1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Triết học mác lenin

41 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 357,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG BÀI THẢO LUẬN TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN Đề tài Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa nhận thức và thực tiễn Vận dụng lí luận đó để tìm hiểu mối quan hệ này ở Việt Nam trong thời kì đổi mới cho đến nay và rút ra bài học cho bản thân Giáo viên hướng dẫn TS Lê Thị Loan Nhóm thực hiện Nhóm 10 Lớp học phần MLNP0221 Hà Nội, tháng 4 năm 2021 MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN LỜI MỞ ĐẦU A,NHẬN THỨC I NGUỒN GỐC, BẢN CHẤT CỦA NHẬN THỨC II, PHÂN LOẠI NHẬN THỨC III PHÂN TÍCH BI.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA TÀI CHÍNH-NGÂN HÀNG

Giáo viên hướng dẫn: TS Lê Thị Loan

Nhóm thực hiện : Nhóm 10

Lớp học phần :MLNP0221

Hà Nội, tháng 4 năm 2021

Trang 2

II, PHÂN LOẠI NHẬN THỨC

III.PHÂN TÍCH BIỆN CHỨNG CỦA NHẬN THỨC

B,THỰC TIỄN

I.KHÁI NIỆM

II.TÍNH CHẤT CƠ BẢN

III.CÁC HÌNH THỨC CƠ BẢN

IV MỐI QUAN HỆ GIỮA BA HÌNH THỨC THỰC TIỄN

V.VAI TRÒ CỦA THỰC TIỄN ĐỐI VỚI NHẬN THỨC

C MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA THỰC TIỄN VÀ NHẬN THỨC

I BẢN CHẤT MỐI QUAN HỆ GIỮA NHẬN THỨC VÀ THỰC TIỄN

II MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA THỰC TIỄN VÀ NHẬN THỨC

D.VẬN DỤNG MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA NHẬN THỨC VÀ THỰC TIỄN VÀO VIỆT NAM TRONG THỜI KÌ ĐỔI MỚI ĐẾN NAY

I, ĐỜI SỐNG DÂN GIAN

II, ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

E.BÀI HỌC BẢN THÂN

KẾT LUẬN

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Đầu tiên, nhóm 10 xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Trường Đại học Thương Mại đã đưa học phần Triết học Mác -Lênin vào trương trình giảng dạy Đặc biệt, nhóm xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến giảng viên TS Lê Thị Loan truyền đạt những kiến thức quý báu,hướng dẫn phương pháp học tập cho chúng em trong suốt thời gian học tập vừa qua Trong thời gian học tập, chúng em đã có thêm cho mình nhiều kiến thức bổ ích, tinh thần học tập hiệu quả, nghiêm túc.Triết học Mác -Lênin là học phần rất thú vị, vô cùng

bổ ích và có tính thực tế cao Đảm bảo cung cấp đủ kiến thức, gắn liền với nhu cầu thực tiễn của sinh viên Tuy nhiên, do vốn kiến thức còn nhiều hạn chế và khả năng tiếp thu thực tế còn nhiều bỡ ngỡ Mặc dù nhóm đã cố gắng hết sức nhưng chắc chắn bài thảo luận khó có thể tránh khỏi những thiếu sót và nhiều chỗ còn chưa chính xác, kính mong

cô xem xét và góp ý để bài thảo luận của nhóm được hoàn thiện hơn

Nhóm 10 xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Triết học là thành tựu nhận thức và hoạt động thực tiễn cải tạo con người và loài người nói chung Quá trình hình thành và phát triển của triết học diễn ra quanh co, phức tạp và lâu dài Vấn đề quan hệ giữa nhận thức và thực tiễn có tầm quan trọng đặc biệt trong triết học xã hội của chủ nghĩa Mác -Lênin Chính vì vậy việc tìm hiểu mối quan hệ biện chứnggiữa nhận thực và thực tiễn là vô cùng quan trọng, cần thiết Nhận thức là gì? Thực tiễn làgì? Con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không? là những vấn đề cơ bản của triết học mà mọi trào lưu, khuynh hướng triết học khác nhau, đặc biệt là triết học truyền thống phải giải quyết Sự tác động qua lại giữa nhận thực và thực tiễn ra sao? Vai trò của chúng đối với nhau như thế nào? Điều đó nhóm 10 sẽ làm sáng tỏ trong nội dung bài tiểu luận với đề tài: "Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa nhận thức và thực tiễn Vận dụng lí luận đó để tìm hiểu mối quan hệ này ở Việt Nam trong thời kì đổi mới cho đến nay và rút ra bài học cho bản thân." Mặc dù tôi đã cố gắng tìm tòi với tinh thần tráchnhiệm, song do mới tiếp xúc với triết học, kiến thức còn nhiều hạn chế chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong thầy chủ nhiệm bộ môn cùng các bạn đọc góp ý bổ sung để tôi có thể hoàn thiện thêm kiến thức của mình

Trang 5

A,NHẬN THỨC

I NGUỒN GỐC, BẢN CHẤT CỦA NHẬN THỨC

Triết học Mác - Lênin thừa nhận sự tồn tại khách quan của thế giới và cho rằng thế giới khách quan là đối tượng của nhận thức Không phải ý thức của con người sản sinh ra thế giới mà thế giới vật chất tồn tại khách quan độc lập với ý thức con người là nguồn gốc

“duy nhất và cuối cùng” của nhận thức Triết học Mác - Lênin khẳng định khả năng nhận thức thế giới của con người V.I Lênin đã chỉ rõ chỉ có những cái mà con người chưa biếtchứ không có cái gì không thể biết: ”Dứt khoát là không có và không thể có bất cứ sự khác nhau nào về nguyên tắc giữa hiện tượng và vật tự nó chỉ có sự khác nhau giữa cái đãđược nhận thức và cái chưa được nhận thức”

* Quan niệm về thức của trào lưu trước triết học Mác

- Quan điểm duy tâm khách quan: Cho rằng nhận thức là sự hồi tưởng lại của linh hồn bất

tử về thế giới các ý niệm mà nó đã chiêm ngưỡng được nhưng bị lãng quyên

- Quan điểm của chủ nghĩa duy vật trước Mác: Thừa nhận con người nhận thức được thế giới Tuy nhiên do hạn chế bởi tính trực quan và siêu hình, nên họ hiểu nhận thức là sự phản ánh đơn giản, sao chép máy móc nguyên si sự vật

* Quan điểm về bản chất nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng

Sự ra đời của CNDVBC đã tạo ra một cuộc cách mạng trong lí luận nhận thức Bằng sự

kế thừa những yếu tố hợp lí, nhận thức một cách sang tạo và được sự minh chứng của cácthành tựu khoa học kỹ thuật, C.Mác và Ăngghen đã xây dựng nên học thuyết DVBC, họcthuyết này dựa trên các nguyên tắc cơ bản sau:

