1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 33 32 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 61 62 63 64 65 66 67 68 69 70[.]
Trang 1CHUONG 3: XA HOI HOC NONG THON
1 Khái niệm xã hội học nông thôn
1.1 Một sô khái niệm liên quan -
Nông dân là những người sông băng nông nghiệp ở nông thôn Nông dân là nhân vật trung tâm của nông thôn (nhân vật xã hội nông thôn) sống trong xã hội nông thôn
với đầy đủ các mối quan hệ trong các lĩnh vực sống
Nông thôn không phải là xã hội độc lập, nông thôn chỉ là một bộ phận của xã hội
tổng thể Nông thôn là những vùng dân cư sinh sống chủ yếu bằng nông nghiệp và những nghề khác có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới sản xuất nông nghiệp
Xã hội nông thôn là một tập thể có tổ chức gồm những người cùng sống với nhau
ở nông thôn, hợp tác với nhau thành các đoàn thể (đơn vị xã hội) để thỏa mãn các nhu cầu xã hội cơ bản; cùng chia sẻ một nền văn hóa chung và hoạt động như một đơn vị
xã hội riêng biệt
1.2 Đối tượng nghiên cứu của xã hội học nông thôn
Xã hội học nông thôn là một chuyên ngành của xã hội học Phạm vi nghiên cứu
của nó được xác định theo lát cắt lãnh thổ Vì vậy, khách thể nghiên cứu của xã hội
học nông thôn là toàn bộ xã hội nông thôn bao gồm những con người nông thôn,
những nhóm, những cộng đồng xã hội nông thôn với tư cách là chủ thể hoạt động,
cùng với những sản phẩm của quá trình hoạt động đó
Đối tượng của xã hội học nông thôn cũng như đối tượng của các chuyên ngành
xã hội học khác đều phải dựa trên đối tượng chung của xã hội học Với mỗi cách tiếp
cận khác nhau các nhà nghiên cứu lại đưa ra một quan điểm về đối tượng của xã hội học nông thôn
Theo quan niệm của A.L.Bertrand thì “xã hội học nông thôn nghiên cứu mối
quan hệ của con người trong hoàn cảnh, môi trường nông thôn”
Theo cách tiếp cận hệ thống của GS Tô Duy Hợp: “Đối tượng nghiên cứu của xã
hội học nông thôn chính là các vấn đề, sự kiện và những tính quy luật đặc thù của hệ
thống xã hội nông thôn xét trong toàn bộ chỉnh thể và phức thể, phức tạp, đa đạng,
phong phú của nó trong hiện thực”
Tuy nhiên, một cách chung nhât, xã hội học lấy các hiện tượng xã hội, các vấn đề
xã hội và các quá trình xã hội học nông thôn làm đối tượng nghiên cứu của mình
Xã hội học nông thôn là chuyên ngành xã hội học nghiên cứu về xã hội nông thôn, nó cố gắng khám phá ra các quy luật phát triển của xã hội nông thôn, nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện cách thức tổ chức xã hội nông thôn, cơ cấu và chức năng, những mục tiêu và các khuynh hướng phát triển của nó
33
Trang 2Xã hội học nông thôn là môn khoa học nghiên cứu các vấn đề, các sự kiện và
tính quy luật đặc thù của hệ thống xã hội nông thôn, xét trong toàn bộ tính chỉnh thể và
phức thể phức tap, da dạng, phong phú của nó trong hiện thực
2 Một số nội dung nghiên cứu xã hội học nông thôn
2.1 Nghiên cứu mỗi quan hệ nông thôn với các vùng khác
Từ góc độ xã hội học, nghiên cứu xã hội nông thôn được đặt trong tương quan
với nghiên cứu xã hội đô thị Đề có thể hiểu rõ về bản chất xã hội nông thôn, trước hết cần đặt nó trong bối cảnh tồn tại những mặt đối lập của nó Nói như vậy, mặt đối lập
tương đói của xã hội nông thôn chính là xã hội đô thị Hiểu đô thị là hiểu được nông
thôn và ngược lại Hiểu đơn giản là như vậy, nhưng trong giới nghiên cứu xã hội học
cũng tồn tại những nhận định khác nhau về nội hàm của khái niệm nông thôn và đô
thị, cũng như mối quan hệ của chúng
Hiện nay, có một thực tế là sự tập trung dân cư ở các nước có thu nhập thấp và
tầm quan trọng của xã hội nông thôn trong các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở
mỗi quốc gia thuộc thế giới thứ ba khiến cho việc hiểu về xã hội nông thôn và các mối
tương tác của nó với xã hội đô thị ngày càng có ý nghĩa
Các nhà nghiên cứu đã phân biệt nông thôn và đô thị trên một số chỉ báo nhất
định như: hoạt động nghề nghiệp (nông nghiệp và phi nông nghiệp), quy mô nhân
khẩu và mật độ dân số, môi trường, kích cỡ cộng đồng, tính thuần nhất của dân cư, khả năng di động xã hội, hướng đi cư, tổ chức xã hội và phân tầng xã hội, lối sống và văn
hóa, tương tác xã hội và sự tác động qua lại lẫn nhau giữa nông thôn và đô thị
Mối quan hệ giữa nông thôn và đô thị
2.1.1 Quan hệ trao đổi các lợi ích vật chất
- Trao đổi các sản phẩm vật chất như: nguyên vật liệu, hàng hóa, vật phẩm tiêu
dùng
- Phương thức trao đổi: có nhiều hình thức khác nhau như trao đổi hàng đổi hàng,
trao đổi bằng tiền, trao đổi bằng lao động, bằng chuyển giao công nghệ
- Chủ thể trao đổi: cá nhân, một nhóm người, các tổ chức nhà nước và phi nhà
nước, các doanh nghiệp
Việc trao đổi các lợi ích vật chất giữa nông thôn và đô thị hiện nay được sự điều tiết bởi cơ chế thị trường nên đảm bảo được tính minh bạch tương đối và nhanh chóng,
giúp cho sự phát triển của nông thôn và đô thị cũng như phát triển đất nước nói chung Ngoài ra, ở nước ta, kinh tế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước được thể
hiện qua hệ thống các chủ trương, chính sách như chính sách thuế, các bộ luật về sản
xuất kinh đoanh, các chương trình đảm bảo phúc lợi xã hội, các chương trình phát triển
kinh tế - xã hội vùng miền
34
Trang 32.1.2 Trao đổi các địch vụ xã hội
- Dịch vụ xã hội là một sản phẩm đặc thù của lao động xã hội Là hoạt động xã
hội không mang các hình thái vật chất, nó chỉ thể hiện ra trong sự cải tạo những đặc tính, hình thức hay là sự bố trí trong không gian của các vật hay của chủ thể
- Các loại dịch vụ xã hội được trao đổi: hoạt động chuyền giao kỹ thuật, công
nghệ, các loại hình dạy nghề, học khuyến nông, dạy nghề thủ công đến những loại như kỹ thuật làm bánh, nấu phở ; các hoạt động nghề nghiệp trong lĩnh vực văn hóa,
y tế - sức khỏe (hoạt động lễ hội, cưới xin, khám chữa bệnh )
- Phương thức trao đồi: đa dạng, từ cá nhân cho đến các tổ chức khác nhau
2.1.3 Trao đổi thông tin
- Trao đổi truyền miệng trực tiếp (kênh truyền thông truyền thống)
- Kênh thông tin hành chính nhà nước: các loại công văn, báo cáo từ trên xuống dưới và từ dưới lên trên theo các cấp chính quyền dựa vào hệ thống bưu điện Ngoài
ra, hệ thống bưu điện cũng cung cấp dịch vụ vận chuyển bưu kiện, thư từ cho mọi
người dân
- Mạng thông tin viễn thông: hệ thống điện thoại cố định và di động bao phủ hầu
hết mọi vùng miền đất nước
- Mạng lưới truyền thông đại chúng: ở nước ta hiện nay phát triển rất mạnh mẽ
