3 56 57 58 59 60 61 62 63 64 65 66 67 68 69 70 71 72 73 74 75 76 77 78 79 80 81 82 83 84 85 86 87 88 89 90 91 92 93 94 95 96 97 98 99 100 101 102 103 104 105 106 107 108 109 110 111 112 113 114 115 11[.]
Trang 1; BO GIAO THONG VAN TAI TRUONG CAO DANG GIAO THONG VAN TAI TRUNG UONG I
GIAO TRINH
Mô đun: CÔNG TÁC XÃ HỘI VƠI
NGUOI KHUYET TAT
NGHE: CONG TAC XA HOI
TRINH DO: CAO DANG
Hà Nội — 2017
Trang 2BÀI 3: KỸ NĂNG CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI KHUYÉT TẬT
Trong tiến trình giải quyết vấn đề của thân chủ nhân viên xã hội phải sử dụng nhiều kỹ năng tuỳ theo đối tượng và hoàn cảnh cụ thể Nhân viên xã hội phải có những
kỹ năng:
- Nghe và giao tiếp với người khác theo gốc độ hiểu biết và có mục đích
- Thu thập thông tin và tổng hợp các đữ liệu có liên quan trong qúa trình đánh gía
- Thiết lập và duy trì mối quan hệ giúp đỡ trong công việc chuyên môn
- Quan sát và đánh gía các hành vi, ngôn ngữ có lời và không lời bằng phương
pháp chẩn đóan chính xác
- Tao long tin nơi thân chủ và khuyến khích họ với mọi nổ lực tự giải quyết vấn
đề của mình
- Trao đổi tình cảm, tế nhị, không làm tổn thương hoặc không làm cho thân
chủxấu hỗ, không yên tâm
- Khai thác và sử dụng các nguồn lực một cách linh họat, sáng tạo trong việc đề
ra giải pháp mới nhằm đáp ứng nhu cầu của thân chủ
- Khả năng đánh gía nhu cầu của thân chủ và đề ra thứ tự ưu tiên trong giải
quyết vấn đề
- Khả năng dàn xếp và hòa giải hai bên
- Khả năng đóng vai trò làm cầu nối giữa cá nhân, nhóm ,cộng đồng và các tổ
chức xã hội
- Kha nang lam rõ nhu cầu của thân chủ một cách chính xác nhằm bảo vệ quyền lợi của thân chủ một cách hiệu quả
- Khả năng vận dụng lý thuyết của ngành công tác xã hội vào thực tế công tác
(Theo tài liệu: Pamella Klein Odhner, Giới thiệu thực hành công tác xã hội, sách
hướng dẫn tập huấn, tập 1, tr 75, 1998)
Ngoài ra, nhân viên xã hội làm việc với người khuyết tật cần có những kỹ năng
sau:
1 Kỹ năng phát hiện và đánh giá khuyết tật
1.1 Kỹ năng phát hiện khuyết tật
Đối với người khuyết tật về thân thể: Họ không thể tự mình vận động, sinh
hoạt, luôn cần sự trợ giúp của người khác, các dạng, mức độ khuyết tật và những hạn chế Khuyết tật được chia ra làm 6 dạng cụ thể như sau:
- Khuyết tật về học tập
Biểu hiện: Người bị hạn chế về học tập là người khó có khả năng tiếp thu, xử lý
và áp dụng lại được tương ứng nội dung bài học như người bình thường
Trang 3Sự hạn chế về học tập không có biểu hiện tổn thương bên ngoài Hạn chế về học tập chỉ có thể nhận ra trong quá trình học tập Nó biểu hiện khi đọc và làm tính.Vì vậy
sự hạn chế về học tập đòi hỏi phải có sự hỗ trợ phù hợp dành cho họ
- Khuyết tật trí tuệ
Biểu hiện: Hạn chế về trí tuệ ảnh hưởng đến toàn bộ đời sống con người Hạn chế về trí tuệ được coi là một hiện tượng phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau Những lĩnh vực này tác động lẫn nhau như: Ngôn ngữ; Xã hội; Tình cảm; Phạm
nên sự lệ thuộc và mất 6n định
- Khuyết tật về cơ thể
Biểu hiện: Những người thuộc dang khuyét tat co thẻ là những người có khiếm
khuyết trên cơ thể
Liệt rối loạn vận động: Liệt co giật, các cử động méo mó ở đầu, ở mặt cử động
thiếu phối hợp nhịp nhàng, rối loạn đường dẫn truyền thần kinh (liệt chỉ, liệt ở trẻ em,
teo cơ)
Tén thương về hệ thống xương: Dị tật bẩm sinh, phát triển không bình thuờng,
hở môi, hở vòm miệng, vẹo cột sống, vẹo chân, giòn xương
- Khuyết tật về ngôn ngữ
Biểu hiện: Nói ngọng: Loại này hay gặp ở trẻ nhỏ, biểu hiện là khi nói bị mắt
khả năng tạo ra tiếng âm nhất định, như “ăn cơm” nói thành “ăn ơm”; “kẹo ngọt quá” nói thành “eo ọt oá”, vv ; Nói lắp: Khi nói có sự rối loạn trong câu nói Ví dụ: “Con
đi học” thành “con con đi học”; Sự im lặng tâm lý: Mặc dù có khả năng nói nhưng lại
từ chối nói; đây là sự câm lặng có lựa chọn, (ví dụ như khi đứa trẻ chỉ nói hoặc thì
thầm với một số người có quan hệ gần gửi) Hiện tượng câm lặng thường xuất hiện sau
một sự kiện chấn thương mạnh xảy ra
- Khuyết tật về giác quan
* Khiếm thị: Mù hoàn toàn; Khuyết tật thị giác mức cao: Nhận ra hình bóng lờ mờ; Khuyết tật thị giác mức độ thấp: Phân biệt được các đồ vật; đủ cho việc định
hướng, nhưng không đủ cho việc học hành bình thường
Trang 4* Khiếm thính: Điếc hoàn toàn: Không nghe được tí gì; Nghe loáng thoáng:
Chỉ nghe được những tiếng ồn riêng biệt theo cường độ và tần số nhất định Dạng này
thuộc dạng điếc trong phạm vi dải tần số của ngôn ngữ; Nặng tai: Nghe được âm thanh không rõ ràng, phải nhờ đến sự trợ giúp của mắt nhìn mới hiểu được
- Da khuyết tật
Khi khuyết tật trí tuệ kèm theo một khuyết tật khác hợp lại người ta gọi là đa khuyết tật Để làm rõ điều này ta có thể biểu diễn mối quan hệ giữa tổn thương với các khuyết tật như sau:
_— - Khuyét tat thi giác
Tôn thương cơ thê > - Khuyét tat cơ thê
Ngoài ra cũng cần phân biệt giữa khuyết tật sơ nguyên (ban đầu) với khuyết tật
kéo theo (khuyết tật thứ nguyên) Sự phân biệt này dựa trên cơ sở nhận thức cho rằng
một khuyết tật xuất hiện thường kéo theo một khuyết tật khác Điều này cho phép biểu
Về mặt y học: Mức độ khuyết tật là sự biểu hiện tổn thương nhiều hay ít của
một hoặc nhiều chức năng của các bộ phận con người
Về mặt xã hội: Là nói đến sự hạn chế tham gia hoạt động của con người với
cộng đồng nhiều hay ít
Khi xác định mức độ khuyết tật ta phải xem xét:
+ Các nhân tố tác động đến việc xác định mức độ khuyết tật;
+ Phương diện tổn thương: vấn đề này thường khó xác định
- Đối với người khuyết tật về trí tuệ và tâm lý: Khó khăn trong việc tiếp nhận sự
giáo dục và đào tạo, cần có những phương pháp đặc biệt mới đạt được hiệu quả như:
Trang 5người chậm phát triển; rối loạn hành vi; tâm thần; thiểu năng trí tuệ Họ có thể rơi
vào các trạng thái:
+ Tâm trạng lo âu: Nỗi lo sợ thường xuyên do sự khủng hoảng về sức khoẻ yếu kém đưa đến sự bat an, sợ hãi, thất VỌng ;
+ Giảm sút về sinh hoạt xã hội: Không tha thiết tham gia những hoạt động xã
hội, cũng như không quan tâm đến mọi người và môi trường xung quanh, bởi vì chính
cuộc sống và cơ thể của họ lúc này đang là mối lo ngại lớn nhất;
+ Khó khăn trong việc hoạch định tương lai: Những giới hạn của bản thân có thể đưa đến sự do dự, thiếu dứt khoát trong những quyết định Tình trạng này không
những ảnh hưởng đến các mối quan hệ mà còn ảnh hưởng đến việc hoạch định đời
sống chung với những người liên quan;
+ Sự đau khổ và cùng cực của bản thân: Tình trạng khuyết tật không chỉ diễn tả
sự mắt mát một chức năng hoặc sự tổn thương một cơ quan nào đó của thân thể hoặc những khó khăn, cản trở trong cuộc sống mà còn là sự chịu đựng đau khổ và cùng cực của chính bản thân họ Tình trạng này thể hiện cụ thể như sau:
Thiếu đáp ứng của môi trường xung quanh: Bị hạn chế và khước từ thường xuyên trong nhiều lĩnh vực khác nhau của cuộc sống Phải đối diện với những phản
ứng tiêu cực của một số người xung quanh như: Thái độ lẩn tránh, cách ly, ngờ vực,
thương hại ít có điều kiện phù hợp để vui chơi, học tập và hoà nhập cộng đồng;
Sự phụ thuộc vào người khác: Luôn cần sự giúp đỡ trong việc chăm sóc cá nhân
và giao tiếp xã hội, cả những quyết định của bản thân Thông thường một người phải
chịu lệ thuộc một cách bắt buộc được coi như thiếu tự do;
Mặc cảm tự tỉ: Do tâm trạng nghĩ mình là gánh nặng cho các thành viên trong gia đình và người chăm sóc, từ đó người khuyết tật luôn có cảm giác buồn phiền, sợ hãi, giận dữ, thất vọng
1.2 Đánh giá tình trạng người bị khuyết tật
Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả của
công việc, dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những mục
tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp dé cai thiện thực
trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc
Như vậy, đánh giá không đơn thuần là sự ghi nhận thực trạng mà còn là đề xuất
những quyết định làm thay đổi thực trạng Vì thế, đánh giá được xem là một khâu rất
quan trọng, đan xen với các khâu kế hoạch và triển khai công việc
Đánh giá ban đầu về người khuyết tật sẽ cung cấp cơ sở đẻ nhân viên xã hội phát triển kế hoạch hỗ trợ Nội dung đánh giá người khuyết tật bao gồm:
- Đối tượng (người khuyết tật), nguồn gốc, hoàn cảnh kinh tế, sở thích và các thành viên trong gia đình
Trang 6- Sức mạnh, nguồn lực, cả những hỗ trợ sẵn có như: Những hành vi trong qúa khứ thân chủ của họ đã sử dụng để ứng phó thành công với hoàn cảnh, sự hỗ trợ của
gia đình, sự sắp xếp cuộc sống
- Phải hiểu được cảm xúc và sự phản ứng của thân chủ đối với sự khuyết tật, ảnh hưởng của sự khuyết tật đối với gia đình của người khuyết tật, những rắc rối cá nhân gặp phải
- Tránh những thành kiến về những dị tật Khi đối diện với những trường hợp khuyết tật như mù, câm, điếc, bại liệt người ta thường có thái độ khác nhau như tò
mò, ghê sợ, miệt thị, thương hại, không muốn đến gần
- Trước khi đến thăm người khuyết tật, nên tìm hiểu tin tức về những biểu hiện
tật của thân chủ để có thể đánh giá chính xác về mức độ, tình trạng, tiểu sử của tật
- Chú ý đến những phản ứng thị giác, thính giác, khứu giác của chính mình đối
với dị tật của thân chủ Nên chuẩn bị tỉnh thần để không bị bỡ ngỡ trước hoàn cảnh khó khăn và sự khuyết tật (nhất là trong trường hợp bạn đến thăm thân chủ ở nhà)
- Bay to sy chan thật và không tỏ ra thương hại Thân chủ cần sự thông cảm và
được chấp nhận thật sự Thân chủ có thể đã bị chế riễu, chọc ghẹo, hắt hủi, thương hại, dom ngó, hoặc bị bỏ rơi trong quá khứ, nên rất nhạy cảm và có thể đè đặt khi mới tiếp
xúc với người lạ lần đầu
- Tìm cách đối xử tế nhị, có hành vi thích ứng tuỳ theo hoàn cảnh (ví dụ: đối
với người bị mù, dùng ngôn ngữ nhiều, đối với người câm và điếc, dùng dấu hiệu tay nhiều, đối với người ngồi xe lăn, cuối xuống hoặc ngồi xuống đẻ nói chuyện cùng tam
mắt)
- Đánh giá các biểu hiện riêng của tật bằng cách quan sát thân chủ trong những
hoạt động và sinh hoạt bình thường Trong trường hợp trẻ em, so sánh, đối chiếu
những hoạt động của trẻ so với mức sinh hoạt của trẻ bình thường cùng lứa tuổi
- Lấy tin tức từ gia đình, về tiểu sử quá trình bệnh tật, mức độ của tật, quá trình
phát triển của thân chủ và những trở ngại, khó khăn hiện tại
- Đánh giá tình trạng sức khoẻ, bệnh (nếu có bệnh), mức phát triển và nhu cầu
liên quan đến dạng tật
- Lay thong tin về những dịch vụ y tế, vật liệu, loại thuốc, dụng cụ chỉnh hình
cần thiết của thân chủ
- Khi đánh giá trường hợp và lượng định mức phục hồi chức năng, cần phải nhận định khả năng sinh hoạt thường nhật của đối tượng, bằng cách quan sát hoặc hỏi
những người trong gia đình và cộng đồng về sinh hoạt của thân chủ về mức độ tự túc
trong sinh hoạt bình thường như: ăn uống, tắm rửa, đánh răng, tiểu tiện, thay quần áo,
chải đầu, ngồi hoặc đứng dậy, sự đi lại chung quanh nhà, gần khu nhà Tìm hiểu khả
năng hiểu câu chuyện bình thường, khả năng diễn tả được những ý nghĩ, cảm xúc, và
Trang 7nhu cầu cần thiết của đối tượng, khả năng làm những việc nhỏ nhặt trong nhà, chỉ tiêu
tiền
2 Kỹ năng giao tiếp với người khuyết tật
2.1 Một số nguyên tắc chung trong giao tiếp với thân chủ khuyết tật