- Thừa nhận đối tượng nhận thức là thế giới hiện thực khách quan, tồn tại độc lập với ý thức của con người

- Khẳng định con người có khả năng nhận thức được thế giới khách quan

- Nhận thức là một quá trình biện chứng từ chưa biết đến biết, biết ít đến biết nhiều

- Thực tiễn là cơ sở trực tiếp và chủ yếu nhất hình thành nên quá trình nhận thức

Triết học Mác - Lênin cho rằng nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực khách quan vào

bộ óc người; là quá trình tạo thành tri thức về thế giới khách quan trong bộ óc con người:

“Tri giác và biểu tượng của chúng ta là hình ảnh của các sự vật đó”; “Cảm giác của chúng

ta, ý thức của chúng ta chỉ là hình ảnh của thế giới bên ngoài và dĩ nhiên là Nếu không cócái bị phản ảnh thì không thể có cái phản ánh, nhưng cái bị phản ánh tồn tại độc lập với

Trang 6

cái phản ánh” Điều này thể hiện quan niệm duy vật về nhận thức chống lại quan niệm duy tâm về nhận thức Nhận thức là một quá trình phức tạp, quá trình này xinh và giải quyết mâu thuẫn chứ không phải quá trình máy móc giản đơn thụ động và nhất thời:

“Nhận thức là sự tiến gần mãi mãi và vô tận của tư duy đến khách thể Phản ánh của thế giới tự nhiên trong tư tưởng con người phải được hiểu không phải một cách “chết cứng”,

“trừu tượng”, không phải không vận động, không mâu thuẫn, mà là trong quá trình vĩnh viễn của vận động, của sự nảy sinh màu thuận và sự giải quyết những màu thuận đó”.Nhận thức là một quá trình biện chứng có vận động và phát triển, là quá trình đi từ chưa biết đến biết, từ biết ít thôi biết nhiều hơn, từ biết chưa đầy đủ đến đầy đủ hơn Đây là một quá trình, không phải nhận thức một lần là xong, mà có phát triển, có bổ sung và hoàn thiện: “Trong lý luận nhận thức, cũng như trong tất cả những lĩnh vực khác của khoa học, cần suy luận một cách biện chứng, nghĩa là đừng giả định rằng nhận thức của chúng ta là bất di bất dịch và có sẵn, mà phải phân tích xem sự hiểu biết này sinh ra từ sự không hiểu biết như thế nào, sự hiểu biết không đầy đủ và không chính xác trở thành đầy

đủ hơn và chính xác hơn như thế nào”

Trong quá trình nhận thức của con người luôn luôn nãy sinh quan hệ biện chứng giữa nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận; nhận thức thông thường và nhận thức khoa học Nhận thức kinh nghiệm và nhận thức dựa vào sự quan sát trực tiếp các sự vật, hiện tượng hay các thí nghiệm thực nghiệm khoa học Kết quả của nhận thức kinh nghiệm là những tri thức kinh nghiệm thông thường hoặc tri thức thực nghiệm khoa học Tri thức kinh nghiệm đóng cái trò quan trọng trong đời sống thường ngày của con người Tuy nhiên, tri thức kinh nghiệm còn hạn chế thì nó mới đem lại sự hiểu biết và gặp mặt riêng

lẻ, bên ngoài của sự vật và còn rời rạc Tri thức kinh nghiệm chưa chỉ ra được tính tất yếu, mối quan hệ bản chất của các sự vật hiện tượng Do vậy, Ph Ăngghen đã khẳng định: “Sự quan sát dựa vào kinh nghiệm tự nó không bao giờ có thể chứng minh được đầy đủ tính tất yếu” Nhận thức lý luận là nhận thức sự vật, hiện tượng một cách gián tiếpdựa trên các hình thức tư duy trừu tượng như khái niệm, phán đoán, suy luận để khái quáttính bản chất, quy luật, tính tất yếu của các sự vật, hiện tượng Nhận thức thông thường lànhận thức được hình thành một cách tự phát, trực tiếp trong hoạt động hằng ngày và trong của con người Nhận thức khoa học là nhận thức được hình thành chủ động, tự giác của chủ thể nhằm phản ánh những mối liên hệ bản chất, tất nhiên, mang tính quy luật của đối tượng nghiên cứu

Nhận thức là quá trình tác động biện chứng giữa chủ thể nhận thức và khách thể nhận thức trên cơ sở hoạt động thực tiễn của con người Bản chất của nhận thức là quá trình phản ánh tích cực sáng tạo thế giới vật chất khách quan bởi con người vì thế chủ thể nhậnthức chính là con người Nhưng đó là con người hiện thực, đang sống, trong hoạt động

Trang 7

thực tiễn và đang nhận thức trong những điều kiện lịch sử - xã hội cụ thể nhất định tức là con người đó phải thuộc về một giai cấp, một dân tộc nhất định, có ý thức, lợi ích, nhu cầu, cá tính, tình cảm, v.v Các yêu tố đó gián tiếp hay trực tiếp đều tham gia vào quá trình nhận thức của chủ thể Con người là chủ thể nhận thức cũng bị giới hạn bởi điều kiện lịch sử có tính chất lịch sử - xã hội Theo triết học Mác -Lênin, con người chỉ trở thành chủ thể nhận thức, khi con người đó là thành viên của xã hội, tham gia vào hoạt động của cộng đồng nhằm cải tạo khách thể Vì thế, chủ thể nhận thức không chỉ là những cá nhân con người (với tư cách là thành viên của xã hội) mà còn là những tập đoànngười cụ thể, một dân tộc cụ thể, là loài người nói chung Nếu chủ thể nhận thức trả lời câu hỏi: ai nhận thức, thì khách thể nhận thức trả lời câu hỏi: cái gì được nhận thức? Theotriết học Mác-Lênin, khách thể nhận thức không đồng nhất với toàn bộ hiện thực khách quan mà chỉ là một bộ phận, một lĩnh vực của hiện thực khách quan, nằm trong diện hoạt động nhận thức và trở thành đối tượng nhận thức của chủ thể nhận thức Vì thế, khách thểnhận thức không chỉ là thế giới vật chất mà có thể còn là tư duy, tâm lý, tư tưởng, tinh thần, tình cảm, v.v… Khách thể nhận thức cũng có tính lịch sử - xã hội, cũng bị chế ước bởi điều kiện lịch sử - xã hội cụ thể Bởi lẽ, do điều kiện lịch sử - xã hội mà một bộ phận nào đó của hiện thực khách quan mới trở thành khách thể nhận thức Khách thể nhận thứcluôn luôn thay đổi trong lịch sử cùng với sự phát triển của hoạt động thực tiễn cũng như

sự mở rộng năng lực nhận thức của con người Khách thể nhận thức cũng không đồng nhất với đối tượng nhận thức Đối tượng nhận thức là một khía cạnh, một phương diện, một mặt nào đó của hiện thực khách quan mà chủ thể nhận thức tập trung vào nghiên cứu, tìm hiểu Như vậy, khách thể nhận thức rộng hơn đối tượng nhận thức