với các loại hình như: đài phát thanh, vô tuyến truyền hình, báo ¡n, báo điện tử,
internet
2.1.4 Trao đổi các giá trị được tạo ra
- Sự trao đổi những giá trị vật chất: đó là sự trao đổi những vật phẩm và trao đổi
lao động xã hội Các trao đổi này thể hiện thông qua hoạt động của ngân hàng, kho
bạc, tín dụng, đầu tư sản xuất, tái sản xuất xã hội, hoạt động góp vốn cổ phan, tai tro
cho sy phát triển xã hội Trong đó bao hàm cả những đầu tư của nhà nước về kinh
phí hoạt động của các cấp, các ngành (chính quyền, đoàn thẻ, y tế, giáo dục )
- Trao đổi lao động và dân cư
+ Trao đổi lao động và dân cư thực chất đều là hoạt động chuyền cư Tuy nhiên
về tính chất có điểm khác nhau Lao động trong kinh tế thị trường là mọi loại hàng hóa
đặc biệt, vì vậy nó là một tất yếu khách quan Mặt khác cũng là sự chuyển cư, những
di cư thường có tính chất định cư lâu dài
+ Trao đổi lao động nhằm đáp ứng nhu cầu về sức lao động ở cả hai khu vực nông thôn và đô thị Có các hình thức sau: dòng lao động đi cư từ nông thôn đồ về
thành phố kiếm việc làm tăng thu nhập những lúc nông nhàn (lao động tự đo - mùa vụ); Những cuộc điều động nhân lực theo kế hoạch của các cơ sở sản xuất, các tô
chức, các đơn vị kinh tế ; Sự điều động cán bộ theo nhu cầu phát triển đất nước của
nhà nước (cán bộ các cấp, cán bộ các ngành giáo dục, y tế, lực lượng vũ trang ) Quá
35
Trang 4trình trao đổi lao động xã hội phụ thuộc vào nhiều yếu tố xã hội như trình độ chuyên môn — nghề nghiệp, nhu cầu thực tế, hoàn cảnh bản thân và gia đình
2.1.5 Trao đổi văn hóa
Các trao đổi hai chiều giữa nông thôn và đô thị chủ yếu là trao đổi các giá trị xã
hội, vì vậy nó cũng là trao đổi văn hóa Từ trao đổi các giá trị vật chất, trao đổi các
dịch vụ xã hội, trao đổi thông tin cho đến trao đổi các giá trị tạo ra đều hàm chứa yếu
tố trao đôi văn hóa
Sự tiếp xúc, giao thoa và ảnh hưởng của văn hóa đô thị và văn hóa nông thôn là thường xuyên diễn ra, có lợi ích làm ngắn khoảng cách giữa nông thôn và đô thị, nâng
cao văn minh cho xã hội nông thôn Với đô thị, nhiều giá trị văn hóa nông thôn là món
ăn tỉnh thần quan trọng (văn hóa nông thôn đậm giá trị truyền thống) như các loại nghệ thuật đân gian, các loại ca hát truyền thống , mặt khác, qua văn hóa nông thôn mà
người dân đô thị càng hiểu được giá trị của văn hóa truyền thống và có ý thức về việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống Những vùng đệm (vùng ven thị) là
những vùng có sự giao thoa văn hóa nông thôn — đô thị rõ rệt nhất
Sự giao thoa văn hóa cũng có những mặt trái: có sự tiếp xúc và lưu giữ những giá
trị phản văn hóa, lệch chuẩn đã lạc hậu, lỗi thời như tính tiểu nông, tính cục bộ của
dòng họ và cộng đồng làng, ngược lại ở thành phố nhiều tệ nạn xã hội cũng đã du nhập
vào nông thôn như mại dâm, ma túy
2.2 Một số thiết chế xã hội cơ bản ở nông thôn
Con người sống trong xã hội đều được đặt trong những thiết chế nhất định Xã hội học nghiên cứu thiết chế xã hội nhằm tìm hiểu vai trò, vị thế của các thiết chế đó
đối với con người, đối với các hành vi ứng xử của họ trong các lĩnh vực của đời sống
xã hội Những thiết chế xã hội, chính trị chiếm vị trí quan trọng ở nông thôn là làng,
xã, họ hàng thân tộc, nhà nước
2.2.1 Thiết chế làng
Làng (bản) xét về mặt xã hội là một tổ chức chính trị - xã hội mang sắc thái của
Việt Nam Làng là một liên kết chặt chẽ về kinh tế và xã hội giữa tập tập thể và gia
đình, giữa cá nhân và cộng đồng Làng Việt Nam là chỗ dựa vững chắc về đời sống vật chất và tỉnh thần cho người nông đân và người cư trú ở nông thôn Làng khuôn gói các
thành viên của mình sống theo làng và khi chết đi cũng phải theo những nghỉ thức tang
lễ của làng
Làng ở nông thôn tồn tại lâu đời trong lịch sử, nó đã được khẳng định như một đơn vị hành chính — kinh tế, là một đơn vị xã hội có văn hóa Vì vậy, sự vận động và phát triển của xã hội nông thôn, của quốc gia đều có sự đóng góp của làng Vì làng
trong chừng mực nhất định đã quy định cuộc sống, mẫu người, phương thức làm ăn và ứng xử của những người sinh sống ở đó
36
Trang 5Là một don vi dân cư hoàn chỉnh, có các chức năng phong phú xoay quanh nhu cầu đa dang của người đân sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, nên các làng nói chung có nhiều điểm giống nhau về cơ cấu tổ chức, về các hoạt động kinh tế - xã hội, về tổ chức chính trị, vì vậy, để nắm vững va quan lý được xã hội nông thôn trực tiếp đến người
dân thì trong mọi điều kiện chính trị - xã hội dều phải chú trọng đến sự vận động và
phát triển mọi mặt của làng
Trước hết, thiết chế làng thể hiện ở chỗ mỗi làng đều có một quy định riêng của
làng mình Trước đây gọi là hương ước của làng, nay gọi là những quy ước của làng
Làng với tư cách là một thiết chế còn biểu hiện ra ở cung cách chia ruộng cho dân
Hiện nay, làng không còn là một đơn vị hành chính - kinh tế - tài chính Song việc duy trì, cải biến và xây dựng mới những yếu tố, vai trò của làng trong việc hoạch
định các chủ trương, chính sách phát triển nông thôn hiện nay là vấn đề xã hội cấp
bách cần được nghiên cứu để giải quyết cho thỏa đáng
Tóm lại, nghiên cứu xã hội học nông thôn, từ lát cắt làng, ta thấy rằng làng là
một đơn vị xã hội cơ bản Cùng với sự thay đổi các yếu tố của cơ sở hạ tầng và tồn tại
xã hội, các yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng và ý thức xã hội ở nông thôn cũng thay
đổi Sự thay đổi này diễn ra phong phú và đa dạng, nên có nhiều yếu tố mắt đi, có nhiều yếu tố biến đổi ít nhiều, có những yếu tố được bổ sung thêm cái mới Vậy chúng ta cần coi trọng thiết chế xã hội làng Coi đó là lát cắt nghiên cứu hết sức quan
trọng của xã hội học nông thôn để hoạch định các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
nông thôn
2.2.2 Gia đình và dòng họ ở nông thôn
Làng, đơn vị xã hội cơ bản ở nông thôn, phần đáng kể được hình thành từ các
dòng họ, quan hệ thân tộc, gia đình Ở một phương diện nào đó, có thể nói, các dòng
học là những thành tố cầu thành cơ cấu xã hội nông thôn với làng là đơn vị cơ bản
Là thành viên của gia đình dòng họ, mỗi người đều phải tuân thủ theo các quy
ước, quy định vừa có tính khách quan, vừa có tính chủ quan của thiết chế xã hội này
Đó là những quy định về thứ bậc theo huyết thống, những quy ước về sinh hoạt đòng
học như tế lễ họ, giỗ chạp mo ma, hinh thanh ruộng họ, quỹ họ Những quy định,
