1 Chương 1 ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU, ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA CHÍNH TRỊ HỌC Nội dung chính của Chương 1 1 Đối tượng nghiên cứu của chính trị học 1 2 Các tiếp cận và phương pháp nghiên cứu chính trị học 1 3 Đặc điểm, phạm vi và nội dung nghiên cứu của chính trị học 1 4 Chức năng, vai trò và nhiệm vụ của chính trị học 1 5 Mối quan hệ giữa chính trị học với một số ngành luật học Chương này tập trung trình bày, phân tích và luận giải làm rõ các nội dung cơ bản của môn học, về Chính trị và Ch.
Trang 11
Chương 1 ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU,
Nội dung chính của Chương
1.1 Đối tượng nghiên cứu của chính trị học
1.2 Các tiếp cận và phương pháp nghiên cứu chính trị học
1.3 Đặc điểm, phạm vi và nội dung nghiên cứu của chính trị học
1.4 Chức năng, vai trò và nhiệm vụ của chính trị học
1.5 Mối quan hệ giữa chính trị học với một số ngành luật học
-
Chương này tập trung trình bày, phân tích và luận giải làm rõ các nội dung cơ bản của môn học, về: Chính trị và Chính trị học; Đối tượng, Phương pháp nghiên cứu, Đặc điểm và chức năng của chính trị học Việc cung cấp bức tranh tổng thể, những phạm trù, đặc điểm và chức năng cơ bản của môn học nhằm trang bị cho người học những tri thức khái quát về môn học, hiểu rõ vai trò và tầm quan trọng của chính trị học trong đời sống chính trị và đời sống xã hội, làm tiền đề để triển khai nghiên cứu những nội dung cụ thể ở những chương sau
1.1 Đối tượng nghiên cứu của Chính trị học
1.1.1 Khái niệm Chính trị
Chính trị là một hiện tượng xã hội ra đời gắn liền với sự ra đời của giai cấp và
được tổ chức thành nhà nước Ở phương Tây, từ “chính trị” (politics) có nguồn gốc từ
"polis" trong tiếng Hy Lạp, có nghĩa là thành bang, nhà nước, cộng đồng dân chúng chung sống, tự quản, đối ngoại tham gia chiến tranh, đối nội bảo vệ hòa bình- nghĩa là những công việc liên quan đến nhà nước hay là nghệ thuật quản lý nhà nước1 Chính trị theo nghĩa này được hiểu là các vấn đề liên quan đến thành bang, liên quan đến nhà nước
Ở phương Đông, chính trị là từ ghép giữa chính 政 và trị 治 Chính có nghĩa là ngay ngắn, thẳng thắn, chính trực Trị có nghĩa là cai trị, điều khiển, quản lý Chính trị là việc
làm cho chính trực, làm cho xã hội đi vào nề nếp, ngay ngắn, kỷ cương, ổn định
1 Hy Lạp cổ đại chia ra làm nhiều thành bang khác nhau và mỗi thành bang có một hệ thống chính quyền của riêng mình
Trang 22
Từ khi xuất hiện, chính trị đã có ảnh hưởng to lớn tới quá trình tồn tại và phát triển của mỗi cộng đồng, mỗi quốc gia, dân tộc và toàn nhân loại Với vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội, các vấn đề chính trị đã thu hút nhiều nhà tư tưởng lớn của tập trung nghiên cứu và bàn luận Tuy nhiên, đến nay vẫn còn những quan niệm khác nhau
về phạm trù “chính trị"
1.1.1.1 Các cách tiếp cận về chính trị:
a/ Tiếp cận từ phương diện lịch sử:
- Thời cổ đại: Phương Tây (Hy Lạp-La Mã) nhiều triết gia, chính trị gia lỗi lạc đã
tập trung bàn luận về chính trị, như: Herođot (480 - 425 tr.CN) đã nghiên cứu, phân tích
sự khác biệt giữa các hình thức chính thể: quân chủ, quý tộc, dân chủ và khẳng định
chuyên chế Aristotle (384 - 322 tr.CN) quan niệm: chính trị là sản phẩm của sự phát triển
tự nhiên là hình thức giao tiếp cao nhất của con người Chính trị là khoa học lãnh đạo con người, khoa học kiến trúc xã hội của mọi công dân Con người là động vật chính trị sống
có trách nhiệm với cộng đồng; quyền lực chính trị có thể được phân chia thànhlập pháp, hành pháp và tư pháp
Phương Đông (Trung Quốc): từ thời kỳ cổ đại cũng xuất hiện những tư tưởng
chính trị kiệt xuất Trong đó, Khổng Tử (551- 479 tr.CN) được xem là một trong những
nhà tư tưởng đẩu tiên có cách tiếp cận riêng đến chính trị Ông cho rằng: chính trị là công việc của người quân tử, là làm cho ngay thẳng, chính đạo, chính danh Một triều đại tốt là
"quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử" - nghĩa là: vua phải làm tròn bổn phận của vua, tôi phải làm tròn bổn phận của tôi, cha phải làm tròn bổn phận của cha và con phải làm tròn bổn phận của con Niềm tin chính trị của Khổng Tử gắn chặt với tư tưởng đức trị, rằng: chỉ những người quân tử có đức sáng mới có thể cai trị thiên hạ tốt bằng chính tấm gương
đạo đức và tình thương yêu dân chúng của mình Lão Tử (571 - 471 tr.CN) với quan
Trang 33
điểm "vô vi nhi trị" - không làm gì mà mọi người tự thuần phục, tự tìm đến với con
đường chính đạo thì đó là cái gốc của nghệ thuật trị nước Hàn Phi Tử (280-233 tr.CN)
quan niệm: để thực hiện hoạt động chính trị cần thiết phải xây dựng và ban hành pháp luật Với học thuyết nổi tiếng về Pháp - Thế - Thuật - ông là đại diện tiêu biểu của phái Pháp gia
- Thời kỳ trung đại: Trong đêm trường trung cổ và cuồng tín, các nhà Thần học và
chủ nghĩa duy tâm như St.Augustine (354 - 430), Thomas D’aquin (1225-1274) khẳng định: chính trị có nguồn gốc từ quyền lực tối cao của Thượng đế; là quyền lực của thượng
đế, của Chúa Trời
- Thời kỳ cận, hiện đại: Thế kỷ XV, Nicolas Machiavelli (1469-1527) - nhà lý luận
chính trị người Ý đã thể hiện một thế giới quan mới về chính trị khi miêu tả các phương pháp thực tế cho chế độ chuyên quyền, để giành và giữ quyền lực chính trị Ông được xem là người phản đối quan điểm đạo đức truyền thống đối với nhà cầm quyền Thuật ngữ "Machiavellia” ra đời, đề cập đến việc sử dụng các phương pháp, thủ đoạn trong thực hiện quyền lực Học thuyết của ông đã được một số nhà lãnh đạo chuyên chế sử dụng để biện hộ cho hành động tàn bạo của mình vì mục đích lợi ích của quốc gia
Thời kỳ các học thuyết tư tưởng tư sản về chính trị nổi tiếng với các thuyết Tam quyền phân lập (trias politica) của J.Locke (1632-1704) và S.L.Monstesquieu (1689- 1755) về tổ chức bộ máy nhà nước tư sản; thuyết Khế ước xã hội (social contract) của J.J.Rousseau (1712 -1778) đề cao tư tưởng chủ quyền nhân dân và các quan điểm chính trị - xã hội chứa đựng những tư tưởng tiên phong của cuộc cách mạng dân chủ Trong thời kỳ này, chính trị được quan niệm là công việc của những "công dân" có tài sản John Stuart Mill (1806-1873) khẳng định tự do là quyền quan trọng nhất của loài người và đi tiên phong trong việc dùng khái niệm “tự do trong chính trị”; khẳng định dân chủ là sự phát triển chủ yếu của thời đại và cổ vũ cho việc bảo vệ các quyền cá nhân, chống lại ảnh hưởng của nhà nước và sự cầm quyền của đa số Trong tác phẩm “Sức mạnh và xã hội”, các nhà kinh điển của chính trị học hiện đại H.D.Lasswell (1902 -1978) và A.Kaplan (1921-2017) đã viết rằng: Chính trị liên quan với việc hình thành quyền lực và chứa đựng quyền lực Sự phân tách phạm trù quyền lực phát sinh từ điều khẳng định rằng chính trị
Trang 44
không chỉ giới hạn trong ranh giới nhà nước, hệ thống chính trị, mà nó còn vượt khỏi giới hạn của các khái niệm quyền lực Max Weber (1864 - 1920) nhà xã hội học người Đức) cho rằng, chính trị là sự khao khát tham gia vào quyền lực hay ảnh hưởng đến sự phân chia quyền lực giữa các quốc gia, bên trong quốc gia và giữa các nhóm người trong nó” 2
Theo quan niệm của các nhà nghiên cứu Nhật Bản: chính trị hoạt động tìm kiếm những khả năng áp đặt quyền lực chính trị K.Đan Tra (học giả Mