3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58
Trang 1BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI TRƯỜNG CAO ĐĂNG GIAO THÔNG VẬN TẢI TW I
GIÁO TRÌNH
HÀNH VI CON NGƯỜI VÀ MÔI TRƯỜNG
(Lưu hành nội bộ)
Hà Nội, năm 2017
Trang 2MỤC LỤC MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
CHƯƠNG 1: CON NGƯỜI VÀ MÔI TRƯỜNG
1 Con người
1.1 Tính sinh học — xã hội của con người
1.2 Các yếu tổ ảnh hưởng tới sự phát triển của con người
2 Môi trường
2.1 Khái niệm
2.2 Các loại môi trường
3 Con người trong mối quan hệ tự nhiên, quan hệ với môi trường xã hội
3.1 Bản tính tự nhiên của con người
3.2 Con người là tổng hòa mối quan hệ xã hội
- Con người là một thực thể thông nhất giữa mặt sinh vật với mặt xã hội
- Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tỗng hoà những quan hệ xã hội
3.3 Môi trường tự nhiên hiện nay
3.4 Môi trường xã hội hiện nay
3.5 Cán bộ xã hội và phát triển môi trường tự nhiên và xã hội
CHƯƠNG 2 : HÀNH VI CON NGƯỜI VÀ MÔI TRƯỜNG
1 Khái niệm hành vi con người
2 Phân loại hành vỉ con người
3 Sự tác động của cảm xúc và suy nghĩ lên hành vi
4 Vai trò của hành vi trong sự hình thành và phát triển nhân cách
4.1 Lý thuyết chung về nhân cách
4.2 Các lý thuyết về nhân cách và sự hình thành nhân cách
4.3 Vai trò của hành vi đối với con người
4.4 Ảnh hưởng của môi trường xã hội đến hành vỉ của con người
4.5 Vai trò của hành vi đối với môi trường
4.6 Những tác động làm thay đổi hành vi của con người
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Hành vi con người và môi trường là môn lý thuyết cơ sở quan trọng của
chương trình đào tạo Cao đẳng nghề liên quan tới hình thành kỹ năng nghề công
tác xã hội
Môn học này giúp nhân viên Công tác xã hội tương lai nắm vững những nội
dung cơ bản về hành vi con người, môi trường xã hội trong suốt vòng đời của mỗi
con người (thân chủ); Quá trình hình thành hành vi con người các yếu tố ảnh hưởng; Vai trò của hành vi trong cải tạo và hoàn thiện môi trường
Đồng thời môn học cũng góp phân rèn luyện cáck ÿ năng cho nhân viên công tác xã hội: Vận dụng kiến thức để phân tích ứng dụng vào thực tế, vận động, cải tạo môi trường sống.; Tác động nhằm thay đổi hành vi của cá nhân, nhóm, gia đình hoặc cộng đồng Từ đó có quan điểm cảm thông, chia sẻ với đối tượng sống trong môi trường gia đình và xã hội khác nhau
Với ý nghĩa, giá trị như vậy Giáo trình Hành vi con người và môi trường được biên soạn thảo gồm các nội dung sau:
Chương I: Con người và môi trường
Chương 2: Hành vi con người và môi trường
Giáo trình Hành vi con người và môi trường đã được Hội đồng thâm định Trường Cao đẳng nghề Cơ giới Ninh Bình xét duyệt Nhóm biên soạn đã có nhiều cố gắng, song giáo trình có thể còn chứa những sai sót và hạn chế khó tránh khỏi Nhóm biên soạn rất mong nhận được những ý kiến đóng góp chân thành của bạn đọc
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 4CHƯƠNG 1: CON NGƯỜI VÀ MÔI TRƯỜNG
1 Con người
1.1 Tĩnh sinh học — xã hội của con người -
Con người là một thực thê thông nhật giữa tính sinh học và tính xã hội Hai đặc tính này có môi quan hệ mật thiêt và tương quan với nhau Nghiên cứu hai đặc tính này của con người thì mới có thể hiểu được hành vi của con người
1.1.1 Tính sinh học của con người
Để hiểu biết cặn kẽ về hành vi con người, cần nắm vững kiến thức về cấu tạo não
và tế bào thần kinh:
+ Não bộ
Não bộ của con người nặng khoảng 1.3kg Nó là các mô hình thần kinh xốp,
mềm, màu hồng, xám, trong đó chứa hàng tỷ nơron thần kinh Cấu trúc của não có não
sau, não giữa và não trước
Não được chia làm hai phần: bán cầu não trái và bán cầu não phải Chúng được nối với nhau bằng một bó lớn các dây thần kinh, gọi là Callosum
Chức năng của bán cầu não phải: xúc giác trái — tư duy sáng tạo, óc tưởng tượng, cảm nhận hội họa, cảm nhận âm nhạc, xây dựng các hình tượng không gian
Chức năng của bán cầu não trái: Xúc giác phải — lời nói, khả năng viết, tư duy logic, tư duy toán học, khoa học và ngôn ngữ
Ba đường rãnh sâu phân chia đại não thành các thùy Các rãnh có tên là rãnh dọc
chia đôi hai bán cầu đại não; rãnh bên; rãnh trung tâm Những rãnh này chia mỗi bán
cầu não thành 4 thùy Phần vỏ não nằm phía trước rãnh Ralando và phía trên rãnh Sïlvius tạo thành thùy trán, nó tiếp nhận xung động cảm giác sau khi đã nhận được các thùy khác xử lý và nó gửi các mệnh lệnh tới các cơ dé thực hiện các cử động Thùy chẩm là thùy nằm ở phía sau cùng Nó tiếp nhận các xung động thị giác đến từ mắt Thùy đỉnh nằm giữa rãnh trung tâm và thùy chẳm Nó có phản xa với sự tiếp xúc, đau đớn và nhiệt độ Cuối cùng là thùy thái dương nằm phía dưới rãnh Silvius và trước
4
Trang 5thùy chẩm Nó tiếp nhận các xung động về âm thanh và mùi vị, đồng thời nó còn cả trung tâm kiểm soát lời nói
Cấu trúc nối não bộ với các phan còn lại của cơ thể là tủy sống, nó còn là một bó dây thần kinh dài chạy từ cuống não xuống dọc theo xương sống tới xương cùng cụt Các nowrron thần kinh hay còn gọi là các mô thần kinh của não bộ và tủy sống, cầu tạo nên hệ thần kinh trung ương Tắt cả các mô thần kinh khác gọi là hệ thần kinh ngoại vi Hai hệ thần kinh này phối hợp hài hòa thì các chức năng trong cơ thể hoạt động cân bằng, thuận lợi
Nhà sinh lý học người Nga — Xetrenop đã chỉ ra tình cảm và suy nghĩ đều có cơ
sở là phản xạ Có phản xạ không điều kiện và phản xạ có điều kiện
Phản xạ không điều kiện: nằm trong trung khu thần kinh ở các phần dưới vỏ não
và có đại diện trên vỏ não Phản xạ không điều kiện là cơ sở sinh lý bản năng của con người và động vật
Phản xạ có điều kiện: là phản xạ tự tạo từng cá thể do phản ứng thích nghỉ và các
thói quen trong quá trình hoạt động với các tác động của thế giới xung quanh
+ Tế bào thân kinh
Tế bào thần kinh là yếu tố của hành vi Hệ thần kinh tạo ra đường đi cho phép con người hoạt động chính xác hầu hết các công việc hàng ngày hoặc khi chúng ta
phát âm một từ này chính xác khác với những từ kia
Để hiểu được hệ thần kinh có thê thực hiện việc kiểm soát các hành vi bên trong
và hành vi bên ngoài của cơ thể chúng ta cần phải bắt đầu từ việc hiểu tế bào thần kinh, những bộ phận cơ bản nhất trong hệ thần kinh và nghiên cứu cách thức xung động thần kinh được truyền đi khắp cơ thê Số lượng tế bào thần kinh có gần 200 tỷ tế bào thần kinh trong bộ não Có nhiều loại tế bào thần kinh khác nhau, mỗi loại đều có cấu trúc cơ bản tương tự như nhau
Có 3 loại nowrron thần kinh chính: noron cảm giác, noron vận động và các liên
noron
Các nơron cảm giác còn gọi là noron hướng tâm mang các thông tin từ tế bào thụ thể cảm giác tới hệ thần kinh trung ương.