quy ước đó vừa hình thành những khuôn mẫu hành động những giá trị để định hướng cho con người tồn tại và phát triển
Trong phạm vi không gian làng xã, mối quan hệ của những người cùng dòng họ,
huyết thống, cùng tổ tiên có lúc trở thành quan hệ cơ bản, chặt chẽ nhất Khi còn nhỏ,
thành viên được gia đình, họ hàng nuôi dạy, chăm sóc cho đến khi trưởng thành Khi
trưởng thành, gia đình, họ hàng tạo cho họ những điều kiện nhất định đề tự lập Chính
gia đình, dong ho bao dam cho mdi thành viên cả những nhu cầu khi họ không tn tai nữa Tắt nhiên, nói như vậy chỉ hàm ý rằng gia đình, dòng họ có vai trò cơ bản trong
37
Trang 6cuộc sống con người ở nông thôn, chứ không phải bao trùm toàn bộ đối với đời sống
của họ Quan hệ họ hàng đã tạo nên sự cố kết, đoàn kết, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau, động viên nhau những lúc khó khăn, kể cả những thành đạt của các thành viên trong các lĩnh vực đời sống, sản xuất, học hành Xét một cách khách quan, hiện tượng sinh
hoạt đòng họ đã giúp con người ở nông thôn trở lại với cội nguồn
Những năm gần đây, ở nông thôn nước ta đã xuất hiện nhiều vấn đề xã hội mới,
liên quan đến quan hệ đòng học và thân tộc như lập từ đường, xây nhà thờ họ, xây mồ
mả tổ tiên, ông bà, cha mẹ Một cách khách quan, hiện tượng sinh hoạt dòng họ này
giúp cho con người trở lại với trạng thái nhân văn thông thường của mình là con người
sống có nguồn gốc, tổ tông
Mặt khác, trong điều kiện kinh tế - xã hội mới hiện nay, quan hệ dòng họ, thân
tộc tác động rất lớn đến công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình Trong đó nhấn
mạnh vai trò của người cao tuổi, trưởng họ, những người đứng đầu đòng tộc tới xây
dựng gia đình và kế hoạch hóa sinh đẻ Hay, sự tái lập quan hệ dòng họ, thân tộc trong sản xuất nông nghiệp dưới các hình thức liên gia nhận ruộng tưới nước, đổi công, làm
nhiều nghề đã khắc phục được rất nhiều những hạn chế về cơ sở vật chất — kỹ thuật thấp, hạn chế tính phân tán manh mún trong sản xuất ở nông thôn Hoặc khuyến khích con em nông dân tích cực học tập
Bên cạnh đó, trong một chừng mực nào đó, hiện tượng bè cánh, tranh giành
quyền lực, hiện tượng ganh đua giữa các dòng họ trong làng với việc xây mo ma, nha thờ họ khang trang, việc cưới hỏi còn ăn uống tốn kém vẫn là những tiêu cực cần phê
phán ngăn chặn
2.2.3 Hé thống chính trị ở nông thôn
Quản lý và điều hành sự vận động, phát triển xã hội ở nông thôn là cả một hệ thống
các thiết chế chính trị - xã hội Ngoài làng và quan hệ đòng họ là những thiết chế xã hội có
cơ sở và cơ bản nhưng chưa đủ để quản lý xã hội nông thôn thì cũng tất yếu tồn tại thiết chế chính trị để quản lý xã hội nông thôn — nhà nước
Nhà nước có luật pháp, sắc lệnh, chỉ thị để khắc phục tính thiển cận, cục bộ của
thiết chế làng — xã và đuy trì việc thực hiện nghĩa vụ của người đân và làng — x4 với
nhà nước và xã hội Song bên cạnh luật pháp, nhà nước cũng công nhận “lệ làng” Sự
quản lý của Nhà nước và lệ làng là hai yếu tố cơ bản tác động trực tiếp tới xã hội nông
thôn và đời sống người dân nông thôn Vấn đề quan trọng là sự kết hợp cả hai thiết
chế, hai loại quản lý đó như thé nao trong quan lý xã hội nông thôn hiện nay Trong
đó, nhà nước phải đóng vai trò chủ thể có những chủ trương, biện pháp để phát huy
mặt tích cực, hạn chế, xóa bỏ mặt tiêu cực của thiết chế làng; thậm chí có thé phải bé
sung hoặc đổi mới nội dung cho phi ho với những thay đổi đang diễn ra trong thực tế
38
Trang 7Đối với xã hội nông thôn, thiết chế làng — xã và nhà nước là những thiết chế cơ
bản, có vị trí quan trọng trong quản lý, điều hành xã hội, nhưng chưa đủ, còn các thiết
chế xã hội khác như gia đình, dong họ, phường hội, xóm, ngõ cũng đóng những vai trò
đáng kể trong đời sống xã hội
2.3 Con người nông thôn và gia đình nông thôn
2.3.1 Con người nông thôn
* Khái niệm con người nông thôn
Nhân vật chủ yếu của xã hội nông thôn là người nông đân Đó là những cá nhân
xã hội tham gia vào những hoạt động sản xuất, sinh hoạt thường ngày trong xã hội nông thôn
Con người nông thôn: chất phát, thật thà và tình cảm, quan hệ xóm làng sâu nặng, trên cơ sở huyết thống, dong họ, nhưng ít giao thiệp, nhận thức hạn chế
* Cuộc đời của người nông dân
Từ khi sinh ra, người nông dân đã chịu sự ảnh hưởng và chỉ phối của khuôn
mẫu sống và văn hóa cộng đồng làng xã Họ được chăm sóc và nuôi đưỡng theo cách thức truyền thống của nông thôn (từ ăn uống, kiêng khem đến những nghỉ thức
luật tục) Tuổi nhỏ họ được xã hội hóa từ gia đình và cộng đồng theo khuôn mẫu có
tính nhất quán được lưu truyền từ đời này sang đời khác
Là con trai, họ được giáo dục để gánh vác vai trò là trụ cột của gia đình sau này,
là con gái được chỉ bảo để trở nên hiền thục, đảm đang “tam tòng tứ đức” Lớn lên,
con gái từ 14, 15 tuổi đã được chuẩn bị để được “gả bán” đề về làm dâu người ta; con
trai lập gia đình có thể muộn hơn một chút, nhưng đến 18 tuổi coi như đã trưởng thành, được vào số đỉnh của làng, phải đóng thuế, phải thực hiện nghĩa vụ phu phen
tạp dịch và các công việc của làng, về quyền lợi họ bắt đầu được tham gia bàn bạc một
số công việc của làng, được đến ngồi ở đình khi làng có việc, được dự giỗ họ
Từ đó, theo thời gia, them tuổi tác, họ được cộng đồng coi trọng hơn Trong trường hợp là gia đình có của cải, ruộng đất, dong họ có vị trí trong làng xã cộng với những cơ may riêng, họ được cắt cử vào một vị trí chức dịch của làng đã là một sự
thăng tiến lớn về cuộc đời Trường hợp đỗ đạt làm quan là rất hiếm đối với các làng cụ thể Và khuôn mẫu dòng đời đó cứ thế truyền nối khắp các thế hệ trong xã hội nông thôn truyền thống
* Vại trò của con người nông thôn
Mỗi cá nhân thành viên trong cộng đồng xã hội nông thôn đều thuộc về những nhóm xã hội khác nhau Mỗi người nông dân sống trong cộng đồng mình đều thuộc
về nhiều tổ chức, nhiều tương tác xã hội phức tạp ở nông thôn (làng, họ mạc, phe,
giáp, hội) Họ thuộc nhiều tổ chức và đóng nhiều vai trò mà họ phải thực hiện Nhờ vào hệ thống những chuẩn mực được học hỏi, nhờ vào sự kiểm soát của cộng đồng
39
Trang 8(thưởng phạt từ hương ước, từ lối sống — văn hóa), cơ bản họ giải quyết hai hòa các
mối quan hệ và vai trò trong xã hội có tính khép kín đó
Với tác động và chỉ phối của văn hóa làng xã, cá nhân người nông dân chủ yếu là
con người của vai trò và phận vị Họ vừa là người con, người anh/em, người cha trong
