TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI KHOA KINH TẾ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG KỲ THI KẾT THÚC HỌC PHẦN HỌC KỲ 1 NĂM 2021 – 2022 Đề tài bài tập lớn đề 4 Sinh viên thực hiện Nguyễn Văn Hà Mã sinh[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
KỲ THI KẾT THÚC HỌC PHẦN HỌC KỲ 1 NĂM 2021 – 2022
Đề tài bài tập lớn: đề 4
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Văn Hà
Mã sinh viên : 1811140225
Lớp : ĐH8QTDL1
Tên học phần : Quản trị điểm đến du lịch
Giảng viên hướng dẫn : Đỗ Thị Phương
HÀ NỘI, ngày 17 tháng 12 năm 2021
Trang 2MỤC LỤC
I.LÝ THUYẾT
II LIÊN HỆ THỰC TẾ
2.1Khái quát về điểm đến du lịch Kiên Giang……… 2.2 Thực trạng……… 2.3 Giải pháp ……… Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 3ĐỀ BÀI : Phân tích các công cụ xúc tiến điểm đến du lịch Trên cơ sở đó hãy lựa chọn một điểm đến du lịch cụ thể tại Việt Nam, đánh giá hoạt động xúc tiến phát triển du lịch và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hoạt động du lịch tại điểm đến đó
Bài làm
I LÝ THUYẾT
- Điểm đến du lịch là điểm đến du lịch là vùng không gian địa lý mà khách du lịch ở
lại ít nhất một đêm, bao gồm các sản phẩm du lịch, các dịch vụ cung cấp, các tài nguyên du lịch thu hút khách, có ranh giới hành chính để quản lý và có sự nhận diện về hình ảnh để xác định khả năng cạnh tranh trên thị trường
- xúc tiến điểm đến du lịch là hoạt động tuyêntruyền, quảng bá, vận động nhằm tìm
kiếm thúc đẩy cơ hội phát triển du lịch (Theo khoản 17 điều 4 luật Du lịch Việt Nam)
- Công cụ xúc tiến điểm đến du lịch :
+ Quan hệ công chúng/tuyên truyền:
• Quan hệ công chúng là cách thức hoạt động, tạo dựng, duy trì và phát triển các mối quan hệ với các tầng lớp công chúng khác nhau
• Hoạt động này nhằm tạo ra một ấn tượng tốt,một hình ảnh tốt trong công chúng làm cho công chúng yêu thích doanh nghiệp, qua đó để đính chính những thông tin nhiễu và loại bỏ các thông tin sai lệch
• Quan hệ công chúng được thực hiện thông qua một loạt các công cụ như báo cáo, các bài thuyết trình, các tài liệu, số liệu, hình ảnh, âm thanh và những hoạt động dịch vụ khác
+Xúc tiến thương mại :
• Là hoạt động thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội mua bán hàng hoá và cung ứng dịch vụ, bao gồm hoạt động khuyến mại, trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ
và hội chợ, triển lãm thương mại
• Mục đích của các hoạt động xúc tiến thương mại là tìm kiếm, khai thác, khuyến khích các khách hàng tiềm năng quan tâm, tìm hiểu và trải nghiệm
Trang 4sản phẩm Thúc đẩy sự tiêu dùng mạnh mẽ hơn của khách hàng hiện tại và thu hút các khách hàng đang sử dụng sản phẩm của đối thủ cạnh tranh về phía mình
+ Mạng internet/phương tiện truyền thông tương tác
• Là việc sử dụng mạng internet kết hợp với các phương tiện truyền thông tích hợp khác để xúc tiến sản phẩm và dịch vụ đến với khách hàng