Trang 6Cac noron van động còn gọi là nơron ly tâm, mang thông tin từ hệ thần kinh trung ương tới các cơ bắp và các tuyến trong cơ thể
Các liên nơron truyền thông tin từ các nơron cảm giác tới các liên nơron khác
hoặc đi tới các nơron vận động
1.1.2 Tính xã hội của con người
Tâm lý người khác xa với tâm lý của một số loài động vật cao cấp ở chỗ: Tâm
lý có bản chất xã hội và mang tính lịch sử
- Tâm lý người có nguồn gốc hiện thực khách quan (thế giới tự nhiên và xã hội), trong đó nguồn gốc xã hội là cái quyết định Ngay cả phần tự nhiên trong thế giới cũng được xã hội hoá Phan xã hội hoá thế giới quyết định tâm lý con người thể hiện
qua:
+ Các quan hệ kinh tế - xã hội;
+ Các mối quan hệ đạo đức, pháp quyền;
+ Các mối quan hệ giữa con người với con người từ quan hệ gia đình, làng
xóm, quê hương, cho đến các quan hệ nhóm, quan hệ cộng đồng Các mối quan hệ
này quyết định bản chất tâm lý con người
Trên thực tế, nếu con người thoát lý khỏi các quan hệ xã hội, quan hệ người - người đều làm cho tâm lý người mất đi bản tính người Đặc biệt, những trẻ em do động vật nuôi từ bé, tâm lý của trẻ này không hơn hẳn tâm lý loài vật
- Tâm lý người là sản phan của hoạt động và giao tiếp của con người trong các
mối quan hệ xã hội Con người là một thực thể tự nhiên, nhưng điều chủ yếu và quyết
định là con người là một thực thể xã hội
+ Con người là một thực thể tự nhiên như đặc điểm cơ thể, giác quan, thần kinh,
bộ não, được xã hội ở mức cao nhất
+ Con người là một thực thể xã hội: Con người là chủ thể của nhận thức, chủ thể của hoạt động giao tiếp với tư cách một chủ thể tích, chủ thể sáng tạo Vì thế tâm
lý con người mang đầy đủ dấu ấn xã hội - lịch sử của con người
+ Tâm lý của mỗi cá nhân là kết quả của quá trình lĩnh hội, tiếp thu vốn kinh nghiệm xã hội, nền văn hoá xã hội thông qua hoạt động và giao tiếp (như hoạt động
6
Trang 7vui chơi, học tập, lao động, công tác xã hội) Trong đó, giáo dục giữ vai trò chủ đạo,
hoạt động của con người và mối quan hệ giao tiếp của con người trong xã hội đóng vai
trò quyết định trực tiếp
+ Tâm lý của mỗi con người hình thành, phát triển và biến đổi cùng với sự phát
triển của lịch sử cá nhân, lịch sử dân tộc và cộng đồng
Tóm lại, tâm lý của con người có nguồn gốc xã hội, vì thế khi nghiên cứu phải nghiên cứu môi trường xã hội, nền văn hoá xã hội, quan hệ xã hội trong đó con người sống và hoạt động Đồng thời, cần phải tổ chức các hoạt động dạy học và giáo dục cũng như các hoạt động chủ đạo ở từng giai đoạn lứa tuổi khác nhau để hình thành và phát triển tâm lý con người
#2 Các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển của con người
1.2.1 Anh hưởng của phương thức sông và thức ăn
Karl Linné từ thế ky thir 18 đã đặt con người vào bộ linh trưởng (Primatas)
Thực ra bản chất con người vừa là cơ thể sinh học (somatic) vừa là văn hóa (cultural) Quá trình khai thác môi trường từ cỏ cây, thú vật và quá trình thích nghi
với điều kiện sống này là xuất phát điểm sâu xa dẫn đến chế tác công cụ và sáng
tạo công nghệ chính là biểu tượng văn hóa, thể hiện trên những cấu tạo và chức
năng mới của cơ thẻ
Hoàn thiện khả năng cầm nắm hướng tới chế tác và cải tiến công cụ
Tăng cường ý nghĩa của kích thích thị giác trên cơ sở phát triển thị giác Thoái hóa hàm răng, chuyển chức năng cầm nắm từ Tăng sang bàn tay, chuyên
biệt hóa chỉ sau với chức năng đi thẳng
Phức tạp hóa cấu trúc và chức năng não bộ đặc biệt là các trung tâm liên quan đến hoạt động tổng hợp (ngôn ngữ và chữ viết)
Việc tăng cường sử dụng protein động vật đã cung cấp thêm năng lượng, có liên quan mật thiết đến toàn bộ hoạt động của cơ thể và liên quan đến sự tiến hóa về hình thái cấu tạo của các loại hình Người Chế độ dinh dưỡng có ảnh hưởng lâu dài đến các đặc điểm cơ thé Ví dụ có 2 bộ tộc ở châu Phi sống gần nhau nhưng bộ tộc Maxai chuyên chan nuôi, ăn thịt nhiều hơn cho nên cao hơn đến 10 cm và nặng hơn
10 kg so với tộc người Kaknia (thuộc Kenia) chuyên trồng trọt
- Môi trường sinh thái và chế độ dinh dưỡng tạo ra những dị biệt khá lớn về đáp ứng sinh học Ví dụ tiến bộ của y học (văn hóa) đã làm yếu hoặc loại trừ một
Trang 8số áp lực chọn lọc nhưng lại tạo cơ hội cho một số áp lực mới như AIDS, các bệnh
vé tim mach, béo phi
- Văn hóa một mặt là sự đáp ứng trước áp lực môi trường, mặt khác chính nó
lại là áp lực tạo nên tính đa hình di truyền Vì vậy, với con người, hai mặt sinh học
và văn hóa không thể tách rời nhau
1.2.2 Ảnh hưởng của yếu tố khí hậu
Ảnh hưởng của yếu tố khí hậu biểu hiện ở nhiều trạng thái khác nhau theo mùa, theo địa lý Là đều là tổ hợp của nhiều thành phần như nhiệt độ, độ ẩm, gió, mây mưa, nắng tuyết .Tác động cua tổ hợp này được thông qua nhiều rào chắn tự nhiên (sông, hồ, biển, núi, cây rừng .) và rào chắn văn hóa (nhà cửa, quần áo, tiện nghi sinh hoạt .) tạo thành khí hậu toàn cầu, địa phương, tiểu khí hậu (ở tiểu vùng)
và vi khí hậu (tại chỗ có giới hạn hẹp)
Điều hòa nhiệt là thích nghỉ sinh học chủ đạo liên quan đến các chức năng của các tổ chức co thể Một số cơ cầu góp phần bảo đảm tốt thích nghỉ với vi khí hậu
Ví dụ khi nhiệt độ môi trường thay đổi thì nhiệt da biến đổi nhưng nhiệt trung tâm của cơ thể bao giờ cũng được giữ ôn định — gọi là động vat 6n nhiét 36 — 37°C 1.2.3 Ảnh hưởng của môi trường địa hóa
Hàm lượng khoáng chat trong thành phần sinh hóa của cơ thê có liên quan đến
quá trình biến đổi nội bào (tạo Xương, điều hòa áp lực thẩm thấu ) Tương quan
về tỉ lệ số lượng các thành phần khoáng trong môi trường có ảnh hưởng trực tiếp đến thành phần khoáng trong cơ thể từ đó ảnh hưởng đến sinh trưởng, tăng trưởng
và phát triển Ví dụ bệnh bướu cổ liên quan đến hàm lượng iode, bệnh sâu răng liên
quan đến hàm lượng fluor trong nước
Cân bằng khoáng trong cơ thể phải được đảm bảo trong một biên độ nhất định, thừa và thiếu quá mức đều làm rối loạn cân bằng và gây bệnh Nghiên cứu
mức khoáng hóa của bộ xương bằng tia Rơnghen có thé giúp kiểm tra phản ứng địa
hóa một cách khách quan
Người ta đặc biệt quan tâm đến mối tương quan giữa Strontium (Sr) và Calcium (Ca) cũng như sự có mặt hoặc vắng mặt của các yếu tố khoáng đa lượng (hoặc cả vi lượng) trong đất không chỉ ảnh hưởng đến mức khoáng hóa xương mà còn ảnh hưởng đến kích thước và hình dạng chung của cơ thể hoặc từng phần cơ
thê.