Hoạt động thực tiễn của con người chính là cơ sở của mối quan hệ giữa chủ thể nhận thức

và khách thể nhận thức Chính vì vậy, hoạt động thực tiễn là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý Từ trên chúng ta có thể thấy, nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực khách quan một cách tích cực, chủ động, sáng tạo của con người trên cơ sở thực tiễn mang tính lịch sử cụ thể

Ví dụ: Ông bà ta thường hay nói “có tiền mua tiên cũng được”, là sự nhận thức, tiền là vật chất, nghĩa là tiền được con người nhận thức nó có nhiều công dụng và đặc điểm: dùng để mua bán, sinh sống… do hiểu biết được như vậy, con người dùng hiểu biết đó tác động trở lại tiền như tìm cách lấy thật nhiều tiền (tác động về số lượng), in tiền giả (tác động về chất lượng), lừa tiền, hình thành các học thuyết tài chính tiền tệ…

Thực tiễn theo tiếng Hy Lạp cổ “Practica”, có nghĩa đen là hoạt động tích cực Các nhà triết học duy tâm cho hoạt động nhận thức, hoạt động của ý thức, hoạt động của tinh thần

Trang 8

nói chung là hoạt động thực tiễn Các nhà triết học tôn giáo thì cho hoạt động sáng tạo vũtrụ của thực đấy là hoạt động thực tiễn Các nhà triết học duy vật trước triết học duy vật biện chứng có nhiều đóng góp cho quan điểm duy vật về nhận thức, nhưng chưa có một đại biểu nào hiểu đúng bản chất của thực tiễn cũng như vai trò của thực tiễn đối với nhận thức Không phải ngẫu nhiên mà trong luận đề số 1 của Luận c-ương về Phoiơbắc

(Phoiơbắc), C.Mác viết: “Khuyết điểm chủ yếu của toàn bộ chủ nghĩa duy vật từ trước đến nay - kể cả chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc - là sự vật hiện thực, cái cảm giác được, chỉ được nhận thức dưới hình thức khách thể hay hình thức trực quan, chứ không được nhận thức là hoạt động cảm giác của con người là thực tiễn" Chính vì vậy, cũng như trong Luận c-ương về Phoiơbắc, C.Mác cũng khẳng định lại “Điểm cao nhất mà chủ nghĩa duy vật trực quan, tức là chủ nghĩa duy vật không quan niệm tính cảm giác là trongthực tiễn vươn tới được sự trực quan việc những cá nhân riêng biệt trong “xã hội công dân” Theo quan điểm của triết học Mác - Lênin, thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vậtchất - cảm tính, có tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội phục vụ nhân loại tiến bộ

Chân lý

- Khái niệm : Mọi quá trình nhận thức đền dẫn tới sự sáng tạo ra những tri thức, tức là những hiểu biết c ủa con người vê thực tại khách quan, nhưng không phải mọi tri thức đều có nội dung phù hợp với thực tại khách quan, bởi vì nhận thức thuộc về sự phản ánh của con người đối với thực tại khách quan đó Thực tế lịch sử nhận thức của toàn nhân loại cũng như của mỗi con người đã chứng minh rằng, những tri thức mà con người đã vàđang đ ạt được không phải bao giờ cũng phù hợp với thực tế khách quan; trái lại có nhiềutrường hợp không phù hợp, thậm chí là đối lập với thực tế khách quan Khái niệm chân lýđược dùng để chỉ những tri thức có nội dung phù hợp với thực tế khách quan; sự phù hợp

đó được chứng minh bởi thực tiễn Theo Lê-nin “Sự phù hợp giữa tư tưởng và khách thể

là một quá trình : tư tưởng (=con người) không nên hình dung chân lý dưới dạng một sự đứng im chết c ứng,một bức tranh (=hình ảnh) đơn giản, lờ mờ, nhợt nhạt, không khuynh hướng, không vận động K Marx : "Vấn đề tìm hiểu xem tư duy của con người có thể đạttới chân lí khách quan hay không, hoàn toàn không phải là vấn đề lí luận mà là một vấn

đề thực tiễn Chính trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lí"

Ngoài ra, khi xem xét về các tính chất của chân lí, người ta đưa ra 4 tính chất: tính khách quan, tính tương đối, tính tuyệt đối và tính cụ thể Nói về mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa tính tương đối và tính tuyệt đối của chân lí, Lenin viết: "Chân lí tuyệt đối được cấu thành từ tổng số những chân lí tương đối đang phát triển; chân lí tương đối là những phản ánh tương đối đúng c ủa một khách thể tồn tại độc lập với nhân loại; những

Trang 9

phản ánh ấy ngày càng trở nên chính xác hơn; mỗi chân lí khoa học, dù là có tính tương đối, vẫn chứa đựng một yếu tố của chân lí tuyệt đối".

II, PHÂN LOẠI NHẬN THỨC

2.Nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận.

Dựa vào trình độ thâm nhập vào bản chất của đối tượng, ta có thể phân chia thành nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận

a Nhận thức kinh nghiệm: là loại nhận thức từ sự quan sát trực tiếp các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội hay trong các hiện tượng khoa học Kết quả nhận thức kinh nghiệm là tri thức kinh nghiệm Tri thức này có 2 loại là tri thức kinh nghiệm thông thường và tri thức kinh nghiệm khoa học

b Nhận thức lý luận: là loại nhận thức gián tiếp, trừu tượng và khái quát về bản chất

và quy luật của các sự vật, hiện tượng Nhận thức lý luận có tính gián tiếp vì nó được hình thành và phát triển trên cơ sở của nhận thức kinh nghiệm Nhận thức lý luận có tính trừu tượng và khái quát vì nó tập trung phản ánh cái bản chất mang tính quy luật của sự vật, hiện tượng Do đó, tri thức lý luận thể hiện chân lý sâu sắc hơn, có hệ thống hơn

3.Nhận thức thông thường và nhận thức khoa học.