• Thuận lợi về không gian và thời gian
• Thông tin: Lượng thông tin trên mạng internet ngày càng đa dạng về
cả nguồn cung cấp tin, các mảng thông tin, chiều sâu bề rộng của thông tin, khách
du lịch có thể tìm hiểu tất cả những thông tin mà họ quan tâm về một điểm
đến như: Các sản phẩm du lịch nổi trội, dịch vụ, giá cả, các tour trọn gói…
• So sánh: Chỉ cần những thao tác đơn giản, khách hàng có thể so sánh ngay được giá cả, chất lượng của các điểm đến du lịch để đưa ra lựa chọn, hoặc tham khảo các trải nghiệm của những người từng tham quan du lịch tại điểm đến đó, tìm hiểu các cẩm nang tư vấn…
+ Quảng cáo (Advertising)
• “Quảng cáo là một nghệ thuật giới thiệu hàng hóa hay dịch vụ nhắm tới một thị trường mục tiêu nhất định được thực hiện thông qua các phương tiện truyền thông và phải trả tiền
Như vậy, quảng cáo và các chương trình xúc tiến được tạo ra để cung cấp cho người tiêu dùng những thông tin cần thiết để phân biệt được sự khác biệt giữa các điểm đến, và gây ảnh hưởng tới sự chọn lựa điểm đến và sản phẩm của họ Quảng cáo không chỉ ảnh hưởng tới những lựa chọn đầu tiên của các du khách tiền năng mà còn ảnh hưởng tới nhận thức và thời gian của việc ở lại điểm đến đó
II LIÊN HỆ THỰC TẾ
2.1Khái quát về điểm đến du lịch Kiên Giang.
-Kiên Giang là tỉnh nằm trong vùng ồng Bằng Sông Cửu Long, tổng diện tích tự nhiên là 6.346 km2 , bằng 1,90% diện tích cả nước và 15,78% diện tích vùng BS
Trang 5L hiều dài lớn nhất theo hướng ông Nam - Tây Bắc khoảng 120km, chiều rộng lớn nhất theo hướng đông - đông Tây khoảng 60km Là tỉnh được thiên nhiên ưu đãi với nguồn tài nguyên tự nhiên phong phú và tài nguyên nhân văn đa dạng -Kiên Giang nằm trong khoảng toạ độ: Từ 1010 30' đến 1050 32' kinh độ đông và
từ 90 23' đến 100 32' vĩ độ bắc Phía đông Bắc giáp các tỉnh: Kiên Giang, Cần Thơ
và Hậu Giang Phía Nam giáp tỉnh Cà Mau và tỉnh Bạc Liêu Phía Tây Nam giáp vịnh Thái Lan, nằm gần các nước ASEAN, cách vùng phát triển công nghiệp và
du lịch nổi tiếng Đông Nam Thái Lan khoảng 500 km, cách vùng phát triển phía ông Malaysia khoảng 700 km, cách Singapore 1.000 km, kề với cửa ngõ
Campuchia phía Tây Nam
-Kiên Giang là một tỉnh đặc thù của vùng ĐBSCL có cả đồng bằng, rừng núi, bờ biển và hải đảo, địa hình tương đối bằng phẳng, cao độ thay đổi từ 0,1 - 1,2m Xét trên góc độ địa hình, lãnh thổ Kiên Giang có thể chia làm 4 vùng
+ Vùng Tứ giác Long Xuyên: Với diện tích khoảng 2.365,8 km2 chiếm 37,3% diện tích toàn tỉnh Bao gồm các huyện, thị như: Hòn ất, Hà Tiên, Rạch Giá, Kiên Lương và 1 phần của huyện Tân Hiệp và Châu Thành
+ Vùng Tây sông Hậu: Diện tích khoảng 1.334,3 km2 chiếm 21,0% diện tích toàn tỉnh Bao gồm huyện Giồng Riềng, 2 phần của huyện Gò Quao và 1 phần huyện Tân Hiệp, hâu Thành
+ Vùng U Minh Thượng: Diện tích tự nhiên khoảng 1.879,4 km2 chiếm 26,60% diện tích toàn tỉnh, gồm các huyện An Biên, An Minh, Vĩnh Thuận và U Minh Thượng
