơn, ngóng trông đến sốt ruột, chờ đợi đến mòn mỏi của người chinh phụ

- Cho nên nàng trách móc chim thước sao "chẳng mách tin" và tâm sự với ngọn đèn:

"Ngoài rèm thước chẳng mách tin Trong rèm dường đã có đèn biết chăng?"

Trong thơ ca cổ, ngọn đèn thường xuyên được nhắc đến như một biểu tượng để nhân vật trữ tình gửi gắm, dốc bầu tâm sự (Bài ca dao “Khăn thương nhớ ai…”) Ở đây, đèn đã được thắp lên, thời gian đã chuyển về tối - nhưng nỗi nhớ chồng khiến nàng không để ý đến bước

đi của thời gian Tả đèn chính là tả không gian và sự cô đơn của người chinh phụ Lúc đầu nàng nói may chỉ có ngọn đèn biết tâm sự của mình qua câu hỏi tu từ: "Trong rèm dường đã có đèn biết chăng?" Rồi lại nghĩ ngọn đèn có biết cũng chỉ bằng không:

"Đèn có biết dường bằng chẳng biết".

Trang 5

- Ngọn đèn được thắp sáng năm canh, "có biết" nàng chinh phụ thức trắng thâu đêm nhớ thương chồng Nhưng ngọn đèn "chẳng biết" nỗi nhớ chồng đang dằn vặt tâm can, đang làm hao gầy, mòn mỏi cả tâm hồn và thể xác của người chinh phụ như thế nào Ngọn đèn cũng không thể thấu hiểu, không thể sẻ chia sức nặng của nỗi cô đơn, sự nhớ nhung đang đổ dồn lên nàng Ngọn đèn là người bạn duy nhất, nhưng lại là vật vô tri vô giác Cho nên "đèn có biết dường bằng chẳng biết" và đi đến kết cục:

"Hoa đèn kia với bóng người khá thương"

Rõ ràng cuộc đời người chinh phụ hầu như đã mất hết sức sống, con người đã bị "vật hóa" tựa như tàn đèn cháy đỏ kết lại đầu sợi bấc; con người bây giờ chỉ là "cái bóng" trống trải, là hiện thân của kiếp hoa đèn tàn lụi

b) 8 câu sau

- Tác giả đặc tả cảm giác cô đơn của người chinh phụ trong tám câu thơ Đó là cảm giác lúc

nào và ở đâu cũng thấy lẻ loi: ban ngày, ban đêm, ngoài phòng, trong phòng Nỗi cô đơn tràn ngập không gian và kéo dài vô tận theo thời gian luôn đeo đẳng, ám ảnh nàng Cảnh vật xung quanh không thể san sẻ mà ngược lại như cộng hưởng với nỗi sầu miên man của người chinh phụ, khiến nàng càng đớn đau, sầu tủi:

“Gà eo óc gáy sương năm trống, Hòe phất phơ rũ bóng bốn bên.

+ Dịch giả đã sử dụng rất hợp lí từ láy tượng thanh, tượng hình: "eo óc" và "phất phơ" "Gà

eo óc gáy" thưa thớt, vang, từ xa vọng lại, đều đều, gợi buồn Nàng đã thức đủ cả năm canh, đếm từng khắc thời gian trôi qua chậm chạp Nhìn bốn bên xung quanh chỉ có cây hòe rủ bóng, người chinh phụ ngập chìm trong nỗi cô đơn Dáng hòe phất qua bên nọ, phất qua bên kia gợi nên hình ảnh người phụ nữ chờ chồng vật vã trong nhớ nhung, giữa đêm khuya lẻ bóng

+Nỗi chờ đợi ngày càng vô vọng, nàng như đếm thời gian, nhưng càng chờ đợi càng thấy dài:

"Khắc giờ đằng đẵng như niên Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa"