Khuyết tật được xác định là những rào cản mà xã hội tạo ra với cá nhân có khuyết tật Khuyét tật không phải thuật ngữ mô tả về con người Khuyết tật được xác
định khi chức năng cơ thể vận hành khác biệt Nhưng trong giao tiếp, mọi người thường nhìn cụ thể con người trước và vấn đề khuyết tật sau Trong giao tiếp, nhân
viên xã hội cần đặc biệt lưu ý, người khuyết tật là con người Đây là điều đầu tiên cần
nhìn nhận và là điều quan trọng nhất Đây cũng là nguyên tắc quan trọng nhất trong công tác xã hội nói chung, công tác xã hội đối với người khuyết tật nói riêng Đây là điều thực sự thiết yếu để có quá trình thực hành công tác xã hội hiệu quả
Rao can giao tiếp hiệu quả còn nằm ẩn dưới việc xây dựng mối quan hệ và các tương tác liên cá nhân Những rào cản đó có thể là những trải nghiệm sống của thân
chủ hoặc những trải nghiệm của các tổ chức xã hội khác Các điều kiện khuyết tật cũng làm hạn chế giao tiếp hoặc từ phía nhân viên xã hội, hoặc từ thân chủ khuyết tật,
hoặc từ cả hai phía Điều quan trọng để hiểu và giải quyết những vấn đề này là những nỗ lực của cả hai phía trong thực hành, cần đơn giản tối đa trong quá trình giáo tiếp Việc chuẩn bị những cách tiếp cận tăng cường hiệu quả giao tiếp sẽ hữu ích trong quá trình làm việc với thân chủ
Một hệ thống hữu ích đề đạt hiệu hiểu trong giao tiếp, hạn chế các rào cản
gồm việc mã hoá các thông điệp cần được gửi đi thành dạng biểu tượng; quá trình gửi các thông điệp đã được mã hoá; và quá trình tiếp nhận, lý giải thông điệp đã
được mã hóa Người nhận phải mã hoá lại thông điệp và kiểm tra với người gửi về mức độ chính xác của thông điệp đã được mã hoá và được nhận Cần lưu ý, rối
nhiễu cũng có tác động đến tiến trình giao tiếp, thông qua việc có thể tạo nên những ảnh hưởng, làm méo nội dung thông điệp
Chúng ta có thể hình dung quá trình gửi và nhận các thông điệp giữa thân chủ
khuyết tật và nhân viên xã hội diễn ra như sau Một đoạn hội thoại giữa hai người,
sau đó có thêm người mã hoá và chuyền nội dung thông điệp, việc chuyền thông
điệp đó lại thông qua một rối nhiễn khác, sẽ được nhận và mã hoá lại bởi người nhận Người nhận sau đó sẽ phản hồi lại qua việc mã hoá lại và chuyển đi bằng
thông điệp khác, tiến trình đó được lặp đi lặp lại Những khó khăn trong giao tiếp
có thể xảy ra ra ở mọi giai đoạn Nhiều nhân tố ảnh hưởng đến độ chính xác của từng giai đoạn giao tiếp như: ngôn ngữ được sử dụng, các phương ngữ, sự bóp
méo tư đuy, không có khả năng phát biểu thành lời, khó khăn trong việc hình thành từ, và khả năng bóp méo thông tin từ những rối nhiễu
Trang 8Compton và Galway cho rằng, giao tiếp tổng hợp là quá trình một ai đó có
thể hoàn toàn hiểu những gì mà người khác nói, nghĩ, và cảm nhận Ngay cả khi các nhân viên xã hội không có các điều kiện khuyết tật tương tự, họ cũng có thể
hiểu được các cá nhân khác đang có gắng giao tiếp điều gì Nhiều nhân tố tác động
đến giao tiếp, khuyết tật chỉ là một trong những nhân tố đó Việc sử dụng những
điểm mạnh và những khả năng của thân chủ cũng như những kỹ năng của nhân viên xã hội sẽ đem lại hiệu quả cao trong giao tiếp
Đề xuất của Sheafor và Horejsi hữu ích trong việc đánh giá cách thức mà chúng ta có thể giao tiếp với nhau Đề xuất này liên quan tới các giai đoạn lập kế hoạch, gửi và tiếp nhận trong giao tiếp với những cá nhân khác 7rong quá trình
lập kế hoạch, chúng ta phải nghĩ về thời gian, địa điểm cần thiết đề thực hiện, làm
thế nào chuẩn bị được nội dung thông điệp nhằm giảm thiểu những nhằm lẫn và
hiểu sai Trong giai đoạn gửi thông điệp, điều cần thiết là sử dụng ngôn ngữ đơn
giản, rõ ràng, chuyển những thông điệp phức hợp thành những thông điệp đơn giản
và riêng biệt Phản hồi là bước quan trọng, nhằm đảm bảo việc người nhận hiểu
đúng thông điệp Hình thức giao tiếp không lời như ngôn ngữ cơ thể, các củ chỉ,
điệu bộ hỗ trợ nhiều trong quá trình giưo tiếp Trong giai đoạn nhận thông điệp,
điều quan trọng là các dấu hiệu chứng minh được mối quan tâm về giao tiếp, những câu hỏi phù hợp và nhằm làm rõ nội dung của thông điệp
Một rào cản khác trong giao tiếp được Hepworth, Rooney, và Larsen chỉ rõ,
chính là việc đòi hỏi nhân viên xã hội tự quan sát, tự đánh giá các vấn đề về các
mô hình hành vi giao tiếp Họ nhất mạnh đến giá trị tham dự, những tương tác
bằng mắt (trừ khi có sự không tương đồng về văn hoá), vị trí cơ thể, nhận thức về
những khác biệt văn hoá và các mô hình giao tiếp không lời Họ cũng nhắn mạnh
đến những rào cản giao tiếp bằng lời như vấn đề chuẩn đạo đức, những lời khuyên, hay những giải pháp mang tính thuyết giảng, những đe doạ, phán xét, chỉ trích, phân tích, hoặc việc đưa ra quá nhiều điều thấu cảm trong quá trình giao tiếp Nội dung dưới đây sẽ phân tích ba nguyên tắc chung trong quá trình giáo
tiếp với thân chủ khuyết tật: (1) Tránh quyết định vấn đề của thân chủ theo quan
điểm chủ quan của nhân viên xã hội; (2) Phát triển sự kiên nhẫn và sự hiểu biết/
am hiểu; (3) Giảm nỗi sợ hãi và sự không thoải mái
a)Tránh quyết định vấn đề của thân chủ theo quan điểm chủ quan của nhân
viên xã hội
Thực hành công tác xã hội yêu cầu chúng ta có khả năng nhận biết về các lĩnh vực khác nhau: lý thuyết thực hành và phương pháp, các chính sách, sự đa dạng, phát triển con người, và các kết quả nghiên cứu Thực hành còn đòi hỏi chúng ta phải có khả năng hiểu biết về các vấn đề, các điều kiện, các nền văn hoá,
Trang 9bối cảnh gia đình và các mạng lưới xã hội của các cá nhân chúng ta sẽ làm việc cùng Khi thực hiện can thiệp ở lĩnh vực khuyết tật, nguyên tắc này cần thực hiện
theo cách hiểu về khuyết tật nói chung và các vấn đề khuyết tật cụ thể riêng có ảnh hưởng đến thân chủ Những tri thức chung về khuyết tật không mô tả được hết về thân chủ
Vì vậy, tri thức chung là quan trọng trong giao tiếp với thân chủ, nhưng cần
có thêm các điều kiện cụ thể, các chỉ tiết và nhận thức về trải nghiệm sống của mỗi thân chủ riêng biệt Nếu chúng ta chủ quan, ấn định rằng thân chủ có một hướng đi
cụ thể, hoặc sẽ hành động theo một cách cụ thể nào đó, chúng ta đã tạo nên ít nhất
hai sai số quan trọng Đó là những sai số về lượng giá và về kế hoạch tạo sự thay
đổi trong tương lai Điều đó ảnh hưởng lớn đến kết quả tạo sự thay đổi theo hướng tích cực đối với thân chủ Chúng ta cũng xoá đi hiện thực về trải nghiệm của thân
chủ và xoá đi sức mạnh của cái siêu tôi, của lòng tự trọng và tự quyết của thân chủ
Một giả định khác mà nhân viên xã hội hay đưa ra trong quá trình làm việc với thân chủ chính là việc coi khuyết tật là trọng tâm của công việc trong công tác
xã hội Trên thực tế, thân chủ có thể đến với các dịch vụ hỗ trợ vì nhiều lý do khác
nhau, như vấn đề về trẻ em, những điều không thoải mái trong hôn nhân, những sự
tách biệt xã hội, mất người thân hay sợ kỳ thị Trong trường hợp này, vấn đề thân
chủ khuyết tật đòi hỏi giúp đỡ là trọng tâm của công việc Trong quá trình khám
phá và giải quyết vấn đề, nếu nhân viên xã hội nhận thấy các điều kiện khuyết tật
là một phần của những khó khăn, cácc điều kiện này cần được đưa vào trong quá trình trao đổi, thảo luận với chính thân chủ, tránh áp đặt ý chí chủ quan của nhân viên xã hội lên thân chủ
Có thẻ lấy ví dụ trong giao tiếp với thân chủ kiếm thị để minh chứng cho
điều này Adienne Asch trong công trình nghiên cứu của mình, xuất bản năm
1995, đã lưu ý trong giao tiếp đối với các thân chủ có những tổ thương chức năng
nhìn Trong quá khứ, nhân viên xã hội có xu hướng chấp nhận quan điểm cho rằng, cá nhân có khó khăn về nhìn và những khuyết tật khác cần có các dịch vụ từ các nhà chuyên gia đặc biệt về chức năng nhìn, hoặc khuyết tật nói chung Nhưng những quan điểm như vậy đã được chúng minh sai lầm sau này Đó cũng chính là
chỉ báo rõ ràng về sự định kiến và phân biệt đối xử bởi nhân viên xã hội hay các cơ
sở xã hội của họ Ví dụ, điều cần thiết cho một nhân viên xã hội khi thân chủ khiếm
thị của họ và người bạn đời cần đến trị liệu hôn nhân, là tập trung vào sự năng động của cặp vợ chồng này Mặc dù vậy, nếu vấn đề khiếm thị lap dim lặp lại, như
là nguyên nhân cản trở sự năng động của hôn nhân, nhân viên xã hội cần kiểm tra
lại và trao đổi với thân chủ của mình về vấn đề khiếm thị của họ
Trang 10Nhân viên xã hội khi giao tiếp, hỗ trợ thân chủ khuyết tật, cần cẩn thận
tránh những bẫy giả định Nhân viên xã hội phải cẩn thận, tránh gia định rằng thân
chủ có những vấn đề tương tự như khuyết tật của mình, hoặc tương tự như các trường hợp khác đã gặp Đặc biệt, nếu một thân chủ đến cần sự giúp đỡ về điều gì
đó, không liên quan tức thì gì đến khuyết tật, nhân viên xã hội cần tự giám sát, hỗ
trợ chính điều thân chủ có nhu cầu, hơn là thúc day ngay tiến trình tạo dựng mối quan hệ về lĩnh vực khuyết tật chung Nhân viên xã hội đưa ra những giả định về
sự trải nghiệm của thân chủ và cảm xúc, dựa trên việc chia sẻ vấn đề khuyết tật do
chính thân chủ đưa ra Điều quan trọng đối với nhân viên xã hội là nhận biết điều
này và nhấn mạnh đến các yêu cầu đặc biệt về sự trải nghiệm riêng của bản thân
thân chủ
b) Phát triển sự kiên nhẫn và sự hiểu biết/ am hiểu
Giao tiếp với thân chủ và phát triển mối quan hệ tin tưởng với việc cùng tạo dựng niềm tin thể hiện việc phát triển về chuyên môn Sự tin tưởng sẽ mất nhiều
thời gian hơn để phát triển đối với những thân chủ có bệnh tâm thần, thương tật nhật thức Sự tỉn tưởng trong những trường hợp này sẽ không thể phát triển đầy
đủ Niềm tin được phát triển trong việc tiếp xúc lặp đi lặp lạincủa quá trình giao
tiếp giữa nhân viên xã hội và thân chủ
Trong khi nhiều thân chủ cảm thấy dễ dàng và thoải mái giao tiếp với nhân
viên xã hội, việc giao tiếp với thân chủ có các khuyết tật khác nhau đòi hỏi có những phương thức phi truyền thống về giao tiếp, vất vả, tốn nhiều công sức và thời gian Làm việc với thân chủ sử dụng bảng giao tiếp, nói ra từng chữ cái của
từng từ, đòi hỏi có sự kiên nhẫn và thời gian Việc chờ đợi và nắm bắt của nhân
viên xã hội các cơ hội trợ giúp việc tự quyết của thân chủ, trong khi các quyết định
cần được thực hiện ngay, sẽ ra mệt mỏi Việc nhắc đi nhắc lại những hướng dẫn
nào đó, đám bảo thân chủ khuyết tật hiểu rõ, cũng đời hỏi sự kiên nhẫn và thống
nhất
Giao tiếp với các thân chủ sẽ giúp nhân viên xã hội phát triển được nhiều ý
tưởng Để phát huy tối đa các cơ hội đặc biệt này trong phát triển chuyên môn và
phát triển năng lực, nhân viên xã hội cần thiết lập được quá trình tự phản ánh, với
sự tôn trọng thân chủ, sử dụng sức mạnh của thân chủ đề trao quyền tự quyết Nhân
viên xã hội cần kiên nhẫn, thấu hiểu và khuyến khích thân chủ giao tiếp và hành
động vì chính bản thân họ
e) Giảm nỗi sợ hãi và sự không thoải mái
Khi mới tiếp xúc với thân chủ khuyết tật, không phải nhân viên xã hội nào
cũng có thể ngay lập tức vượt qua số nỗi sợ hãi và không thoải mái trong quá trình làm việc Sự sợ hãi và không thoải mái xảy ra thường xuyên khi nhân viên xã hội
Trang 11là người mới, và không có điều kiện trải nghiệm khuyết tật giống nhau Thông thường, khi cá nhân nhận thức được mình khác biệt so với người khác, họ thường