+Vùng đồi núi hải đảo: Diện tích khoảng 776,5 km2 chiếm 12,08% diện tích toàn tỉnh, với các đảo tập trung nhiều ở 2 huyện Kiên Hải, Phú Quốc và một
số đảo thuộc huyện Kiên Lương
-Với địa hình đa dạng: đồng bằng, rừng núi và hải đảo cùng nhiều cảnh quan độc đáo và hấp dẫn đã tạo nền cho phong cảnh, một số kiểu địa hình đặc biệt và các di tích tự nhiên, những thắng cảnh đẹp rất thuận lợi phát triển các sản phẩm, loại hình dịch vụ du lịch Trên chiều dài bờ biển khoảng 200km với với những bãi tắm tuyệt
Trang 6đẹp, rạn san hô, thảm cỏ biển, nhiều loài sinh vật qu hiếm, đặc hữu … Tài nguyên sinh vật ở đây có giá trị tạo nên những phong cảnh lạ mắt, đặc biệt có điều kiện tiếp cận khá thuận lợi và có thể khai thác để phát triển du lịch quanh năm như: du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, tham quan, nghiên cứu khoa học…
-Kiên Giang là địa phương đứng thứ hai sau Quảng Ninh có số đảo lớn nhiều nhất trong cả nước với 143 hòn đảo lớn, nhỏ rất có tiềm năng để phát triển du lịch ảo Phú Quốc là đảo lớn nhất của Kiên Giang với diện tích 561,65 km2 và các đảo khác tập trung chủ yếu ở một số quần đảo nổi tiếng như: Thổ Chu, An Thới, Nam
Du, Hải Tặc, Bà Lụa, trong đó khoảng 43 đảo có người dân sinh sống Kiên Giang
có 02 Vườn Quốc Gia Phú Quốc và U Minh Thượng, là khu vực có diện tích rừng lớn nhất tỉnh và trữ lượng tài nguyên sinh thái rừng khá đặc sắc về cảnh quan và
hệ sinh thái Tháng 10 năm 2006, UNESCO đã công nhận Khu dự trữ sinh quyển ven biển và biển đảo Kiên Giang là khu dự trữ sinh quyển thế giới lớn thứ 2 trong tổng số 8 khu dự trữ sinh quyển ở Việt Nam và đây cũng là Khu dự trữ sinh quyển lớn nhất ông Nam Á với hơn 1, 1 triệu ha
-Với lịch sử ngàn năm văn hiến, Việt Nam nói chung, Kiên Giang nói riêng có nguồn tài nguyên du lịch nhân văn đậm đà bản sắc dân tộc, nhiều di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh được xếp hạng Theo thống kê, tỉnh có hơn 200 di tích, đến năm 2013, toàn tỉnh Kiên Giang đã có 48 di tích được xếp hạng, trong đó
có 22 di tích được xếp hạng cấp quốc gia và 26 di tích xếp hạng cấp tỉnh Bên cạnh đó, là một trong những địa phương còn lưu giữ được nhiều nghề, làng nghề truyền thống có giá trị du lịch như: nghề nuôi trồng chế tác và mua bán ngọc trai, nghề sản xuất rượu sim, nước mắm, hồ tiêu Phú Quốc, nghề đan chiếu ở Tà Niên, nghề nắn nồi ở Hòn Đất, làng nghề đan bàng Phú Mỹ
-Giai đoạn từ năm 2005 đến nay, có nghĩa đặc biệt quan trọng đối với ngành du lịch Kiên Giang trong việc thực hiện Nghị quyết ại hội VIII ảng bộ tỉnh và thực hiện Nghị quyết 02-NQ TU của tỉnh ủy về phát triển du lịch đến năm 2010, Nghị quyết 08-NQ TU của Tỉnh ủy về thực hiện đề án phát triển tổng thể đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 theo Quyết định 178-Q
Trang 7TTg của Thủ tướng hính phủ, với mục tiêu đưa Phú Quốc trở thành Trung tâm du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng và du lịch biển tầm cỡ khu vực và quốc tế Quá trình thực hiện nhiệm vụ phát triển du lịch trong những năm qua có những thuận lợi cơ bản về tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh ổn định, về tiềm năng, thế mạnh, đặc biệt
là du lịch biển, đảo là điều kiện để ngành du lịch tỉnh thu hút nhiều du khách đến tham quan du lịch, nghỉ dưỡng; tạo việc làm, tăng thu nhập xã hội, từng bước trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh
- Về tổng lượt khách du lịch: tốc độ tăng trưởng bình quân của tỉnh trong giai đoạn
2005 - 2013 là 9%, đối với khách quốc tế là 12%, khách nội địa là 16% Năm 2005 đón được 1,721,782 lượt, trong đó đón khách quốc tế là 54,586 lượt và đến năm
2013 là 3,587,994 lượt, đón được 152,839 lượt khách quốc tế Nhìn chung, tổng lượt khách quốc tế và khách nội địa tăng đều qua các năm, Riêng năm 2013, lượng khách khách quốc tế 152,839 lượt, giảm 5,8 % so với cùng kỳ, đạt 84,1% so với năm 2012 một phần do số liệu thống kê lượt khách quốc tế đến với Kiên Giang hằng năm nêu trên phản ánh chưa chính xác với số lượng thực tế, nguyên nhân chủ yếu trong giai đoạn này các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành không đủ điều kiện đăng k cấp giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế nhưng chuyên phục vụ khách quốc tế nên không báo cáo đầy đủ số liệu khách quốc tế, vì e ngại cơ quan quản l nhà nước về du lịch xử phạt Lượng khách lưu trú rất ít, chỉ 30% tổng lượng khách Một lượng khách lớn tới Kiên Giang chủ yếu để trung chuyển, tham gia lễ hội, vui chơi giải trí hoặc tham quan trong ngày Khách du lịch quốc tế đến Phú Quốc chiếm 80% tổng khách quốc tế đến toàn tỉnh, đa phần đến nghỉ dưỡng biển tại Phú Quốc Các thị trường chính là 54 khách Pháp, ức, Mỹ, Úc, Anh, Nga… Khách đi tự do, đi đôi hoặc gia đình có con cái, lưu trú dài ngày và chi trả trung bình cao Tốc độ tăng trưởng trung bình về ngày khách giai đoạn 2005 - 2013 là 16%, cụ thể: năm 2005, toàn tỉnh Kiên Giang đón được 550.170 ngày khách, trong
đó khách du lịch quốc tế đón được 98,288 ngày khách Năm 2013, toàn tỉnh Kiên Giang đón được 2.119.097 ngày khách, trong đó khách du lịch quốc tế đón được 367.141 ngày khách
Trang 8- Về doanh thu du lịch: Trong giai đoạn 2005 - 2013 thì doanh thu du lịch trên địa bàn tỉnh Kiên Giang mức độ tăng trưởng đạt 22 % Năm 2005, doanh thu du lịch tỉnh đạt 187,242 triệu đồng, trong đó doanh thu từ khách du lịch quốc tế đạt
48,700 triệu đồng, chiếm 13,3% Năm 2013, doanh thu đạt 877,469 triệu đồng tăng gấp 2 hơn lần so với năm 2005, trong đó doanh thu từ khách du lịch quốc tế đạt 291,007 triệu đồng, chiếm 33,84%; doanh thu từ khách du lịch nội địa là 586,462 triệu đồng, chiếm 66,16% Như vậy, nguồn thu chính vẫn là từ khách du lịch nội địa Nhìn chung, tốc độ tăng trưởng về doanh thu du lịch trung bình giai đoạn của Kiên Giang cao nhưng vẫn còn khiêm tốn so với các điểm đến du lịch các tỉnh, thành phố trong nước và khu vực khác so với tiềm năng, lợi thế du lịch Kiên Giang