Trang 92 Môi trường
2.1 Khái niệm , ,
Theo cách hiệu thông thường, ta có thê định nghĩa môi trường như sau: “Môi
trường là tập hợp (aggregate) các vật thể (things), hoàn cảnh (conditions) và ảnh hưởng (influences) bao quanh một đối tượng nào đó” (The Random House College Dictionary-USA)
Định nghĩa này cho thấy, khi nói đến môi trường, ta phải đứng trên một đối tượng nhất định và đối tượng này chịu tác động của các thành phần môi trường bao quanh nó Đối tượng này không nhất thiết là con người (loài người, cá thể người hoặc một cộng đồng người) mà có thể là bất cứ một vật thể, hoàn cảnh, hiện tượng nào tồn tại trong khoảng không gian có chứa đựng các yếu tố tác động tới sự tồn tại
và phát triển của nó Cách nhìn này, có thể làm chúng ta lầm tưởng rằng mỗi đối
tượng chỉ tiếp nhận những tác động của các yếu tố khác ở xung quanh Thực ra,
bản thân đối tượng đó cũng có những tác động ngược lại các yếu tố xung quanh và chính nó lại trở thành một yếu tố của môi trường đối với một yếu tố khác được xem
là đối tượng trong môi trường
Vì vậy, môi trường còn được định nghĩa như sau: Môi trường là khoảng không gian nhất định có chứa các yếu tố khác nhau, tác động qua lại với nhau đề cùng tồn tại và phát triển
Nói tới môi trường, người ta thường nghĩ ngay tới mối quan hệ của những yếu
tố xung quanh tác động tới đời sống của sinh vật mà trong đó chủ yếu là con người Quan điểm về môi trường nhìn từ góc độ sinh học là những quan điểm phô biến Một số định nghĩa như:
- Môi trường là tập hợp các yếu tố vật lý, hóa học, sinh học, kinh tế-xã hội bao quanh và tác động tới đời sống và sự phát triển của một cá thể hoặc một cộng đồng người (UNEP-Chương trình môi trường của Liên hiệp quốc, 1980)
- Môi trường là tất cả các hoàn cảnh bên ngoài tác động lên một cơ thể sinh vật hoặc một cơ thể nhất định đang sống; là mọi vật bên ngoài một cơ thể nhất định
(G.Tyler Miler, Environmental Science, USA, 1988)
- Môi trường là hoàn cảnh vật lý, hóa học, sinh học bao quanh các sinh vật (Encyclopedia of Environmental Science USA, 1992)
- Môi trường là tất cả các hoàn cảnh hoặc điều kiện bao quanh một hay một nhóm sinh vật hoặc môi trường là tổng hợp các điều kiện xã hội hay văn hóa ảnh
Trang 10hưởng tới cá thể hoặc cộng đồng Vì con người vừa tồn tại trong thế giới tự nhiên
và đồng thời tạo nên thế giới văn hóa, xã hội và kỹ thuật, nên tất cả đều là thành
phần môi trường sống của con người
Qua các định nghĩa trên, môi trường được xem như là những yếu tố bao quanh
và tác động lên con người (cá thể hay cộng đồng) và sinh vật Thật vậy, nếu một
môi trường nào đó có những yếu tố hoàn toàn không liên quan tới sự sống và con
người, chắc rằng sẽ chẳng được ai quan tâm Tuy nhiên, cách nhìn trên làm cho người ta dễ ngộ nhận rằng mối quan hệ giữa con người và môi trường là mối quan
hệ một chiều: môi trường tác động tới con người và con người như là một trung tâm tiếp nhận những tác động đó Thực ra, mỗi con người lại là một tác nhân tác động tới các yếu tố chính trong môi trường mà nó đang tồn tại
Trong những năm gần đây, người ta có cái nhìn toàn diện hơn về mối quan hệ giữa con người và môi trường:
- Con người sống trong môi trường không phải chỉ tồn tại như một sinh vật mà
con người là một sinh vật biết tư duy, nhận thức được môi trường và biết tác động ngược lại các yếu tố môi trường đề cùng tồn tại và phát triển
- Mối quan hệ giữa con người và môi trường là mối quan hệ tương tác (tác động qua lại), trong đó bao gồm cả những tương tác giữa các cá thể người, các cộng đồng con người
- Con người sống trong môi trường không phải chỉ như một sinh vật, một bộ phận sinh học trong môi trường mà còn là một cá thể trong cộng đồng xã hội con người Con người ở đây vừa có ý nghĩa sinh học vừa có ý nghĩa xã hội học Chính
vì vậy, những vấn đề về môi trường không thể giải quyết bằng các biện pháp lý- hóa-sinh, kỹ thuật học, mà còn phải được xem xét và giải quyết dưới các góc độ khác nhau như kinh tế học, pháp luật, địa lý kinh tế-xã hội
Theo Luật bảo vệ môi trường của Việt Nam, "Môi trường bao gồm các yếu tố
tự nhiên (bao gồm thạch quyền, thủy quyền và khí quyền) và yếu tố vật chất nhân tạo (như đồng ruộng, vườn tược, công viên, thành phó, các công trình văn hóa, các nhà máy sản xuất công nghiệp .), quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống, sản xuất, sự ton tai, phát triển của con người và thiên nhiên"
10
Trang 112.2 Các loại môi trường ` „
+ Môi trường tự nhiên: là điêu kiện tự nhiên( khí hậu, đât, nước ), hệ sinh thái phục
vụ cho hoạt động học tập, lao động sản xuất, rèn luyện thể chất, vui chơi giải trí của con
người
+ Môi trường xã hội: là điều kiện sống trong xã hội với các mối quan hệ giữa cá nhân với nhau, giữa cá nhân với tập thể, xã hội (gia đình, cộng đồng, làng mạc, dân tộc)
+Miôi trường văn hóa
Môi trường văn hóa là hệ thống kết hợp được những giá trị của môi trường văn hóa, trong đó trọng tâm là con người và các mối quan hệ biện chứng giữa con người với tự nhiên, với xã hội và với bản thân mình
Dưới góc độ giá trị học thì môi trường văn hóa là sự vận động của các quan
hệ con người trong quá trình sáng tạo, tái tạo, đánh giá, lưu giữ và hưởng thụ các sản phẩm vật chất và tinh thần của mình
Như vậy, trong môi trường văn hóa diễn ra mối quan hệ nhiều chiều, tương tác
lẫn nhau giữa rất nhiều các bộ phận, cấu thành nó, trong đó tập trung nhất là quan
hệ hai chiều giữa con người với sự vật, hiện tượng, quá trình tự nhiên, xã hội nội
tâm con người và ngược lại
3 Con người trong mối quan hệ tự nhiên, quan hệ với môi trường xã hội
3.1 Bản tính tự nhiên của con người
Con người là một thực thể tự nhiên mang bản chất xã hội có sự thống nhất biện chứng giữa hai phương diện tự nhiên và xã hội
Bản tính tự nhiên của con người Bản tính xã hội của con người
- Bản tính này cho thây giới tự nhiên là
tiền đề vật chất đầu tiên quy định sự
hình thành, tồn tại và phát triển của con
nguoi
- Hai giác độ phân tích bản tính tự nhiên
của con người
+ Con người là kết quả của quá trình
tiến hóa và phát triển lâu dài của giới tự
nhiên Điều này đã được chủ nghĩa duy
vật biện chứng và khoa học chứng minh
- Bản chât đặc thù của con người, phân biệt con người với các tồn tại khác trong giới tự nhiên tạo tư cách “người” cho
con người
- Hai giác độ phân tích bản tính xã hội
của con người + Con người không những có nguồn gốc
tự nhiên mà có nguồn gốc xã hội mà yếu
tố cơ bản nhất là lao động Nhờ có lao động mà con người tách khỏi động vật
Trang 12
+ Con người là một bộ phận của giới tự
nhiên và giới tự nhiên là thân thể vô cơ
của con người Mối quan hệ này thể hiện
đê phát triên thành người
+ Ngoài mối quan hệ xã hội thì mỗi con
người tồn tại với tư cách là sinh vật
- Giới tự nhiên thay đổi thì con | đủ của nó Mối quan hệ đó thể hiện ở
- Giới tự nhiên là môi trường trao| - Xã hội biến đổi thì con người
đổi vật chất của con người cũng thay đổi tương ứng