Trong mòn mỏi chờ đợi, người chinh phụ thấy một khoảng thời gian ngắn mà dài như cả năm trường, mối sầu trào dâng như biển lớn mênh mang Thời gian "đằng đẵng" song hành, tỉ lệ thuận với khối sầu "dằng dặc" diễn tả mối sầu cứ bám riết, đeo đẳng nàng không biết bao giờ dứt Tác giả đã sử dụng biện pháp so sánh kết hợp với từ láy "đằng đẵng", "dằng dặc" để nhấn mạnh cảm thức về thời gian và nỗi nhớ, tạo nên âm điệu buồn thương như tiếng thở dài của người thiếu phụ đăm đắm chờ chồng

- Người chinh phụ gắng tìm cách vượt khỏi vòng vây của cảm giác cô đơn, nhưng cuối cùng cũng không thể thoát nổi:

"Hương gượng đốt hồn đà mê mải Gương gượng soi lệ lại châu chan Sắt cầm gượng gảy ngón đàn

Trang 6

Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng"

+ Thời gian cứ dài dằng dặc, không gian thì mênh mông vô tận, người chinh phụ nhỏ bé và đơn độc trước không gian và thời gian Biết nỗi đợi chờ là vô vọng, nàng đã cố gắng để đưa mình ra khỏi nỗi cô đơn Gắng gượng điểm phấn tô son, dạo đàn nhưng càng cố gắng vùng vẫy càng lún sâu hơn vào sự tuyệt vọng Chạm đến đâu cũng là chạm vào nỗi đau, cũng nhìn thấy cảnh lẻ loi đơn chiếc

+ Khi đốt hương nàng chimm̀ đắm trong sầu tủi miên man Soi gương thì nước mắt đầm đìa bởi nàng phải đối diện với gương mặt thanh xuân đang mỏi mòn dần và thì xuân sắc đang phũ phàng trôi qua Khúc đàn loan phượng thì gợi nhớ cảnh chồng vợ chia lìa Từ “gượng” lặp lại baầ nl càng nhấn mạnh sự miễn cưỡng, gượng gạo, chán chường của nàng Tâm trạng của nàng không chỉ chán chường mà còn mang nỗi sợ: sợ chia lìa đôi lứa “Dây uyên kinh đứt, phiḿ loan ngại chùng” lànhững điềm gở, điều không may cóthểbáo hiệu sựchia lià đôi lứa Hai từ “kinh, ngại” xuất hiện trong một dòng thơ như một cơn sóng dữ ào đến rồi lênh láng trong lòng người chinh phụ

*) Nói tóm lại, trong mười sáu câu thơ đầu bút pháp nghệthuật tảcảnh ngụ tinh,m̀ đặc tảdiễn biến nội tâm nhân vật, miêu tả cử chi ̉ hành động kết hợp sử dụng biện pháp tu từ… đã làm nổi bật tâm trạng: cô đơn, lẻ loi, rối bời, nhung nhớ đến ngẩn ngơ, buồn rầu đến mê sảng… của người chinh phụ

2 Phân tích 8 câu cuối

- Nếu như ở 16 câu đầu người chinh phụ một mình trong căn phòng quạnh vắng với tâm trạng cô đơn, lẻ loi, nỗi trống trải trong lòng thì đến 8 câu cuối, nỗi nhớ và nỗi khát khao hạnh phúc lứa đôi bỗng trào dâng trong lòng và trở nên khắc khoải hơn bao giờ hết Mượn gió đông để gửi yêu thương cho chồng Đó là ước muốn , là khát khao được biết tin tức về

chồng mình:

“Lòng này gửi gió đông có tiện?

Nghìn vàng xin gửi đến non Yên.”

+ Tác giả sử dụng câu hỏi tu từ, kết hợp với điển cố ( non Yên) để diễn tả nỗi nhớ của nhân vật “Lòng này” là sự thương nhớ khôn nguôi, vì đã trải qua nhiều đợi chờ + Gió đông là gió mùa xuân Trong cô đơn, người chinh phụ chỉ biết hỏi gió, nhờ gió đưa tin tới người chồng yêu thương nơi chiến địa xa xôi,nguy hiểm , nơi non Yên nghìn trùng +.Nàng hỏi gió,nhờ gió nhưng”có tiện”hay không? Nàng mong gió hãy mang nỗi nhớ của nàng nói với người chồng ngoài biên cương Sự cô đơn trong lòng người chinh phụ ngày càng khắc khoải ”