gia đình; là người cháp/anh em hay chú bác trong họ mạc; là thành viên của phe, giáp; cũng có người tham gia tuần đỉnh hay chức dịch khác Cứ như thế cá nhân người dân nông thôn bị lẫn vào gia đình/họ tộc, vào làng xã Vị thế của người nông dân cơ bản được quy định bởi gia đình và họ tộc
Trong xã hội khá khép kín với tính chất tiêu biểu là tự trị với sự thống trị của văn
hóa làng, văn hóa tiểu nông của nền kinh tế có tính chất tự cung tự cấp Con người cá nhân trong xã hội làng xã bị chep khuất và lu mờ
* Một số tính cách đặc trưng của người nông đân truyền thống
+ Thiền cận, cục bộ và ít chịu thay đổi
+ Nhẫn nhục, cam chịu, lấy câu “dĩ hòa vi quý” làm đầu
+ Báo thủ, ít sáng tạo và hay thiên kiến
Ngày nay, người dân nông thôn đã có những thay đổi tạo nên nét mới như: năng
động hơn, sáng tạo hơn, di động xã hội lớn hơn Song một số những hạn chế trong
truyền thống vẫn còn cộng thêm ảnh hưởng tiêu cực của thời kỳ kinh tế thị trường như:
chạy theo đồng tiền, làm hàng giả, sản xuất không đảm bảo an toàn thực phẩm tạo thành những nét xấu trong cái nhìn về nông thôn và con người nông thôn đòi hỏi các nhà xã hội học nghiên cứu, tham mưu các giải pháp giải quyết
2.3.2 Gia đình nông thôn
* Khái niệm
Hiện có nhiều khái niệm về gia đình Bởi vì gia đình gắn chặt với những nhân tố
văn hóa xã hội nhất định và các nhà nghiên cứu gia đình đã xuất phát từ nhiều góc độ
khác nhau Tuy nhiên, các định nghĩa hiện nay đều thống nhất ở ba đặc điểm chung
của gia đình:
- Quan hệ hôn nhân
- Quan hệ huyết thống nảy sinh từ quan hệ hôn nhân
- Ràng buộc về mặt pháp chế: các thành viên trong gia đình gắn bó với nhau về
trách nhiệm và quyền lợi kinh tế, văn hóa, tình cảm
40
Trang 9Gia đình nông thôn: chủ yếu là gia đình nhiều thế hệ, tỷ lệ gia đình hạt nhân tuy
có tăng nhiều nhưng vẫn thấp hơn nhiều so với đô thị; vai trò người đàn ông vẫn được
dé cao và sự coi trọng về giá trị đứa con trai
* Các chức năng của gia đình
- Chức năng tái sản sinh và đuy trì nòi giống
- Chức năng kinh tế
- Chức năng giáo dục (xã hội hóa)
- Chắc năng chăm sóc người già và trẻ em
- Chức năng thỏa mãn nhu cầu tình cảm của các thành viên trong gia đình, đảm
bảo sự cân bằng tâm lý, tình cảm
Một số tác giả phương Tây cũng như Việt Nam còn cho rằng gia đình có thêm một số chức năng khác như: chức năng thỏa mãn nhu cầu tôn giáo, tín ngưỡng, chức
năng tình dục
Có một số chức năng đã phai nhạt ở gia đình đô thị nhưng chúng hoàn toàn đúng với gia đình nông thôn Với các chức năng của mình, gia đình có vai trò rất quan trọng
trong đời sống xã hội nông thôn Khi cá nhân trong xã hội nông thôn chỉ có thể tồn tại
bằng cộng đồng thì gia đình là nơi sống còn của họ, đó là nơi để họ tồn tại và thăng
tiến xã hội Tất cả những nhu cầu cơ bản của con người nông thôn đều được đảm bảo
từ phía gia đình Trong truyền thống là như vậy và hiện nay vẫn vậy
* Đặc điểm chung của gia đình nông thôn Việt Nam
- Gia đình nông thôn Việt Nam luôn nằm trong quan hệ chặt chẽ với cộng đồng
làng xã
- Chức năng sinh đẻ là cực kỳ quan trọng của gia đình nông thôn
- Hoạt động kinh tế của gia đình là chức năng quan trọng để đảm bảo sự sinh tồn của người nông dân
- Tín ngưỡng quan trọng nhất của gia đình nông thôn là thờ phụng tổ tiên (cũng
là yếu tố gắn liền với sự phát triển của dong ho)
- Có sự phân biệt giới rất rõ nét trong các gia đình nông thôn: con trai được coi trọng, con gái bị xem nhẹ
- Kết cầu của gia đình nông thôn là chặt chẽ với hệ thống các thứ bậc và vai trò
nỗi bật của người cha — người gia trưởng
- Giáo dục con cái trong gia đình nông thôn được coi trọng, trong đó có vai trò
quan trọng của người mẹ Xã hội nông thôn đề cao: gia phong, gia giáo, gia pháp, gia
huấn
41
Trang 102.4 Sự phân tầng xã hội ở nông thôn
2.4.1 Cơ cấu xã hội giai cấp
Cơ cấu giai cấp nông thôn cho biết thành phần các giai cắp, tầng lớp xã hội trong
nông thôn Trong đó, điển hình là giai cấp nông dan, ngoài ra còn có sự hiện diện của giai cấp lãnh đạo là giai cấp công nhân và các tầng lớp khác trong xã hội nông thôn
Qua nhiều giai đoạn phát triển của lịch sử, xã hội nông thôn Việt Nam đã có những biến đổi xã hội căn bản Hiện nay, đặc trưng của xã hội nông thôn Việt Nam
vẫn là nông thôn nông nghiệp nhưng cơ cấu xã hội — giai cấp khác trước
Đặc trưng của cơ cấu giai cấp tại xã hội nông thôn Việt Nam:
- Thứ nhất, đó là cơ cấu xã hội — giai cấp mang tính quá độ, nghĩa là đang trên
con đường biến đổi từng bước thành cơ cấu xã hội — giai cấp xã hội chủ nghĩa Nó vừa
mang đặc điểm của cơ cấu xã hội - giai cấp của xã hội cũ, đồng thời hình thành những
đặc điểm của cơ cấu xã hội — giai cấp của xã hội mới Hai kết cấu xã hội giai cấp ấy
đan xen vào nhau
- Thứ hai, đó là một cơ cấu xã hội — giai cấp đa dạng, phức tạp Điều đó thé hiện
ở sự tồn tại và phát triển của nhiều giai cấp, tầng lớp trong xã hội nông thôn hiện nay
- Thứ ba, tính cơ động xã hội điễn ra mạnh mẽ giữa các giai cấp và tầng lớp xã
hội, thậm chí ngay trong nội bộ mỗi giai cấp, tầng lớp xã hội
- Thứ tư, cơ cấu xã hội — giai cấp đã và đang biến động nhanh chóng Do tác động của các nguyên nhân chủ quan và khách quan nên các giai cấp, tầng lớp xã hội và các van đề quan hệ giai cấp hình thành và phát triển hoặc mắt đi nhanh, ví đụ tầng lớp
trí thức ngày càng lớn mạnh
- Thứ năm, cơ cấu xã hội - giai cấp hiện nay tuy da dang, phức tạp nhưng vẫn
mang tính thống nhất
Xu hướng biến động của cơ cấu giai cấp tại xã hội nông thôn Việt Nam hiện nay:
các giai cấp, tầng lớp xã hội tiếp tục phát triển, đặc biệt là sự phát triển nhanh về số
lượng Ở giai đoạn này, các giai cấp, tầng lớp xã hội phát triển rất đa dạng và phức tạp
Trong nội bộ mỗi giai cấp, tầng lớp xã hội lại có sự phân tầng, phân nhóm, phân hóa phức tạp với tốc độ nhanh Sự không thuần khiết, tính chất quá độ của giai cấp, tầng
lớp xã hội và sự đan xen giữa các giai cấp, tầng lớp ấy nỗi lên khá rõ nét
Cụ thể xu hướng biến đổi trong từng giai cấp, tầng lớp:
- Giai cấp nông đân giảm đi về số lượng, cơ cấu ngành nghề đa dang hơn, phân
hóa thành nhiều bộ phận, tầng lớp, phân hóa giàu - nghèo ngày càng rõ rệt; tầng lớp chủ trang trại, tư sản nông thôn bắt đầu ra đời; đội ngũ những người nông dân làm thuê
xuất hiện; bộ phận trí thức nông thôn tăng lên
42
Trang 11- Giai cấp công nhân trong xã hội nông thôn chiếm tỷ lệ không cao Giai cấp này
phát triển chủ yếu ở khu vực phía Nam, tăng nhanh cả mặt số lượng, trình độ tay nghề,