-_ Con người luôn luôn tác động và -_ Sự phát triển của cá nhân là tiền biến đổi môi trường tự nhiên đề cho sự phát triển của xã hội
Thông qua sự so sánh trên, con người là sản phâm của lịch sử, lịch sử sáng
tạo ra con người thì con người cũng sáng tạo ra lịch sử Phát huy năng lực sáng tạo
của mỗi con người cũng chính là thúc đầy sự tiến bộ và phát triển của xã hội Muốn giải phóng con người trước hết phải giải phóng quan hệ kinh tế - xã hội
Vậy, để phát triển bản chất con người theo hướng tích cực, cần phải làm cho
hoàn cảnh ngày càng mang tính người nhiều hơn Hoàn cảnh đó chính là toàn bộ
môi trường tự nhiên và xã hội tác động đến con người theo khuynh hướng phát
triển nhằm đạt tới các giá trị có tính mục đích, tự giác, có ý nghĩa định hướng giáo dục Thông qua đó, con người tiếp nhận hoàn cảnh một cách tích cực và tác động
trở lại hoàn cảnh trên nhiều phương diện khác nhau: hoạt động thực tiễn, quan hệ
ứng xử, hành vi con người, sự phát triển của phẩm chất trí tuệ và năng lực tư duy,
các quy luật nhận thức hướng con người tới hoạt động vật chất Đó là biện chứng của mối quan hệ giữa con người và hoàn cảnh trong bất kỳ giai đoạn nào của lịch
sử xã hội loài người
3.2 Con người là tổng hòa mối quan hệ xã hội „
- Con người là một thực thê thông nhất giữa mặt sinh vật với mặt xã hội
Triết học Mác đã kế thừa quan niệm về con người trong lịch sử triết học,
đồng thời khẳng định con người hiện thực là sự thống nhất giữa yếu tố sinh học và
yếu tổ xã hội
Tiền đề vật chất đầu tiên quy sự tồn tại của con người là giới tự nhiên Cũng
do đó, bản tính tự nhiên của con người bao hàm trong nó tất cả bản tính sinh học, tính loài của nó Yếu tố sinh học trong con người là điều kiện đầu tiên quy định sự tồn tại của con người Vì vậy, có thể nói: Giới tự nhiên là "thân thể vô cơ của con
12
Trang 13người"; con người là một bộ phận của tự nhiên; là kết quả của quá trình phát triển
và tiến hoá lâu dài của môi trường tự nhiên
Tuy nhiên, điều cần khẳng định rằng, mặt tự nhiên không phải là yếu tố duy nhất quy định bản chất con người Đặc trưng quy định sự khác biệt giữa con người với thế giới loài vật là phương diện xã hội của nó Trong lịch sử đã có những quan
niệm khác nhau phân biệt con người với loài vật, như con người là động vật sử dụng công cụ lao động, là "một động vật có tính xã hội", hoặc con người động vật
có tư duy Những quan niệm trên đều phiến diện chỉ vì nhắn mạnh một khía cạnh nào đó trong bản chất xã hội của con người mà chưa nêu lên được nguồn gốc của bản chất xã hội ấy
Với phương pháp biện chứng duy vật, triết học Mác nhận thức vấn đề con người một cách toàn diện, cụ thể, trong toàn bộ tính hiện thực xã hội của nó, mà trước hết là lao động sản xuất ra của cải vật chất "Có thể phân biệt con người với súc vật, bằng ý thức, bằng tôn giáo, nói chung bằng bất cứ cái gì cũng được Bản thân con người bắt đầu bằng sự tự phân biệt với súc vật ngay khi con người bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình - đó là một bước tiến do tổ chức cơ thể của con người quy định Sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình, như thế con người đã gián tiếp sản xuất ra chính đời sống vật chất của mình" 1
Thông qua hoạt động sản xuất vật chất; con người đã làm thay đổi, cải biến giới tự nhiên: "Con vật chỉ sản xuất ra bản thân nó, còn con người thì tái sản xuất ra
toàn bộ giới tự nhiên"
Tính xã hội của con người biểu hiện trong hoạt động sản xuất vật chất; hoạt động sản xuất vật chất biểu hiện một cách căn bản tính xã hội của con người
Thông qua hoạt động lao động sản xuất, con người sản xuất ra của cải vật chất và
tỉnh thần, phục vụ đời sống của mình; hình thành và phát triển ngôn ngữ và tư duy; xác lập quan hệ xã hội Bởi vậy, lao động là yếu tố quyết định hình thành bản chất
xã hội của con người, đồng thời hình thành nhân cách cá nhân trong cộng đồng xã
hội
Là sản phẩm của tự nhiên và xã hội nên quá trình hình thành và phát triển
của con người luôn luôn bị quyết định bởi ba hệ thống quy luật khác nhau, nhưng thống nhất với nhau Hệ thống các quy luật tự nhiên như quy luật về sự phù hợp cơ
thể với môi trường, quy luật về sự trao đổi chất, về di truyền, biến dị, tiến hóa
quy định phương diện sinh học của con người Hệ thống các quy luật tâm lý ý thức
Trang 14hình thành và vận động trên nền tảng sinh học của con người như hình thành tình cảm, khát vọng, niềm tin, ý chí Hệ thống các quy luật xã hội quy định quan hệ xã
hội giữa người với người
Ba hệ thống quy luật trên cùng tác động, tạo nên thể thống nhất hoàn chỉnh trong đời sống con người bao gồm cả mặt sinh học và mặt xã hội Mối quan hệ sinh học và xã hội là cơ sở để hình thành hệ thống các nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hội trong đời sống con người như nhu cầu ăn, mặc, ở; nhu cầu tái sản xuất xã hội;
nhu cầu tình cảm; nhu cầu thẩm mỹ và hưởng thụ các giá trị tỉnh thần
Với phương pháp luận duy vật biện chứng, chúng ta thấy rằng quan hệ giữa
mặt sinh học và mặt xã hội, cũng như nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hội trong mỗi con người là thống nhất Mặt sinh học là cơ sở tất yếu tự nhiên của con người, còn mặt xã hội là đặc trưng bản chất đề phân biệt con người với loài vật Nhu cầu sinh học phải được "nhân hóa" để mang giá trị văn minh con người, và đến lượt nó, nhu cầu xã hội không thể thoát ly khỏi tiền đề của nhu cầu sinh học Hai mặt trên thống nhất với nhau, hoà quyện vào nhau để tạo thành con người viết hoa, con người tự nhiên - xã hội
- Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những
quan hệ xã hội
Từ những quan niệm đã trình bày ở trên, chúng ta thấy rằng, con người vượt lên thế giới loài vật trên cả ba phương diện khác nhau: quan hệ với tự nhiên, quan
hệ với xã hội và quan hệ với chính bản thân con người Cả ba mối quan hệ đó, suy
đến cùng, đều mang tính xã hội, trong đó quan hệ xã hội giữa người với người là
quan hệ bản chất, bao trùm tất cả các mối quan hệ khác và mọi hoạt động trong
chừng mực liên quan đến con người
Bởi vậy, để nhắn mạnh bản chất xã hội của con người, C.Mác đã nêu lên
luận đề nổi tiếng trong tác phẩm Luận cương về Phoiobắc: "Bản chất con người
không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện
thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội"1
Luận đề trên khẳng định rằng, không có con người trừu tượng, thoát ly mọi điều kiện, hoàn cảnh lịch sử xã hội Con người luôn luôn cụ thể, xác định, sống trong một điều kiện lịch sử cụ thể nhất định, một thời đại nhất định Trong điều kiện lịch sử đó, bằng hoạt động thực tiễn của mình, con người tạo ra những giá trị vật chất va tinh thần để tồn tại và phát triển cả thể lực và tư duy trí tuệ Chỉ trong
14
Trang 15toàn bộ các mối quan hệ xã hội đó (như quan hệ giai cấp, dân tộc, thời đại; quan hệ chính trị, kinh tế; quan hệ cá nhân, gia đình, xã hội ) con người mới bộc lộ toàn bộ
bản chất xã hội của mình