+ Cùng với những từ ngữ trang trọng “gửi nghìn vàng , xin” đã giúp người đọc thấy được không gian , nỗi nhớ được mở ra thật mênh mông , vô tận , khắc sâu nỗi cô đơn , hiu quạnh

- Thế nhưng hiện thực thật phũ phàng, đau xót :

“Non Yên dù chẳng tới miền Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời”

+ Việc sử dụng từ láy ‘thăm thẳm’ đã nói lên được nỗi nhớ da diết của người chinh phụ Mỗi nhớ thương ấy đè nặng trong lòng,triền miên theo thời gian, “đằng đẵng” không thể nguôi ngoai Nỗi nhớ ấy được cụ thể hóa bằng độ dài của không gian “đường lên bằng trời” Có thể

Trang 7

nói, dịch giả Đoàn Thị Điểm đã có một cách nói rất sâu sắc để cực tả nỗi nhớ thương chồng của người chinh phụ.Nỗi nhớ thương ấy,tiếng lòng thiết tha ấy lại được diễn tả qua âm điệu triền miên của vần thơ song thất lục bát với thủ pháp nghệ thuật liên hoàn - điệp ngữ

+ Cả một trời thương nhớ mênh mông.Nỗi buồn triền miên,dằng dặc vô tận Sau khi hỏi

“gió đông”để bày tỏ niềm thương nỗi nhớ chồng , cuối cùng đọng lại trong nàng là nỗi đau , sự tủi thân:

“Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu ,

Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong”

+ Ý của câu như muốn nói lên sự xa cách nghìn trùng , với biển trời rộng lớn , xa “thăm thẳm” không hiểu cho “nỗi nhớ chàng”của người vợ trẻ Nỗi nhớ “đau đáu” trong lòng.Đau đáu nghĩa là áy náy,lo lắng,day dứt khôn nguôi Có thể nói qua cặp từ láy:”đằng đẵng” và

“đau đáu”, dịch giả đã thành công trong việc miêu tả những thương nhớ, đau buồn,lo lắng của người chinh phụ một cách cụ thể,tinh tế,sống động.Tâm trạng ấy được miêu tả trong quá trình phát triển mang tính bi kịch đáng thương.Ở hai câu cuối,nhà thơ lấy ngoại cảnh để thể hiện tâm cảnh :

“Cảnh buồn người thiết tha lòng,

Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun.”

+ Giống như tâm sự Thúy Kiều trong Truyện Kiều: “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu – Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?”, người chinh phụ có lúc thấy cảnh vật vô hồn, thê lương nhưng có khi lại cảm nhận cả khoảng không gian và cảnh vật như đang hối thúc, giục giã, đổi thay, không tìm thấy đâu sự hô ứng, đồng cảm giữa tình người với thiên nhiên Niềm thương nỗi nhớ cứ kéo dài từ ngày này sang ngày nọ

+ Nhìn cành cây ướt đẫm sương đêm mà lòng nàng lạnh lẽo Nghe tiếng trùng kêu rả rich thâu canh như tiếng đẫm sương đêm mà thêm nhói lòng, buồn nhớ Âm thanh ấy,cảnh sắc ấy vừa lạnh lẽo vừa buồn,càng khơi gợi trong lòng người vợ trẻ,cô đơn biết bao thương nhớ,lo lắng, buồn rầu

*) Tóm lại, bằng những hình ảnh ẩn dụ cho nỗi buồn chất chứa , sự mòn héo của cảnh vật

8 câu thơ cuối đã diễn tả nỗi nhớ da diết, nhớ tới thầm đau của người chinh phụ Nỗi đau được chuyển từ lòng người sang cảnh vật Hàng loạt những hình ảnh ẩn dụ , từ ngữ gợi tả lại càng xoáy mạnh vào nỗi đau trong lòng người chinh phụ Qua đó người đọc cũng cảm nhận được 1 cách sâu sắc niềm thương cảm , thấu hiểu của tác giả đối với nỗi đau của người phụ nữ có chồng ra trận

KẾT BÀI.