trình độ học vấn được nâng cao
- Tầng lớp tiểu chủ, tiểu thương, những người làm địch vụ tăng nhanh Tại sao lại
có sự tăng nhanh như vậy? Bởi một bộ phận công nhân viên chức dư thừa do giảm
biên chế nên họ về quê buôn bán, những người đi hợp tác lao động trở về, một bộ phận
lao động từ nông nghiệp chuyển sang
2.4.2 Phân tầng xã hội ở nông thôn
Phân tầng thu nhập là hiện tượng xã hội mang tính khách quan, nó tồn tại trong
điều kiện kinh tế - xã hội Đến một trình độ phát triển nhất định của xã hội loài người,
sự phân tầng về thu nhập, về mức sống vẫn đang còn tồn tại Trong các xã hội nông nghiệp và nông thôn, sự phân tầng đó cũng thể hiện sự cấp bach hơn bởi quy mô và tính chất nghiêm trọng của nó
Phân tầng xã hội về thu nhập và mức sống mà biểu hiện trực tiếp của nó là sự
phân hóa giàu — nghèo ở nông thôn không chỉ là hiện tượng kinh tế mà còn là vấn đề
xã hội lớn Con số tỉ lệ phản ánh lượng người nghèo đói, biểu thị khoảng cách thu nhập giữa người giàu và người nghèo giúp chúng ta đọc được sự phát triển và tiến bộ của xã hội, sự quan tâm tới con người của chính phủ các quốc gia Đồng thời qua
những biện pháp của chính phủ, của cộng đồng đối với vấn đề đói nghèo để hiểu
được các hành vi trong xã hội, hiểu được lối ứng xử với nhau giữa những người cùng
sống ở nông thôn Hầu hết các quốc gia trên thế giới, nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn, các nước mới phát triển còn đang phải đương đầu với hiện tượng đói nghèo, đó
là biểu hiện phân tầng xã hội ở nông thôn
Cơ cấu lao động — nghề nghiệp tham gia quyết định căn bản sự phân tang xã hội
mà chủ yếu là sự phân hóa giàu — nghèo ở nông thôn hiện nay
Nguyên nhân dẫn đến đói nghèo, ngoài nguyên nhân kinh tế như thiếu vốn (nhiều
gia đình có lực lượng lao động nhưng lại không có vốn để làm ăn, buôn bán), rủi ro,
khó khăn đo đầu vào và đầu ra của sản phẩm còn có những nguyên nhân xã hội mà nguyên nhân này lại chiếm tỷ trọng cao: đông con, già cả, neo đơn, ốm đau đột xuất,
lười biếng (nhiều người dân trong thời gian nông nhàn không đi tìm kiếm việc làm mà
chỉ ở nhàn thậm chí còn tụ tập chơi tổ tôm, đề, đánh bạc nhiều khi đó lại là nguyên
nhân dẫn đến tình trạng bạo lực trong gia đình nông thôn), thiếu tri thức, kinh nghiệm sản xuất Theo khảo sát thống kê của các nhà nghiên cứu thì số liệu cụ thể đối với
Trang 12+ Không biết cách làm ăn: 8,6%
+ Lười biếng, rượu chè: 5,7%
Thực tế cho thấy, ngay trong những điều kiện chính trị - xã hội có những biến đổi
cơ bản, những biện pháp hữu hiệu về mặt kinh tế nhằm xóa bỏ tận gốc hiện tượng
nghèo đói đã được Đảng và Nhà nước ta tiến hành Chẳng hạn, chúng ta đã giải quyết
vấn đề sở hữu tập thê về tư liệu sản xuất ở nông thôn, đưa nông dân và làm ăn tập thé,
đưa tiến bộ khoa học — kỹ thuật vào sản xuất nhưng hiện tượng đói nghèo, sự phân hóa giàu — nghèo ở nông thôn nước ta vẫn tồn tại Theo số liệu thống kê theo chiều
lịch sử
Những năm 60 đến 1975: Khoảng cách giàu và nghèo ở nông thôn miền
Bắc là từ 2 đến 4 lần
Từ 1976 đến 1990: Từ 6 đến 8 lần
Từ 1991 đến 1993: Khoảng cách đó cao hơn, cá biệt có nơi khoảng
cách đó lên tới mấy chục lần
Vi vay, dé xóa đói, giảm nghèo ở nông thôn cần phải áp đụng những biện pháp mang tính chất xã hội, không thẻ chỉ dừng lại ở những biện pháp kinh tế Ngược lại, đề
giải quyết tình trạng đói nghèo ở nông thôn, không thẻ chỉ áp dụng các biện pháp có
tinh chất xã hội Tuy vậy, từ góc độ xã hội học, cơ cấu xã hội và sự phân tầng xã hội
thì để xóa đói, giảm nghèo có kết quả trước hết phải thực hành các biện pháp mang tính xã hội nổi trội và xuyên suốt hơn các biện pháp kinh tế mới có thể từng bước giải
quyết sự bức xúc đó
Ví dụ điển hình: Lập Quỹ nghĩa thương do các tổ chức xã hội ở nông thôn hình
thành trước kia; các quy định trong hương ước của các làng về việc giúp nhau khi
hoạn nạn, khó khăn thể hiện lối sống đẹp lâu đời của người nông đân làng xã Việt Nam Ngày nay, Đảng và Chính phủ đã có nhiều biện pháp để xóa đói giảm nghèo
phù hợp với từng đối tượng Quỹ xóa đói, giảm nghèo được hình thành ở các địa
phương; các tổ chức xã hội ở nông thôn giúp nhau vượt khó, các dự án giao đất, giao rừng, thực hiện phủ xanh đồi núi trọc; hình thành cơ cấu sản xuất, phù hợp với những
vùng đo điều kiện tự nhiên khó khăn Thực hiện đồng bộ, triệt để cuộc vận động đân
số, kế hoạch hóa gia đình, thực hiện các chính sách xã hội đối với người có công với nước, những người già neo đơn, khó khăn đang thể hiện tính ưu việt của chế độ và
phát huy truyền thống văn hóa, giá trị đạo đức của đân tộc, đang dần dần giảm đi cảnh đói nghèo của nông dân
Tuy vậy, cũng cần thấy rằng, từ nghiên cứu cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội
nông thôn, đói nghèo là một vẫn đề xã hội lớn, không thể giải quyết một sớm một
chiều Nó là điểm cần quan tâm thường xuyên của các nhà lãnh đạo, của cộng đồng,
Trang 13nhất là ở các quốc gia và các khu vực nông nghiệp còn chiếm tỷ trọng lớn trong nền
kinh tế quốc dan
CHƯƠNG 4: XÃ HỘI HỌC QUẢN LÝ
1 Khái niệm xã hội học quản lý
Quản lý là một loại hoạt động cơ bản của đời sống xã hội bên cạnh các hoạt động như sản xuất vật chất, tái sản sinh xã hội, sản xuất của cải tỉnh thần, giao tiếp
Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối
tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống
để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện tác động của môi trường
Phân biệt quản lý và lãnh đạo: Hai thuật ngữ này thường dùng cho các hệ thống
bao hàm con người, song chúng không đồng nghĩa Giống nhau: đều bao hàm nghĩa
tác động và điều khiển nhưng khác nhau về mức độ và phương thức tiến hành Lãnh
đạo là quá trình định hướng dài hạn cho chuỗi các tác động của chủ thể quản lý; còn
quan lý là quá trình chủ thể tổ chức liên kết và tác động lên đối tượng bị quan ly dé
thực hiện các định hướng tác động dài hạn Lãnh đạo là quản lý nhưng mục tiêu rộng hơn, xa hơn, khái quát cụ thể hơn Còn quản lý là lãnh đạo trong trường hợp mục tiêu
cụ thể hơn, chuẩn xác hơn Có lúc người quản lý phải làm người lãnh đạo và ngược
lại Việc lãnh đạo và quản lý do chủ thể quản lý tiến hành, chủ thể có thể là duy nhất, cũng có thể là không duy nhất, tức có thể có từ hai lực lượng, hai phân hệ trở lên
nhưng nói chung để cho quá trình quản lý có hiệu quả cao thì lãnh đạo và quản lý phải thống nhất với nhau Trong tài liệu này, thuật ngữ quản lý có nghĩa bao hàm cả lãnh đạo