- Hiện trạng cơ sở hạ tầng kỹ thuật du lịch:
+ Kinh doanh lưu trú: Du lịch tỉnh Kiên Giang đã tích cực tập trung đầu tư khai thác phát triển hệ thống cơ sở lưu trú du lịch trên địa bàn tỉnh đã có nhiều chuyển biến tích cực, có nhiều cơ sở lưu trú du lịch mới hình thành được xây dựng với quy mô lớn, chất lượng tiêu chuẩn quốc tế, quốc gia như: Sài Gòn-Phú Quốc, Blue Lagoon, La Veranda, Thiên Hải Sơn, hensea, Eden, Hòa Giang, River… đáp ứng được một phần nhu cầu ngày càng cao của du khách Kinh doanh
lữ hành: Doanh nghiệp kinh doanh lữ hành của tỉnh tăng nhanh về số lượng và chất lượng Tuy nhiên, doanh nghiệp kinh doanh lữ hành quốc tế rất hạn chế do ngại tiền kí quỹ 250 triệu và phần lớn thiếu 03 hướng dẫn viên có thẻ quốc tế nên
đa phần có nhiều doanh nghiệp lớn chỉ đang k cấp giấy phép kinh doanh lữ hành nội địa,
+ Kinh doanh vận chuyển khách du lịch: Dịch vụ vận chuyển trên địa bàn Kiên Giang không ngừng tăng về số lượng và chất lượng để phục vụ khách
du lịch gồm các loại vận chuyển bằng đường không, đường thủy, đường bộ Kiên Giang có 02 sân bay là sân bay Rạch Giá và sân bay quốc tế Phú Quốc, vào ngày 14/2/2014, Phú Quốc đón chuyến bay quốc tế đầu tiên từ hãng hàng không Liên bang Nga, mở ra nhiều cơ hội thu hút khách quốc tế và hợp tác đầu tư mới cho
Trang 9huyện đảo Phú Quốc nói riêng và tỉnh Kiên Giang nói chung Kinh doanh dịch vụ
ăn uống: Cơ sở dịch vụ về ăn uống trên địa bàn Kiên Giang bao gồm quán ăn, quán cà phê, nhà hàng, bar với chất lượng cũng rất khác nhau; nếu so với các trung tâm du lịch lớn trên cả nước thì dịch vụ này còn thiếu và yếu cả về số lượng
và chất lượng, các cơ sở có chất lượng tương đối thường tập trung tại Rạch Giá,
Hà Tiên và Phú Quốc
+ Kinh doanh dịch vụ vui chơi giải trí: cơ sở dịch vụ vui chơi giải trí phục vụ khách du lịch số lượng còn rất ít, chất lượng còn hạn chế, chỉ mới dừng lại vào loại hình tại các công viên công cộng, các dịch vụ văn nghệ, câu cá, bơi thuyền, thể thao biển, lặn ngắm san hô không có các dịch vụ vui chơi giải trí hấp dẫn mới lạ, trò chơi có thưởng nên ảnh hưởng đến mức độ thu hút khách du lịch, cũng như việc kéo dài ngày lưu trú và khả năng chi tiêu của khách
- Nguồn nhân lực: Ngành du lịch đã chú trọng đào tạo nâng cao năng lực đội ngũ lao động của các thành phần kinh tế Thời gian qua, Trung tâm Xúc tiến đầu tư, Thương mại và Du lịch đã mở được 31 lớp chuyên ngành du lịch đào tạo có 1.230 người tham gia Thực hiện bằng nguồn kinh phí từ nguồn ngân sách và xã hội hóa
56 Theo thống kê toàn ngành năm 2013 có gần 8759 lao động trực tiếp, với tổng
số nhân lực chuyên ngành khác khoảng 6046 lao động chiếm 69%, nhân lực chuyên ngành du lịch 2713 lao động chiếm 31% Về trình độ ch uyên môn nghiệp