- Với thể thơ song thất lục bát , cách dùng từ , hình ảnh ước lệ , điệp từ điệp ngữ , nghệ thuật miêu tả nội tâm , đoạn thơ đã thể hiện 1 cách tinh tế những cung bậc sắc thái tình cảm khác nhau của nỗi cô đơn buồn khổ ở nàng khao khát được sống trong hạnh phúc , tình yêu lứa đôi

- Đoạn trích còn thể hiện tấm lòng yêu thương , cảm thông sâu sắc của tác giả với những khát khao hạnh phúc chính đáng của người thiếu phụ , cất lên tiếng kêu nhân đạo, phản đối chiến tranh phi nghĩa đã đẩy bao nhiêu người con trai ra trận để biết bao người chinh phụ

Trang 8

phải héo hon tựa cửa chờ chồng Mặt khác đoạn trích cũng nói lên tiếng nói tình cảm và sự ý thức về quyền sống, quyền hưởng hạnh phúc lứa đôi của người phụ nữ ngay giữa cuộc đời trần thế này

*****************************************************

TRAO DUYÊN

(Trích Truyện Kiều – Nguyễn Du)

PHÂN TÍCH ĐOẠN TRÍCH

MỞ BÀI

- Truyện Kiều là một tác phẩm xuất sắc của Nguyễn Du nói riêng, của cả nền văn học Việt

Nam nói chung Đó là tiếng khóc, tiếng kêu xé lòng của một cũng như của những số phận tài hoa mà bạc mệnh dưới chế độ phong kiến hà khắc, bất công Qua cuộc đời của nhân vật chính nàng Thúy Kiều , Nguyễn Du khắc họa nên một nàng Kiều sắc sảo, mạnh mẽ, nhưng cũng rất yếu đuối trước những đau thương, sóng gió của cuộc đời Điều đó thể hiện rõ nét nhất qua đoạn trích Trao Duyên, khi mà Kiều phải trao đi niềm hạnh phúc riêng tư – trao lại mối tình đầu son sắc cho em gái mình

THÂN BÀI

- Trao duyên: không phải nhưng đôi lứa yêu nhau trao nhau những lời hen ước trao gửi tình

cảm Mà nó là một hoàn cảnh rất đặc biệt của Thúy Kiều, nàng nhờ em gái mình là Thúy Vân nối tiếp mối tình dang dở với Kim Trọng Cả người trao lẫn người nhận đều đau khổ

- Có thể nói với đoạn trích “trao duyên” có vai trò như một cái bản lề khép mở hai phần đời đối lập của Kiều: hạnh phúc và đau khổ Nguyễn Du đã khắc họa rất thành công sự thông minh tinh tế cũng như sự đau đớn đến tận cùng của Kiều trong bi kịch đầu đời: tình duyên tan vỡ

1 Phân tích 12 câu đầu

- Mở đầu đoạn thơ là lời nhờ cậy của Thúy Kiều nói với Thúy Vân:

Cậy em em có chịu lời,

Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.

Nghe xong Thuý Vân chắc sẽ rất bất ngờ Lời chị khẩn khoản, thiết tha chắc không thể chỉ là chuyện bình thường Trong nhóm các từ biểu đạt sự nhờ vả, Nguyễn Du đã chọn được hai từ

đắt nhất và cũng hợp với hoàn cảnh nhất : cậy và chịu Cậy không chỉ là nhờ Cậy còn là trông đợi và tin tưởng Cũng vậy, chịu không chỉ là nhận lời, chịu còn là nài ép Chuyện chưa

nói ra nhưng Kiều biết người nhận không dễ dàng chịu nhận nên nàng đã chủ động đưa Vân vào thế khó xử, tiến thoái lưỡng nan Lời xưng hô nghiêm cẩn và trang trọng của Thuý Kiều lại càng có tác dụng gây áp lực đối với Thuý Vân

