3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 61 62 63 64 65 66 67 68 69 70 71[.]
Trang 1Bai 4: BAO VE TRE EM KHOI XAM HAI VA SAO NHANG
I Tré em trong hoan canh bi x4m hai va sao nhang
Xâm hại trẻ em còn được gọi là lạm dụng hay ngược đãi trẻ em Hiện tại vẫn
chưa có một định nghĩa hay tên gọi thống nhất cho hiện tượng này Do vậy, trong tài liệu này, chúng ta có thể sử dụng định nghĩa của Liên hợp quốc, "Xâm hại hay
ngược đãi trẻ em là tất cả các hình thức đối xử tôi tệ về tình cảm và/ hoặc thé chất,
lạm dụng tình dục, sao nhãng, đối xử không đúng mức hoặc bóc bột vì mục đích thương mại hay các mục đích khác gây ra tổn hại thực tế hoặc tiềm ẩn đối với sự phát triển, sự sống còn, sức khoẻ hay nhân phẩm của trẻ "
Hiện tại có nhiều cách phân loại các hình thức xâm hại, bóc lột và sao nhãng
trẻ em Tuy nhiên, các tài liệu thường đề cập đến 5 hình thức chính, đó là: Xâm hại
về thể chất, xâm hại về tinh thần, xâm hại tình dục, Bóc lột trẻ em và Sao nhãng
1.1 Xâm hại thể chất/thân thé
“Là những hành vi đánh đập, lắc, ném, đầu độc, đốt hay làm bỏng, đìm chết, làm nghẹn thở, hay gây những tổn thương thẻ xác cho một đứa trẻ” (Bộ Y tế Anh
Quốc, 1995,p5)
“Xâm hại thê chất trẻ em là hành vi có nguy cơ hoặc thực sự gây tổn thương thể chất cho trẻ từ sự tương tác hoặc sự thiếu tương tác nằm trong tầm kiểm soát của bố mẹ hay người có trách nhiệm, quyền lực hay được tin tưởng Những tai nạn
này có thể chỉ diễn ra một lần hay lặp đi lặp lại Ví dụ của những hành vi lạm dụng trẻ em bao gồm tát, đánh đập bằng tay hay đồ vật, đấm, đá, đây, đánh và cấu”
(W.HO)
1.2 Xâm hại tâm lý
“Là những hành vi kéo dài, lặp lại, không thích hợp gây tổn thương hoặc
làm giảm nhận thức của trẻ về cái tôi, giá trị và năng lực bản thân từ đó tác động
lên tiềm năng sáng tạo và phát triển của quá trình hoạt động, khả năng trí tuệ của
trẻ; bao gồm trí thông minh, trí nhớ, nhận thức, sự tập trung, khả năng ngôn ngữ và
đạo đức” (Meemeduma, 2005; mở rộng định nghĩa của O°Hagan,2002)
Trang 2hành vi không tiếp xúc như quan sát hoạt động tình duc, ghi bang những hình ảnh
khiêu đâm trẻ em” (Bộ Y tế, 1999, trang 6)
“Là sự dính líu vào các hoạt động tình dục của một đứa trẻ mà bản thân đứa trẻ không nhận thức thấu đáo, đồng ý mà không am hiểu hết, hoặc đứa trẻ chưa
được chuẩn bị trước và không có quyền đồng ý, hoặc sự vi phạm những điều cắm
ky trên phương diện luật pháp hay xã hội của một xã hội Định nghĩa này không chỉ giới hạn trong sự thuyết phục hay cưỡng ép trẻ em tham gia vào các hoạt động tình dục bất hợp pháp mà còn bao gồm sự bóc lột lao động mại dâm và sử dụng trẻ
em vào mục đích văn hóa phẩm đồi trụy hay vào những hoạt động tinh duc bat hợp
triển về nguyên tắc sống hay xã hội Định nghĩa này còn bao gồm sự chênh mảng
trong giám sát và bảo vệ trẻ khỏi tổn thương trong mức tối đa” (W.H.O)
1 Nguyên nhân và tác động
2.1 Nguyên nhân của việc xâm hại, bóc lột và sao nhãng trẻ em
Theo nhiều chuyên gia nghiên cứu về trẻ em, sở dĩ để xảy ra tình trạng trên
là do sự phân hóa giàu nghèo, phân tầng xã hội, rõ nhất là sự chênh lệch về thu
nhập, mức sống giữa các vùng, miền, giữa các nhóm dân cư trong xã hội làm nảy sinh các vấn đề xã hội, trong đó có bạo lực và xâm hại trẻ em