Dựa vào tính tự phát hay tự giác của sự xâm nhập vào bản chất của sự vật thì nhận thức chia thành nhận thức thông thường và nhận thức khoa học

a Nhận thức thông thường (nhận thức tiền khoa học): là loại nhận thức được hình thành một cách tự phát, trực tiếp từ trong hoạt động hàng ngày của con người Nó phản ánh sự vật, hiện tượng xảy ra và tất cả các đặc điểm chi tiết, cụ thể cùng với những sắc thái khác nhau của sự vật

Nhận thức thông thường mang tính phong phú, đa dạng, mang đậm chất cá nhân Và là

cơ sở để hình thành nhận thức khoa học

Trang 10

b Nhận thức khoa học là loại nhận thức được hình thành một cách tự giác và gián tiếp từ sự phản ánh đặc điểm bản chất, những quan hệ tất yếu của các sự vật.

- Khoa học ra đời và phát triển là thành quả vĩ đại của trí tuệ con người, đánh dấu một bước tiến mới trong việc nhận thức và cải tạo thế giới Khoa học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạt động của con người, và vai trò đó tăng lên trong đời sống xã hội

- Nhận thức khoa học mang tính trừu tượng, khái quát ngày càng cao Nó thể hiện sức mạnh, tính năng động sáng tạo của tư duy trừu tượng Nó phản ánh dưới dạng logic trừu tượng những thuộc tính, kết cấu, những mối quan hệ bản chất, những quy luật của thế giới khách quan, chứ không dừng lại ở cái bề ngoài, cái ngẫu nhiên, cái đơn nhất Mỗingành khoa học được thể hiện bằng các phạm trù, quy luật chung và riêng Và đến lượt mình các phạm trù, quy luật đó lại trở thành chỗ dựa, công cụ cho mỗi ngành khoa học

- Nhận thức khoa học có tính khách quan, khoa học hướng tới nghiên cứu các kháchthể của tự nhiên, xã hội và bản thân con người như những đối tượng vận động và phát triển phục tùng các quy luật khách quan Khoa học phải dựa vào sự thật và lý trí của con người chứ không thể dựa vào những ảo tưởng chủ quan hay lòng tin mù quáng nào đó Khoa học có nhiệm vụ nghiên cứ hiện thực, kể cả hiện thực tư tưởng như khách thể tồn tại độc lập với chủ thể Những phẩm chất cá nhân và định hướng giá trị của nhà khoa học

có vai trò quan trọng trong sáng tạo khoa học Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu trong giá trịkhoa học lại không phụ thuộc vào ý muốn của người nghiên cứu

- Tri thức khoa học phải có tính hệ thống và tính căn cứ Đây là đặc trưng quan trọng để phân biệt nhận thức khoa học và nhận thức thông thường Khoa học là một hệ thống chỉnh thể các khái niệm, phạm trù, quy luật, có liên hệ nội tại với nhau mang tính chân thực Khoa học phải hướng tới chân lý, việc tìm tòi và nhận thức chân lý Tính chân

lý được chứng minh không chỉ bằng việc áp dụng vào thực tiễn mà khoa học còn tạo ra những phương thức chứng minh, tiêu chuẩn riêng của mình Khoa học mang tính chặt chẽlogic cao, khoa học không chỉ sử dụng ngôn ngữ thông thường và cần phải sử dụng ngôn ngữ nhân tạo, chuyên môn hóa để mô tả nghiên cứu khách thể Ngôn ngữ khoa học làm cho ngôn ngữ thông thường ngày càng phát triển và phong phú hơn

- Bên cạnh đó, khoa học sử dụng 1 hệ thống các phương tiện và phương pháp nghiên cứu chuyên môn Các máy móc, thiết bị hỗ trợ đắc lực cho nhận thức khoa học vì chúng tác động trực tiếp đến khách thể nghiên cứu, cho phép khám phá những thuộc tính mới của khách thể, cho phép vạch ra những trạng thái có thể của nó trong điều kiện chủ thể kiểm soát được

Trang 11

- Để tiếp nhận tri thức khoa học cần có phương pháp khoa học Đó là phương pháp thu nhận tri thức kinh nghiệm như quan sát, thí nghiệm; là các phương pháp để xây dựng

và phát triển lý thuyết khoa học như phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, lịch sử

và logic, từ trừu tượng đến cụ thể, mô hình hóa, hình thức hóa hệ thống, cấu trúc Thật vậy, hoạt động khoa học đòi hỏi các nhà khoa học nắm vững các phương tiện, phương pháp nghiên cứu Đồng thời các nhà khoa học phải có định hướng giá trị đúng đắn, có phẩm chất đạo đức chung và cá nhân phù hợp với những hoạt động đặc thù của mỗi lĩnh vực khoa học

III.PHÂN TÍCH BIỆN CHỨNG CỦA NHẬN THỨC

Con đường biện chứng của quá trình nhận thức: là một quá trình bắt đầu từ Trực quansinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn

Chủ nghĩa duy vật biện chứng coi nhận thức không phải là sự phản ánh giản đơn, thụ động, mà là một quá trình gắn liền với hoạt động thực tiễn Quá trình đó đã được Lênin chỉ ra như sau :

"Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn - đó làcon đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức hiện thực khách quan"

1 Giai đoạn từ Trực quan sinh động (nhận thức cảm tính) đến Tư duy trừu tượng (nhận thức lý tính):

- Nhận thức cảm tính là giai đoạn mở đầu của quá trình nhận thức Đó là giai đoạn nhận thức mà con người, trong hoạt động thực tiễn, sử dụng các giác quan để tiến hành phản ánh các sự vật, hiện tượng khách quan, mang tính chất cụ thể, với những biểu hiện phong phú của nó trong mối quan hệ với sự quan sát của con người Ở giai đoạn này, nhận thức mới chỉ phản ánh được cái hiện tượng, cái biểu hiện bên ngoài của sự vật cụ thể, trong hiện thực khách quan, chưa phản ánh được cái bản chất, quy luật, nguyên nhân của nhữnghiện tượng quan sát được Do đó, đây chính là giai đoạn thấp của quá trình nhận thức Trong giai đoạn này nhận thức được thực hiện qua ba hình thức cơ bản là: cám giác, tri giác và biểu tượng

+ Cảm giác của con người về sự vật, hiện tượng khách quan là hình ảnh sơ khai nhất, đơngiản nhất của các quá trình nhận thức, nhưng nếu không có nó thì sẽ không thể có bất cứ nhận thức nào về sự vật, hiện tượng khách quan Mỗi cảm giác của con người về sự vật, hiện tượng khách quan đều có một nội dung khách quan, mặc dù nó thuộc về sự phản ánhchủ quan của con người Cảm giác là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Nó là

cơ sở hình thành nên tri giác

Trang 12

+ Tri giác là sự phản ánh tương đối toàn vẹn của con người về những biểu hiện của sự vật, hiện tượng khách quan, cụ thể, cảm tính, được hình thành trên cơ sở liên kết, tổng hợp những cảm giác về sự vật, hiện tượng So với cảm giác, tri giác là hình thức nhận thức cao hơn, đầy đủ hơn, phong phú hơn, nhưng đó vẫn chỉ là sự phản ánh đối với những biểu hiện bên ngoài của sự vật, hiện tượng khách quan, chưa phản ánh được cái bản chất, quy luật khách quan.

+ Biểu tượng là sự tái hiện hình ảnh về sự vật, hiện tượng khách quan vốn đã được phản ánh bởi cảm giác và tri giác; nó là hình thức phản ánh cao nhất và phức lạp nhất của giai đoạn nhận thức cảm tính, đồng thời nó cũng chính là bước quá độ từ giai đoạn nhận thức cảm tính lên nhận thức lý tính Đặc điểm của biểu tượng là có khả năng tái hiện những hình ảnh mang tính chất biểu trưng về sự vật, hiện tượng khách quan, nó có tính chất liên tưởng về hình thức bên ngoài, bởi thế nó bắt đầu có tính chất của những sự trừu tượng hóa về sự vật, hiện tượng Đó là tiền đề của những sự trừu tượng hóa của giai đoạn nhận thức lý tính

Tuy nhiên, ở giai đoạn cảm tính, nhận thức vẫn chưa phản ánh được cái bản chất, quy luậtkhách quan để nhờ đó nhận thức có thể lý giải được đúng đắn các sự vật, hiện tượng đượcphản ánh trong giai đoạn nhận thức cảm tính, có khả năng đáp ứng được nhu cầu nhận thức phục vụ hoại động thực tiễn, nhu cầu hoạt động cải biến sáng tạo thế giới khách quan

- Nhận thức lý tính là giai đoạn cao hơn của quá trình nhận thức Đó là sự phản ánh gián tiếp, trừu tượng và khái quát những thuộc tính, những đặc điểm bản chất của sự vật, hiện tượng khách quan, Đây là giai đoạn nhận thức thực hiện chức năng quan trọng nhất là tách ra và nắm lấy cái bản chất, có tính quy luật của các sự vật, hiện tượng Nhận thức lý tính được thực hiện thông qua ba hình thức cơ bản là: khái niệm, phán đoán và suy lý (suy luận)

+ Khái niệm là hình thức cơ bản của nhận thức lý tính, phản ánh những đặc tính bản chất của sự vật, hiện tượng Sự hình thành khái niệm là kết quả của sự khái quát, tổng hợp biện chứng các đặc điểm, thuộc tính của sự vật, hiện tượng hay một lớp các sự vật, hiện tượng Nó là cơ sở hình thành nên những phán đoán trong quá trình con người tư duy về

sự vật, hiện tượng khách quan

+ Phán đoán là hình thức cơ bản của nhận thức lý tính, được hình thành thông qua việc liên kết các khái niệm với nhau theo phương thức khẳng định hay phủ định một đặc điểm,một thuộc tính nào đó của đối tượng nhận thức

Trang 13

Theo trình độ phát triển của nhận thức, phán đoán được chia làm ba loại: phán đoán đơn nhất, phán đoán đặc thù và phán đoán phổ biến Phán đoán phổ biến là hình thức phản ánh thể hiện sự bao quát rộng lớn nhất về thực tại khách quan.

+Suy lý là hình thức cơ bản của nhận thức lý tính, được hình thành trên cơ sở liên kết cácphán đoán nhằm rút ra tri thức mới về sự vật, hiện tượng Điều kiện để có bất cứ một suy

lý nào cũng phải là trên cơ sở những tri thức đã có dưới hình thức là những phán đoán, đồng thời tuân theo những quy tắc lôgíc của các loại hình suy luận, đó là suy luận quy nạp (đi từ những cái riêng đến cái chung) và suy luận diễn dịch (đi từ cái chung đến mỗi cái riêng, cái cụ thể)

=> Mối quan hệ giữa nhận thức cảm tính, nhận thức lý tính với thực tiễn:

– Trực quan sinh động và tư duy trừu tượng là hai giai đoạn của một quá trình nhận thức Tuy có những sự khác biệt về mức độ phản ánh hiện thực khách quan, nhưng giữa hai quá trình đó có sự liên hệ, tác động qua lại Trên thực tế, nhận thức lý tính không thể thựchiện nếu thiếu tài liệu do nhận thức cảm tính mang lại Nhận thức cảm tính là cơ sở tất yếu của tư duy trừu tượng và ngược lại, nhận thức lý tính sẽ làm cho nhận thức cảm tính sâu sắc và chính xác hơn

– Mỗi kết quả của nhận thức, mỗi nấc thang mà con người đạt được trong nhận thức thế giới khách quan đều là kết quả của cả trực quan sinh động và tư duy trừu tượng được thực hiện trên cơ sở thực tiễn, do thực tiễn quy định Trong đó, trực quan sinh động là điểm khởi đầu, tư duy trừu tượng tổng hợp những tri thức của trực quan sinh động thành các kết quả của nhận thức và thực tiễn là nơi kiểm nghiệm tính chân thực của các kết quả của nhận thức đó Đó chính là con đường biện chứng của nhận thức

– Mỗi giai đoạn nhận thức có những nét đặc trưng riêng Nhận thức ở giai đoạn cảm tính gắn liền với thực tiễn, gắn liền với sự tác động trực tiếp của khách thể nhận thức lên các giác quan của chủ thể nhận thức Nhận thức ở giai đoạn lý tính đã thoát khỏi sự tác động trực tiếp của khách thể nhận thức để có thể bao quát sự vật, hiện tượng Tuy vậy, nhận thức ở giai đoạn này nhất thiết phải được thực tiễn kiểm nghiệm, chứng minh nhằm tránh nguy cơ trở thành ảo tưởng, viển vông, không thực tế Đó là thực chất của mệnh đề “từ tưduy trừu tượng đến thực tiễn”

– Mỗi chu trình nhận thức đều phải đi từ thực tiễn đến trực quan sinh động rồi đến tư duytrừu tượng rồi đến thực tiễn Trong đó, thực tiễn giữ vai trò là điểm bắt đầu và khâu kết thúc của chu trình đó Nhưng sự kết thúc chu trình nhận thức này lại là sự khởi đầu của chu trình nhận thức mới ở mức độ cao hơn, rộng hơn chu trình cũ và cứ thế vận động mãi

Trang 14

làm cho nhận thức của con người ngày càng sâu hơn, nắm được bản chất và quy luật của thế giới khách quan, phục vụ cho hoạt động biến đổi thế giới.