+ “Ngồi lên cho chị lạy rối sẽ thưa”: Câu thơ 6 chữ giản dị mà chứa đựng tât cả

chiều sâu của một tình thế phức tạp Kiều yêu cầu Vân “Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ

thưa” vì nàng coi sự chịu lời của Vân là một hành động hi sinh Đối với cử chỉ hi

sinh ấy thì chỉ có kính phục và biết ơn Kiều lạy em là lạy sự hi sinh cao cả ấy

- “Chọn” và “đặt vấn đề” một cách nhanh chóng và kĩ càng, Thuý Kiều dường như ngay lập tức tiếp lời như nếu để lâu sẽ không thể nào nói được :

Giữa đường đứt gánh tương tư,

Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em.

Trang 9

Vậy là cái điều tưởng như khó nhất, Thuý Kiều đã nói Thuý Vân hết sức ngỡ ngàng nhưng cũng nhanh chóng hiểu nỗi niềm của chị Đoạn thơ ngắn gọn, hướng vào những chuyện riêng

tư Tình yêu dở dang, tan vỡ được thông tin ngắn gọn trong một thành ngữ nặng nề, chắc

nịch (đứt gánh tương tư) Câu thơ thứ 4 lại hay ở hai chữ tơ thừa Với Thuý Kiều, tình yêu trao cho em chỉ là sự nối tiếp, chỉ là chắp mối tơ thừa mà thôi Mặc em ở đây có thể hiểu là

Kiều phó thác cho em, gắn trách nhiệm ở em phải cứu vãn tình yêu đó Lời Kiều sâu sắc và cũng thật xót xa

- Sau cái phút ban đầu khó nói, giờ đây nàng bộc bạch với em gái về mối tình đẹp đẽ nhưng dang dở của mình:

“ Kể từ khi gặp gỡ chàng Kim

Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề

+ Thúy Kiều kể mà như hình dung lại những tháng ngày gắn bó tha thiết bên Kim Trọng cùng những lời hẹn ước trăm năm dưới ánh trăng hôm nào Tât cả đều hiện lên rất rõ nét như cứa nát tim nàng bởi tất cả chỉ là quá khứ còn hiện tại thật phũ phàng

+ Sự đâu sóng gió bất kì

Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai.

Không phải Kiều đang kể công mình với gia đình mà nàng chỉ muốn thúy Vân thấu hiểu nỗi niềm trong lòng nàng Hiếu và tình Kiều đã chọn và vì đã chọn nên mới nhờ Thúy Vân Kiều đã chọn chữ hiếu nên đành phụ tình chàng Kim và đó là điều day dứt không nguôi trong lòng nàng vì chẳng có cách nào vẹn cả đôi đường

- Tám câu thơ đầu, ngoài lời trao duyên, Thuý Kiều chủ yếu nói về những bất hạnh của mình Nhưng để trao duyên, Thuý Kiều còn phải chọn nhưng lời lẽ thuyết phục em gái

"Ngày xuân em hãy còn dài,

Xót tình máu mủ thay lời nước non.

Chị dù thịt nát xương mòn,

Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây."

+ Dù không cách nhau nhiều về tuổi tác nhưng với Kiều thì giờ đây đâu thể xứng đáng với Kim Trọng bằng Thuý Vân Kiều dù sao cũng mang danh là đã có chồng

+ Lí do thứ hai lại càng thuyết phục hơn Kiều đang nhờ Vân một điều mà chẳng ai nhờ vả bao giờ Khó nhờ, khó nhận thì chỉ có là tình chị em máu mủ mới dễ đồng cảm, để rồi “chấp nhận” cho nhau

+ Lí do thứ ba như một lời khẩn cầu đầy chua xót: Kiều đã nói đến cái chết như dự cảm chẳng lành ở mai sau nhưng nàng vẫn thỏa nguyện bởi sự chấp nhận của Thúy Vân Có thể nói Nguyễn Du là người sâu sắc trong cách lựa chọn từ ngữ cho nhân vật của mình Với những lí do thuyết phục ấy Thúy Vân không thể không nhận lời Kiều