Bên cạnh đó, những khó khăn về kinh tế của một bộ phận các gia đình đã dẫn đến tình trạng sao nhãng, bỏ mặc trẻ em Sự biến đổi các giá trị xã hội, lối
sống thực dụng, quá coi trọng đồng tiền và vật chất; tác động của phim ảnh, bạo lực, khiêu dâm ngày càng khó kiểm soát; áp lực về đời sống tâm lý trong gia đình
và xã hội gia tăng; tình trạng gia đình ly hôn, ly thân dẫn đến các sang chan tam lý,
các hành vi “lệch chuẩn” ở trẻ em và người lớn
Trẻ em hiện đang phải đối diện với nhiều nguy cơ xâm hại, nhưng việc bảo
vệ, chăm sóc trẻ em lại đang tồn tại những bắt cập, yếu kém
54
Trang 3Việc quản lý, phát hiện, can thiệp, trợ giúp đối với trẻ em có nguy cơ bị tổn
thương, trẻ em có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt chưa có tính hệ thống, thiếu
đồng bộ Phát hiện các trường hợp trẻ em bị tổn thương, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt chưa kịp thời, đặc biệt là nhóm trẻ em bị bạo lực, xâm hại nên các can thiệp, trợ giúp chậm, kém hiệu quả
Nhận thức của cộng đồng, người dân về nhóm trẻ em có nguy cơ cao rơi vào hoàn cảnh đặc biệt hoặc dễ bị tổn thương chưa rõ ràng, chưa thấy hết được các yếu tố
tiềm ân mới dẫn đến trẻ em có thể bị tổn thương hoặc rơi vào hoàn cảnh đặc biệt
Chưa xây dựng được tiêu chí xác định và đánh giá trường hợp trẻ em có
nguy cơ bị tổn thương Các chương trình hỗ trợ do nhà trường và cộng đồng tô chức còn hình thức và phân tán, được thiết kế chủ yếu nhằm vào đối tượng trẻ em
có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em đã bị tổn thương để giải quyết hậu quả mà chưa chú
ý đến phòng ngừa nguy cơ
Công tác giáo dục, phục hồi, hòa nhập cộng đồng cho trẻ em trở về từ các trung tâm, trường giáo dưỡng chưa chuyên nghiệp, chưa chất lượng, chưa phân
công, phân cấp chặt chẽ, đôi khi còn buông lỏng, dẫn đến nhiều trẻ em từ trường
giáo dưỡng trở về vẫn không có cơ hội hòa nhập cộng đồng, gia đình, nguy cơ tái phạm cao
Bên cạnh đó, việc thiếu quy định chặt chẽ trong luật, chế tài xử phạt nhiều
khi không tương xứng với hành vi bạo lực cần xử lý cũng là một nguyên nhân gây nên tình trạng này
Pháp luật chưa bắt buộc những người phát hiện, nghi ngờ trẻ em bị bạo lực,
xâm hại phải khai báo trừ phi các hành vi đó có yếu tố hình sự cũng như việc bảo
vệ trẻ em là nạn nhân, nhân chứng hay thủ phạm
Ngoài ra, hệ thống pháp luật liên quan đến bảo vệ trẻ em thiếu cụ thể, còn
nhiều khoảng trống Pháp luật cũng chưa có các quy định về quy trình, trách nhiệm thấm quyền đánh giá nguy cơ và quản lý trường hợp trẻ em bị bạo lực, xâm hại cũng như những tiêu chuẩn cụ thê về đánh giá mức độ nguy cơ gây tổn hại cho trẻ
em của các hành vi bạo lực, xâm hại để từ đó có kế hoạch và hạn chế tối đa những tổn hại có thể gây ra cho trẻ em
Việc thực thi pháp luật, ý thức chấp hành các quy định của pháp luật chưa
nghiêm; hình thức xử lý vi phạm đối với người có hành vi bạo lực, xâm hại trẻ em
còn chưa kịp thời và còn nương nhẹ, chưa có tác dụng răn đe hoặc giáo dục dẫn
đến một bộ phận người dân còn coi thường pháp luật
Trang 4Hình dưới đây thể hiện tính phức tạp của vấn đề mà trẻ em có nguy cơ cao
và trẻ em thiệt thòi phải đối mặt Ví dụ, dòng đầu tiên chỉ ra các dấu hiệu trẻ em có
nguy cơ cao thể hiện qua việc các quyền cơ bản của trẻ không được thực hiện đầy
đủ Các nguyên nhân trực tiếp (như tình trạng nhập cư, các hành vi nguy cơ, các biện pháp bảo vệ còn yếu, và gia đình dễ bị tổn thương/không thực hiện được các