có cảm giác không thoải mái và đôi khi sợ hãi Nhân viên xã hội cũng không tránh
được điều đó Điều quan trọng đó là chúng ta cần thừa nhận bản thân, chấp nhận cả
những điều sợ hãi mà chúng ta bắt gặp khi làm việc, và quan trọng hơn, theo thời gian, cùng các thân chủ đần giải quyết các vấn đề đó Làm như vậy, chúng ta giảm thiểu được những tác động chủ quan về xúc cảm của chúng trong mối quan hệ
nhân viên xã hội - thân chủ
Sự sợ hãi và không thoải mái sẽ giảm đi theo thời gian Khi chúng ta hiểu biết kỹ về thân chủ, khi các mối quan hệ phát triển chặt chẽ, nỗi sợ của chúng ta sẽ
tan dần Khi biết rõ được các điều kiện, tình trạng khuyết tật của thân chủ, chúng ta
sẽ cảm thấy thoải mái hơn trong việc chấp nhận họ, như là một phần thông thường
trong số những thân chủ của chúng ta
2.2.Kỹ năng giao tiếp lấy con người làm trung tâm đối với thân chủ có một số dạng khuyết tật thường gặp
Có bao nhiêu dạng khuyết tật khác nhau, thì cũng sẽ có bấy nhiêu kiểu thân chủ với các dạng khuyétt tat khác nhau Đề đễ hình dung, dễ hiểu, dễ vận dụng các
kỹ năng cần thiết trong công tác xã hội đối với người khuyết tật, cụ thể là trong giáo
tiếp với thân chủ khuyết tật, chúng tôi tạm chia nhóm các kiểu thân chủ khuyết tật
theo những nhóm khuyết tật các chức năng chính của con người, như nhóm thân chủ khuyết tật chức năng nghe, chức năng nhìn, chức năng nói, nhóm thân chủ
khuyết tật trong lĩnh vực sức khỏe tâm thần, nhóm thân chủ khuyết tật phát triển, nhóm thân chủ khuyết tật nhận thức, nhóm thân chủ khuyét tat vận động
2.2.1 Giao tiếp với thân chủ có tổn thương chức năng nghe
Thân chủ có tồn thương chức năng nghe rất các nhau Chúng tôi tạm chia họ
thành hai nhóm chính, với các mức độ tổn thương khác nhau Một nhóm là các
thân chủ tổn thương một phần chức năng nghe (nghe kém), và nhóm còn lại là các thân chủ tổ thương hoàn toàn chức năng nghe (không thể nghe/điếc) Các kỹ năng trong giao tiếp sẽ được phân tích cụ thể với từng nhóm thân chủ khác nhau
Giao tiếp với thân chủ tốn thương một phần chức năng nghe (nghe kém/năng tai): Có nhiều kỹ năng và lưu ý trong giao tiếp với thân chủ có tổ thương một phần chức năng nghe (nghe kém/nặng tai) Chúng tôi sẽ phân tích kỹ một số
những kỹ năng, kiến thức và cách thức vận dụng chính: học về những tổn thương
chức năng nghe; tăng cường giao tiế; đảm bảo sự riêng tư; các hình thức trợ thính, trong giao tiếp với thân chủ có tổ thương một phần chức năng nghe,
Học về những tổn thương chức năng nghe: Những tổn thương về nghe khác
nhau ở nhiều cấp độ, mức độ và bối cảnh Do đó, khi làm việc với các thân chủ có
Trang 12các tổn thương về thính giác, điều cần thiết trước tiên là cố gắng hiểu được các hình thức hạn chế mà thân chủ đang trải nghiệm, từ đó nhân viên xã hội có thể
giúp bồi đắp những tổn thương theo cách thức hiệu quả nhất Trước tiên, cần hỏi
trực tiếp về khả năng nghe của thân chủ khi bắt đầu tiếp xúc, nhân viên cố gắng thu thập thông tin này từ thân chủ, từ các nhà chuyên môn khác, và từ những nhân
viên xã hội trước đây Điều này giúp nhân viên xã hội có thể hiểu kỹ về khả năng
nghe của thân chủ, tập trung vào việc giúp thân chủ tìm kiếm được các dịch vụ hỡ trợ phù hợp
Tăng cường giao tiếp: Một số thân chủ sẽ có những khó khăn để hiểu những
giao tiếp thành lời của nhân viên xã hội, nhưng lại không sẵn sàng đưa thảo luận
các vấn đề cùng nhân viên xã hội Nhân viên xã hội sẽ nhận thức được điều này thông qua quan sát những giao tiếp không thành lời của thân chủ Liệu những biểu
lộ của cơ thể và nét mặt có tạo nên những sự chú ý? Liệu sự xuất hiện của thân chủ
có tập trung chủ yếu vào các ngôn từ? Liệu các hình thức trả lời của thân chủ có
phù hợp với những câu hỏi của nhân viên xã hội? Những điều này và những hành
vi khác là những dấu hiệu, giúp nhân viên xã hội nhận ra thân chủ của mình đang trải nghiệm những khó khăn chức năng nghe Cách tiếp cận của nhân viên xã hội
phụ thuộc nhiều vào các cấp độ quan hệ, họ sẽ có cảm nhận khi nào thân chủ thoải mái bắt đầu chủ đề quan tâm
Đảm bảo sự riêng tư: Một vẫn đề thường xảy ra với cả nhân viên xã hội và
thân chủ, những người có hạn chế về nghe thường dùng các kiểu giọng, âm độ
giọng, để bù đắp lại việc nghe kém Thân chủ khuyết tật một phần chức năng nói
thường nói to, bởi vì họ không có khả năng nghe được chính giọng của mình Họ
tin rằng điều đó có thể giúp nhân viên xã hội hiểu được thông điệp của họ Nhân
viên xã hội cũng nói to đề có gắng giao tiếp trong điều kiện thực tế Điều đó đương
nhiên ảnh hưởng tới vấn đề riêng tư, giữ bí mật — một trong những biểu hiện của
nguyên đạo đức cần thiết của công tác xã hội
Các hình thức trợ thính: Nhiều thân chủ có những thương tổn một phần chức
năng nghe sử dụng các phương thức trợ thính để giúp họ giao tiếp hiệu quả hơn
Có nhiều hình thức trợ thính có cơ chế hoạt động, giá cả, và hiệu quả khác nhau
Moi thân chủ khó khăn trong việc nghe đều có thể dùng máy trợ thính Tuy nhiên,
một số thân chủ lại không sử dụng dùng máy trợ thính vì lý do này hay lý do khác Đối với thân chủ cao tuổi, hoặc những người hay bị quên khi sử dụng máy trợ thính thường quên bật máy trợ thính Họ có thể bỏ ra ngoài, hoặc tắt máy trợ thính
vào ban đêm và không bật lại, cho tới khi có sự nhắc nhở Cần phải đảm bảo rằng,
máy trợ thính phải được bật trước khi nhân viên xã hội bắt đầu làm việc Nhân viên
xã hội cần lưu ý vấn đề nay dé kip thời nhắc thân chủ
Trang 13Giao tiếp với thân chủ tổn thương hoàn toàn chức năng nghe (điếc)!!
Các thân chủ hoàn toàn tồn thương chức năng nghe (điếc) rất khó dé giao tiếp
với các nhân viên xã hội, nếu các nhân viên không hiểu kỹ về than chủ của mình,
không sử dụng các kỹ năng hỗ trợ trong giao tiếp
Nhân viên xã hội làm việc với thân chủ bị mắt hoàn toàn khả năng nghe cần
tuân thủ theo mô hình thực hành “can thiệp khủng hoảng” Thân chủ sẽ đưa ra một
số hình thức giao tiếp, nhằm bù lại việc mất khả năng nghe, để việc giao tiếp được
duy trì Thân chủ có thể được học ngôn ngữ ký hiệu, hay các phương thức ký hiệu khác, đọc bằng môi, hay sử dụng người phiên địch chuyên nghiệp Từng yêu cầu này đòi hỏi những kỹ năng công tác xã hội khác nhau để giao tiếp Điều quan trọng đối với nhân viên xã hội là phải thoải mái trong việc sử dụng các phương thức giao
tiếp với thân chủ Các thân chủ nhanh chóng nhận ra sự không thoải mái của nhân
viên xã hội, và điều này có tác động tiêu cực đến các tương tác Trong nội dung này, chúng tôi cung cấp các tri thức cần thiết về thân chủ tổn thương hoàn toàn chức năng nghe, cũng như phân tích, hướng dẫn thực hành một số kỹ năng trong thực tế, gồm hiểu về việc khiếm thính (mắt hoàn toàn khả năng nghe); giao tiếp với các
thân chủ đọc bằng môi; giao tiếp với thân chủ dùng ngôn ngữ ký hiệu; giao tiếp với
thân chủ sử dụng nhân viên phiên dịch về ngôn ngữ ký hiệu; giao tiếp khi sự khiếm
thính ảnh hưởng đến giọng nói
Hiểu về việc khiếm thính (mắt hoàn toàn khả năng nghe): Đề chuẩn bị làm việc với thân chủ khiếm thính, nhân viên xã hội cần học để hiểu kỹ về vấn đề khiếm
thính, những vấn đề bệnh lý, hệ quả cũng như về các phương thức chung về giao
tiếp được người khiếm thính sử dụng Văn hoá khiếm thính ở Mỹ được phát triển
mạnh, được xem như một tiểu văn hoá hiệu quả trong xã hội hiện đại Nếu nhân
viên xã hội là người điếc, quá trình làm việc với văn hoá khiếm thính sẽ là vấn đề thoải mái Nếu nhân viên xã hội là người không khiếm thính, có thể sẽ phải trải qua
sự thất vọng, sự phản đối và sự tin tưởng thấp trong công việc với thân chủ khiếm
thính Học về ngôn ngữ ký hiệu là một việc lớn đối với nhân viên xã hội, để làm việc với thân chủ khiếm thính
Mặc dù vậy, nhiều người khiếm thính không xác định mình thuộc nền văn hoá khiếm khiếm thính, đặc biệt những người bị khiếm thính khi về già Họ không
thể sử dụng được ngôn ngữ ký hiệu Trong trường hợp này, phát triển giao tiếp
hiệu quả có thể chỉ là một thách thức nhỏ đối với những thân chủ này Nhiều thân
chủ mất dần khả năng nghe khi về già lại trở nên là người đọc môi hiệu quả, đạt được kỹ năng này khi việc mat kha năng nghe ngày càng gia tăng
TT trong phần này, thuật ngữ “khiếm thính” được sử dụng chỉ các thân chủ tén thương hoàn
toàn chức năng nhìn (mù)
Trang 14Giao tiếp với các thân chủ đọc bằng môi: Như đã đề cập trên đây, nhiều
thân chủ mắt khả năng nghe ở giai đoạn cuối của cuộc đời lại là người có khả năng
đọc môi thành thục Những người khác có thể dụng kết hợp ngôn ngữ ký hiệu và
đọc môi, điều này phụ thuộc vào bối cảnh và nhu cầu
Để giúp thân chủ nâng cao khả năng đọc môi, cần ngồi đối diện trực tiếp với thân chủ, qua đó, thân chủ có thể nhìn rõ sự chuyển động môi của nhân viên xã hội Việc quan tâm đến ánh sáng trong phòng để rõ được nét mặt là điều cần thiết
Các thân chủ khiếm thính và việc đọc môi không thể nghe được, ngay cả khi nhân viên nói to Vì vậy, nhân viên xã hội không cần thiết phải có gắng nói to Việc hiểu
được những điều nhân viên xã hội nói rất quan trọng với thân chủ, trong việc đưa
ra các quyết định liên quan đến bản thân Trong trường hợp, nhân viên xã hội đưa
ra các thông tin quan trọng, hoặc hỏi thân chủ về việc đưa ra quyết định, cần phải
chắc chắn rằng thân chủ đã hiểu được những gì mà mình nói, nhân viên xã hội cần
bé sung thêm những tranh luận bằng lời, băng cách viết ra giấy
Đọc bằng môi là một kỹ năng khó Các thân chủ cần làm chủ được điều này
Những người đọc môi hiệu quả thường phải học kỹ năng này trong một thời gian đài Hơn nữa, họ còn cần có khả năng nhìn tốt, cần có kỹ năng suy luận, hiểu biết
tốt về ngôn ngữ Những điểm quan trọng đối với thân chủ cần được nhân viên xã
các trường đại học và các cơ sở khác như hội người khiếm thính Tại Việt Nam hiện
nay, ngôn ngữ ký hiệu được dạy tại một số trung tâm công tác xã hội, các cơ sở sở chăm sóc người khiếm thích, và trên truyền hình
Giao tiếp với thân chủ sử dụng nhân viên phiên dịch về ngôn ngữ ký hiệu: Các thân chủ khiếm thính thường thích sử dụng một nhân viên phiên dịch ngôn ngữ ký hiệu chuyên nghiệp khi gặp nhân viên xã hội Nhân viên phiên dịch này đáp ứng các yêu cầu kiểm tra quốc gia và được cấp bằng hành nghề về phiên dịch ngôn ngữ ký hiệu chuyên nghiệp Tại Mỹ, nhân viên này thuộc Tổ chức đăng ký
nhân viên phiên dịch cho người khiếm thính Quốc gia và Hiệp hội người khiếm
thính Họ có mã đạo đức hành nghề chuyên nghiệp, và có trách nhiệm giữ kín thông tin
Trang 15Những nhân viên phiên dịch đủ điều kiện này lắng nghe những gì nhân viên
xã hội nói và chuyển các nội dung đó thành ngôn ngữ ký hiệu cho thân chủ Giao tiếp theo cách thức này thường nhanh và hiệu quả trong việc chuyền tải thông tin,
nhưng cũng dẫn đến những thách thức trong quá trình thiết lập một mô hình giao tiếp tốt giữa nhân viên xã hội và thân chủ (liên quan đến sự riêng tư, miềm tin vào
nhân viên xã hội của thân chủ )
Mặc dù người phiên dịch có trách nhiệm giữ kín thông tin, việc hiện diện của
người thứ ba cũng có nhiều ảnh hưởng đến các tương tác giữa nhân viên xã hội và
thân chủ Cũng có trường hợp, nhân viên phiên dịch chưa đủ năng lực, hay chưa được cấp chúng chỉ hành nghề, họ có thể bạn hay thành viên trong gia đình người khuyết tật Khi đó, các thân chủ khó tự do bày tỏ bản thân, đông thời nhân viên xã
hội cũng không có được cảm giác tự do đề thực hiện tương tác với thân chủ của mình Hơn nữa, nếu nhân viên xã hội là người mới vào nghề, họ sẽ cảm nhận được
rằng, người phiên dịch lắng nghe những gì họ nói và phán xét đánh giá về khả năng
của họ Nhân viên xã hội cũng sẽ băn khoăn về mức độ chính xác của nội dung được phiên dich, đồng thừoi thầm hởi, liệu nhân viên phiên dịch có đưa thêm bình
luận gì hay phản ứng khi dịch không Nếu nhân viên phiên dịch là người biết rõ về
thân chủ, như một người bạn, một thành viên gia đình, nhân viên xã hội cần quan
tâm đến ảnh hưởng của những cá nhân này đối với các tương tác trong quá trình giao tiếp
Giao tiếp khi sự khiếm thính ảnh hưởng đến giọng nói: Các thân chủ là người khiếm thính thường rất khó khăn về nói vì họ không thể nghe lại những gì
họ nói Điều này cũng tạo khó khăn và thách thức đối với nhân viên xã hội Nhân
viên xã hội sẽ khó hiểu vì vậy khó phản hồi lại với câu “ừ ừ” chung chung, hoặc gật
đầu của thân chủ khiếm thính
2.2.2 Giao tiếp với các thân chủ tổn thương một phần chức năng nhìn
Hiểu về các thương tồn chức năng nhìn: Đề có thể làm việc với thân chủ khuyết tật, nhân viên xã hội cần có kiến thức về thương tật này Có nhiều hình thức
phân loại về thương tổn chức năng nhìn, bao gồm khả năng nhìn theo ống, giảm
tầm nhìn với các vết đen, mất khả năng nhìn ở một số điểm của mat, mất tầm nhìn
ngoại vi hay trung tâm, mờ tầm nhìn hay xoá mờ Điều quan trọng phải hiểu rõ loại tổn thương chức năng nhìn nào có ảnh hưởng đến thân chủ, để đưa ra những hình thức đánh giá phù hợp, giúp bù đắp lại sự mất mát chức năng nhìn đó
Kỹ năng giao tiếp không lời: Trong giao tiếp,kỹ năng giao tiếp không lời có vai trò biểu cảm quan trọng, giúp việc chuyển tải thông tin dễ dàng, sâu sắc hơn.Nhưng thân chủ của chúng ta có khả năng nghe ngôn từ tốt, nhưng khả năng nhìn ngôn ngữ cử chỉ lại hạn chế Việc lắng nghe những giọng điệu của chúng ta
Trang 16và kết hợp với một phần ngôn ngữ cơ thể tạo thêm khả năng hiểu tổng thẻ về nội
dung giao tiếp Tuy nhiên, thân chủ với những tổn thương về thị giác thường không hiểu hết giao tiếp không lời, do đó không hiểu được nội dung của thông
điệp qua loại ngô ngũ này Việc sử dụng ngôn ngữ không lời đối với thân chủ tổn thương một phần chức năng nhìn cần có những luu ý cụ thể, được phân tích kỹ
trong sử dụng các kỹ năng đối với một số tổ thương chúc năng nhìn chính
Giao tiếp với các thân chủ tổn thương hoàn toàn chức năng nhìn (khiếm thi)”
Hiểu về khiếm thị: Thân chủ khiếm thị, giống như thân chủ có tổn thương
một phần chức năng nhìn, sẽ không bị ảnh hưởng nhiều đến giao tiếp thành lời,
các cá nhân không thể nhìn được sẽ không dùng được ngôn ngữ không lời Có nhiều tài liệu về khiếm thị và về giao tiếp với người khiếm thị Điều quan trọng đối
với nhân viên xã hội là phải làm quen bản thân với những vấn đề chung để tạo
được các dịch vụ hỗ trợ phù hợp
Gặp mặt các thân chủ khiếm thị: Khi các thân chủ không có khả năng nhìn,
nhân viên xã hội cần tạo một số dấu hiệu trong hành vi hành vi, để thể hiện sự
mong đợi, dấu ấn trong giao tiếp Nếu ở văn phòng, việc bắt tay khi gặp mặt cũng
tạo được những tương tác tức thì Giải thích cho thân chủ biết được vị trí của văn
phòng, và có thể đề nghị giúp đỡ thân chủ qua việc đưa tay mình ra Khi nhân viên
hướng dẫn cho các thân chủ, khoảng cách vừa đủ với thân chủ cần đảm bảo Nhân
viên xã hội cần một khoảng không gian dé đi lại, cần mô tả mọi vật cản, trở ngại
như bậc thềm, lối đi ra cửa cho thân chủ trước khi mình tiếp cận đến với họ Thân
chủ sẽ cảm thấy thoải mái hơn, khi nhân viên xã hội chia sẻ thêm những câu
chuyện đời thường với thân chủ Việc thêm một vài lời bình luận cũng cần thiết và
không làm giảm nội dung của vấn đề trao đổi Khi nhân viên xã hội đưa thân chủ
đến vị trí mà cuộc phỏng vấn sẽ được thực hiện, cần xác định vị trí của thân chủ bằng cách đề chân cuả thân chủ chạm vào ghế và nói với thân chủ ngồi xuống Sau
đó, nhân viên xã hội bỏ tay mình ra khỏi thân chủ, để thân chủ ngồi một cách độc
lập
2.2.3 Giao tiếp với thân chủ khuyết tật chức năng nói
Nói là một công cụ cơ bản của chúng ta để giao tiếp với người khác Khi có tổ thương chức năng nói, cần thiết phải phát triển được các hình thức giao tiếp khác, giúp thân chủ bộc lộ được bản thân Các cá nhân có tổn thương về nói thường có
thể nhận và mã hoá giao tiếp thành lời Các hạn chế của quá trình giao tiếp thường
diễn ra trong quá trình gửi thông điệp, một số ít hơn sẽ gặp khó khăn trong quá trình lĩnh hội thông điệp
trong phần này, thuật ngữ “khiếm thị” được sử dụng chỉ các thân chủ tổn thương hoàn toàn chức năng nhìn (mù)
Trang 17Lời nói của thân chủ có tổn thương chức năng nói thường không rõ ràng,
nhằm lẫn, khó hiểu Một số thân chủ bị đột quy nhiều khả năng không thể giao tiếp thành lời Một số thân chủ có thể di chuyển môi để tạo các từ, nhưng không có âm
thanh nào được tạo ra Một số thân chủ khác lại không thể viết hoặc di chuyển,
cũng như không thể nói được
Các nội dung về tương tác với thân chủ của công tác xã hội thường là phức
tạp, gắn nhiều với những xúc cảm, quan trọng nhất là cần hiểu nội dung thông điệp của thân chủ rõ ràng Để có đạt mục đích này, cần sử dụng các hình thức giao tiếp khác Người phiên dịch có lẽ hữu ích trong quá trình làm việc với các thân chủ ở các dạng thương tật nói Càn có những hướng dẫn cụ thể trong các nội dung về
ngôn ngữ ký hiệu, để người phiên dịch có thể áp dụng diễn đạt lời nói
Ban đầu, giao tiếp thành lời với thân chủ có tổn thương chức năng nói thường rất khó khăn, đôi khi dẫn đến thất vọng Những nhân viên xã hội trong
trường hợp này thường là người có khả năng giao tiếp bằng hình thức khác, thay
thế hình thức giao tiếp thành lời đối với thân chủ Các nhà trị liệu ngôn ngữ và
bệnh học ngôn ngữ được xem là những nguồn thông tin hữu ích về hệ thống giao tiếp này
Giao tiếp qua đọc bằng môi
Nếu thân chủ của mình có thể hình thành được các ngôn từ qua hình ảnh môi,
nhân viên xã hội cần phân biệt chúng qua cách đọc bằng môi Để nâng cao khả năng đọc bằng môi, cần cố gắng có đủ ánh sáng tới khuôn mặt của thân chủ trong
và ngồi gần với thân chủ hơn
Nhân viên xã hội cần hỏi thân chủ chỉ rõ cách biểu hiện với “có” và
“không” như thế nào (qua việc gật đầu,lắc đầu, chớp mắt, nâng ngón tay, hoặc tương tự )
Khi nhân viên xã hội đọc bằng môi những điều mà thân chủ nói, cần thường
xuyên kiểm tra lại mức độ chính xác mà mình đọc được, bằng việc nói ra thành tiếng và hỏi thân chủ xem liệu điều đó có chính xác không Khi nhân viên hỏi lại,
cần sử dụng một âm giọng trung lập, trừ khi tác động của thân chủ và ngôn ngữ cơ thể của thân chủ trực tiếp truyền tải những cảm xúc cụ thẻ Việc sử dụng một giọng
điệu trung lập giúp nhân viên xã hội giảm các rối nhiễu có thể làm biến dạng thông
tin Nhân viên xã hội cần tránh cách sử dụng một giọng đơn điệu trong việc nhắc lại
câu nói của thân chủ, vì điều sẽ truyền tải việc thiếu mối quan tâm từ nhân viên xã hội thân chủ
Nếu nhân viên không hiểu những gì thân chủ đang giao tiếp, cần hỏi thân chủ lặp lại những gì vừa được nói Nếu nhân viên cần lặp lại điều này, nhân viên cần
thừa nhận mình thực sự là người đọc môi còn kém và sẵn sàng nói lời xin lỗi Điều
Trang 18này thể hiện rằng nhân viên xã hội thực sự biết khó khăn khi thân chủ cứ phải lặp
lại một vấn đề nào đó, nhưng nhân viên cũng cần đảm bảo rằng mình hiểu đúng những gì mà thân chủ đang nói Nếu thân chủ nhìn nhận được sự cố gắng của nhân
viên xã hội, thân chủ đó sẽ tìm mọi cách để giao tiếp hiệu quả hơn với nhân viên
xã hội
Một số nhân viên xã hội không giỏi về việc đọc bằng môi, kể cả khi họ đã
cố gắng, tích cực thực hành nhiều lần Trường hợp này, nhân viên xã hội cần giải
thích điều đó đối với thân chủ của mình và đề xuất các phương thức giao tiếp khác
tốt hơn, tránh tạo nên sự thất vọng cho cả hai bên, khi cố gắng giao tiếp qua việc đọc môi
Giao tiếp qua bảng giao tiếp
Các bảng giao tiếp được xem là các công cụ hữu ích cho quá trình làm việc
với các cá nhân có khả năng di chuyền ngón tay, tay hoặc cả cánh tay Các bảng tin được thực hiện với sự kết hợp các từ, chữ cái Bảng giao tiếp đơn giản có những chữ cái xếp theo bảng chữ cái và một vài thuật ngữ đơn giản, như có và không Các thuật ngữ này có thể điều chỉnh theo các tình huống và nhu cầu của thân chủ Các
thân chủ cũng chỉ ra được các chữ, từ, hay các đoạn câu cho biết họ cần nói Một
số hình thức bảng chữ cái khác có thể được cấu tạo bằng việc nhóm các chữ cái
trên bảng thông qua tần suất xuất hiện, vị trí trên bảng chữ cái dé than chu dé dang
thể hiện thông điệp
Nhân viên xã hội có thân chủ khó khăn trong giao tiếp bằng cách thông
thường, cần tạo được một bảng cái nhân cho thân chủ của mình Mặt bảng cứng
thường được sử dụng Các chữ cái, các từ được viết lên hoặc được mua ở cửa hàng bán đồ văn phòng và được gắn lên trên đó Các từ trên bảng được gắn thêm cùng
các chữ cái nên được cá nhân hoá nhằm phản ánh được các nhu cầu của thân chủ,
như “nhà vệ sinh”, “nóng”, “mệt”, “ngủ” Các từ biểu lộ những cảm xúc có thể
được bổ sung thêm vào như “tức giận”, “hạnh phúc”, hay “buồn chán” Việc gắn
kết thân chủ vào tiến trình chọn lựa các ngôn từ hay việc thiết kế bảng tin cũng tạo
được các mối quan hệ qua lại đề thực hiện được những hoạt động khác, đồng thoqì thực hiện việc trao quyền cho thân chủ trong việc thực hiện trách nhiệm đối với quá
trình giao tiếp của bản thân Thân chủ càng tham gia trực tiếp vào quá trình xây dựng bảng tin, họ càng đạt nhiều hiệu quả trong quá trình giao tiếp
Việc giao tiếp bằng cách này thường chậm, các thân chủ có xu hướng giao tiếp một cách tóm lược về các chủ đề cụ thể Điều này gây khó khăn trong việc sử dụng các bảng giao tiếp cho quá trình giao tiếp về các vấn đề cảm xúc, nhạy cảm
Việc thể hiện sự chăm sóc và kiên nhẫn rất cần thiết, nếu nhân viên xã hội muốn
thực hiện trình giao tiếp về một cấp độ cảm xúc nhất định
Trang 19Hệ thống giao tiếp được vận hành bằng ngón tay
Ở một số nước có bán các hệ thống giao tiếp thương mại sẵn có, các thân chủ có sử dụng một hay nhiều phương pháp đề vận hành bộ máy nói được các từ
cần thiết nhất đối với mình Các hệ thống này được vận hành ở nhiều vị trí khác
nhau, giúp quá trình giao tiếp hiệu quả hơn
Hệ thống giao tiếp thông qua sự chuyển động mắt
Hiện nay, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, tại một số nước
phát triển, những thân chủ hoàn toàn không còn khả năng nói và di chuyền, có thé
sử dụng các hệ thống giao tiếp qua sự chuyển động của mắt Các hệ thống này đòi hoi sy phat triển cao công nghệ, nên chi phí cũng khá cao Thân chủ sử dụng những hệ thống này, dùng ánh mắt của họ đề tập trung vào các chữ cái, hay các từ
trên một cái màn hình được đặt trước chúng Sự chuyền động của mắt được xác
định, các từ và chữ xuất hiện Nếu có sai sót hiện ra, thân chủ cũng có thé thay đổi
các từ và chữ khác
Nếu hệ thống giao tiếp sử dụng ngôn ngữ mắt không sẵn có đối với thân chủ, cũng có thể phát triển một hệ thống giao tiếp bằng cách sử dụng số lần chớp mắt Số lền chớp mắt có thể gán cho ý nghĩa muốn chuyể tải của thân chủ và có, hoặc không, hay một từ cần thiết khác
2.2.4 Giao tiếp với các thân chủ có khuyết tật trong lĩnh vực sức khoẻ tâm
thần
Các phương pháp cho giao tiếp với thân chủ khuyết tật trong lĩnh vực sức
khẻ tâm thân nói chung, hoặc có bệnh tâm thần có vai trò quan trọng đối với hiệu
quả của quá trình này Một số gợi ý ở đây được dùng như sự khởi đầu cho các nhân
viên xã hội, thiết lập quá trình giao tiếp đối với những thân chủ có dạng khuyết tật này Nhân viên xã hội cần nhớ, không phải mọi thân chủ có bệnh tâm thần đều có
khó khăn trong giao tiếp Nhiều người trong số họ vẫn giao tiếp rất hiệu quả
Nhưng điều đó thường không giống nhau đối với các thân chủ có bệnh tâm thần, khi họ nhằm lẫn, lo âu, hay từ chối giao tiếp
Các thân chủ mắc bệnh tâm thần thông thường gặp nhiều khó khăn trong
giao tiếp Sự khó khăn trong việc mã hoá và giải mã có xu hướng xảy ra thường xuyên hơn, bởi các tiến trình nội tại bên trong thân chủ thường biểu hiện cùng hình thức giao tiếp bên ngoài
Những bệnh tâm thần thường khác nhau cả về mức độ và cấp độ Chúng khác
nhau về chân đoán với những gì được biểu lội ra ngoài theo từng cá nhân Chúng cũng khác nhau trong mỗi cá nhân ở từng thời điểm, theo giờ, ngày, hay tháng
Những khác biệt này được xem là một phần của điều kiện khuyết tật, được ân chứa
bên trong Những sự khác biệt này tạo nên những khó khăn cho nhân viên xã hội
Trang 20phát triển hệ thống giao tiếp với thân chủ, để giúp thân chủ tham gia tích cực trong
quá trình giao tiếp Những đề xuất sau đây có thể giúp nhân viên xã hội giao tiếp
hiệu quả với các thân chủ có vấn đề tâm thần Với những hạn chế về chức năng,
điều quan trọng hiểu rõ về vấn đề của thân chủ, cũng như các điều kiện để thúc đây mối quan hệ giáo tiếp
Kỹ năng quan trọng nhất trong quá trình giao tiếp với thân chủ có bệnh tâm thần là cần duy tri qué trinh giao tiép ré rang, don giản, gọn nhẹ và có điểm nhắn Cần cố gắng tránh sử dụng các thuật ngữ, các câu phức hợp, hay các thuật ngữ quá
mơ hồ, không rõ nghĩa Người có bệnh tâm thần thường tiếp nhận từng từ nhân
viên xã hội nói, vì vậy, nhân viên xã hội cần cần trọng trong việc nói đùa hay dùng
cách nói gián tiếp (nói bóng)
Nhân viên xã hội thường khó có lựa chọn về thời gian khi làm việc với các
thân chủ có bệnh tâm thần, cần phải nhớ là thân chủ của mình có thể phản ứng khác nhau tại những thời điểm khác nhau Điều này phụ thuộc vào những gì đang
diễn ra bên trong thân chủ ở thời điểm đó Điều này cũng có nghĩa là có khó khăn,
khi duy trì từ phỏng vấn này đến phỏng vấn khác Nhân viên xã hội cần nhận thức
về những trạng thái xúc cảm của thân chủ, đề thích ứng trong giao tiếp Nhân viên
xã hội càn thận trọng về những cử chỉ ngữ điệu và cách biểu lộ khuôn mặt của mình, bởi thân chủ sẽ xem đây như những dấu hiệu về cảm xúc của mình đối với
họ Những điều này có thể phản ảnh được sự quan tâm, lòng nhiệt tình của nhân
viên xã hội với thân chủ
Một số lưu ý đặc biệt khi giao tiếp với người có bệnh tâm thân
Người có bệnh tâm thần thường có những dấu hiệu và đặc điểm yêu cầu
những vắn đề thích ứng trong giao tiếp Nhân viên xã hội cần hiểu rõ dé nâng cao
hiệu quả giao tiếp Bảng sau chỉ rõ những dấu hiệu về bệnh tâm thần và những hành
động thích ứng phù hợp
Những dâu hiệu hay đặc điêm Hành động thích hợp
của thân chủ có bệnh tâm than của nhân viên xã hội
Trang 21
Hung hăng Nhận ra sự hung hăng và cho phép cá
Inhân đó rời khỏi Thay đôi cảm xúc Đừng nói, hay hành động một cách chủ
quan (theo cảm xúc của nhân viên XH)
Có ít xúc cảm với người khác Nhận ra các dâu hiệu
Rút lui Thúc đây nói chuyện
Tin vào ảo tưởng Đừng tranh luận
Sợ hãi Giúp bình tĩnh
Không an toàn Biêu lộ sự yêu thương và châp nhận
2.2.5 Giao tiếp với thân chủ khuyết tật phát triển
Những cá nhân có khuyết tật phát triển thường có những nhu cầu toàn điện
về công tác xã hội, hay các dịch vụ quản lý ca Phát triển quá trình giao tiếp tốt là
điều quan trọng để giúp các thân chủ thực hiện tốt nhất chức năng xã hội.Giao tiếp
với thân chủ có những khuyết tật phát triển cần hàng loạt các kỹ năng và kỹ thuật,
luôn yêu cầu sử đụng các ngôn từ đơn giản, mang tính mô tả rõ ràng Không sử dụng những thuật ngữ quá khó hiểu hay đễ gây nhằm lẫn khi giao tiếp chỉ Nhiều người có khuyết tật phát triển có hạn chế về ngôn từ
Một số cá nhân có khuyết tật phát triển có khả năng giao tiếp và dùng từ tốt,
số khác lại thực sự khó khăn trong vấn đề này, như việc phải sử dụng giao tiếp
không lời Một số người có sự bất thường trong cấu tạo của lưỡi, có tác động đến giao tiếp, làm cho người khác khó hiểu trong giao tiếp Một số người khác lại có lưỡi dài và to, vượt quá vòm miệng, gây khó khăn khi nói và làm các nhân viên xã hội khó hiểu những gì đang được giao tiếp
Để hiểu được một số thách thức mà những người có sự khác biệt về lưỡi
phải đối mặt, nhân viên xã hội có thể thử đặt một chiếc kẹo, dé keo tan dan trong
miệng và cảm nhận điều gì diễn ra khi nói với chiếc kẹo đang tan dần như thế Nhân viên sẽ thấy nói rất khó Không còn khoảng trống nào trong miệng để đưa
lưỡi từ vị trí này, sang vịtrí khác để tạo nên âm thanh của từ Nhân viên cũng sẽ có
cảm giác chán nản: mình biết những từ gì cần nói, nhưng những người khác lại
chẳng hiểu được Điều này cũng giống với trải nghiệm của người khuyết tật phát
triển khi họ cố thực hiện giao tiếp thành lời
Những cá nhân có khó khăn trong việc giao tiếp hay những người giao tiếp
không thành lời thường sử dụng sách giao tiếp cá nhân, nhằm giúp họ thực hiện
giao tiếp với người khác Đây có thể xem là một công cụ hữu ích Muốn nhận thức
được những giao tiếp không thành lời, nhan viên xã hội cần quan sát vị trí của thân
Trang 22chủ, sư đi chuyển cơ thé, và tác động của họ Qua những quan sát này, nhân viên
xã hội cũng có thể thu được nhiều thông tin có giá trị và đề xuất được cách thức
khám phá được một số ngôn từ, hình ảnh, hay các ý nghĩa khác
Một vài hoạt động cụ thể có thúc đây được quá trình giao tiếp Các cá nhân
có khuyết tật phát triển đều gặp khó khăn về lịch trình, quan niệm về ngày mai, năm trước, tuần trước đều vô nghĩa đối với họ, nhân viên xã hội cần tạo ra các hệ thống khác, giúp các thân chủ giao tiếp về khung thời gian Nhân viên xã hội có
thé sử dụng các tắm thẻ với hình ảnh về các mùa Sau đó có thể hỏi cái gì xảy ra
vào mùa hè, mùa đông, hay mùa thu Một sự trợ giúp hữu ích khác là các bức ảnh
về con người ở các lứa tuổi khác nhau, trẻ con, thiếu niên, thanh niên, người
trưởng thành, và người già Qua việc sử dụng những tắm thẻ này, có thể hỏi khi
nào một sự kiện xảy ra, khi nào một cá nhân còn trẻ hay về già (Everson)
Một vấn đề giao tiếp khác đối với thân chủ là phải nhận thức những gì xoay
xung quanh từ “có”, điều đó rất cần thiết với các thân chủ có xu hướng từ chối giao tiếp Nhân viên xã hội cần giải thích với họ, khi họ không sử dụng từ này trong giao tiếp bằng những ví dụ cụ thể Ví dụ: “trong thế giới này, anh/chị được dạy để nói
từ “có” Anh/chị phải nói có, nếu anh/chị không nói “có”, anh chị có thé mat đi
phần quà nào đó, như cốc nước soda, càfe, hay đi ra ngoài”
Đối với các thân chủ có xu hướng nói có đối với mọi câu hỏi cũng tạo nên những thách thức khác đối với thân chủ, khi tìm kiếm các thông tin về các sự kiện
hay cảm xúc Trường hợp này, nhân viên xã hội cần thay đổi các câu hỏi vài lần,
với những cách hỏi khác nhau Ví dụ: khi cần hỏi một câu hỏi nào đó, cần hỏi theo
cách thông thường, sau đó có thể hỏi lại thông tin đó trong thời điểm khác, có thể
đặt lại câu hỏi khác, đòi hỏi câu trả lời phải là một câu từ thân chủ, tránh hình thức câu hỏi có thể trả lời có hoặc không
Các thân chủ có khuyết tật về phát triển thường không thừa nhận nhân viên
xã hội và từ chối trả lời câu hỏi Họ nhanh chóng, đễ dàng đồng ý với kế hoạch mà nhân viên xã hội gợi ý hay phác họa ra Nhân viên xã hội cần nhớ những vấn đề
cản trở, hay những xúc cảm tiêu cực mà thân chủ đang có Nếu quên những điều
này, nhân viên xã hội đã vô tình làm mất họ mắt đi khả năng tham gia thực sự của
thân chủ vào việc lập kế hoạch cho chính cuộc sống của họ Điều quan trọng là cần trao quyền cho thân chủ, khuyến khích thân chủ làm chủ và kiểm soát cuộc sống
riêng của mình Đầu là điều rất khó, và mất nhiều thời gian hơn là chấp nhận sự
phụ thuộc của thân chủ vào kế hoạch của nhân viên xã hội, nhưng vì quyền lợi của
thân chủ, nhân viên xã hội cần có gắng để thân chủ chủ động, tích cực tham gia
vào kế hoạch cuộc sống của chính họ
Trang 23Để thúc đầy giao tiếp, cần hiểu rõ những vấn đề nền tảng của thân chủ Thân
chủ có thể sử dụng các ngôn từ không chính xác, hoặc có khi lại không hiểu chính
những ngôn từ mà bản thân sử dụng Cần hỏi thân chủ cách diễn đạt ý nghĩa các
ngôn từ, khi nhân viên xã hội chưa hiểu thân chủ nói gì Nhân viên cũng cần thể
hiện, rằng mình muốn chắc chắn về những gì thân chủ nói
2.2.6 Giao tiếp với thân chủ khuyết tật nhận thức
Khuyết tật nhận thức có tác động đến sự định hướng và sự ghi nhớ của thân chủ Sự nhầm lẫn, mắt định hướng, quên, tiến trình tư duy không có tổ chức, nhớ
kém, và quá nhạy cảm với người khác cũng chỉ rõ cho thấy một vấn đề tổn thương
trong thực hiện chức năng nhận thức Để biết được những vấn đề khuyết tật nhận
thức, các bài kiểm tra như Bảng hỏi về vị thế tâm thần (MSQ) và bài Kiểm tra tâm
thần cũng tạo được sự khẳng định về khuyết tật theo một mô hình dễ sử dụng nhất (Morrow, tr.127) Các thân chủ thường thể hiện sự rối loại nghiêm trọng hơn về
thời gian, ít rối loạn hơn về địa điểm, và họ thường không có nhận thức cái tôi
(Berkow, tr 1403)
Người mắc bệnh quên thường chiếm tỷ lệ lớn trong nhóm người khuyết tật
nhận thức Nhiều người trở nên lãng trí khi về già, tuy nhiên sự lãng trí có thể xảy
ra ở mọi độ tuổi Việc lãng trí có ảnh hưởng đến hơn một triệu người ở Mỹ (Berkow, tr.1403) Lãng trí có thể ở trạng thái ồn định hay mang tính phát triển,
lãng trí do Alzheima, lãng trí do nhiều yếu tố, lãng trí do AIDS, lãng trí gây ra bởi tốn thương ở đầu (Berkow) Hơn nữa, các cá nhân có những rối loạn giảm sự chú
ý cũng biểu lộ sự rối loạn về tư duy, mắt sự ghi nhớ, nhằm lẫn Đối với họ, việc sử
dụng các kỹ thuật đặc biệt nhằm tăng cường giao tiếp cũng cần thiết và có lợi
Dưới đây là một số kỹ thuật tăng cường giao tiếp đối với thân chủ khuyết tật nhận
thức
Sử dụng “các cửa sổ cơ hội” nhằm trao quyển và ra quyết định
Kỹ thuật này dựa trên nguyên tắc tận dụng tối đa những thời điểm thân chủ khuyết tật nhận thức tỏ ra rõ ràng trong suy nghĩ hơn những thời điểm khác, để trao quyền ra quyết định cho họ Tại Mỹ, có Luật về quyền tự quyết của bệnh nhân Các toà án khuyến khích nhân viên xã hội và các nhà chuyên môn khác sử dụng “các cửa sổ cơ hội” trong quá trình làm việc với các thân chủ có vấn đề lãng
trí, để thực hiện quyền này Với các thân chủ lãng trí, mức độ về sự lãng trí có thể
khác nhau qua từng ngày, đôi khi khác nhau qua từng giờ Mỗi thân chủ sẽ có một
giai đoạn, thời điểm có thể thể hiện suy nghĩ rõ ràng hơn những giai đoạn hay thời điểm khác Lúc này, họ có thể biểu lộ rõ ràng những mong muốn trong giao tiếp qua hành động, nhân viên xã hội cần kịp thời sử dụng các thời điểm này (cửa số cơ
hội) để giúp thân chủ hướng đến sự tự quyết của mình
Trang 24Điều quan trọng cần nhận ra những thời điểm này và có hành động phù hợp
ngay tức thì Nhân viên xã hội có thể tìm hiểu, kết luận về các thời điểm hữu ích
này từ các chuyên gia y tế khác, từ gia đình hay từ những tổ chức có liên quan
và/hoặc qua những trao đổi với thân chủ được các cá nhân khác chứng kiến (với sự
đồng thuận của thân chủ) Các thông tin tổng hợp này là cơ sở đánh giá về các quyết định của thân chủ
Tối tru trí nhớ
Các thân chủ có những thương tật nhận thức thường gặp khó khăn trong việc
ghi nhớ Các cá nhân bị lãng trí có xu hướng mất những ghi nhớ đầu đầu tiên rồi sau đó là những ghi nhớ gần đây Vì thế, các thân chủ thường gặp khó khăn trong
việc ghi nhớ mình là ai và ai là người giúp đỡ họ Để giúp họ liên kết với nhân viên
xã hội, cần giới thiệu lại bản thân ở thời gian đầu của từng buổi đến thăm Nhân viên xã hội có thể làm điều này thường xuyên, qua việc nói: “xin chào, anh có nhớ
tôi không? Tôi là ”, điều đó sẽ giúp thân chủ của mình nhớ lại Nhân viên xã hội cũng có thể chủ động tạo ra những đặc điểm riêng của mình, hoặc những câu nói đặc biệt trong giao tiếp, để giúp thân chủ nhận ra Đôi khi việc đeo một cái
caravat, hoặc cái nút cài đặc biệt ở thời điểm gặp thân chủ, cũng sẽ giúp thân chủ
máy nhắc việc sẽ nhắc họ về các buổi gặp mặt với người khác Các máy ghi hình,
hay ghi âm cũng thường rất hiệu quả cho người lớn mất trí nhớ Điện thoại di động
và máy tính cá nhân cũng hỗ trợ hiệu quả trong trường hợp này Các nhân viên xã hội có thể yêu cầu các thân chủ ghi nhớ các câu hỏi hay các mối quan tâm đặt ra
giữa các buổi gặp mặt khi họ nhớ ra và đem các câu hỏi đó đến buổi gặp tiếp theo
để để thảo luận Điều này sẽ giúp thân chủ duy trì được cảm giác về sự liên tục trong việc thực hiện các hoạt động từ buổi gặp này sang buổi sau Việc giúp thân chủ lập kế hoạch các ngày giữa các buổi gặp mặt, cũng như viết nội dung kế hoạch rất hữu ích cho quá trình giao tiếp giữa nhân viên xã hội và thân chủ Đặc biệt,
việc làm này mang lại ích lợi trực tiếp cho thân chủ
Sử dụng các hình thức giao tiếp không thành lời
Các thân chủ khuyết tật nhận thức, thường hay bị nhằm lẫn và không nói được rõ ràng Hơn nữa, không phải thân chủ khuyết tật nhận thức nào cũng có thể diễn đạt tốt bằng những hình thức giáo tiếp thông thường Khi đó, các nhân viên xã
hội cần sử dụng các hình thức giao tiếp khác Các hình thức nghệ thuật sáng tạo có
Trang 25thể sử dụng thành công với các thân chủ có vấn đề khuyết tật nhận thức Việc vẽ,
sơn, nặn, hay các hoạt động sáng tạo có đều có thể tạo ra những thể hiện về trạng
thái của thân chủ, về nhận thức Điều đó giúp nhân viên xã hội có thể đáp ứng như cầu của thân chủ, thể hiện qua giao tiếp thành lời, hoặc không thành lời
Một phương tiện giao tiếp quan trọng với thân chủ khuyết tật nhận thức
chính là ngôn ngữ cơ thẻ Các thân chủ khi sợ, lo lắng, hay bị đau thường giữ vị trí
cơ thể một cách cứng nhắc và đầy căng thắng Các thân chủ có cảm giác thoải mái
thường mỉm cười, thậm chị khi họ không biết bạn là ai Cách mỉm cười của họ có
thể cho chúng ta biết về trạng thái ý thức của họ ở thời điểm đó Các thân chủ đôi
khi có thể hung hãn, nhưng lại đang biểu lộ sự im lặng bên trong, hoặc sự thất
vọng hay tức giận Học cách đọc ngôn ngữ cơ thể của người khác về những biểu
hiện thống nhất, hoặc trái ngược rất hữu ích trong việc thiết lập quá trình giao tiếp
tốt với thân chủ
Một số lưu ý, thận trọng trong giao tiếp
Nhân viên công tác xã hội cần tránh việc làm ngây thơ hoá thân chủ, coi họ
là người luôn nhằm lẫn, hay quên, không có khả năng tổ chức Việc đối xử với thân chủ như một đứa trẻ cũng phá hỏng sự tự trọng của họ Cần đối xử với những thân
chủ có khuyết tật nhận thức như người lớn Tránh sử dụng tên riêng, tên thân mật (hoặc tên ở nhà) của thân chủ, những thuật ngữ mang tính trẻ con, hay các hoạt
động của trẻ con Các hoạt động nghệ thuật rất hữu ích trong việc phát triển giao
tiếp, nhưng cần tránh việc tô sách như một đứa trẻ
2.2.7 Giao tiếp với thân chủ khuyết tật vận động
Như chúng ta có ghi nhận trước đây, một phần phương tiện của quá trình
giao tiếp là các ngôn không thành lời Các giao tiếp không thành lời thúc đây, trợ
giúp, hoặc thậm chí phá hỏng những giao tiếp thành lời Những giáo tiếp không
thành lời thể hiện rõ những trạng thái về xúc cảm của thân chủ Dé hiểu được thân chủ, các nhân viên xã hội cần quan sát, sử dụng, phản hồi lại cả những hình thức
giao tiếp thành lời và không thành lời của thân chủ Chỉ những cá nhân khiếm thị
không thể nhìn được những giao tiếp không thành lời của nhân viên xã hội, còn đối với thân chủ khuyết tật vận động, các nhân viên xã hội vẫn có thể có những giao
tiếp không thành lời trong nhiều trường hợp, phụ thuộc vào cấp độ hạn chế trong đi
lại của thân chủ Các thân chủ có khả năng sử dụng các hình thức diễn đạt trên
khuôn mặt, hoặc di chuyển tay có khả năng giao tiếp về mặt ngôn từ một cách rõ ràng hơn các thân chủ chỉ có khả năng đi chuyển mắt hoặc mồm Các thân chủ bị
liệt nhưng vẫn có thể đi chuyển cơ thể đều có thể sử dụng hình thức giao tiếp
không thành lời Trong trường hợp giao tiếp không thành lời bị hạn chế, nhân viên
xã hội có thể nhẹ nhàng khuyến khích thân chủ biểu lộ cảm xúc thành lời, thái độ,
Trang 26niềm tin, cũng như các trạng thái xúc cảm Cá nhân thân chủ cũng có thể quan sát
kỹ các dấu hiệu giao tiếp không thành lời và đáp lại một cách cần thận với các dau hiệu không thành lời Quan sát ánh mắt và biểu lộ khuôn mặt của thân chủ rất hữu ích với nhân viên xã hội trong quá trình giáo tiếp Chúng có biểu lộ được sự vui
mừng, sự buôn chán, thất vọng, sợ hãi, hay các xúc cảm khác của thân chủ Việc
nhân viên xã hội nhận ra và đáp lại những hình thức giao tiếp không thành lời của
thân chủ ở các cấp độ biểu lộ xúc cảm khác nhau, thể hiện việc họ đánh giá cao những xúc cảm của thân chủ Điều này có thể khuyến khích thân chủ tiếp tục biểu
đạt, bộc lộ bản thân
Với các nhân viên xã hội mà thân chủ của họ bị hạn chế việc đi lại, cũng có thể tăng sự chú ý về giọng điệu và lựa chọn ngôn từ trong việc sử dụng các hình
thức giao tiếp thành lời
3 Kỹ năng lập kế hoạch sản xuất, kinh doanh
3.1 Tại sao phải lập kế hoạch sản xuất kinh doanh
Có 4 nguyên nhân thường gặp nhất dẫn đến thất bại trong sản xuất kinh doanh.:
+ Không có chiến lược kinh doanh hiệu quả
+ Không hòa hợp được giữa các mối quan hệ
+ Không có kỹ năng quản lý tài chính
+ Cứng nhắc thiếu linh hoạt trong điều hành
Tất cả vấn đề trên là cội nguồn của cái yếu trong khâu lập kế hoạch, sản xuất kinh doanh
Kế hoạch sản xuất kinh doanh là la bàn định hướng cho tất cả hoạt động của
mọi doanh nghiệp:
+ Giúp bạn tranh thủ nguồn vốn vay của ngân hàng
+ Giúp bạn có được sự ủng hộ của mọi người và của đối tác làm ăn
3.2 Các kỹ năng cần có trong lập kế hoạch sản xuất kinh doanh:
+ Phân tích thị trường một cách thấu đáo
+ Chiến lược sản phẩm tốt
+ Chiến lược tuyên truyền sản phẩm phù hợp
+ Chiến lược tài chính chặt chẽ
+ Chiến lược nhân sự đủ năng lực triển khai
3.3 Việc thành lập và xét cơ sở sản xuất kinh doanh của người khuyết tật và thương bệnh bình
Theo thông tư của bộ thương binh và xã hội số 9 - tbxh ngày 20 tháng 4 năm
1981 hướng dẫn cụ thể về tổ chức và hoạt động của các tổ chức sản xuất của người tàn
tật thực hiện chính sách của chính phủ đối với người tàn tật tại thông tư số 202-cp
ngày 26-11-1966, liên bộ thương binh và xã hội - tài chính đã ra thông tư số 34-t/Ib
Trang 27ngày 18-12-1980 quy định cụ thể các chính sách khuyến khích đối với các tổ chức sản xuất của người tàn tật
1 Tổng thu nhập của xí nghiệp là tổng doanh thu trừ chỉ phí sản xuất Trong chỉ phí sản xuất gồm cả khấu hao tài sản có định và bộ phận tiền công và tiền thưởng cho những người ngoài xí nghiệp
2 Lãi của xí nghiệp là tổng thu nhập trừ đi:
- Thuế và lãi nộp ngân sách (nếu có),
- Tổng quỹ tiền công trả cho người làm việc trong xí nghiệp
Bộ phận thuế và lãi được miễn nộp ngân sách, được hạch toán vào lãi của xí
nghiệp
3 Khi hạch toán giá thành của bộ phận sản phẩm tiêu thụ theo giá thỏa thuận
thì giá trị khấu hao tài sản cố định trong đó, phải tính theo thời giá của thị trường
4 Lãi của xí nghiệp được phân phối cho 3 quỹ của xí nghiệp theo quy định như sau:
- Dành từ 40% trở lên cho quỹ tích lũy,
- Số còn lại chia cho 2 quỹ phúc lợi và khen thưởng, do xí nghiệp quyết định
5 Tiền công phải trả theo nguyên tắc phân phối theo lao động, điều hoà hợp lý
giữa các mặt hàng, cân đối giữa người trực tiếp sản xuất và người gián tiếp phục vụ sản xuất, giữa người tàn tật và những người lao động khác làm việc trong xí nghiệp
'Trả công xứng đáng cho những người làm công tác kỹ thuật và quản lý giỏi, đóng góp
nhiều cho cơ sở
6 Hàng năm, trưởng ban quản lý xí nghiệp phải báo cáo kế hoạch sử dụng quỹ
phát triển sản xuất và các quỹ phúc lơi, khen thưởng trước đại hội xí nghiệp Nghị
quyết của đại hội xí nghiệp về kế hoạch mở rộng sản xuất và sử dụng quỹ phát triển sản xuất phải được Uỷ ban nhân dân huyện, quận phê chuẩn mới được thi hành
Các cơ sở (doanh nghiệp) muốn được công nhận là cơ sở sản xuất kinh doanh của thương bệnh binh và người tàn tật phải lập hồ sơ gửi về Sở Lao động - Thương
binh và Xã hội để kiểm tra thẩm định
Hồ sơ gồm có:
- Quyết định thành lập doanh nghiệp và giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
hoặc giấy phép kinh đoanh được cơ quan có thẩm quyền cấp
- Đơn xin được công nhận là cơ sở sản xuất kinh đoanh của thương bệnh binh
và người tàn tật
- Danh sách thành viên (ghi rõ họ tên thương bệnh binh và người tàn tật) có xác
nhận của phòng Tổ chức - lao động - xã hội hoặc phòng lao động xã hội quận, huyện,
thị xã
- Danh sách ban quản lý điều hành
Trang 28- Điều lệ hay Quy chế của cơ sở, trong đó có những điều khoản ghi nhận việc
đảm bảo lợi ích của thành viên là thương bệnh binh và người tàn tật
4 CTXH cá nhân với người khuyết tật
CTXH cá nhân là một tiến trình mà nhân viên công tác xã hội vận dụng những
kỹ năng, công cụ để giúp đỡ đối tượng giải quyết vấn đề của mình nhằm phục hồi,
củng cố và phát huy tiềm năng, tham gia tích cực vào giải quyết vấn đề và cải thiện
điều kiện sống
4.1 Công tác xã hội cá nhân với người khuyết tật
Một khi chúng ta thừa nhận tác động đến cá nhân được xem như là một phương
pháp làm việc thì Công tác xã hội với cá nhân là một phương pháp can thiệp đẻ giúp
một cá nhân (thân chủ) giải quyết các vấn đề khó khăn của họ mà tự họ không có khả
năng tìm ra lối thoát