*) Tóm lại, 12 câu đầu đã thể hiện rõ tâm trạng bi kịch của Thúy Kiều khi trao duyên, qua

đó ta thấy được tấm lòng vị tha, đức hi sinh của nàng Đoạn thơ sử dụng từ ngữ một cách tinh tế, sự kết hợp giữa ngôn ngữ bác học (điển cố) và ngôn ngữ bình dân (thành ngữ) đã góp phần khắc họa diễn biến tâm trạng phức tạp của nhân vật

Trang 10

2 Phân tích 14 câu tiếp: Kiều trao kỉ vật và dặn dò em

- Sau lời nhờ cậy, thỏa nguyện bình sinh và hàm ơn đối với em, Kiều trao kỉ vật cho em:

“Chiếc vành với bức tờ mây

Duyên này thì giữ vật này của chung”

+ Chiếc vành (chiếc xuyến) là tặng vật Kim Trọng tặng cho Kiều khi hai người thề nguyền + Tờ mây là tờ hoa tiên có vẽ vân mây, trên đó Kim – Kiều ghi lời thề nguyền

+ Lạ nhất là câu thơ tiếp “Duyên này thì giữ vật này của chung” “Duyên” đây là nhân duyên, duyên phận tức là sự run rủi của số phận hai người trai gái lấy được nhau Nhưng vật kỉ nimrj ấy là “của chung” – lời lẽ có vẻ như Kiều còn muốn giữ lại cho mình, không muốn trao cả cho em

+ Nhưng xét cho kĩ thì Kiều đã nói đúng Kiều trao kỉ vật nhưng cái hồn của kỉ vật , nó thuộc về quá khứ chôn sâu trong trái tim Kiều Kiều trao duyên mà không trao tình, Kiều trao kỉ vật mà không trao kỉ niệm Duyên này là duyên giữa Thúy Vân với Kim Trọng, phần nàng

đã hết Duyên chị đã trao lại cho em, nhưng kỉ vật này xin em hãy coi có một phần của chị, nó là của chung Rõ ràng lí trí buộc nàng phải dứt tình với chàng Kim nhưng tình cảm của nàng thì không thể Câu thơ thể hiện những mâu thuẫn giằng xé trong Kiều, mâu thuẫn giữa lời nói và hành động, giữa lí trí và con tim, tất cả bộc lộ một trái tim xiết bao đau đớn Tình yêu và niềm tin đối với Thuý Kiều giờ đây đã hoàn toàn trượt mất

- Sau đó Kiều để mặc cho tình cảm tuôn tràn Nàng nói với em bằng tiếng nói

khác của lòng mình:

Dù em nên vợ nên chồng

Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên

Mất người còn chút của tin

Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa

Ngôn ngữ nàng không còn cái mạch lạc, khúc chiết của lí trí nữa mà thuần là của

tình cảm, của cả ảo giác Càng nói càng xót xa cho duyên phận bất hạnh của mình

Nàng nói rõ mình mệnh bạc, tình mình mất đi và bao nhiêu nỗi niềm ngày xưa nay

chỉ còn có phím đàn với mảnh hương nguyền để lại cho em như là “của tin”

+ Đối với Thúy Kiều, tất cả trở thành quá khứ xa xôi rồi Đến đây, Thúy Kiều coi như mình

đã chết:

“ Mai sau dầu có bao giờ

Đốt lò hương ấy so tơ phím này

Trông ra ngọn cỏ lá cây

Thấy hiu hiu gió thì hay chị về”

+ Kiều đã mất hết hiện tại Tương lai của nàng trông chờ vào lòng thương Mai sau

em đốt hương, đánh đàn – những lúc hạnh phúc, em hãy nhớ đến chị Cách hình

dung oan hồn bơ vơ của mình mai sau thật thê thảm Kiều sau này chỉ là ngọn gió

vật vờ nơi lá cây ngọn cỏ

“Hồn còn mang nặng lời thề

Nát thân bồ liễu đền ghì trúc mai”

Dạ đài cách mặt khuất lời

Rưới xin giọt nước cho người thác oan”

Ngày đăng: 27/04/2022, 17:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w