chức năng của mình) góp phần tạo nên tình trạng trẻ em cần bảo vệ đặc biệt thể
hiện trong biểu đồ Một số nguyên nhân sâu xa của vấn đề như các nhân tố kinh tế
xã hội, hệ thống luật pháp và thực thi luật pháp còn nhiều yếu kém được thẻ hiện ở
dòng thứ ba Dòng cuối cùng chỉ ra một số nguyên nhân gốc rễ góp phần dẫn đến tình trạng vi phạm quyền trẻ em (như đói nghèo, bất bình đẳng/công bằng xã hội,
phân biệt đối xử về giới, sự xói mòi của các giá trị xã hội, thể chế pháp quyền còn
yếu) Việc xử lý các nguyên nhân cốt lõi này là một công việc lâu dài có thể phải trải qua nhiều thập kỷ để cải thiện, trong khi các nguyên nhân trực tiếp và nguyên nhân gián tiếp có thể được giảm nhẹ thông qua các hoạt động can thiệp tương đối
ngắn hạn
56
Trang 5DI CU VOI MONG MUON TIM | | HÀNI
- Thiếu việc làm 2Ì - Ma t
- Xu hướng dân số, mất cân bằng an toài
ff
CAC NHAN TO BAO VE YEU GIA]
- Không được đi học hoặc bỏ hoc
- Thiếu các nant ene xã hôi và vui con cá
: DOI HOI MGI CUA NEN KINH X NGUYEN TE ì
Trang 61ø hoảng về kinh tê xã
1g tâm gương tiêu cực
trạng nợ nân
CÁC ĐẶC DIEM XA HOI
KHONG THUAN LOI
- Bạn bè xấu lôi kéo
- Chấp nhận trừng phạt cơ thê trẻ
em
- Bạo hành và xâm hại trong gia
¡ kỹ năng nuôi dạy đình
ảnh hưởng và sức ép
mới - Thiếu khuôn khổ pháp luật hoàn chỉnh
rò của gia đình thay - Tình trạng tham nhũng
t T
PHAP QUYEN CON YEU
Trang 7
2.2 Hậu quả của việc xâm hại, bóc lột và sao nhãng đối với trẻ em
Xâm hại và bỏ mặc trẻ em tác động sâu sắc đến hầu hết mọi mặt đời sống của trẻ, và đó đều là những tác động tiêu cự sẽ theo trẻ đến suốt cuộc đời Chúng ta có thể thấy được điều này khi xem xét một số hậu quả thường xảy ra cho trẻ sẽ được liệt kê
dưới đây, từ đó thấy nhu cầu bức xúc phải có sự cộng tác của cả cộng đồng trong
việc ngăn chặn và xoá bỏ tình trạng xâm hại và bỏ mặc trẻ em trong xã hội
2.2.1 Hậu quả về mặt thể chất:
Về mặt thể chất, đứa trẻ không chỉ mang những vết sẹo trên cơ thể suốt đời, mà còn phải chịu đựng những hậu quả thể chất không trực tiếp liên quan đến vết thương trên da thịt Hậu quả thường thấy nhất về mặt thể chất của trẻ là nạn nhân của xâm hại và bỏ mặc là tình trạng chậm phát triển, ví dụ như trong khả năng vận động, năng lực xã hội, khả năng nhận thức, thể hiện ngôn ngữ vv Đó là do sức lực của trẻ bị
dồn hết vào việc tự bảo vệ bản thân và không còn đủ để phát triển các kỹ năng phù hợp với lứa tuổi khác nữa
2.2.2 Hậu quả về hành vi:
Theo nghiên cứu, có hai hậu quả cơ bản liên quan đến hành vi ở trẻ em nhằm đối phó với việc bị xâm hại:
+ Loại thứ nhất, trẻ trở nên quá lệ thuộc: trẻ trở thành thụ động, tránh né mọi khả năng phải đối đầu, hoàn toàn phục tùng lời của người khác, lựa chọn thái độ quá cản trọng trong mọi việc, luôn tỏ ra cần sự bảo vệ để tránh mọi rắc rối và cố gắng
làm vui lòng người lớn Những đứa trẻ như vậy có xu hướng rất nhạy cảm với những
lời phê bình và mọi sự từ chối của người khác Trẻ thường thiếu tính tự nhiên, chủ
động, không giao tiếp bằng mắt với xung quanh, có vẻ quá thẹn thùng, không tò mò
về môi trường xung quanh mình Trẻ em trong tình trạng này nhiều khi rất khó xác định, do trẻ luôn cố hết sức để đảm bảo rằng trẻ đàng ở lẫn trong môi trường của