Cần lưu ý là những nguyên nhân khó khăn này không chỉ xuất phát từ một khiếm khuyết của cá nhân mà từ các điều kiện xã hội của môi trường trong đó thân chủ
sinh sống
Mục đích của phương pháp này là thiết lập mối quan hệ tốt với thân chủ,giúp cho họ hiểu rõ về chính họ, xác định lại mối tương quan giữa họ với những người xung
quanh, giúp họ tăng khả năng vận dụng các nguồn lực xã hội (tài nguyên) và của bản
thân để thay đổi Nói một cách khác, Công tác xã hội với cá nhân nhằm phục hồi, củng
cố và phát triển sự thực thi bình thường của chức năng xã hội của cá nhân và gia đình
trong bối cảnh xã hội mà vấn đề của họ đang diễn ra và bị tác động
Tóm lại, trong phương pháp này, đối tượng tác động là bản thân người được giúp đỡ còn công cụ tác động là mối quan hệ giữa người thực hành công tác xã hội (gọi là nhân viên xã hội) và đối tượng (thân chủ)
Công tác xã hội ngày nay có xu hướng mang tính tổng quát nhiều hơn, tức là
nhấn mạnh đến sức mạnh của thân chủ nhiều hơn là chỉ chú ý đến những khó khăn của
họ Vì khi họ gặp khó khăn thường họ bị rối, chỉ thấy sự yếu kém của mình và có cái
nhìn tiêu cực về bối cảnh xung quanh mình Chỉ khi nào họ nhận thấy được, nhờ sự
phân tích của nhân viên xã hội, các mặt tích cực của mình và của những người xung quanh thì họ mới có thêm động lực vượt khó và đó cũng là cơ sở để xây dựng phương hướng cho cách giải quyết vấn đề
4.2 Phương pháp giải quyết vấn đề:
Tiến trình giải quyết vấn đề trong phương pháp công tác xã hội với cá nhân bao gồm 7 bứơc:
Bước 1 Tiếp cận trường hợp và xác định vấn đề ban đầu:
Tiếp cận trường hợp là bước đầu tiên trong tiến trình giải quyết vấn đề của thân chủ Tuỳ theo từng trường hợp cụ thể, có thể nhân viên xã hội tìm đến thân chủ, thân
Trang 29chủ tìm đến nhân viên xã hội hoặc người khác tìm đến NVXH nhờ sự giúp đỡ cho thân chủ
- Đối với đối tượng ở tập trung (trung tâm bảo trợ người khuyết tật, cơ sở phục
hồi chức năng .) NVXH phát hiện đối tượng có vấn đề, tiếp cận đẻ xác định vấn đề
ban đầu xem đối tượng có cần nhu cầu trợ giúp không Có thẻ đối tượng có nhu cầu trợ
giúp tìm đến NVXH để được trợ giúp
- Đối với đối tượng ở cộng đồng: Thông thường gia đình có người khuyết tật gặp những khó khăn về tâm lý, sự hiểu biết về khuyết tật, sự chấp nhận người khuyết
tật, khó khăn trong chăm sóc họ tìm đến Cơ sở xã hội về người khuyết tật để tìm sự
giúp đỡ hoặc NVXH ở cộng đồng tiếp nhận thông báo về đối tượng cần sự trợ giúp
Việc đầu tiên nhân viên xã hội phải xác định vấn đề của đối tượng có thuộc
chức năng của tổ chức mình hay không, nếu việc giải quyết vấn đề thuộc chức trách
của tổ chức xã hội mình thì nhân viên xã hội phải xác định tất cả các yếu tố có liên
quan đến vấn đề của đối tượng:
- _ Thu thập thông tin ban đầu;
-_ Chuẩn bị hồ sơ trường hợp;
- _ Thiết lập quan hệ với người khuyết tật
Thu thập thông tin ban đầu
Khi tiếp nhận được thông báo về một trường hợp người khuyết tật cần được
giúp đỡ, nhân viên xã hội thu thập những thông tin ban đầu liên quan đến đối tượng
Những thông tin ban đầu liên quan đến đối tượng cần phải thu thập bao gồm:
- Họ và tên;
- Tuổi;
- Giới tính;
Tình trạng hiện tại;
- Nhu cầu, yếu tố cản trở
Thông qua việc tiếp cận này, giúp cho nhân viên xã hội nhận diện được vấn đề
của đối tượng cần đến sự hỗ trợ của tổ chức xã hội, đồng thời cũng là cơ hội để nhân viên xã hội thiết lập mối quan hệ gần gủi với đối tượng, tạo điều kiện thực hiện bước
tiếp theo
Mở hỗ sơ thân chủ
Sau khi tiếp nhận đối tượng và thu thập thông tin ban đầu, NVXH mở một Hồ
sơ trường hợp chính thức cho thân chủ cần được trợ giúp
Hồ sơ trường hợp là một văn bản chuyên môn có tính bảo mật của cơ sở xã hội
Hồ sơ này sẽ ghi lại tắt cả những thông tin liên quan đến thông báo được tiếp nhận cũng như các bước tiếp theo trong tiến trình trợ giúp
Trang 30Mỗi hồ sơ trường hợp chỉ ứng với một thân chủ Trong trường hợp có nhiều
thân chủ cần được giúp đỡ thì cần phải có những hỗ sơ khác nhau
Các hồ sơ trường hợp phải được đánh mã số phân biệt và lưu trữ tại nơi an toàn trong cơ sở xã hội Đồng thời cơ sở xã hội phải có những qui định rõ ràng và chặt chẽ
về quyền tham khảo thông tin trong các hồ sơ trường hợp nhằm bảo mật thông tin thân chủ
Bước 2 Thu thập thông tin
Thân chủ chỉ có thể chia sẻ những tâm tư, tình cảm những khó khăn, những vấn
đề riêng tư của mình khi họ có mối quan hệ tốt với NVXH
Thiết lập quan hệ với thân chủ
Mối quan hệ giữa NVXH và thân chủ không phải là mối quan hệ xã hội thông
thường mà nó là mối quan hệ nghề nghiệp Nó đòi hỏi chú trọng đến nhu cầu của thân
chủ cũng như mục đích của cuộc gặp gỡ Trong mối quan hệ trợ giúp chuyên nghiệp này, khi NVXH lắng nghe cẩn thận những mối quan tâm và lo lắng của thân chủ và giao tiếp với họ cả ngôn ngữ bằng lời lẫn những hành vi không lời với một thái độ
chấp nhận và tôn trọng thì sẽ giúp thân chủ cảm thấy mình có giá trị và an toàn Chính những điều này đặt nền tảng cho việc hình thành mối quan hệ tin cậy và hợp tác giữa NVXH và thân chủ trong suốt tiến trình hỗ trợ
Điều quan trọng, thân chủ là người khuyết tật cho nên nhân viên xã hội cần phải tôn trọng và chấp nhận họ với những giá trị của con người
Thụ thập thông tin
Nhân viên xã hội có thể thu thập thông tin về thân chủ, thông qua nhiều nguồn
khác nhau:
- Bản thân thân chủ: qua lời kể, quan sát hành vi, cử chỉ, ngôn ngữ;
- Những người có liên quan: những thành viên trong gia đình, bạn đồng nghiệp,
hàng xóm, thầy giáo, bác sỹ
- Tài liệu hồ sơ của thân chủ (nếu có);
- Kết quả các trắc nghiệm, phát hiện ra những nguyên nhân, thông tin tiềm ân
mà bằng quan sát bình thường không thấy được
Thông qua thông tin thu được NVXH tìm hiểu nguyên nhân, triệu chứng, và dự đoán về sự khuyết tật Tìm hiểu về quá trình của sự suy yếu và những biểu hiện của
tật, nhận định rõ ràng và đánh gía tình trạng của thân chủ
Tìm hiểu tâm trạng của thân chủ và gia đình Tao cơ hội cho họ bày tỏ nỗi niềm
về những mối lo buồn Tạo niềm tin và bày tỏ sự thông cảm với những khó khăn họ
phải trải qua
Bước 3 Đánh giá và xác định vấn đề thân chủ
Danh gia tinh trang thân chủ
Trang 31Để xác định được vấn đề thân chủ nhân viên xã hội cần đánh giá tình trạng khuyết tật ảnh hưởng đến bản thân của họ
Sự khuyết tật nói chung không chỉ biểu hiện sự tổn thương mà còn là sự ton that
do sự suy giảm chức năng của cơ thể Từ đó tác động bắt lợi đến sự phát triển và sinh
hoạt của đời sống cá nhân cũng như sự thiệt thòi về mặt xã hội so với những người khoẻ mạnh khác Mặt khác, dù khuyết tật nặng hay nhẹ, người khuyết tật luôn cần đến
sự trợ giúp của người chung quanh Như vậy, ảnh hưởng của khuyết tật vừa có khía
cạnh cá nhân, vừa có khía cạnh xã hội
Đánh giá mức độ sự trở ngại của thân chủ trong cuộc sống
Khi có những tổn thương hoặc phát triển không bình thường, người khuyết tật
sẽ gặp những trở ngại trong cuộc sống Tuy nhiên ở mỗi người khuyết tật, tùy theo
dạng khuyết tật, mức độ khuyết tật, hoàn cảnh gia đình, nhận thức của bản thân mà
mỗi cá nhân có thể gặp những trở ngại trong cuộc sống khác nhau Đề xác định vấn đề
thân chủ chính xác nhằm lập kế hoạch hỗ trợ thích hợp nhân viên xã hội sử dụng kỹ
năng quan sát, bằng thực nghiệm để đánh giá sự trở ngại trong cuộc sống cá nhân của người khuyết tật (thân chủ)
Đánh giá nhu cầu của thân chủ
Những người khuyết tật cũng có những nhu cầu cơ bản như người khác A MASLOW đã liệt kê những nhu cầu này như sau:
+ Các nhu cầu về sinh lý (ăn uống, đi lại, nghỉ ngơi );
+ Các nhu cầu về an toàn (được bảo vệ, che chở, bình yên );
+ Các nhu cầu về quan hệ xã hội (được tham gia, giao tiếp, vui chơi giải trí );
+ Nhu cầu về sự tôn trọng;
+ Nhu cầu tự khẳng định, tự phát triển
Đặc điểm nhu cầu của người khuyết tật
+ Họ muốn được mọi người xem họ bình thường như những người khác và không muốn có sự khác biệt với người xung quanh;
+ Họ cũng muốn được thể hiện và có những đóng góp cho xã hội;
+ Họ có nhu cầu được trao đổi, trò chuyện và giao tiếp thường xuyên;
Những công cụ đánh giá này đòi hỏi phải thu thập rất nhiều thông tin Tuy nhiên, nhân viên xã hội không nhất thiết phải thực hiện hết tất cả những đánh giá này
cho mọi trường hợp mà tùy theo trường hợp cụ thể mà nhân viên xã hội có thể chọn lọc sử dụng một cách phù hợp Mặc dù về nguyên tắc, càng thu thập được nhiều thông
tin thì càng tốt cho việc đánh giá tuy nhiên trong thực tế do sự ràng buộc về mặt thời
gian nên nhân viên xã hội có thể quyết định chọn những đánh giá nào là cần thiết nhất Những thông tin thu thập được trong quá trình đánh giá đều phải được ghi lại đầy đủ,
chính xác và rõ ràng trong hồ sơ xã hội của thân chủ
Trang 32Đánh giá tiềm năng và hạn chế
Nhân viên xã hội phải đánh giá được tiềm năng và hạn chế của thân chủ:
Tiềm năng là những thế mạnh của thân chủ, bao gồm tiềm năng bên trong
(chính là thế mạnh của bản thân), tiềm năng bên ngoài (tình yêu thương, sự giúp đỡ của người thân, gia đình, cộng đồng) đó chính là những yếu tố giúp thân chủ giải quyết
vấn đề hiệu quả
Hạn chế là những cản trở trong quá trình giải quyết vấn đề thân chủ
Bản thân người khuyết tật có những tiềm năng, hạn chế:
+ Họ có khả năng kiên trì cao, giàu ý chí và nghị lực;
+ Do sự khiếm khuyết một số cơ quan chức năng, ví dụ như tai, mắt nên người
khuyết tật sử dụng những cơ quan giác quan khác theo cơ chế bù trừ để giúp cho sự giao tiếp của họ có hiệu quả: Người khiếm thính tuy hạn chế về nhận thức qua thính giác nhưng họ lại rất nhanh nhạy cảm nhận và khả năng định hướng tốt qua thị giác;
+ Người khuyết tật vận động lại thường tỉnh táo về trí não và họ tỏ ra khá thông
minh trong tiếp thu các kiến thức nếu họ có cơ hội được học tập và lao động;
+ Người có khiếm khuyết do có khó khăn trong việc tiếp xúc giao lưu trong xã hội nên người khuyết tật còn có những trở ngại về tâm lý khi giao tiếp với những người lành lặn;
+ Một bộ phận những người khuyết tật thường còn có tâm lý tự tỉ nên họ hay e ngại tiếp xúc hoặc khởi sự khi giao tiếp
Xác định vấn đề thân chủ
Dựa trên những thông tin đã thu thập được, đánh giá về trình trạng của thân
chủ, nhân viên xã hội xác định xem thực chất vấn đề của thân chủ là vấn đề gì, tính
chất, mức độ như thế nào
Phân tích thông tin để chỉ ra những nguyên nhân dẫn đến vấn đề, nguyên nhân
nào là chủ yếu
Những điểm mạnh, yếu của thân chủ; hoàn cảnh gia đình, môi trường sống;
thân chủ nhận thức vấn đề của mình như thế nào, tâm trạng, mong đợi của thân chủ ra
Trang 33Ví dụ: Mình sẽ khỏi thôi, mọi chuyện sẽ bình thường như trước, hoặc một người bạn khuyết tật thành đạt không muốn giao tiếp với các bạn khuyết tật khác, anh
ấy cố quên đi sự thật về mình bằng cách chối bỏ những người cùng cảnh Sẽ rất khó để
cá nhân này thật sự hòa nhập được với cộng đồng khi không thể chấp nhận được sự
khuyết tật của mình
Giai đoạn 2: Tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống: mặc dù chối bỏ nhưng họ vẫn tỉnh
táo để nhận ra sự khiếm khuyết trên cơ thể họ Họ đau khổ và thường đặt ra những câu
hỏi liên quan đến cuộc sống tương lai của họ “Mình sống để làm gì, còn gì có ích không?”