– Trên con đường nhận thức đó, cứ mỗi lần mâu thuẫn trong nhận thức được giải quyết thì lại xuất hiện mâu thuẫn mới Mỗi lần giải quyết mâu thuẫn của nhận thức là một lần nhận thức được nâng lên trình độ mới, chính xác hơn Quá trình giải quyết mâu thuẫn củanhận thức cũng là quá trình loại bỏ dần những nhận thức sai lầm đã phạm phải Kết quả của quá trình đó là hình ảnh chủ quan được tạo ra ngày càng có tính bản chất, có nội dungkhách quan hơn và cụ thể hơn Trong quá trình đó không ngừng nảy sinh, vận động và giải quyết các mâu thuẫn của nhận thức để tạo ra các khái niệm, phạm trù, quy luật nhằm phản ánh đúng bản chất của thế giới vật chất đang vận động, chuyển hoá và phát triển không ngừng

=> Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về sự thống nhất giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính hoàn toàn đối lập với chủ nghĩa duy cảm (đề cao vai trò của nhận thức cảm tính) và chủ nghĩa duy lí (đề cao vai trò của nhận thức lí tính )

2.Giai đoạn từ Tư duy trừu tượng (Nhận thức lý tính) đến Thực tiễn:

– Nhận thức đến trình độ tư duy trừu tượng rồi thi ta phải quay trở về thực tiễn để kiểm tra Chỉ có qua thực tiễn ta mới có thể xác định được nhận thức đó là đúng đắn hay sai lầm

- Mục đích của nhận thức là để định hướng cho hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động cải tạo thế giới Đến lượt mình, hoạt động sản xuất vật chất là cơ sở cho sự tồn tại

và phát triển của xã hội

- Quay trở về thực tiễn, nhận thức hoàn thành một chu trình biện chứng của nó Trên

cơ sở hoạt động thực tiễn, một chu trình nhận thức mới lại bắt đầu và cứ thế mãi mãi

TỔNG KẾT:

Con đường biện chứng của quá trình nhận thức là cơ sở khoa học chỉ ra yêu cầu và phương pháp cho quá trình đổi mới tư duy như: sự thống nhất giữa lý luận – thực tiễn, tính liên tục của quá trình nhận thức, mối quan hệ giữa tổng kết thực tiễn – phát triển lý luận…Đồng thời, biện chứng quá trình nhận thức là cơ sở khoa học để quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, phê phán chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa kinh nghiệm

B,THỰC TIỄN

Trang 15

I.KHÁI NIỆM:

*Quan niệm trước Mác:

-CNDT: họat động của tinh thần nói chung là họat động thực tiễn

-Triết học Tôn giáo: họat động sáng tạo ra vũ trụ của Thượng đế là họat động thực tiễn -CNDVSH: sự vật hiện thực , cái cảm giác được, chỉ được nhận thức dưới hình thức khách thể hay hình thức trực quan

=))chưa hiểu bản chất của hoạt động thực tiễn, nhất là vai trò của nó đối với nhận thức

*Quan niệm của Mác:

Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất- cảm tính có mục đích mang tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải biến thế giới khách quan

Thực tiễn là hoạt động con người sử dụng công cụ tác động vào đối tượng vật chất làm cho đối tượng đó thay đổi theo mục đích của mình Là hoạt động đặc trưng của bản chất cin người, thực tiễn không ngừng phát triển bởi con người qua các qua trình lịch sửTuy nhiên không phải mọi hoạt động có mục đích đều là thực tiễn Hoạt động tư duy, hoạt động nhận thức, hoạt động NCKH đều là những hoạt đông có mục đích nhưng chúng không được coi là hoạt động thực tiễn mà được coi là những hoạt động tinh thần, mọi hoạt đông đều diễn ra trong não bộ con người, không diễn ra ngoài thực tế Vì thế không chỉ là hoạt động thực tiễn

II.TÍNH CHẤT CƠ BẢN:

-Tính trực quan cảm tính : thực tiễn không phải toàn bộ hoạt động của con người mà chỉ

là những hoạt động vật chất-cảm tính ,tức là những hoạt động vật chất của con người có thể được phản ánh bằng các giác quan

-Tính mục đích: Thực tiễn là hoạt động có ý thức, có tính mục đích ,khác với hoạt động manh tính bản năng của loài vật

-Tính lịch sử - xã hội: Thực tiễn không phải là những hoạt động thuần túy mang tính cá nhân mà luôn bị quy định bởi những điều kiện lịch sử -xã hội cụ thể, vì vậy thực tiễn không bất biến mà thay đổi tùy thuộc vào hoàn cảnh lịch sử xã hội

III.CÁC HÌNH THỨC CƠ BẢN:

Trang 16

– Hoạt động SẢN XUẤT VẬT CHẤT là hình thức hoạt động cơ bản, đầu tiên của thực tiễn Đây là hoạt động mà trong đó con người sử dụng những công cụ lao động tác động vào giới tự nhiên để tạo ra của cải vật chất, các điều kiện cần thiết nhằm duy trì sự tồn tại

và phát triển của mình HĐ sản xuất vật chất là hoạt động quan trọng nhất

VD: Hoạt động gặt lúa của nông dân, lao động của các công nhân trong các nhà máy, xí nghiệp…

– Hoạt động CHÍNH TRỊ– XÃ HỘI là hoạt động của các cộng đồng người, các tổ chức khác nhau trong xã hội nhằm cải biến những quan hệ chính trị-xã hội để thúc đẩy xã hội phát triển

VD: : Hoạt động bầu cử đại biểu Quốc hội tiến hành Đại hội Đoàn Thanh niên trường học, Hội nghị công đoàn

– Hoạt động THỰC NGHIỆM khoa học là một hình thức đặc biệt của thực tiễn, được tiếnhành trong những điều kiện do con người tạo ra, gần giống, giống hoặc lặp lại những trạng thái của tự nhiên và xã hội nhằm xác định những quy luật biến đổi, phát triển của đối tượng nghiên cứu Dạng hoạt động này có vai trò trong sự phát triển của xã hội, đặc biệt là trong thời kỳ cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại

VD: : Hoạt động nghiên cứu, làm thí nghiệm của các nhà khoa học để tìm ra các vật liệu mới, nguồn năng lượng.mới, vác-xin phòng ngừa dịch bệnh mới

IV MỐI QUAN HỆ GIỮA BA HÌNH THỨC THỰC TIỄN:

Các hình thức của thực tiễn có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau, cụ thể:– Hoạt động sản xuất vật chất là loại hoạt động có vai trò quan trọng nhất, đóng vai trò quyết định đối với các hoạt động thực tiễn khác Không có hoạt động sản xuất vật chất thìkhông thể có các hình thức thực tiễn khác Các hình thức thực tiễn khác, suy đến cùng cũng xuất phát từ thực tiễn sản xuất vật chất và nhằm phục vụ thực tiễn sản xuất vật chất VD: Hoạt động gặt lúa của nông dân, lao động của các công nhân trong các nhà máy, xí nghiệp…