mình Không bao giờ trẻ muốn mình gây ra sự chú ý, với trẻ, ngược lại được coi là sự xâm hại
+ Loại thứ hai, trẻ trở nên rất hiếu chiến và bùng phát ra hành vi bên ngoài: rất
nhiều trẻ em sau khi bị xâm hại trở nên tiêu cực, hung hăng và vô cùng nghịch ngợm
phá phách Điều này dưỡng như được tạo nên do nỗi lo lắng và căng thắng quá mức của trẻ Sự hiếu chiến là một cách để trẻ bộc lộ ra bên ngoài sự tổn thương tâm lý của
mình, và có thể ở dạng diễn lại những hồi tưởng về sự việc gây tổn thương trong quá
khứ Hành vi này ở trẻ được xem như nỗ lực lấy lại sự tự chủ sau khi trải qua tình
Trang 8trạng bị động Những đứa trẻ như vậy thể hiện sự yếu kém trong khả năng tập trung ( chỉ có thể tập trung trong một thời gian rất ngắn ) nên khó khăn trong việc tiếp thu bài Quan hệ của trẻ em với bạn cùng trang lứa không tốt vì trẻ có xu hướng trở thành
ké bat nat ban và bị bạn bè tẩy chay, do vậy càng thúc đây thêm xu hướng hành vi bat thường ở trẻ
2.2.3 Hau quả về tâm lý
Nhà tâm lý học Erikson trong một tác phẩm của mình năm 1976 đã nói : “
tội ác lớn nhất trong các tội ác là việc làm tổn thương tinh thần của một đứa trẻ ." Hành vi xâm hại và bỏ mặc trẻ em để lại rất nhiều hậu quả về tâm lý cho trẻ Có thể
kể ra dưới đây một vài ví dụ:
+ Trẻ không tin tưởng vào bản thân, vào người khác và vào môi trường xung
quanh Điều này dẫn đến tâm lý chỉ làm những gì nếu thấy sẽ được đền dap, mat kha
năng chia sẻ của cải và cảm xúc của mình với người khác, muốn lợi dụng và điều khiển người khác, và bản năng nghi ngờ hay không tin tưởng vào xung quanh, đặc biệt là vào những người có quyền lực
+ Thiếu lòng tự trọng về bản thân do mặc nhiên coi việc mình bị xâm hại và bỏ mặc là do lỗi của mình, do minh không tốt Điều này thường dẫn đến việc trẻ nhỏ có tính tự kỷ rất cao, nhìn nhận bản thân mình và mọi người đều xấu Trẻ thường buồn rau, chan nan, và tự đỗ lỗi cho bản thân, rằng mình đáng khinh như những gì cha mẹ
+ Trẻ coi các đối tượng xung quanh gắn liền với mối đe doạ, sự sợ hãi, với
nguy cơ sẽ bị đối xử tồi tệ dưới hình thức này hay hình thức khác Nghiên cứu cho thấy một trong những biểu hiện lớn nhất của rồi loạn tình thần ở trẻ bị xâm hại là khó
khăn của trẻ trong việc quan hệ với mọi người xung quanh, người lớn hay bạn cùng trang lứa
+ Trẻ có phản ứng bốc đồng và hiếu chiến do bắt chước hành vi của kẻ xâm hại Trẻ bị xâm hại tình dục có thể lặp lại hành động tình dục đó với trẻ khác Đứa trẻ
có thể tỏ ra phát triển sớm hơn lứa tuổi về mặt tình dục Những điều này khiển trẻ gặp khó khăn trong việc xây dựng quan hệ tốt đẹp với bạn bè cùng trang lứa và do vậy
57
Trang 9càng làm trẻ tự tỉ, tự hạ thấp giá trị bản thân Thường việc này sẽ góp phần làm tăng
thêm cảm giác tội lỗi và tuyệt vọng vốn vẫn thường trực trong tính cách của các trẻ
em bị xâm hại
+ Các cơ chế tự vệ theo bản năng làm cho trẻ bị xâm hại càng có xu hướng sử dụng các cơ chế như chối bỏ (giả vờ là một số việc không hề tồn tại), suy diễn (nhìn thấy những khiếm khuyết, lỗi lầm của mình tồn tại ở người khác), tự kỷ (nhìn thấy khiếm khuyết và lỗi lầm của người khác trong bản thân mình), phiến diện (chỉ nhìn
thấy và cho rằng một người hay một vật là rất tốt hoặc rất xấu chứ không thấy sự tồn tại của cả hai)
+ Cảm thấy bị tách biệt va mat mát đi kèm với những lo lắng căng thắng do mất lòng tin, không được đáp ứng các nhu cầu được dựa dẫm, không còn yêu quý và