Điều cần lưu ý là luận đề trên khẳng định bản chất xã hội không có nghĩa là phủ nhận mặt tự nhiên trong đời sống con người Song, ở con người, mặt tự nhiên tồn tại trong sự thống nhất với mặt xã hội; ngay cả việc thực hiện những nhu cầu sinh vật ở con người cũng đã mang tính xã hội Quan niệm bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội mới giúp cho chúng ta nhận thức đúng đắn, tránh khỏi cách hiểu thô thiển về mặt tự nhiên, cái sinh vật ở con người
3.3 Môi trường tự nhiên hiện nay `
Môi trường tự nhiên bao gôm các nhân tô thiên nhiên như vật lý, hoá học,
sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí, động, thực vật, đất, nước Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng cấy, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng sản cần cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi
chứa đựng, đồng hoá các chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống con người thêm phong phú
Môi trường của một vật thể hay sự kiện, theo nghĩa chung nhất là tổng các
thành phần của thế giới vật chất bao quanh, tác động trực tiếp hay gián ton tai va phát triển của vật thể hay sự kiện đó Bất cứ một vật thể hay một sự kiện nào cũng tồn tại và diễn biến trong một môi trường nhất định và nó luôn luôn động của các yếu tố môi trường đó
Có thể nói môi trường là một phần của ngoại cảnh, bao gồm các hiện các thực
thể của tự nhiên mà ở đó cá thể, quần thẻ, loài có quan hệ trực gián tiếp bằng
các phản ứng thích nghi của mình Từ khái niệm này có thể được đâu là môi trường của loài này, đâu là môi trường của loài khác
Môi trường tự nhiên bao gồm thành phần vô sinh và thành phần hữu sinh Môi
trường vô sinh bao gồm những yếu tố không sống, như là các yếu tố vật lý, hóa học
của đất, nước, không khí gọi chung là môi trường vật lý Môi trường hữu sinh
bao gồm các thực thê sống như là các loài động vật, thực vật và các vi sinh vật trên cạn và dưới nước, gọi chung môi trường sinh thái Cách phân loại này cần nhớ vì
nó là cơ sở để nhận biết cũng như tiến hành đánh giá các tác động môi trường
Trang 163.4 Môi trường xã hội hiện nay
Môi trường là môi trường mà trong đó con người giữ vai trò trung tâm tham gia
và chỉ phối môi trường Đó chính là những điều kiện vật chất và tinh thần của xã hội được tạo lập xung quanh con người, chỉ phối đời sống con người đảm bảo sự tồn tại và
phát triển của con người
Môi trường xã hội là hệ thống kinh tế xã hội trong tính tông thể của nó Đó là các lực lượng sản xuất, các quan hệ xã hội, các thiết chế xã hội, ý thức xã hội và văn hóa Môi trường xã hội bao gồm gia đình, các nhóm, các tập thể học tập, lao động tồn tại xung quanh con người với các quá trình hoạt động giao tiếp của nó
Môi trường xã hội có tác động quyết định nhất đối với sự hình thành và phát triển của nhân cách Cùng với hoạt động và nhu cầu của con người Môi trường xã hội biến đổi cũng làm con người biến đổi theo
Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa người với người Đó là
những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định ở các cấp khác nhau như:
Liên Hợp Quốc, Hiệp hội các giáo, tổ chức đoàn thể Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác
Môi trường xã hội là đối tượng hoạt động mà con người cần giao tiếp tích cực với nó để tồn tại và phát triển Môi trường xã hội gồm: các yếu tố như nhà ở, công việc, thu nhập, luật pháp và các cơ sở xã hội như bệnh viện, trường học, phúc lợi xã
hội
Cá nhân có quan hệ chặt chẽ với môi trường xã hội, với gia đình
Trong sự tác động qua lại giữa xã hội và tự nhiên, yếu tố xã hội ngày càng giữ vai trò quan trọng Song, đề tồn tại và phát triển, con người và xã hội không được phá vỡ sự cân bằng của hệ thống tự nhiên và xã hội vì vậy con người cần phải tính đến các quy luật của tự nhiên
3.5 Cán bộ xã hội và phát triển môi trường tự nhiên và xã hội
3.5.1 Nhân viên công tác xã hội với các ván đề trong gia đình
Nhân viên công tác xã hội khi gặp những trường hợp bạo hành, ngược đãi,
lạm dụng tình dục trẻ em và phụ nữ cần:
- Đánh giá hệ thống gia đình trong đó có tiểu hệ thống vợ chồng gồm quan hệ, cách sống, phương pháp giáo dục con cái, kinh tế, đánh giá việc thực hiện các chức năng gia đình
16
Trang 17- Đánh giá tiểu hệ thống anh, chị, em về các khía cạnh tâm lý trong các mối quan hệ, sự xâm hại trẻ em Nhân viên công tác xã hội cần đánh giá quan hệ qua lại
giữa các hệ thống
- Đánh giá mối quan hệ các hệ thống trung mô như hàng xóm, cộng đồng, xã hội và việc làm
- Đánh giá việc xâm hại trẻ em: nguyên nhân và các yếu tố tác động đến hành
vi Sau đó lập kế hoạch can thiệp hỗ trợ
3.5.2 Nhân viên công tác xã hội với các đối tượng xã hội (người cao tuổi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt )
+ Đối với người cao tuổi
Nhân viên công tác xã hội cần nắm vững các nội dung trong chăm sóc người cao tuổi:
- Hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng bị lệ thuộc
Người cao tuổi cần được đảm bảo an sinh xã hội một cách tốt nhất
Đối với người cao tuổi còn khả năng làm việc cần khuyến khích và tạo điều
kiện dé họ được làm việc, phát huy hết khả năng đóng góp công sức, trí tuệ, kinh
nghiệm cho gia đình, cộng đồng dân cư và đất nước Ngoài ra người cao tuổi cần
được hỏi ý kiến về việc họ có muốn tham gia vào các hoạt động của cộng đồng hay
không, tuyệt đối không áp đặt, ép buộc
- Nhân viên công tác xã hội cần khuyến khích động viên tạo điều kiện cho người cao tuổi có trình độ về các lĩnh vực về giáo dục, dạy nghề để phổ biến kinh
nghiệm và góp phần đảo tạo nghề cho thế hệ trẻ
- Đối với những trường hợp đặc biệt như đau ốm dài ngày, gia đình neo đơn,
nhân viên công tác xã hội cần cùng với gia đình, người thân của người cao tuổi tạo
điều kiện cho họ được sống, được chăm sóc trong gia đình Trường hợp hết sức cần thiết không làm khác được, nhân viên công tác xã hội chủ động tìm cơ sở nuôi dưỡng người gia cô đơn đề họ được vào sống ở đó hoặc giúp họ tiếp cận với các tổ chức từ thiện và các nguồn lực phúc lợi xã hội
- Vai trò của nhân viên công tác xã hội đối với người cao tuổi là giúp họ tiếp cận với các tổ chức chính quyền, pháp luật khi cần thiết bảo vệ quyền lợi về nhà ở, chia tài sản, an toàn tính mạng Bên cạnh đó nhân viên công tác xã hội cần giúp người cao tuổi phát huy được bản sắc các nhân của họ (năng khiếu, sở trường, vốn
Trang 18văn hóa dân gian ) Người cao tuổi cần được đối xử công bằng và tự do về tín ngưỡng, được giữ bí mật đời sống riêng tư và công bằng trước pháp luật
Ngày nay cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đang bùng nỗ về thông tin và các
tiến bộ khoa học kỹ thuật đã ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc sống của mọi người trong
xã hội, vì vậy cần phải nâng cao trình độ của mọi người dân kể cả người cao tuổi
nhằm giúp họ bổ sung kiến thức đề họ khỏi lạc lõng và tụt hậu trong xã hội hiện
đại
Nhân viên công tác xã hội khuyến khích người cao tuổi tham gia vào phạm vi nhất định mạng lưới y tế Tạo điều kiện cho người cao tuổi học tập các biện pháp phòng ngừa tai nạn tại nhà cũng như nơi công cộng