Giai đoạn 3: Trầm cảm, khóc than: Người khuyết tật rơi vào trạng thái tiêu cực
Họ thường xuất hiện tâm trang thất thường, không ăn không ngủ, không tập trung suy nghĩ được và đôi khi xuất hiện những suy nghĩ tiêu cực (Mọi người sẽ sung sướng hơn nếu không có mình)
Giai đoạn 4: Nhớ lúc chưa khuyết tật Người khuyết tật tự xoa dịu nỗi đau bằng
cách nhớ lại những lúc chưa có khiếm khuyết Họ điểm lại những việc họ đã làm và so
sánh với tương lai
Giai đoạn 5: Nghỉ ngờ, giận giữ mất niém tin vào cuộc sống và các giá trị đã
có (Tại sao lại là mình chứ? Sao ông trời lại bất công với mình thế?), tự trách, nguyền rủa bản thân mình (Mình là người không tốt nên đáng bị như thế này)
Giai đoạn 6: Chấp nhận, hội nhập và phát triển khi cá nhân:
- Hiểu và chấp nhận được thực tế
- Thiết lập được giá trị/ hiểu được tài sản mình có
- Thiết lập được mục đích sống
- Tìm hiểu được và sử dụng khả năng của mình
Đây là giai đoạn cần nhân viên công tác xã hội giúp đỡ
Phản ứng của cá nhân đối với sự khuyết tật: Khi phải đối diện với sự khuyết tật,
người khuyết tật có thể xảy ra những phản ứng sau:
- Phản ứng tiêu cực: họ xem sự khuyết tật như sự mắt mát về địa vị, thân phận;
mất những hỗ trợ xã hội; mất đi những chức năng hoạt động cơ thể; sơ cô độc, phụ
thuộc, gánh nặng của người khác Và họ thường lệ thuộc thái quá vào người khác, xấu
hỗ về cơ thể của mình nên thường trốn trong nhà, luôn cảm thấy tuyệt vọng, luôn giận
dữ với bản thân, đễ nổi khùng với người khác, luôn phàn nàn, cứng ngắc trong suy nghĩ, thụ động, cam chịu số phận, hy vọng hão huyền về một phương cách chữa trị nào
Trang 34+ Hay nhớ lại quá khứ (khi chưa trở thành người khuyết tật)
+ Có những hành vi trẻ con
+ Hay phóng chiếu (Áp đặt suy nghĩ của mình cho người khác)
+ Đổ thừa người khác
+ Co lại, không chịu giao tiếp với người khác
- Phản ứng đối phó (Coping strategies): đặt ra các bước đi tích cực và có định
hướng để bảo vệ sức khoẻ (phục hồi chức năng, chế độ ăn ngủ); tìm kiếm và sử dụng những dịch vụ hỗ trợ sẵn có; phát triển mạng lưới hỗ trợ; tìm kiếm thông tin; xác định
kế hoạch bản thân:
- Một số phản ứng phụ:
+ Lợi ích kèm theo (secondary gáin): Được hỗ trợ tài chính (rich countries);
không phải gánh chịu trách nhiệm gì về công việc hay gia đình; được quan tâm chăm sóc đặc biệt hoặc thương hại, Những người có suy nghĩ này thường lệ thuộc vào người khác, tìm kiếm sự giúp đỡ cả khi không cần thiết, tìm cách duy trì tình trạng
Bước 4 Lập kế hoạch can thiệp
Tiếp theo bước đánh giá và xác định vấn đề thân chủ là bước lập kế hoạch can
thiệp Dựa trên các kết quả thu được ở bước đánh giá cùng những mong ước và kỳ
vọng của thân chủ, nhân viên xã hội xây dựng kế hoạch can thiệp giải quyết vấn đề
Các yêu cầu lập kế hoạch can thiệp
Để lập được một kế hoạch can thiệp khả thi trong thực tế, nhân viên xã hội cần
chú trọng đến các yêu cầu sau:
- Kế hoạch được xây dựng cần phù hợp với tình trạng thể chất và tinh thần hiện
tại của thân chủ Mỗi cá nhân có thể gặp phải những vấn đề khác nhau chẳng hạn như
cơ thể đau đớn do bệnh tật, tỉnh thần hoảng loạn, Do đó, việc lập kế hoạch cần cân nhắc đến trạng thái thể chất về tâm lý của thân chủ để đưa ra những phương án can thiệp phù hợp trước mắt và lâu đài Đặc biệt, giai đoạn đầu của kế hoạch can thiệp cần
quan tâm tới những hỗ trợ nhằm giải quyết tình trạng tiêu cực hiện thời của thân chủ
Trang 35Hoặc cũng có những trường hợp thân chủ có vấn đề giống nhau nhưng sự phát triển về
thể chất, tâm lý cũng như tiềm năng và hạn chế của mỗi cá nhân là khác nhau nên kế
hoạch can thiệp cho các thân chủ có cùng vấn đề cũng khác nhau
- Kế hoạch được xây dựng trên cơ sở đáp ứng những nhu cầu cấp thiết của thân chủ Người khuyết tật có những nhu cầu cần giúp đỡ có khi rất khác nhau phụ thuộc
vào vấn đề cũng như hệ thống hỗ trợ thân chủ Do đó nhân viên xã hội cùng thân chủ
và những người liên quan cần xác định rõ nhu cầu nào là cấp thiết nhất trong thời điểm
hiện tại đề từ đó lập kế hoạch tập trung vào giải quyết nhu cầu cấp thiết
- Bên cạnh việc giải quyết các nhu cầu cấp thiết, kế hoạch cũng cần xác định rõ
các mục tiêu hỗ trợ lâu dai và nhiều mặt Nói cách khác kế hoạch can thiệp cần bao gồm cả những mục tiêu hỗ trợ ngắn hạn lẫn dài hạn và đưa ra những chiến lược
giúp đỡ nhằm đạt những mục tiêu này Kế hoạch can thiệp sẽ bao gồm nhiều giai đoạn,
có những giai đoạn đáp ứng cho các mục tiêu hỗ trợ cấp thiết mang tính ngắn hạn và cũng có những giai đoạn đáp ứng cho các mục tiêu hỗ trợ mang tính dài hạn
- Kế hoạch được xây dựng dựa trên việc cân nhắc những trở ngại trong thực tế
Đó có thể là những trở ngại về nguồn lực như kinh phí eo hẹp, sự hỗ trợ không
tích cực từ phía gia đình thân chủ, thiếu dịch vụ hỗ trợ cần thiết
Bên cạnh đó kế hoạch can thiệp cũng cần được xây dựng dựa trên những nguồn lực chính thức lẫn không chính thức Những nguồn lực này không chỉ là những nguồn lực bên trong mà còn tận dụng những nguồn lực sẵn có trong mạng lưới cung cấp dịch
vụ xã hội Như vậy, để thực hiện được kế hoạch liên kết và điều phối các dịch vụ hỗ
trợ từ nhiều nơi nhân viên xã hội cần có những hiểu biết đầy đủ về các nguồn lực trong
xã hội
Tham gia trong lập kế hoạch can thiệp
Để lập kế hoạch can thiệp cần đến sự tham gia của nhiều người không chỉ có
nhân viên xã hội Những thành phần chính tham gia vào việc lập kế hoạch can thiệp bao gồm:
- Nhân viên xã hội: là người chịu trách nhiệm chính trong việc lập kế hoạch
Nhân viên xã hội phác thảo kế hoạch dựa trên kết quả đánh giá và sự cam kết hợp tác
của các thành viên tham gia như người thân, gia đình, bản thân người khuyết tật
Đồng thời nhân viên xã hội điều phối sự tham gia của các thành viên khác để cùng đưa
ra các phương án can thiệp khác nhau Sau đó nhân viên xã hội tổ chức thảo luận chọn
lọc phương án hành động phù hợp và hiệu quả
- Những người có quan hệ mật thiết với thân chủ: Trong các thành phần tham
gia lập kế hoạch luôn cần đến sự tham gia tích cực của những người có quan hệ mật thiết với người khuyết tật như người thân, gia đình, người chăm sóc trực tiếp Những người này vừa tham gia trực tiếp vào việc lập kế hoạch nhưng cũng sẽ à nhóm kiểm tra
Trang 36và giám sát việc thực hiện kế hoạch đã được xây dựng Những người này cung cấp
những thông tin làm cơ sở cho việc lập kế hoạch như thông tin về trẻ, những mối
quan hệ gần gũi có khả năng tác động đến trẻ, thế mạnh của gia đình, cộng đồng, Đồng thời họ cũng tham gia thảo luận xây dựng các phương án can thiệp, giám sát công tác lập kế hoạch
- Ban thân người khuyết tật (thân chủ): Vừa là thành viên tham gia trực tiếp vào việc lập kế hoạch, vừa là người thể hiện quan điểm, thái độ đối với những phương án
hỗ trợ được đưa ra để có điều chỉnh một cách hợp lý
- Các cơ sở xã hội khác: Đối với những trường hợp phức tạp, quá trình can thiệp
có thể cần đến nhiều dịch vụ hỗ trợ nằm ở nhiều cơ sở xã hội khác nhau Khi đó ngoài
cơ sở xã hội nơi nhân viên xã hội làm việc thì các cơ sở khác, kể cả các cơ quan ban
ngành liên quan cũng cần tham gia vào việc lập kế hoạch Những thành phần này có thể giúp thông qua việc phê duyệt kế hoạch can thiệp căn cứ theo những chính sách,
điều luật, quy định đã được ban hành nhằm bảo vệ quyền lợi tối đa của người khuyết
tật Đồng thời, họ cũng cung cấp những thông tin về chính sách hoặc các dịch vụ hỗ trợ san có của cơ sở mình để nhằm đưa ra kế hoạch hành động phối hợp phù hợp, nhất quán và hiệu quả
Các bước lập kế hoạch can thiệp
Bước 1: Xác định nhu cầu cấp thiết của thân chủ dựa trên kết quả đánh giá và
những nguồn lực sẵn có bao gồm nguồn lực cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội
Bước 2: Xác định hệ thống dịch vụ xã hội phù hợp cần cung cấp cho thân chủ theo từng giai đoạn của kế hoạch
Bước 3: Xây dựng kế hoạch cụ thể, chỉ tiết, bao gồm các giai đoạn cùng mục
tiêu tương ứng Mỗi giai đoạn sắp xếp những hoạt động phù hợp có thời gian và thành phần tham gia rõ ràng
Bước 4: Ngoài kế hoạch chính được thiết lập nên chuẩn bị kế hoạch trù bị thay thế Việc này đảm bảo khả năng kiểm soát tình huống của NVXH khi can thiệp hỗ trợ
thân chủ
Bước 5: Lập bảng kế hoạch can thiệp chỉ tiết Một kế hoạch can thiệp trường hợp của thân chủ cần chuẩn bị đầy đủ thông tin (thường được lập dưới dạng bảng) như
sau:
Mục tiêu tổng quát, mục tiêu cụ thể và các giai đoạn can thiệp tương ứng với
từng mục tiêu cụ thể đó; mỗi giai đoạn luôn cần xác định rõ những phương án hành
động cụ thể, người thực hiện, cơ quan dịch vụ xã hội tham gia, thời gian, địa điểm,
kinh phí, nơi hỗ trợ kinh phí và các nguồn lực khác
Bước 5 Thực hiện kế hoạch can thiệp
Trang 37Bước này được xem là hiện thực hóa kế hoạch can thiệp đã được xây dựng với
mục tiêu cao nhất là trực tiếp can thiệp vào trường hợp của trẻ, giải quyết triệt để vấn
đề thân chủ gặp phải
Sự tham gia thực hiện kế hoạch can thiệp
Những thành phần tham gia thực hiện kế hoạch can thiệp có sự tương đồng với
những thành phần tham gia lập kế hoạch Nhân viên xã hội nhận trách nhiệm chính
trong triển khai và giám sát mọi hoạt động của kế hoạch, đồng thời là người chịu trách
nhiệm chính trong điều chỉnh kế hoạch Cụ thể, nhân viên xã hội làm cầu nối giữa thân chủ, gia đình, với các cơ sở xã hội; có thể làm việc trực tiếp với thân chủ, gia
đình, trong một số công việc như tham vấn, vãng gia đồng thời theo dõi, đánh giá
việc thực hiện các hoạt động theo kế hoạch
Việc triển khai trực tiếp hoạt động can thiệp chính là do thân chủ và gia đình
Gia đình hoặc người chăm sóc trực tiếp theo dõi và báo cáo tình hình thực hiện kế
hoạch cũng như kết quả với nhân viên công tác xã hội
Những hệ thống chính thức, hệ thống xã hội, sự tham gia triển khai kế hoạch
hành động được thể hiện qua việc cung ứng những dịch vụ phù hợp cho thân chủ trong các trường hợp khác nhau Các cơ quan này không chỉ là người cung cấp dịch vụ mà còn có trách nhiệm theo dõi chặt chẽ công tác hỗ trợ trẻ thông qua đảm bảo chất lượng
dịch vụ mình đưa ra
Nguyên tắc triển khai kế hoạch can thiệp
Các thành phần tham gia thực hiện kế hoạch can thiệp cần chú ý đến các nguyên tắc cơ bản sau nhằm giúp cho việc can thiệp có hiệu quả:
- Việc triển khai cần tuân thủ kế hoạch đặt ra nhằm đảm bảo việc trợ giúp thân chủ đi đúng phương hướng Tuy nhiên, khi triển khai cần chú ý những tình huống thực
tế để ứng dụng kế hoạch linh hoạt, có sự điều chỉnh kế hoạch phù hợp Những điều
chỉnh về thời gian của một số hoạt động cụ thể khá phổ biến do chúng ta không thể lường trước mọi tình huống phát sinh
- Riêng đối với NVXH, khi triển khai bất kỳ hoạt động can thiệp nào cần đặt
thân chủ làm trọng tâm, giữ đúng mọi quy điều đạo đức và nguyên tắc thực hành công
tác xã hội, không làm ảnh hưởng quyền lợi hay làm tổn thương thân chủ
Các bước thực hiện kế hoạch can thiệp
Bước I: Liên kết và xây dựng cam kết giữa nhân viên xã hội —- các cơ quan, trung tâm, tổ chức có liên quan tới công tác hỗ trợ thân chủ nhằm hướng tới trợ giúp
thân chủ theo đúng kế hoạch và mục tiêu đề ra
Bước 2: NVXH cung ứng dịch vụ phù hợp với từng giai đoạn trợ giúp thân chủ
theo những mục tiêu đã đặt ra Trong kế hoạch hành động, nhân viên xã hội luôn thiết
lập các mục tiêu cho từng giai đoạn Mỗi giai đoạn có những phương án tương ứng
Trang 38Và để triển khai những phương án này, nhân viên xã hội cần tới sự hỗ trợ của những
dịch vụ chuyên nghiệp trong can thiệp
Bước 3: Nhân viên xã hội thường xuyên thảo luận với thân chủ, gia đình hoặc
nhân viên trực tiếp chăm sóc hay những hệ thống có liên quan tới trẻ để tiếp nhận ý kiến và phản hồi Tận dụng triệt để những nguồn lực là những hệ thống thân tình với
thân chủ để ủng hộ, cổ vũ tinh thần thân chủ, qua đó giúp thân chủ tích cực tham gia vào quá trình can thiệp
Bước 4: Đối với từng hoạt động cụ thể đã triển khai cần thường xuyên lượng giá và có sự điều chỉnh hoạt động kịp thời nhằm hỗ trợ thân chủ tốt nhất Lượng giá được đề cập ở đây là bước lượng giá những hoạt động cụ thể, những diễn biến cụ thể
diễn ra thường xuyên trong bước triển khai kế hoạch can thiệp
Bước 6 Giám sát và lượng giá
Giám sát và đánh giá tiến trình can thiệp
Giám sát là sự quan sát thường xuyên và ghi lại các thông tin trên các khía cạnh của tiến trình can thiệp Thực hiện giám sát là công việc rất quan trọng và hữu ích đối
với bản thân NVXH và đối với những nhà cung cấp dịch vụ, nhà tài trợ cũng như việc
biện hộ trong công tác xã hội nói chung và công tác xã hội cá nhân nói riêng
Giám sát cung cắp thông tin hữu ích trong việc:
- Phan tích tình hình các hoạt động thực hiện trong tiến trình;
- Xác định các dịch vụ cần thiết trong tiến trình đều được sử dụng;
- Xác định các vấn đề phải đối mặt trong tiến trình thực hiện và tìm kiếm các giải pháp dé vượt qua;
- Đảm bảo mọi hoạt động đã được đề ra trong kế hoạch can thiệp được thực
hiện đúng theo thời gian xác định;
- Xác định kế hoạch can thiệp được sử dụng trong giải quyết vấn đề của thân chủ
- Giám sát chú ý đến sự tiến triển của các hoạt động của tiến trình can thiệp và
được theo dõi thường xuyên do nội