Xã hội học tiếp cận phân tích quản lý từ góc độ coi quản lý là gắn với những
kiểu mẫu hành vi theo nhóm, hay còn gọi là những kiểu hành vi theo tổ chức Và một tổ chức có thể có nghĩa là một hệ thống, hoặc một kiểu mẫu của một tập hợp
những quan hệ theo nhóm nào đó trong một công ty, trong một cơ quan nhà nước,
trong một bệnh viện, hoặc trong bất kỳ một loại hình hoạt động khác
Xã hội học quan niệm mỗi tổ chức khi được hình thành nên, bên trong nó luôn
tồn tại những thành phần, những bộ phận như là một cơ cấu xã hôi, với một tập hợp
phức tạp của những mâu thuẫn, những áp lực, những thái độ tác động qua lại, phát sinh
từ những nền tảng văn hóa của con người Và rất nhiều vấn đề của chúng ta trong quản
lý đã phát sinh ra từ những thái độ, những mong muốn và những kiểu mẫu hành vi theo nhóm
Xã hội học nghiên cứu các quan hệ xã hội để tìm ra cái logic xã hội của các hiện tượng đời sống xã hội Nghĩa là nó tập trung nghiên cứu mặt xã hội của thực tại xã hội
Vi vay khi áp dụng vào nghiên cứu hiện tượng quản lý, xã hội học cũng tập trung tìm
45
Trang 14hiểu mặt xã hội của nó Xã hội học tập trung nghiên cứu cách thức phối hợp của các
thành viên giữ những vị thế xã hội khác nhau trong nhóm với mục đích bảo đảm hiệu quả tối đa do nhóm đặt ra từ trước Như vậy, xã hội học quản lý được hiểu là một khoa học nghiên cứu cách thức phối hợp hoạt động của các thành viên chiếm giữ những vị thế xã hội khác nhau trong tổ chức xã hội nhằm đạt tới mục tiêu chung của tổ chức đó
Nói một cách chung nhất, đối tượng của xã hội học quản lý chính là cách thức hoạt động của một tô chức xã hội, trong đó chủ yếu nghiên cứu mối quan hệ giữa các
vị thế xã hdi ma cu thé 14 vi thé quản 1ý và vị thé bị quản ]ý Một cách đơn giản nhất,
người ta cũng có thể nói đối tượng xã hội học quản lý là nghiên cứu hoạ động của các
nhà quản lý và nghiên cứu hoạt động của các nhân viên trong một tổ chức xã hội nhất định
Y nghĩa của việc nghiên cứu xã hội hoc quan lý: xã hội học về quản lý giúp
chúng ta thấy được tầm quan trọng của yếu tố quyền lực, của hệ thống tổ chức, của cán
bộ quản lý, của thông tin trong quản lý cũng như những xu hướng biến đổi và những
phát sinh về mặt xã hội trong mối quan hệ giữa vị thế quản lý và vị thế bị quản lý có
ảnh hưởng đến hiệu quả công tác để trên cơ sở đó có chính sách đúng tác dụng vào
quan lý đem lại sự ôn định phát triển vì lợi ích chung của xã hội
2 Một số nội dung nghiên cứu của xã hội học quản lý
2.1 Khía cạnh đạo đức, văn hoá trong quản lÿ
Trong quản lý, người lãnh đạo cần có những phẩm chất chính trị, năng lực chuyên môn, năng lực tổ chức, có phương pháp tư duy khoa học trong việc phân tích
giải quyết vấn đề, có đạo đức công tác
Khía cạnh đạo đức trong quản lý của người lãnh đạo được thể hiện:
+ Vững vàng, tự chủ, kiên định lập trường, coi trọng chữ tín
+ Công bằng, công tâm, có tính đồng loại
+ Có văn hóa và biến tôn trọng con người
+ Có thiện chí với con người, không làm điều ác đối với con người
Người lãnh đạo là người phải có đạo đức như Hồ Chí Minh đã nêu: “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, một lòng một dạ phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng”
Hồ Chí Minh luôn coi trọng cả đức lẫn tài, vừa hồng vừa chuyên Trong đó, đạo đức
không phải ở lời nói mà là ở việc làm
2.2 Vai trò người lãnh đạo trong quản lý
2.2.1 Khái niệm người lãnh đạo trong quản lý
Nếu bộ máy quản lý thể hiện chủ thể bản lý về mặt tổ chức, thì cán bộ quản lý
thể hiện bộ máy quản lý về mặt con người
Cán bộ quản lÿ là khái niệm chung dùng đề chỉ những người hoạt động trong bộ máy quản lý và thực hiện những chức năng quản lý nhất định Căn cứ vào vai trò, chức
46
Trang 15năng trong quá trình quan lý, nhất là trong việc đưa ra và thực hiện các quyết định quản lý, người ta chia ra ba loại cán bộ quản lý: người lãnh đạo, chuyên gia và nhân
viên giúp việc Ở đây, chúng ta chỉ nghiên cứu một loại cán bộ quản lý, đó là cán bộ lãnh đạo
Cán bộ lãnh đạo (người lãnh đạo) trong quản lý là những người đứng đầu hệ thống với chức năng nhất định và chịu hoàn toàn trách nhiệm về hệ thống do mình phụ
trách
Nếu như các chuyên gia thực hiện các chức năng chuẩn bị và soạn thảo các quyết
định; các nhân viên kỹ thuât hay nhân viên giúp việc thực hiện việc phục vụ thông tin
cho bộ máy quản lý thì cán bộ lãnh đạo là người đưa ra những quyết định về những
vấn đề quan trọng nhất trong hoạt động của cán bộ quản lý
Trong cán bộ lãnh đạo cũng chia ra thành những loại nhỏ khác nhau như cán bộ
cao cấp, trung gian và cơ sở hay cán bộ lãnh đạo theo ngành dọc, theo hệ thống chức
năng
2.2.2 Vai trò của người lãnh đạo trong quản lý
Người lãnh đạo là một trong những nhân tố cơ bản quyết định sự thành công hay thát bại của đường lối tổ chức
Họ là người thực hiện việc xây dựng hệ thống thành một khối đoàn kết có chất
lượng cao thích nghi với mọi biến động của môi trường; dìu dắt hệ thống hoàn thành
tốt nhiệm vụ chính trị đặt ra cho hệ thống
V I Lê nin nhiều lần nhắc nhở rằng không thể tiến hành sản xuất hiện đại nếu không có một ý chí thống nhất và không có một sự lãnh đạo rành mạch Do đó, người
lãnh đạo là khâu then chốt trong hệ thống quản lý của một xã hội nói chung, của mỗi
một tổ chức, đơn vị sản xuất nói riêng Hồ Chí Minh cũng đã khẳng định rằng: “Cán
bộ là cái gốc của mọi công việc”; “Vấn đề cán bộ là một vấn đề rất trọng yếu và cần
kíp” (Về vấn đề cán bộ, 1974)
2.3 Phan tang xã hội và vấn dé quan ly
Phân tang xã hội - Social Stratification - cé nguồn gốc chữ latinh là Stratum - là tầng lớp, và phaco - là phân chia, có nghĩa là phân chia thành tầng lớp Có ý kiến cho rằng phân tầng là thuật ngữ bắt nguồn từ địa chất học, được xã hội học sử đụng như
một khái niệm cơ bản đề mô tả trạng thái phân chia xã hội thành các tang lớp Thật ra,
khái niệm này mới chỉ nhấn mạnh yếu tố “tĩnh”, trong khi xã hội luôn vận động và biến đổi Mặt khác, trong xã hội không có sự phân biệt rạch ròi, giản đơn giữa các tầng
lớp, mà thường xuyên có sự đan xen, giao thoa, chuyển hóa lẫn nhau do tính cơ động
xã hội tạo nên Mặc dù vậy, có thể nói việc sử dụng khái niệm phân tầng cũng giúp mô
tả được trạng thái nhiều tầng lớp của xã hội trong những điều kiện thời gian và không
gian nhất định
47
Trang 16Có nhiều định nghĩa về phân tầng xã hội Chẳng hạn, GS,TS Trịnh Duy Luân,
Viện Xã hội học cho rằng: Phân tầng xã hội là “sự xếp hạng một cách ổn định các vị
trí trong xã hội xét từ góc độ quyền lực, uy tín hoặc các đặc quyền, đặc lợi không ngang nhau” Trong sự phân tầng xã hội có các “tầng” (stratum), mỗi tầng là một tập
hợp người (cá nhân), giống nhau về địa vị, bao gồm địa vị kinh tế (tài sản, thu nhập),
địa vị chính trị (quyền lực), hay địa vị xã hội (như uy tín), từ đó mà họ có được những
cơ hội thăng tiến, sự phong thưởng và những thứ bậc nhất định trong xã hội Sự phân tầng xã hội thường được mô tả dưới dạng các “tháp phân tầng” với những hình dáng
khác nhau, tùy thuộc vào đặc trưng của các loại xã hội
Tóm lại về cơ bản, phân tang xã hội là một sự phân chia mang tính cấu trúc các tầng lớp, giai tầng xã hội dựa trên những đặc trưng về vị thế kinh tế - xã hội của các cá
nhân Phân tầng xã hội diễn ra trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội như kinh tế, chính
trị, văn hóa, xã hội
Phân tầng xã hội là khái niệm thường được dùng trong XHH phương Tây, nó
biểu thị những khác biệt cơ bản về xã hội và sự không ngang nhau (BBĐ) thuộc về những nhóm, giai cấp, tầng lớp, xã hội bởi địa vị của họ trong hệ thống thứ bậc xã hội
Theo quan hệ này, xã hội được chia thành một cấu trúc theo khuôn mẫu của
những nhóm xã hội không bình đẳng và sẽ bền vững từ thế hệ này sang thế hệ khác Khái niệm phân tầng xã hội và bất bình đẳng xã hội luôn có quan hệ mật thiết với
nhau
Nguyên nhân đưa đến sự phân tầng trong xã hội là do xuất hiện chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, sự hình thành các giai cấp và xung đột giai cấp Thứ nữa là do
sự phân công lao động đưa đến sự phân tầng trong xã hội một cách tự nhiên Người ta
dùng 3 căn cứ cơ bản đề chỉ sự phân tầng: theo địa vị kinh tế (căn cứ theo tài sản và
của cải để chia ra các hạng người trong xã hội), theo địa vị chính trị (quyền lực), theo địa vị xã hội (uy tín)
Phân tầng xã hội là một hiện tượng khách quan, phổ biến và khó tránh khỏi của
xã hội có giai cấp Nó là kết quả của sự phân công lao động xã hội và sự bắt bình đẳng
mang tính cơ cấu của tất cả mọi chế độ xã hội có giai cấp Khi nói đến phân tầng xã
hội, các nhà xã hội học đề cập đến bắt bình đẳng xã hội như là một yếu tố cơ bản dẫn
đến phân tầng xã hội Sự bất bình đẳng ở đây được hiểu theo nghĩa là sự không ngang bằng nhau giữa các cá nhân, giữa nhóm xã hội về thé chất, trí tuệ, điều kiện, cơ
may Khái niệm phân tầng xã hội có quan hệ gần gũi với các khái niệm như: phân
hóa giai cấp, phân hóa giàu nghèo, phân cực xã hội và có thể coi như là những biến thể, hay là trường hợp riêng của phân tầng xã hội Tuy nhiên, phân tầng xã hội có ý
nghĩa rộng lớn hơn phân chia giai cấp xã hội, vì giai cấp chỉ là một trong những tiêu
chuẩn hay chiều cạnh của phân chia xã hội thành các tầng lớp khác nhau Phân tang x4
48
Trang 17hội không có ý nghĩa tuyệt đối, bất biến, mà có thé thay đổi do sự vận động và phát
triển không ngừng của xã hội dẫn đến sự thay đổi vị thế xã hội của các cá nhân Trong
sự phân tầng xã hội có cả mặt “tĩnh” và mặt “động”, có cả sự ôn định tương đối và sự
cơ động của các nhóm xã hội và các cá nhân từ tầng xã hội này sang tầng xã hội khác,
hoặc chỉ trong một tầng xã hội đó
Trong lịch sử, tương ứng với các loại xã hội khác nhau, có những hệ thống phân
tầng khác nhau Theo các nhà xã hội học, có 4 kiểu chủ yếu về hệ thống phân tầng xã hội là: nô lệ, đẳng cấp, phong kiến và các giai cấp xã hội Khái quát lại, người ta thường đề cập tới 2 kiểu phân tầng xã hội là phân tầng đóng và phân tang mo
+ Phân tầng đóng: là loại phân tầng diễn ra trong xã hội đẳng cấp, ở đó ranh giới
giữa các tầng lớp xã hội được xác định rất rõ ràng và được duy trì một cách nghiêm
ngặt Các cá nhân không có cơ hội để thay đổi vị trí của mình từ tầng lớp này sang
động căn cứ vào năng lực của mỗi cá nhân và nhóm xã hội Thực chất của phân tầng
xã hội hợp thức là sự vận hành xã hội theo nguyên tắc “làm theo năng lực, hưởng theo
lao động”, là sự phân tang theo hướng lành mạnh, tích cực, giúp xã hội én định và phát
triển
+ Phân tầng xã hội không hợp thức là phân tầng không đựa trên sự khác biệt tự
nhiên của cá nhân về tài, đức, sự cống hiến cho xã hội, mà dựa trên những hành vi bất
chính như tham những, lừa gạt, trộm cắp, buôn bán phi pháp, xu nịnh, cơ hội để trở
nên giàu có, được nắm giữ quyền lực, có địa vị xã hội, hoặc ngược lại, do lười biếng
dựa đẫm, ỷ lại, không chịu lao động, phấn đấu, đề rơi vào tình trạng khốn khó, nghèo
túng Phân tầng không hợp thức góp phần tạo nên và lam tram trong thêm sự bắt công
bằng xã hội, là mầm mống gây nên sự bắt ổn định và xung đột xã hội
Ở Việt Nam, phân tầng xã hội diễn ra ngay từ thời kỳ quản lý kinh tế - xã hội
theo cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp Tuy nhiên, lúc đó sự chênh lệch giàu nghèo,
phân hóa thu nhập và những biểu hiện của phân tang xã hội chưa rạch ròi, rõ nét, bị
che khuất bởi chủ nghĩa bình quân và chế độ công hữu với cơ cấu giai cấp “hai giai một tầng” (giai cấp công nhân liên minh với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức) Chỉ từ sau khi đất nước bước vào công cuộc đổi mới toàn diện (1986), xóa bỏ cơ chế
49
Trang 18quản lý cũ, thực hiện phát triển kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, thì sự chênh lệch giàu nghèo, phân tầng xã hội mới bộc lộ
một cách rõ ràng và ngày càng trở nên sâu sắc
Lúc này đã xuất hiện những công trình nghiên cứu về cơ cấu xã hội và phân tang
xã hội nhằm cung cấp những căn cứ lý luận và thực tiễn giúp Đảng và nhà nước kịp
thời đưa ra những định hướng chiến lược và những chính sách phát triển kinh tế - xã
hội phù hợp với thời kỳ chuyển đổi cơ chế và mô hình quan lý phát triển đất nước
Nhìn chung, các cuộc khảo sát về thực trạng phân tầng xã hội ở Việt nam hiện
nay cho thấy đang tồn tại phổ biến sự phân tang xã hội theo mức sống, gắn với nó là
sự phân hóa giàu nghèo Quá trình phân tầng xã hội, phân hóa giàu nghèo đang diễn ra sâu rộng theo vị trí địa kinh tế, theo thành thị - nông thôn và các vùng miền cũng như trong từng giai tầng xã hội
Đồi hỏi phải tiếp tục tìm hiểu một cách khách quan, khoa học về phân hóa giàu
nghèo, bắt bình đẳng xã hội, các loại cơ cấu xã hội, những biểu hiện của phân tầng xã
hội và những hệ lụy của nó, cũng như đánh giá được mối tương tác giữa các loại cơ