Vai trò của nhân viên công tác xã hội không chỉ đừng ở việc quan tâm chăm sóc người cao tuổi mà còn phải làm cho cộng đồng dân cư có ý thức đầy đủ và thay đổi hành vi về việc chăm sóc người cao tuổi Nhân viên công tác xã hội muốn làm tốt nhiệm vụ của mình ngoài việc có nền tảng kiến thức, kỹ năng cơ bản về nghề công tác xã hội thì còn phải trau dồi học tập những kiến thức về lão khoa, y học tuổi già, tâm thần học tuổi già, kỹ thuật chăm sóc người cao tuổi Như vậy vai trò của nhân viên công tác xã hội rất quan trọng và cao cả
Nhân viên công tác xã hội khi làm việc với các đối tượng xã hội cần chú ý,
làm việc không chỉ với thân chủ mà với cả hệ thống đa dạng khác liên quan đến cuộc sống thân chủ để giải quyết vấn đề Nhân viên công tác xã hội đôi khi cũng
phải thay mặt thân chủ của mình làm việc với các tổ chức để có thể giúp cho việc giải quyết các vấn đề của thân chủ một cách có hiệu quả
+ Đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt có rất nhiều dạng như: trẻ em lang thang không
nơi nương tựa, trẻ em mồ côi, trẻ em có hoàn cảnh gia đình khó khăn
Do phải đối mặt với cuộc sống khó khăn hàng ngày nên những đối tượng này
ít hoặc không có sự quan tâm của gia đình, nhà trường và xã hội, thậm chí có em chưa bao giờ được tới trường vì vậy các em thiếu những kiến thức văn hóa xã hội Trong quá trình kiếm sống hàng ngày, các em có thể bị đe dọa đến tính mạng, có thể bị lạm dụng tình dục, bóc lột sức lao động, bị đánh đập không có người bảo vệ cho các em
Bên cạnh đó sự tác động của tệ nạn xã hội rất đa dạng và tính vi, các em là nạn nhân trực tiếp do nhận thức, kỹ năng sống còn hạn chế Những trẻ em có hoàn cảnh
18
Trang 19đặc biệt như thế này thường bị xã hội xa lánh nên các em dễ bị rơi vào sự mặc cảm
về bản thân làm các em có những hành động thiếu suy nghĩ có khi gây hại cho xã hội
Hầu hết các em muốn đủ ăn, đủ mặc, không phải lang thang, không phải đi ăn xin, muốn có mái ấm gia đình, muốn có sự quan tâm chăm sóc của bố mẹ và của xã hội, muốn được di hoc
Như vậy vai trò của nhân viên công tác xã hội lúc này rất quan trọng
Trẻ em lang thang thường là kết quả của sự áp chế, bao che hoặc thiếu sự quan tâm, hướng dẫn của gia đình Do vậy không nên dùng biện pháp áp chế, đánh đập
và không bao che sai lầm của trẻ, không làm trẻ quá lo lắng, mắt tỉnh thần mỗi khi trẻ thất bại hoặc nhân viên xã hội cũng không tỏ ra quá thương xót và hứa hẹn sự giúp đỡ như vậy sẽ tạo ra sự ÿ lại, trông chờ, lệ thuộc Cần nâng đỡ trẻ đúng lúc, đúng thời điểm, đúng việc
Cần rèn tính kỹ luật, trước tiên nên cùng trẻ lập nội quy, quy ước trong sinh hoạt hàng ngày, tránh áp đặt những quy chế sẵn có
Nhân viên công tác xã hội cần kiên nhẫn, thấu cảm, bình tĩnh tìm hiểu nguyên nhân mỗi khi trẻ gặp rắc rối Thái độ và cách cư xử của nhân viên công tác xã hội
nếu đúng mực sẽ giúp trẻ thay đổi nhận thức và thay đổi hành vi, xây dựng tính
trung thực cho trẻ Chú ý trong cách xưng hô và đối xử với trẻ
Nhân viên công tác xã hội cần vận động trẻ hồi gia Tạo điều kiện cho trẻ tái hòa nhập cộng đồng Cần theo dõi trẻ sau khi hồi gia để có biện pháp tái hòa nhập
bền vững không tái lang thang
Giúp trẻ phục hồi nếp sống bình thường như đến trường qua các lớp học tình thương, tham gia các hoạt động của địa phương, chủ động giao cho trẻ những công việc phù hợp mang tính xã hội Tạo cho trẻ có tinh thần trách nhiệm, giúp cho trẻ
nhận thấy chúng là người hữu dụng như vậy sẽ giúp cho trẻ gắn bó với gia đình, làng xóm hơn
Khi giao tiếp với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt cần chú ý những điều sau: Thái độ hòa nhã, thân thiện gần gũi, không xa cách, lời nói nhẹ nhàng, dùng từ
dễ hiểu, phù hợp với trình độ và văn hóa của trẻ Cần mim cười, gật đầu, tán dương khích lệ trẻ, không dùng những từ ngữ ám chỉ bóng gió khi nói chuyện với trẻ Khi giao tiếp với trẻ cần có không gian yên tĩnh, an toàn
Trang 20Thời gian giao tiếp không nên quá dài: Với trẻ nhỏ đưới 10 tuổi không nên quá 10 phút, với trẻ đưới 15 tuổi không nên quá 45 phút
Nhân viên công tác xã hội cần khuyến khích và ủng hộ trẻ về tình cảm Chấp
nhận những phản ứng của trẻ, đảm bảo tính riêng tư, bảo mật
Không chỉ trích cha mẹ chúng và hoàn cảnh gia đình chúng Không đe dọa và
bắt trẻ làm những việc mà chúng chưa hiểu rõ, hoặc chưa chuẩn bị, không áp đặt trẻ bằng ý kiến của mình
Không nôn nóng, hoặc tỏ ra quá lo lắng, chán nản hoặc giận giữ khi công việc không đạt như mong muốn Tránh giảng giải dài dòng
Không nên hứa với trẻ những điều nằm ngoài khả năng, khi đã hứa thì phải giữ lời hứa với trẻ
+ Đối với các đối tượng khác
Đối với những người khuyết tật, nhân viên công tác xã hội khi tiếp xúc với họ
cần giúp họ tiếp cận với chế độ và nguồn lực an sinh xã hội, đảm bảo y tế Cần thường xuyên thăm hỏi, động viên và tạo điều kiện tốt nhất để họ phát huy được
năng lực, năng khiếu từ đó giúp họ tự tin và hòa nhập vào cuộc sống một cách tốt
nhất
Các đối tượng xã hội khác như người nghiện ma túy, gái mại đâm, khi từ trại cai nghiện và phục hồi nhân phẩm trở về, nhân viên công tác xã hội cần đặc biệt quan tâm giúp họ sớm tái hòa nhập với cộng đồng, không mặc cảm với quá khứ tội lỗi, tạo điều kiện cho họ có cơ hội tìm việc làm, ổn định cuộc sống
Đối với những người bị nhiễm HIV/AIDS, nhân viên công tác xã hội cần giúp
họ tiếp cận được với sự hỗ trợ của y tế và các tổ chức từ thiện trong và ngoài nước nhằm giúp họ được chăm sóc một cách tốt nhất, đảm bảo cho họ có một trạng thái tâm lý ổn định, tự tin và sống có ích cho gia đình và xã hội Cần phải tuyên truyền, giải thích cho cộng đồng hiểu và không kỳ thị những người nhiễm HIV/AIDS
20
Trang 21CHƯƠNG 2 : HÀNH VI CON NGƯỜI VÀ MÔI TRƯỜNG
Tâm lý học cũng giông như các môn khoa học khác đêu nhăm mô tả, dự đoán
và lý giải sự kiện Các nhà tâm lý học luôn đặt ra câu hỏi và cố gắng trả lời về những lý do và cách thức con người ứng xử hay hành động trong cuộc sống Vì vậy, có thể nói tâm lý là ngành khoa học nghiên cứu hành vi và các tiến trình tâm thần Hơn nữa, nó là khoa học được ứng dụng rộng rãi trong đời sống xã hội, như vậy tâm lý học có mối quan hệ tương tác giữa khoa học và ứng dụng thực tiễn Có thể hiểu tâm lý học không chỉ nghiên cứu hành vi của con người mà còn nghiên cứu suy nghĩ, cảm giác, thậm chí hoạt động sinh học duy trì chức năng hoạt động
của cơ thể Giúp con người tự điều chỉnh để thích ứng với các yêu cầu của môi
trường tự nhiên và môi trường xã hội
Theo từ điển Tiếng Việt thì “Hành vi là toàn bộ những phản ứng, cách cư xử biểu hiện ra bên ngoài của một người trong một hoàn cảnh cụ thể nhất định” Như vậy, hành vi được hiểu là một yếu tố mang tính xã hội và được hình thành trong quá trình hoạt động sống và giao tiếp xã hội Mọi ứng xử của con người đều có những nguyên tắc nhất định, đối với mỗi cá nhân trong từng thời điểm, từng hoàn cảnh cần có những hành vi ứng xử phù hợp Không thể có cách ứng xử chung cho