tôn trọng bản thân, đã trải qua sự chia ly, mất mát và cảm giác bị cha mẹ bỏ rơi nhiều
lần, cho rằng thông điệp mà kẻ xâm hại muốn gửi đến trẻ là người đó không thích trẻ
vì trẻ thật tồi tệ, và muốn vứt bỏ trẻ vì những điều tốt, do vậy mỗi khi phải chia xa ai
hay cái gì, trẻ đón nhận sự việc như đó là kết quả của sự xấu xa của mình, và rằng
mọi lời đe doạ của cha mẹ đang trở thành sự thật Nỗi lo sợ bị cô lap va mat mat dẫn đến hành vi đeo bám dai dẳng, vô cùng khó khăn mỗi khi chia ly, và quá phụ thuộc
vào cha mẹ
+ Tỉ lệ người bị xâm hại tình dục thời thơ ấu gặp các trục trặc về tình dục cao hơn nhóm khác 90%, biểu hiện ở sự suy giảm chức năng tình dục, có xu hướng tình
dục đồng tính (1/3 đến 2/3 số nạn nhân) và 20% các trường hợp có xu hướng trở
thành người hành nghề mại dâm hoặc quan hệ tình dục bừa bãi (20% số nạn nhân)
Và cuối cùng, do mức độ lòng tự trọng thấp, người bị xâm hại tình dục có xu hướng
cao hơn trong việc cưới một người cũng có lòng tự trọng thấp, một người sẽ có hành
vi xâm hại vợ hoặc con cái, tạo ra thế hệ trẻ em bị xâm hại tình dục thứ hai
Những hậu quả nói trên của xâm hại trẻ em khác nhau ở mỗi nạn nhân, tuỳ thuộc vào các yếu tố như tuôi, thời gian và mức độ nghiêm trọng của hành vi xâm
hại, và khả năng chống cự của đứa trẻ Khi cân nhắc tất cả các yếu tố có thể là hậu
quả của xâm hại trẻ em như đã nói ở trên, chúng ta có thẻ thấy mức độ bức thiết phải
Trang 10Theo đó các dịch vụ bảo vệ trẻ em tập trung vào 3 nhóm nhiệm vụ:
- Phòng ngừa, ngăn chặn trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt: thông qua việc day
mạnh tuyên truyền, vận động xã hội và tư vấn cho cha mẹ, người giám hộ và trẻ em
về các kiến thức để chủ động đề phòng; hướng dẫn thực hiện các biện pháp bảo vệ trẻ
em trước các nguy cơ đây trẻ em rơi vào hoàn cảnh bị xâm hại, bóc lột và sao nhãng
- Phát hiện sớm, can thiệp kịp thời (không rơi vào hoàn cảnh bị xâm hại, bóc
lột và sao nhãng đối với nhóm trẻ em có nguy cơ)
- Trợ giúp phục hồi, tái hòa nhập (đối với nhóm trẻ em có HC ĐB, kết hợp với việc ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi để trẻ em bị xâm hại, bóc lột và sao nhãng)
Có ba loại hình dịch vụ mà một cán bộ xã hội có thể sử dụng để can thiệp vào cuộc sống của trẻ em và gia đình nhằm loại trừ những tổn hại hay nguy cơ tổn hại xảy
ra đối với một trẻ em:
- Hỗ trợ vật chất - Giúp đỡ về vật chất như tiền, thực phẩm, chỗ ở, quần áo, phương tiện đi chuyền, thông tin
- Hỗ trợ xã hội - Hỗ trợ việc xây dựng các mối quan hệ giữa mọi người trong
cộng đồng, đám bảo rằng những người xung quanh có quan tâm và sẵn sàng làm bạn,
láng giềng, đồng nghiệp với họ, với đối tượng
- Hỗ trợ cá nhân - Hỗ trợ hướng tới việc giúp cho thân chủ thảo luận về những vấn đề cá nhân trong cuộc sống của họ Những hỗ trợ cá nhân thường liên quan đến cảm xúc và tình cảm của con người
IV Hiểu và đáp ứng theo dấu hiệu xâm hại và sao nhãng
Cán bộ xã hội khi làm việc với trẻ em cần phải nhìn nhận sự xâm hại, bóc lột và sao nhãng trẻ em dựa trên các bằng chứng cụ thé Dé tránh những “kết luận sai lầm” về con người nếu lạm dụng chưa hề Xảy ra và để “khẳng định chứng cứ” của xâm hại, bóc lột và sao nhãng trẻ em xảy ra và có hành động bảo vệ kịp thời cho trẻ em
Những chứng cớ cho thấy một đứa trẻ đã chịu một số dạng ngược đãi được gọi
là “chỉ số/dấu hiệu” Có hai dạng chỉ số/dấu hiệu:
Chỉ số về thể chất — tổn hại cho cơ thể trẻ;
Chỉ số về tâm lý, nhận thức và hành vi
Cán bộ xã hội không thể chỉ dựa vào nội dung trẻ kể lại với họ đẻ kết luận về xâm hại, bóc lột và sao nhãng, vì trẻ em có thể quá nhỏ đề có thể diễn đạt câu chuyện xảy ra với em; hoặc quá sợ hãi để kể lại một cách đầy đủ, hoặc chịu áp lực từ phía
59
Trang 11cha mẹ chúng nên không thể tiết lộ bí mật về sự ngược đãi, hoặc quá xúc động đến
mức lẫn lộn không thể nhớ được những tình tiết câu chuyện đã xảy ra với em Thay
vào đó, cán bộ xã hội cần quan sát kỹ trẻ cả bề ngoài lẫn tinh thần để đọc được những dấu hiệu là bằng chứng sự xâm hại, bóc lột và sao nhãng và suy ra những điều đang
xảy ra cho trẻ Vì vậy, các thông tin dé làm căn cứ cho chỉ số phải được thu thập qua những cuộc nói chuyện với trẻ, với thủ phạm và những người khác trong trường hợp
lạm dụng để chứng minh cho những gợi ý của dấu hiệu nhận biết
Sự hiện diện của mỗi đặc điểm không có nghĩa là có sự lạm dụng trẻ em, tuy
nhiên nghiên cứu đã chứng minh rằng mỗi chỉ số có một mối quan hệ “chặt chế” với
sự lạm dụng trẻ em
V Ghi chép tài liệu và báo cáo các dấu hiệu về nguy cơ tổn hại
Dưới đây là một vài dấu hiệu về thể chất và hành vi của trẻ có liên quan tới các hình thức xâm hại, bóc lột và sao nhãng trẻ em:
Hình thức Dấu hiệu về thể chất Dấu hiệu về hành vi
Trang 12
+ Trên mặt, môi, miệng
+ Trên thân thể, lưng, mông, đùi
+ Vết thương đang lên đa non
hay đã thành sẹo + Hình dạng của vật đã được dùng để gây ra vết thương
như vết ngón tay, hay vết
lần của roi
+ Ở những chỗ khó có thể bị
thương tổn nếu ngã (như ở
sau đùi) tỏ ra né tránh những tình huống phải phơi
bày những vết thương này
ra trước mặt các bạn khác (
vi dụ khi thi đấu thể thao),
và những vết kéo dai, dấu
tích của nhiều trận đòn
* Những vết bỏng : + Vết bỏng do thuốc lá, đặc
biệt ở những nơi như lòng
bàn chân bàn tay, mông, hay lưng
+ Vết bỏng do bị đìm vào nước nóng ở mông, cơ quan
sinh dục, bàn tay, bàn chân
+ Vét bỏng do dây thừng xung quanh cổ chân, cổ, hay
+ Vét ban la
Những vết gay, vo, ran
= Mac quan áo không phù hợp hoặc từ chối không thay quần áo
( nhằm che giấy chỗ bị thương
" Sợ phải về nhà, hoặc thường
bỏ trốn khỏi gia đình ( đặc biệt vị thành niên )
"“_ Đến trường sớm và về muộn, không bao giờ muốn nghỉ học
ngay cả khi bị ốm hoặc ngược lại
" Có thái độ dửng dưng hoặc
Trang 13liên kết, quan hệ với người khác,
không có kỹ năng giao tiếp xã hội
Rối loạn trong diễn đạt
" Trẻ quá lãnh đạm, hờ hững,
hoặc quá mau nước mắt
" Trẻ quá hung hăng, đòi hỏi, yêu sách
xung quanh, phá phách, không
hoặc được hay làm được gì
" Trẻ có triệu chứng rối loạn thần kinh : bị ám ảnh, cuồng
loạn, lúc nào cũng có cảm giác
mình bắc bệnh vv
Trang 14
"Quần lót của trẻ bị rach, ban
một cách không bình thường hoặc có vết máu
" Có vết thâm tím, chảy máu
hoặc trẻ kêu đau ở bộ phận sinh
dục, hậu môn hoặc các bộ phận
kín đáo của cơ thể mà không rõ
nguyên nhân
= Tré bi dau rat khi di tiéu
“ Trẻ bị mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục, đặc biệt khi
trẻ dưới 13 tuổi
" Có bằng chứng của các vấn
đề căng thẳng về thần kinh : đau
bụng hoặc đau đầu định kỳ mà