cấu xã hội, các giai tầng xã hội, từ đó mở rộng và đi sâu nghiên cứu các vấn đề về biến đổi xã hội, di động xã hội, cơ động xã hội với mục tiêu là tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và khái quát lý luận để có thể đề xuất quan điểm và giải pháp định hướng, điều
chỉnh cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội đến năm 2020, tạo sự đồng thuận và động lực
cho đất nước phát triển nhanh và bền vững
Một số định hướng trong quan tri phan tang xã hội ở Việt Nam hiện nay:
Quản trị phân tầng xã hội ở nước ta hiện nay, suy cho cùng, thực chất không phải
là ngăn chặn, triệt tiêu nó, mà là trên cơ sở những quy luật khách quan, chủ thể quản lý
sử đụng mọi nguồn lực và cơ chế chính sách tác động vào khách thể quản lý nhằm
phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của phân tầng xã hội, đưa xã hội phát triển
theo những định hướng và mục tiêu xác định Để thực hiện được điều đó cần thống
nhất một số định hướng sau đây:
+ Đẩy mạnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phấn đấu đưa Việt Nam trở thành một nước công
nghiệp theo hướng hiện đại, một xã hội có dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,
văn minh như Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI đã khẳng định
+ Trong phát triển xã hội, quản trị phân tầng xã hội phải thấu suốt và thực hiện
nhất quán chủ trương: “Kết hợp chặt chẽ các mục tiêu, chính sách kinh tế với các mục
tiêu, chỉnh sách xã hội; thực hiện tốt tiễn bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển Tạo cơ hội bình đẳng tiếp cận các nguồn lực phát triển và hưởng thụ các địch vụ cơ bản, các phúc lợi xã hội”
50
Trang 19+ Trong vận hành nền kinh tế can “chu d6ng điều tiết, giảm các tác động tiêu cực
của thị trường, không phó mặc cho thị trường hoặc can thiệp, làm sai lệch các quan
hệ thị trường”, và gắn liền với đó là “thực hiện ngày càng tốt hơn an sinh xã hội và
phúc lợi xã hội, bảo vệ và trợ giúp các đối tượng dễ bị tốn thương trong nên kinh tế thị trường”
+ Cần tạo môi trường xã hội dân chủ, công khai, minh bạch, làm cho mọi người,
mọi thành phần kinh tế, mọi giai tầng xã hội được cạnh tranh lành mạnh, có cơ hội
bình đẳng để phát huy tài năng, trí tuệ, vươn lên làm giàu, tham gia vào quản lý xã hội,
tự khẳng định mình Khi ban hành luật pháp, cơ chế, chính sách, Nhà nước phải xem
xét một cách toàn diện, cân trọng, để một mặt, khuyến khích những nhân tố mới,
những yếu tố tích cực, mặt khác, khắc phục và hạn chế các khuyết tật và mặt trái của
kinh tế thị trường về phân tang xã hội và phân hóa giàu nghèo, không làm tổn hại đến
quyên và lợi ích của những cộng đồng “yếu thế”, tạo điều kiện để những người bị thiệt
thòi có điều kiện vươn lên hòa nhập với cộng đồng
+ Thực hiện một cách đồng bộ, toàn điện các biện pháp, kết hợp cả các biện pháp
về kinh tế, chính trị, hành chính, luật pháp lẫn giáo dục, thuyết phục để định hướng
và điều chỉnh cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội theo hướng phát triển bền vững, kích thích mạnh mẽ sự chuyển đổi mô hình phát triển kinh tế, làm tăng tính cơ động xã hội
và sự phân công lại lao động xã hội một cách hợp lý, hạn chế xu thế phân tang bat hop
thức và những tác động tiêu cực của nó đối với phát triển xã hội
+ Để quản trị phân tầng có hiệu quả đòi hỏi phải coi trọng và tăng cường công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về phân tang xã hội, phân hóa giai cắp, phân
hóa giàu nghèo, bất bình đẳng xã hội để nắm bắt, dự báo xu hướng của tình hình,
trên cơ sở đó chủ động đề xuất các quan điểm và giải pháp trước mắt và lâu đài cho hoạch định chiến lược, đường lối phát triển xã hội và quản lý xã hội ở nước ta trong
thời kỳ đổi mới, hội nhập quốc tế
51
Trang 20CHƯƠNG 5: XA HOI HOC VE CAC HANH VI LECH CHUAN
1 Lý thuyết xã hội học về hành vi lệch chuẩn
1.1 Khái niệm hành vi lệch chuẩn
Lệch chuẩn được xem như là không bình thường khi thực hiện các chuẩn mực, giá trị và pháp luật Độ lệch và lệch lạc có cùng nghĩa
Hành vi lệch chuẩn được xác định bởi Erich Goode (1997): là hành vi hoặc đặc điểm nào đó ở một số người trong xã hội, hành vi gây khó chịu hoặc đáng bị phê phán, sẽ tạo ra thái độ không chấp thuận, lên án hoặc thù địch với người khác
Michael Focault là một trong những người tiên phong của quan điểm tương đối
về sự lệch chuẩn Ông đề nghị rằng trong việc xác định hành vi lệch chuẩn, có quan
điểm xã hội thích hợp và phân tích các mối quan hệ quyền lực trong xã hội Ông đã
kiểm tra các cách khác nhau mà "sự điên rô” được nhìn nhận và giải quyết bởi những
người cầm quyền trong suốt cuối thé kỷ 16 - 18 Sự điên rồ bước đầu đã được xem như
là kinh nghiệm không khác biệt và sau đó được nhìn thấy từ quan điểm từ đạo đức và
kinh tế, lầm đường lạc lối, bị xa lánh từ xã hội và giới hạn theo những cách khác nhau bởi những vị trí quyền lực Nhà xã hội học John Curra (2000) viết, "lệch lạc, giống
như vẻ đẹp, trong mắt của khán giả, và nó tồn tại bởi một số nhóm quyết định và các
nhóm khác nên không được làm những gì họ đang có"
Hanh vi lệch chuẩn có nhiều mức độ khác nhau (2 mức độ):
+ Hành vi lệch chuẩn ở mức độ thấp và xảy ra ở một số hành vi nhất định Cá
nhân có thể có thể có những hành vi không bình thường nhưng những hành vi đó
không ảnh hưởng có hại đến đời sống cá nhân, gia đình và cộng đồng Mức độ thể hiện
hành vi lệch chuẩn vẫn được cộng đồng chấp nhận được tuy rằng họ không thoải mái
Ví dụ: tật nháy mắt, rung đùi
+ Hành vi lệch chuẩn ở mức độ cao: hầu hết mọi hành vi của cá nhân từ đơn giản
đến phức tạp đều bị lệch chuẩn một cách trầm trọng Những hành vi lệch chuẩn này
gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của bản thân họ và sự hoạt động chung của
cộng đồng trường hợp này thường là những hành vi bệnh lý, tâm lý cần được khám, điều trị bởi các nhà chuyên môn
Hành vi lệch chuẩn được chia thành hai loại như sau:
- Hành vi lệch chuẩn chủ động: lệch lạc như định mức hành vi vi phạm (Ward et
al, 1994.) Đây là loại sai lệch chuẩn mực hành vi do cá nhân cố ý làm trái so với chuẩn mực Họ hoàn toàn hiểu biết và biết rõ về chuẩn mực, nhưng cố tình có hành vi
sai lệch chuẩn mực Ví dụ: một người biết rõ khi tham gia giao thông qua ngã ba, ngã
tư đèn đó thì phải dừng lại nhưng anh ta vẫn không dừng và cố tình vượt đèn đỏ
- Hành vi lệch chuẩn bị động: lệch lạc như một hành động (thật hay tưởng tượng)
đã bị lệch lạc được gán ép cho một đối tượng xã hội (Ward et al, 1994.) Đó là những
52