tất cả mọi người, tùy thuộc vào từng hoàn cảnh, tâm trạng, mục đích sẽ có những hành vi, cách ứng xử khác nhau
Theo từ điển Tâm lý học của Mỹ thì: “Hành vi là một thuật ngữ khái quát nhằm chỉ những hoạt động, hành động, phản ứng, phản hồi, những di chuyển, tiến trình có thể đo lường được bất cứ một cá thể đơn lẻ nào” Trước đây đã có một số nhà khoa học trong lĩnh vực này có ý đưa ra một giới hạn để thu hẹp nghĩa của thuật ngữ Hành vi Đương nhiên nỗ lực này cần phải được đánh giá cao và điều đó cũng định hình ngành tâm lý như là môn khoa học của hành vi, cho đến sau này khó có thể định nghĩa một cách chính xác nhất về thuật ngữ hành vi
Hành vi là cách ứng xử của con người đối với một sự kiện, sự vật, hiện tượng trong một hòan cảnh, tình huống cụ thể, nó được biểu hiện bằng lời nói, cử chỉ, hành động nhất định
Hành vi con người hàm chứa các yếu tố kiến thức, thái độ, niềm tin, giá trị xã hội cụ thể của con người, các yếu tố này thường đan xen nhau, liên kết chặt chẻ với nhau
Trang 22Trong nghiên cứu hành vi, những hoạt động được coi là hành vi phải tùy thuộc xem chúng được nghiên cứu theo tiêu chí nào Ví dụ, Watson và Skinner thì chỉ
bao gồm những phản ứng của hành vi được quan sát một cách chủ quan Do đó,
những hành vi liên quan đến tâm trí như ý thức, nhận thức, trí nhớ, tưởng tượng không được liệt kê vào khái niệm hành vi Từ phương thức tiếp cận này đã cho thấy những hiểu biết, tìm tòi, khám phá thêm về khoa học hành vi con người là cần thiết
và rất hữu ích cho cuộc sống
Những nhà nghiên cứu về môn khoa học hành vi gần đây đã có cái nhìn khái quát hơn về định nghĩa hành vi Họ cho rằng, hành vi còn bao gồm những trạng thái bên trong, quá trình trao đổi sinh học, hay những trạng thái tương tự Như vậy cách tiếp cận này, khái niệm hành vi sẽ được hiểu linh hoạt hơn những định nghĩa nêu trước: Yếu tố hành vi bao gồm cả phạm trù tâm trí và nhận thức Thực tế, cho thấy những hành vi liên quan đến tâm trí còn nhiều hơn những hành vi liên quan đến phạm trù đo lường được
2 Phân loại hành vi con người
Cá nhân là khái niệm chỉ con người cụ thê sông trong một xã hội nhât định và
được phân biệt với các cá thể khác thông qua tính đơn nhất và tính phô biến của nó Khái niệm cá nhân cũng được phân biệt với khái niệm con người, vì con người là
khái niệm dùng để chỉ tính phổ biến trong bản chất người của tất cả các cá nhân
Hành vi cá nhân là biểu hiện tâm lý riêng của mỗi cá nhân, mang bản sắc, cái
tôi của cá nhân đó
Hành vi cá nhân thể hiện qua những đặc điểm sau:
- Đặc tính tiểu sử như tuổi, giới tính và tình trạng gia đình, hoàn cảnh sống, công việc, học tập
+ Người nhiều tuổi và người ít tuổi, người già và người trẻ, người thanh niên và trung liên, trẻ con và người lớn có những biểu hiện hành vi khác nhau
+ Nam và nữ cũng có biểu hiện hành vi khác nhau
+ Người độc thân và người có gia đình cũng có hành vi khác nhau
+ Các yếu tố như bẩm sinh, môi trường sống, học tập, kinh nghiệm, hoàn cảnh gia đình và việc làm cũng làm thay đổi hành vi cá nhân của con người
- Xét trên phương diện khía cạnh tính cách thì con người có 2 tính cách chính:
Người hướng nội:
22
Trang 23+ Thích cô độc, không xã giao
+ Ít nói
+ Có thái độ bền bi, cần thận trong công việc
+ Làm người khác khó hiểu mình
+ Thích ảo tưởng
Người hướng ngoại
+ Giỏi xã giao, thích chăm sóc người khác
+ Ăn nói chân thành
có những tiêu chuẩn khác để xác định ranh giới nhóm Đối với một nhóm cần phải tìm hiểu ranh giới để phân biệt nhóm với bên ngoài
Khi người ta tương tác với nhau người ta bắt đầu phân biệt các thành
viên Thí dụ như ở Đại học, những người có kiến thức nằm ở bên trong hoặc ở trong quân đội người có vị trí cao nhất là tướng thường đứng ở trung tâm Và vòng bên trong là vi trí của lãnh tụ
Khi đến với nhóm người ta sẽ để ý đến người lãnh tụ nhiều hơn Bước đầu
khi nhóm mới hình thành, các nhóm viên chưa để ý đến nhau, khi bước vào
nhóm chúng ta biết tới một vài người có vị trí đặc biệt trong nhóm, chúng ta vẫn
ý thức được về chúng ta và với những người chung quanh, chúng ta ý thức một
cách chung chung không rõ rệt lắm Khi nhóm viên có sự tương tác, họ bắt đầu
biết nhau, bây giờ họ không chỉ dé ý đến người lãnh tụ, họ bắt đầu đánh giá lẫn nhau Cách xếp hạng phụ thuộc cái gì họ cho là có giá trị
Vị trí và vai trò nhóm giúp chúng ta hiểu hành vi trong nhóm Đối với các nhóm muốn hoạt động tốt, có hai vai trò phải được thực hiện:
- Vai trò mang tính công cụ (vai trò hoạt
động chuyên môn)
- Vai trò mang tính tình cảm (vai
Trang 24trò hỗ trợ tình cảm)
Trong nhóm phải có người đóng vai trò công cụ và có người đóng vai trò tình cảm Người đóng vai trò công cụ thúc đây nhóm đạt được mục tiêu để hoàn thành nhiệm vụ Nhưng nếu trong nhóm chỉ có người thúc đây công việc đề đạt được mục đích thì cũng có khó khăn 7rong nhóm muốn hoạt động tốt cần có người quan tâm đến tình cảm, tâm lý, quan tâm đến xúc cảm của nhóm viên Chẳng hạn như người đó phát hiện trong nhóm có người muốn phát biểu nhưng họ còn nhút nhát, người đó sẽ đề nghị nhóm viên đó phát biểu, không những thế người đó còn nói lên những điểm tích cực của các nhóm viên khác đề họ tương tác với nhóm Trong nhóm, một người khó có thể đóng một lúc cả hai vai trò Nhóm được đánh giá tốt khi cả hai vai trò này cùng hiện diện
Ngoài ra có những vai trò khác mà người ta cũng cần phải quan tâm, đó
là những vai trò chỉ nhằm phục vụ cho bản thân mình mà thôi, không quan tâm đến người khác, những người này thường không thích thỏa hiệp với ai cả, họ luôn luôn bất đồng với mọ người, tạo mâu thuẫn, họ độc quyền, thích nắm quyền lực, đối với những người này nhóm cần phải đối phó với họ để nhóm tiếp tục hoạt động Có những nhóm người ta phân vai cho nhau để cô lập một vài nhóm viên,
họ coi những nhóm viên này như những con chiên ghẻ chẳng làm được việc gì cả Nhân viên xã hội cần phải nhạy bén trước những hiện tượng này, giúp cho các nhóm viên cởi mở nhìn nhau một cách tích cực hơn Cũng có khi cá nhân gặp những khó khăn rắc rối trong nhóm chẳng hạn có người vụng về trong hoạt động
tập thê và hoạt động xã hội Ở các nhóm trẻ em điều này có thể xảy ra Chúng ta
nên quan tâm đến hành vi của cá nhân trong nhóm vì những hành vi của cá nhân
trong nhóm phản ảnh chính xác hành vi của họ ở ngoài xã hội Mặc dù họ có
những biểu hiện khác đi nhưng sớm hay muộn thông qua sự tương tác nhóm, họ
sẽ biểu hiện con người thật của họ, họ sẽ biểu hiện những vấn đề mà họ từng có trong quan hệ với người khác, vì vậy nhóm trở thành một tiểu thế giới
Khi chúng ta giúp cá nhân thé hiện hành vi ứng xử tích cực bên ngoài thì bên trong chúng ta cũng dạy cho họ biết cách ứng xử tiêu cực Chẳng hạn chúng
ta có thể mời các nhóm viên nói lên cảm xúc của họ về hành vi của từng người và mời nhóm viên khác giúp cho người đó, tập cho người đó có những hành vi mới Những hành vi này người ta nói nó mang tính chức năng nhiều hơn, nghĩa là hiệu quả hơn vì đã giúp cho họ có được những điều mà họ mong muốn