– Ngược lại hoạt động chính trị – xã hội và hoạt động thực nghiệm khoa học có tác dụng kìm hãm hoặc thúc đẩy hoạt động sản xuất vật chất phát triển

Chính sự tác động qua lại lẫn nhau của các hình thức hoạt động cơ bản đó làm cho hoạt động thực tiễn vận động , phát triển và ngày càng có vai trò quan trọng đối với hoạt động nhận thức

Trang 17

Trong ba loại trên, hoạt động sản xuất vật chất có vai trò quyết định đối với các loại hoạt động thực tiễn Còn hoạt động chính trị – xã hội là hình thức cao nhất của thực tiễn Hoạt động khoa học là loại hình đặc biệt nhằm thu nhận kiến thức từ tự nhiên và xã hội

V.VAI TRÒ CỦA THỰC TIỄN ĐỐI VỚI NHẬN THỨC :

Thực tiễn đóng vai trò quyết định quyết định nhận thức

- Thực tiễn là cơ sở, động lực của nhận thức

+Thực tiễn đề ra nhu cầu, nhiệm vụ, cũng như khuynh hướng phát triển của nhận thức Chính con người có nhu cầu khách quan là phải giải thích thế giới và cải tạo thế giới đó, cho nên đã buộc con người trực tiếp tác động và các sự vật, hiện tượng bằng hoạt động thực tiễn của mình Nhờ đó làm cho các sự vật bộc lộ những thuộc tính, đặc điểm của mình, đem lại tài liệu cho nhận thức Chẳng hạn từ nhu cầu thực tiễn cần đo đạc đã làm cho toán học phát triển Hay do bệnh dịch đe doạ sự sống, con người phải nắm quy luật, bản chất của các loại vi rút, vi khuẩn gây bệnh để cải tạo nó, Cho nên xét đến cùng không có lĩnh vực tri thức nào lại không xuất phát từ thực tiễn

+Nhờ hoạt động thực tiễn mà các giác quan con người ngày càng phát triển, năng lực tư duy lôgíc nâng cao; hơn nữa con người còn toạ ra những phương tiện hỗ trợ cho các giác quan đó cho phép nhận thức được chính xác và sâu sắc hơn về sự vật

VD: Sự xuất hiện học thuyết Macxit vào những năm 40 của thế kỷ XIX cũng BẮT

NGUỒN từ hoạt động thực tiễn của các phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân chống lại giai cấp tư sản lúc bấy giờ

- Thực tiễn là mục đích của nhận thức

Nhận thức đầy đủ hiện thực khách quan là để áp dung vào hiện thực, cải tạo hiện thực Sự

áp dụng đó không còn cách nào khác là phải thông qua thực tiễn, đó là sự vật chất hoá những qui luật, tính tất yếu đã nhận thức được Điều đó không chỉ là mục đích của con người, mà còn là mục đích nói chung của các ngành khoa học Các qui luật, định luật của khoa học khái quát được nhờ hoạt động thực tiễn, mà còn là vì thực tiễn nó mới tồn tại

Ví như định luật áp suất khí quyển của Tôrisenlli dùng để tạo ra các vật thể bay, định luật

áp suất chất lỏng cua Becnulli đêr chế tạo máy bơm…

VD:Ngay cả những thành tựu mới đây nhất là khám phá và giải mã bản đồ gien người cũng ra đời từ chính thực tiễn, từ MỤC ĐÍCH chữa trị những căn bệnh nan y và từ MỤC ĐÍCH tìm hiểu, khai thác những tiềm năng bí ẩn của con người…có thể nói, suy cho

Trang 18

cùng, không có một lĩnh vực tri thức nào mà lại không xuất phát từ một MỤC ĐÍCH nào

đó của thực tiễn, không NHẰM vào việc phục vụ, hướng dẫn thực tiễn

- Thực tiễn là tiêu chuẩn kiểm tra chân lý

Thực tiễn là nguồn gốc, cơ sở, động lực của nhận thức, hình thành nên quá trình nhận thức, cho nên việc kiểm tra tính đúng đắn của tri thức là phải dựa vào thực tiễn, chứ không phải theo lối lập luận chủ quan C.Mác đã khẳng định: “Vấn đề tìm hiểu xem tư duy của con người có thể đạt tới chân lý khách quan không, hoàn toàn không phải là một vấn đề lý luận mà là một vấn đề thực tiễn Chính trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lý

* Ví dụ, như thuyết tương đối của A.Anh stanh chỉ được công nhận khi các thực nghiệm vật lý phát hiện ra sự phân rã hạt nhân tạo lên tia a va b

VD: Nhà bác học Galile tìm ra định luật về sức cản của không khí

Trái đất quay quanh mặt trời

Không có gì quý hơn độc lập tự do

Những ví dụ trên chứng minh cho thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý Bởi chỉ có đem những tri thức đã thu nhận được qua nhận thức đối chiếu với thực tiễn để kiểm tra, kiểm nghiệm mới có thể khẳng định được tính đúng đắn

*Sự tác động trở lại của nhận thức với thực tiễn

Lý luận tích cực sẽ thúc đẩy thực tiễn Lí luận, nhân thức xác định mục tiêu, phương hướng cho hoạt động thực tiễn Nếu lí luận đúng đắn, khoa học thì sẽ tạo điều kiện để định hướng, chỉ đạo, điều chỉnh hoạt động thực tiễn, làm cho hoạt động thực tiễn có hiệu quả

Thực tế cho thấy, lí luận cách mạng có vai trò to lớn trong thực tiễn cách mạng Lê Nin viết: “ Không có lí luận cách mạng thì không thể có phong trào cách mạng”

Bên cạnh đó, nếu lí luận không đúng (tiêu cực) không khoa học, không phản ánh đúng thực tiễn sẽ khiến quá trình cải tạo xã hội không hiệu quả, lạc lối, mất phương hướng

=)) Ý nghĩa phương pháp luận :

+Nhờ có thực tiễn là bản chất của nhận thức được làm rõ, thực tiễn là cơ sở động lực mụcđích của nhận thức và là tiêu chuẩn của chân lý cho mọi nhận thức đều xuất phát từ thực tiễn

Trang 19

+Phải luôn quán triệt quan điểm thực tiễn Con điểm thực tiễn yêu cầu việc nhận thức phải xuất phát từ thực tiễn, dựa trên cơ sở thực tiễn, phải coi trọng công tác tổng kết thực tiễn Việc nghiên cứu lý luận phải liên hệ với thực tiễn, học đi đôi với hành Nếu xa rời thực tiễn sẽ dẫn đến sai lầm của bệnh chủ quan, duy ý chí, ngược lại, nếu tuyệt đối hóa vai trò của thực tiễn sẽ rơi vào chủ nghĩa kinh nghiệm

C MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA THỰC TIỄN VÀ NHẬN THỨC

I BẢN CHẤT MỐI QUAN HỆ GIỮA NHẬN THỨC VÀ THỰC TIỄN

Mối liên hệ giữa nhận thức và thực tiễn ra sao? Trước tiên ta cần phải hiểu Mối liên hệ là phạm trù triết học như thế nào? Tính chất của nó ra sao? Các mối liên hệ mang tính đa dạng, mỗi lĩnh vực khác nhau của thế giới và biểu hiện những mối liên hệ khác nhau, rất phong phú và nhiều vẻ Mỗi loại mối liên hệ khác nhau có vai trò khác nhau đối với sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng có thể phân chia theo từng cặp như mối liên hệ bên ngoài và bên trong, chủ yếu và thứ yếu, mối liên hệ gián tiếp và trực tiếp sự phân chia này chỉ mang tính tương đối vì mỗi cặp mối liên hệ chỉ là một mắt xích, một bộphận của mối liên hệ phổ biến, chúng có thể chuyển hóa lẫn nhau tùy vào phạm vi bao quát của mối liên hệ hoặc do kết quả vận động và phát triển của sự vật và hiện tượng tuy nhiên sự phân chia này lại rất cần thiết vì qua đó sẽ xác định được vị trí và vai trò trong

sự vận đ ộng và phát triển của sự vật Từ việc nghiên cứu về mối liên hệ triết học Mác -Lênin đã rút ra quan điểm toàn diện trong nhận thức, khi nhận thức thì chúng ta cần phải

có một cái nhìn toàn diện, tránh những quan điểm phiến diện chỉ xết sự vật, hiện tượng ở một mối liên hệ mà đã vội vàn đưa ra kết luận về bản chất hay tính quy luật của chúng Bên cạnh đó các sự vật ,hiện tượng còn có rất nhiều mối liên hệ, các mối liên hệ có vai trò, vị trí khác nhau trong sự vận động, phát triển của sự vật Do vậy khi nghiên cứu sự vận động và phát triển của sự vật cần dựa vào thực tiễn cụ thể để tiến hành phân loại các mối liên hệ để thấy rõ nội dung, vai trò, vị trí của từng mối liên hệ và từ đó có cách tác động phù hợp nhằm đưa lại hiệu quả cao nhất trong các hoạt động của con người

Đây là hai phương thức quan hệ khác nhau với thế giới Kết quả của quan hệ nhận thức làtái hiện lại đối tượng trong ý thức, là mô hình nhận thức của đối tượng Còn kết quả của hoạt động thực tiễn là sự cải tạo vật chất đối với đối tượng Thực tiễn chỉ có mặt ớ nơi có các hình thức hoạt động có đối tượng cảm tính, có sự cải tạo đối tượng trên chực tế, chứ không phải là trong suy nghĩ Do vậy hoạt động nhận thức khoa học, giáo dục, tuyên truy

ền không phải là thực tiễn Bản thân khoa học chỉ có khả năng đem lại bức tranh lý tưởng

Trang 20

về thế giới trong nhưng đặc trưng, bản chất của nó Vấn đề cũng không thay đổi cả khi khoa học trở thành lực lượng sản xuất vật chất trực tiếp Bởi khi đó, bản thân lực lượng sản xuất tồn tại với tư cách là hình thức được đối tượng hoá của khoa học, còn khoa học vân tiếp tục là hình chức hoạt động tinh thần của con người, là sự phản ánh lý tưởng hiện thực

Đúng là thực tiễn không thể thiếu nhận thức.Song luận điểm đó không chứng tỏ sự đồng nhất của hai hình thức hoạt động khác nhau là thực tiễn và nhận thức

Thứ nhất cần lưu ý rằng tham gia vào thực tiễn chỉ gồm có các kết quả đã đạt được trong quá trình nhận thức trước đó Các kết quả đó đối với hoạt động nhận thức có một giá trí độc lập, còn đối với hoạt động thực tiễn thì chỉ là cơ sở lý luận, có giá trị như là một mô hình của tương lai Ý thức và sản phẩm của nó ( mục đích, mô hình, lý tưởng), trong trường hợp này, không có một giá trị độc lập, nó không có nhiệm vụ cải biến đối tượng cảm tính của tự nhiên hay xã hội

Thứ hai, đương nhiên là có một cơ chế (cho dù nó chưa được nghiên cứu đấy đủ) để đưa các kết quả hoạt động nhận thức vào thực tiên Chính cơ chế này đã chế định một khuynhhướng nghiên cứu mới - nghiên cứu triển khai Đây là một lĩnh vực mới mẻ, đòi hỏi chúng ta phải có những nỗ lực to lớn Song một điều hiển nhiên là thực tiễn cải tạo xã hội

do quần chúng tiến hành đòi hỏi phải hoạch định mục đích, chương trình, phải nhận thức các nhiệm vụ chiến lược và sách lược Chính vì vậy mà nó không thể thiếu nhận thức lý luận, nhận thức được tiếp biến vào các mục đích và các chương trình, phục tùng nhiệm

vụ cơ bản của thực tiễn cải tạo xã hội

Như vậy, giữa nhận thức và thực tiễn bao giờ cũng tồn tại một mối liên hệ không thể tách rời Song cho dù thực tiễn có hàm lượng nhận thức nhiều đ ến đâu đi chăng nữa, thì thực tiễn và nhận thức vẫn tồn tại với tư cách là hai lĩnh vực tương đối độc lập của hoạt động

xã hội và bao giờ hình ảnh lý tưởng (kết quả của hoạt động nhận thức) cũng đi trước hoạt

đ ộng thực tiên Nói cách khác, hoạt đ ộng bao giờ cũng bao hàm hai khâu cơ bản và mối liên hệ giữa chúng luôn mang tính lịch sử - cụ thể - đó là khâu nhận thức (sản xuất ra tri thức) và khâu thực tiễn (cải tạo hiện thực )

Mối quan hệ giữa thực tiễn và nhận thức còn được làm sáng tỏ hơn và cụ thể hơn khi chúng ta xét nó từ quan hệ chủ thề - khách thể Thực tiễn là khâu trung gian cơ bản giữa chủ thể và khách thề Chủ thể ở đây không đơn gi ản là con người có tư duy nhận thức, con người bằng xương thịt Chủ thể được thể hiện qua tồng thể các đặc trưng xã hội của

nó, còn thực tiễn là phương thức cơ bản để nó tác động đến khách thể Thực tiễn có thề

Ngày đăng: 25/04/2022, 23:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w