không tìm được nguyên nhân
= Tré co thai
= Tái diễn việc đái dầm hoặc j
đùn mặc dù đã bước vào thời kỳ
có kiểm soát bản thân
" Cách cư xử thụt lùi so với sự
phát triển của lứa tuổi
" Có những hiểu biết về ngôn ngữ vê tình dục khác thường không phù hợp với lứa tuổi
" Biểu hiện sự quan tâm bất
thường, lo lắng hoặc sợ hãi nói
về những vấn đề liên quan đến
tình dục hoặc khám sức khoẻ
"Có những ám chỉ bóng gió về
quan hệ tình dục qua các hành
động hoặc bàn luận không phù
hợp với lứa tuổi
" Có những hành động mang tính tình dục trong khi chơi đùa
với các trẻ em khác, với búp bê,
đồ chơi hoặc động vật
" Thủ dâm
" Có hành vi gợi tình với người
lớn tuổi, hoặc trẻ em khác, hoặc ngược lại rất né tránh các đụng chạm về cơ thể
= Từ chối cởi trang phục hoặc
mặc đồ lót
= Hay giat minh
= C6 lập và xa lánh, không chan
hoà với mọi người , không quan
hệ với bạn bè cùng trang lứa
= Khong có khả năng tập trung,
hay mơ hồ
Trang 15“Trẻ chậm phát triển hoặc suy dinh dưỡng
" Trẻ có những vấn đề về thể chất nhưng không được chữa chạy, nhu cầu được chăm sóc y
tế không được đáp ứng
= Trẻ thường xuyên không có người giám sát quan tâm, đặc biệt trong những hoạt động nguy hiểm hoặc trong thời gian dài
" Trẻ bị bỏ rơi
" Trẻ thường xuyên ở lại trường lâu, đến sớm về muộn, dường như không ai quan tâm
= Tré cho biết không có ai trông nom mình
" Trẻ nghỉ học kéo dài hoặc từ chối đến trường
= Tré bị cô lập khỏi nhóm bạn cùng trang lứa
Vệ sinh kém
Bị đói
Nghèo đói Trẻ không đi học
Trẻ giấu diễm kỹ về hành vi của mình
Trẻ có những hành vi giống như
những kỹ năng sinh tồn của
“người lớn”
VI Tiến hành các hoạt động bảo vệ và chăm sóc trẻ em
Bảo vệ trẻ em là một lĩnh vực đặc thù trong hoạt động công tác xã hội, trong đó
áp dụng những giá trị, kiến thức và kỹ năng của nghề công tác xã hội để hướng tới
Trang 16viéc dam bao an toan va bao vé cho tré em
Bảo vệ trẻ em là công tác phòng ngừa, ngăn chặn, và can thiệp trợ giúp các trường hợp trẻ em bị xâm hại, bóc lột và sao nhãng
Công tác bảo vệ trẻ em bao gồm mọi hoạt động lập pháp, hành chính, xã hội và
giáo dục nhằm đảm bảo mọi trẻ em không bị xâm hại, bóc lột, sao nhãng và lạm
dụng Nó cũng bao gồm và trách nhiệm của cha mẹ, người chăm sóc, cộng đồng và
chính phủ trong việc đảm bảo mọi trẻ em trong xã hội được sống trong một môi
trường an toàn
Hoạt động bảo vệ trẻ em bao gồm 4 nhiệm vụ:
- Phòng ngừa sự tôn hại có thé xảy ra với trẻ
- Chấm đứt sự tồn hai đang diễn ra với trẻ
- Phục hồi trẻ em và gia đình sau khi tổn hại hoặc nguy cơ tổn hại đã xảy ra
- Nâng cao sự hiểu biết cho các gia đình về giá trị, tri thức và kỹ năng trong xã
hội nhằm thực hiện sự chăm sóc phát triển và bảo vệ trẻ em một cách thich hợp
VII Bao vé tré em trong hoàn cảnh đặc biệt tại cộng đồng
Mạng lưới Bảo vệ Trẻ em cấp cộng đồng (CBCPN) là một cơ cấu tổ chức và
trong khuôn khổ cơ cấu này sẽ cung cấp các dịch vụ bảo vệ trẻ em chuyên nghiệp tại Việt Nam CBCPN sẽ các cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em có thể can thiệp trực tiếp đối với các vụ việc nghiêm trọng ở cấp làng/thôn/xóm và cấp xã, phường với sự hỗ trợ của chuyên gia thuộc Tổ chuyên gia bảo vệ trẻ em cấp quận huyện
Với CBCPN, thông qua mối quan hệ của cộng đồng với tắt cả các nhóm người
trong xã hội, Việt nam sẽ cung cấp cho trẻ em một môi trường thân thiện với trẻ, nơi trẻ em được an toàn, được bảo vệ và được chăm sóc
CBCPN sẽ bao gồm ba cấp có trách nhiệm đảm bảo an toàn, bảo vệ và chăm sóc trẻ em như sau:
+ Cấp Làng — Cộng tác viên với sự hỗ trợ từ các nhóm trẻ đồng lứa về học vấn + Cấp Xã, phường — Cán bộ trẻ em
+ Cấp Quận, huyện — Tổ chuyên gia bảo vệ trẻ em
Trách nhiệm cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em cấp độ thứ ba theo cơ cấu tổ chức
được khái quát như sau:
+ Cộng tác viên sẽ tiếp nhận mọi thông báo về tổn hại đã xảy ra hoặc có nguy
cơ xảy ra cho một trẻ em
+ Cộng tác viên sẽ đảm nhận việc đánh giá nguy cơ tạm thời để xác định xem
65
Trang 17liệu một trẻ em có đang ở trong nguy hiểm tức thời hay không, và nếu có thì thực hiện ngay một kế hoạch an toàn cho trẻ
+ Chuyển cấp, báo cáo mọi thông báo về những trường hợp trẻ đã bị hoặc có
nguy cơ bị tổn hại cho cán bộ bảo vệ trẻ em cấp xã
+ Cán bộ bảo vệ trẻ em cấp xã sẽ tìm kiếm sự hỗ trợ của nhóm chuyên gia Bảo
vệ trẻ em, nếu đó là một trường hợp lạm dụng tình dục hoặc trường hợp lạm dụng có tính chất nghiêm trọng
+ Cán bộ bảo vệ trẻ em cấp xã sẽ thực hiện việc điều tra tìm kiếm thông tin về
việc cùng với người cộng tác viên cấp làng, thôn
+ Cán bộ bảo vệ trẻ em cấp xã sau đó sẽ chuyên lại những ca không nghiêm
trọng cho cộng tác viên để thực hiện cung cấp dịch vụ
+ Cán bộ bảo vệ trẻ em cấp xã sau đó sẽ lập kế hoạch ca chuẩn bị cho việc
cung cấp dịch vụ
+ Cán bộ bảo vệ trẻ em cấp xã sẽ cùng với cộng tác viên lập kế hoạch ca chuẩn
bị cho việc cung cấp dich vụ
VIII Cac phương pháp bảo vệ trẻ em ngoài gia đình
Một hệ thống bảo vệ trẻ emlà tất cả những hệ thống (thành phần) của một xã hội được coi là có trách nhiệm đảm bảo an toàn, chăm sóc và bảo vệ cho trẻ em Một
hệ thống bảo vệ trẻ em cung cấp khung chính sách và pháp lý để định hướng cho cơ cấu báo vệ trẻ em Mỗi quốc gia cần đến quyết định lựa chọn những bộ phận nào
trong xã hội sẽ chịu trách nhiệm về chăm sóc và bảo vệ cho trẻ em Những thành phần đã xác định sẽ trở thành một hệ thống bảo vệ trẻ em
Sơ đồ 1: Các thành phân của một hệ thống bảo vệ trẻ em
Trang 18- Một cơ cấu bảo vệ trẻ em nêu rõ trách nhiệm của từng cấp độ trong cơ cấu tổ
chức khi cung cấp những dịch vụ bảo vệ trẻ em
- Một cơ cấu bảo vệ trẻ em lên kế hoạch và thực hiện những trình tự, quy định
hành chính đề đáp ứng cho nhu cầu được an toàn, chăm sóc và bảo vệ trẻ em
Điều quan trọng trong lĩnh vực bảo vệ trẻ em là sự thành lập của cơ cấu bảo vệ trẻ em Một cơ cấu bảo vệ trẻ em là một cầu trúc bao gồm hai cấp độ dịch vụ:
+ Cấp độ Chính thức - Chính phủ và Phi chính phủ
+ Cấp độ Không chính thức
Sơ đồ 2: Sự phân chia hành chính của một Cấu trúc Bảo vệ trẻ em
67
Trang 19Hệ thống bảo vệ trẻ em chính thức không phải là phương tiện duy nhất đề giải
quyết vấn đề chăm sóc và bảo vệ trẻ em trong xã hội.Một hệ thống quan trọng khác đồng thời cũng cung cấp dịch vụ cho những đối tượng trẻ em cần được chăm sóc và
bảo vệ chính là Hệ thống Không chính thức
Hệ thống Không chính thức: Hệ thông Không chính thức có thể được định nghĩa
là những nhóm người trong xã hội dù không được trả công trong hoạt động chăm sóc và bảo vệ trẻ em nhưng vẫn quan tâm và cam kết bảo đảm phúc lợi cho trẻ em
Trang 20Sơ đồ: Trách nhiệm đánh giá nguy cơ trong công tác bảo vệ trẻ em