24
Trang 25Các nhóm thường có xu hướng chia thành nhiều tiểu nhóm Khi chúng ta tập họp thành nhóm thì không nên quá đông vì có thể họ sẽ không tập trung,
chia thành nhiều tiểu nhóm Thường mỗi nhóm nên có từ 6 - 12 thành viên
Khi bàn về hành vi, năng lực hay năng động nhóm, phần lớn các nhóm có những áp lực từ bên ngoài hay từ bên trong Nếu nhóm hoạt động tốt thì các áp lực đó trở thành cân bằng hơn, đó là sự gắn bó chặt chẽ giữa các nhóm viên Khi
làm việc với nhóm có hai điểm cần quan tâm, chẳng hạn như nhóm có người có ý kiến này, người kia có ý kiến kia, người khác không đồng ý với cả hai người
trước, như thế có sự dan thân vào nhóm Nhưng lúc này cần có lực lượng cân bằng trở lại và khi có sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau nhóm dễ dàng thỏa hiệp hơn Có những người tạo được sự thỏa hiệp và tìm ra giải pháp cho sự khác biệt giữa nhóm
viên
Khi thành lập nhóm, người ta quan tâm gắn bó lẫn nhau Tuy nhiên trong nhóm sẽ có những bất đồng, những sự khác biệt vì làm sao có hai người nhìn thế giới giống nhau có những suy nghĩ và cảm xúc hoàn toàn giống nhau Khi bạn thật
sự dấn thân và bộc lộ suy nghĩ của bạn, chắc chắn sẽ có những va chạm đối với người khác, đó là điều tốt, tốt hơn mọi người làm thỉnh, và không tham gia Thứ nhất chúng ta hãy cố gắng tạo ra sự gắn bó với nhau trong nhóm đề cùng xử lý các khác biệt và mâu thuẫn luôn phải được cân bằng bởi sự gắn bó với nhau
Nhiều nhóm lại không có sự mâu thuẫn từ bên trong mà lại có những mâu thuẫn xã hội từ bên ngoài
Trong các nhóm, người ta mong mỏi hai điều đó là sự tương tác và sự mâu
thuẫn (đây là sự biểu hiện tham gia tích cực hết mình của các thành viên) Nhưng mâu thuẫn luôn luôn được cân bằng bởi sự quan tâm gắn bó của các thành viên Khi làm việc với nhóm, nhân viên xã hội phải chỉ rõ cho nhóm thấy được hai mặt này
Văn hoá nhóm:
Mỗi nhóm đều tạo nên văn hoá riêng của riêng, nên nhóm có cách riêng để làm, có cách riêng đề thích nghi
'Văn hoá có hai phần vật chất và không vật chất
Nếu ta tham gia một nhóm nghèo mà bạn có một xuất xứ khác, bạn rất khó giao tiếp, khó hiểu được văn hoá của nhóm đó Khi làm việc với nhóm, chúng ta
nên biết về văn hoá của nhóm đó nếu nhóm đó đã từng làm việc với một nhân viên
Trang 26xã hội khác trước chúng ta, có thể là thành viên trong nhóm sẽ nói với chúng ta là cách chúng ta làm việc với họ không đúng Nếu một giảng viên bị bệnh nghỉ mà tôi phải dạy thế thì những sinh viên sẽ nói với tôi là: Cách thay dạy không giống cách thầy cũ đã dạy hoặc Thây nói nhiều hơn giáo viên cũ Họ có thé phát biéu như vậy bởi vì trong quá trình làm việc trước đây họ đã tạo nên văn hoá riêng Nếu mà tôi chú ý một chút là trước khi vào dạy ở lớp đó tôi nên có một nghiên cứu về văn hoá của lớp đó
Một điều khác chúng ta nói về hệ sinh thái, ngoài văn hoá ra chúng ta còn nói về sự tiến hóa Khi một nhóm đi tìm sự cân bằng của mình, nhóm sẽ thay đổi
theo thời gian
Giai đoạn phát triển của nhóm:
- Giai đoạn bắt đầu
- Giai đoạn giữa
- Giai đoạn kết thúc
Các hành vi của nhóm ở từng giai đoạn đều khác nhau Thí dụ: Khi nhóm mới thành lập mọi thành viên rất là ngại phát biểu, tham gia Ở giai đoạn đầu nhóm viên phát biểu rất cạn và hời hợt Công việc của nhân viên xã hội là giúp họ thay đổi vai trò để họ tham gia giải quyết vấn đề của họ
Khi bước vào giai đoạn giữa các thành viên cởi mở với nhau hơn, chịu phát biểu ý kiến và đây cũng là lúc xảy ra nhiều mâu thuẫn đó là lúc văn hoá được tạo
thành, là cách qui định họ phải làm việc với nhau như thế nào Mọi người cảm
thấy là mình gắn bó với nhóm quan tâm đến nhóm, hiểu được mục đích của nhóm
và tất cả mọi người đều tham gia để mục đích của nhóm có thể đạt được Lúc đó mọi người đã có khả năng diễn đạt ý kiến của mình, họ sẽ bảo vệ lẫn nhau, sẽ tôn
trọng lẫn nhau Nếu trong giai đoạn đầu, nhân viên xã hội làm tốt công việc của
mình thì ở giai đoạn nầy họ chỉ việc ngồi choi dé cho nhóm tự tham gia
Gia đình là nhóm sơ câp trong đó các thành viên có trách nhiệm và sông chung với nhau, trách nhiệm có tính cách hỗ tương, và tính chất sơ cấp của gia đình là sự gặp mặt đối điện với nhau, cùng chia sẻ những nếp sống bình thường, những qui chế bình thường có liên hệ đến những hành vi mà xã hội mong đợi
Cái quan trọng là những thành viên trong gia đình có ảnh hưởng lẫn nhau rất mãnh liệt so với người ngoài Chúng ta có thể phân tích gia đình theo nhiều lối
26
Trang 27khác nhau: có thê phân tích gia đình dựa theo chức năng của từng người, trách nhiệm từng người hoặc theo cấu trúc gia đình Có thể xem xét cách tổ chức gia đình như thế nào, có thể xét đến gia đình hạt nhân không, hoặc xem xét gia đình hạt nhân với nguồn gốc của nó Và có thể xét liên hệ với gia đình rộng lớn hơn theo thế hệ hay huyền thoại về thế hệ và chúng ta có thể nhìn gia đình theo khía cạnh văn hoá tập quán riêng của gia đình, cách thích ứng và thay đổi của gia đình,
cách thay đổi mà ta có thể thấy được, quan sát được Trước mắt chúng ta nhìn
gia đình như một tổ chức có chức năng xã hội hoá con người và chức năng kiểm soát xã hội Vì gia đình là một đơn vị nhỏ hơn của khối lớn hơn là xã hội, cho nên gia đình đã diễn dịch văn hoá và xuyên qua gia đình văn hoá xã hội truyền đến các thành viên trong gia đình (gia đình là một tiêu hệ thống của hệ thống lớn hơn)
Khi chúng ta xem xét gia đình như là một hệ thống, chúng ta xem xét các mối liên hệ ràng buộc giữa các thành viên trong gia đình ở cả quá khứ và hiện tại của hệ thống gia đình nầy Thông thường hệ thống gia đình bao gồm nhiều tiểu hệ thống, những tiểu hệ thống nầy ảnh hưởng đến tiêu hệ thống khác và ngược lại Hệ thống gia đình đan xen với hệ thống khác Điều gì xảy ra khi có một hành vi trong
gia đình thì sẽ có những ảnh hưởng đến các thành viên khác và gia đình sẽ chịu
ảnh hưởng của tổ chức khác ở tầm vĩ mô bên ngoài xã hội
Chúng ta là ai, chúng ta nghĩ gì, chúng ta chọn công việc gì, chúng ta liên quan với ai, chịu ảnh hưởng của thế hệ trước chúng ta, điều mà thế hệ trước dạy
cho chúng ta Do đó gia đình của chúng ta và gia đình khác chịu ảnh hưởng của
nền văn hoá đã được thiết lập từ nhiều thế hệ trước: Khi chúng ta xem xét gia đình trong hệ thống sinh thái thì chúng ta xem xét hình thái này theo thời gian như thế nào Cuộc sống của chúng ta cũng như cuộc sống của con cái chúng ta
rất giống cuộc sống ông bà của chúng ta Bản đồ thế hệ biểu hiện mối quan hệ khi chúng ta xem xét gia đình hay con người trong mối quan hệ từ thế hệ này sang
thế hệ khác
Trong quan hệ gia đình, xu hướng thực dụng đang tăng lên với những tính toán vụ lợi, ích kỷ, cá nhân làm ảnh hưởng xấu tới quan hệ tình nghĩa yêu thương Biểu hiện cao độ là tình trạng vì tiền, vì trả nợ, vì lợi mà sẵn sàng lừa dối nhau, đánh đập nhau, sẵn sàng bỏ rơi nhau và ly hôn
Thiếu trách nhiệm, thiếu gương mẫu trong quan hệ vợ chồng, quan hệ giữa cha mẹ với con cái Những quan niệm đạo đức truyền thống về thủy chung, hiếu,