vụ, ngoại ngữ và ngoại ngữ hiếm của nguồn nhân lực du lịch còn hạn chế, là trở ngại lớn của ngành du lịch Kiên Giang Do đó, trong thời gian tới, cần phải xây dựng chiến lược lâu dài với sự tham gia của nhiều ngành liên quan để chuẩn bị có đội ngũ lao động có tay nghề, chuyên môn nghiệp vụ và giao tiếp tốt ngoại ngữ đáp ứng nhu cầu phục vụ khách du lịch ây là nguồn lực có nghĩa đối với chất lượng và hiệu quả xúc tiến du lịch, xúc tiến đầu tư du lịch
- Tình hình đầu tư du lịch Tổng số dự án đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển
du lịch đã được cấp phép và có chủ trương đầu tư là 229 dự án với tổng số vốn là 138.160,94 t đồng trên diện tích là 8.216,02 ha Dự án đầu tư tại Phú Quốc có 174
dự án, Hà Tiên có 27 dự án, Rạch Giá có 10 dự án, U Minh Thượng có 01 dự án,
Trang 10Kiên Lương có 09 dự án, Vĩnh thuận có 01 dự án và Giang Thành có 01 dự án Dự
án đầu tư cho cơ sở hạ tầng du lịch chủ yếu là hệ thống cơ sở lưu trú tập trung vào Phú Quốc, Rạch Giá, Hà Tiên, Kiên Lương đều được các chủ đầu tư quan tâm triển khai, nhất là các dự án hạ tầng có nguồn vốn hỗ trợ từ Trung ương đều được giải ngân hết ác dự án cơ sở hạ tầng du lịch thời gian qua góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và ngành du lịch Dự án đầu tư cho các sản phẩm du lịch như: khách sạn, resort, nhà hàng ăn uống, dịch vụ vui chơi giải trí và vận chuyển du lịch tuy đã có sự quan tâm chú trọng nhưng vốn đầu tư không nhiều Kiên Giang thuộc địa bàn ưu đãi đầu tư theo Nghị định 108 2006 N -CP, được hưởng các chính sách ưu đãi cao nhất theo địa bàn, cùng với các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển du lịch cộng đồng, du lịch vùng nông thôn, sinh thái đầu tư như Nghị định 210 2014 N - P về chính sách ưu đãi nông thôn Riêng Phú Quốc khi được phê duyệt là đặc khu hành chính kinh tế thì sẽ có cơ chế, chính sách ưu đãi hấp dẫn các nhà đầu tư và công tác hỗ trợ đầu tư phát triển du lịch của tỉnh vượt trội so với các vùng khác của cả nước và khu vực Tuy nhiên, các dự án đầu tư du lịch khi triển khai còn chậm trong khâu lập dự án và thi công, nhiều dự
án phải điều chỉnh nhiều lần, giải quyết thủ tục đầu tư, hạn chế nhất là quy trình thu hồi đất còn gặp rất nhiều khó khăn từ chủ đầu tư và cơ quan quản l nhà nước, việc quản l đầu tư phát triển du lịch còn lúng túng, bất cập, không theo kịp nhu cầu phát triển làm ảnh hưởng chất lượng thúc đẩy triển khai các dự án của các nhà đầu
tư trong và ngoài nước, cũng như phục vụ du lịch và hạn chế nhiều đến việc thu hút đầu tư
2.2 Thực trạng
-Trong những năm qua, hoạt động xúc tiến du lịch được đẩy mạnh qua sự phối hợp
với các cơ quan báo chí địa phương và Trung ương: Báo Du lịch Việt Nam, Báo Kiên Giang, các tạp chí văn hóa, văn nghệ, du lịch, Tạp chí người làm báo, đặc sản Văn hóa, Thể thao và Du lịch Kiên Giang, website của UBND tỉnh, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Trung tâm Xúc tiến đầu tư, Thương mại và Du lịch, còn có các cơ quan thường trú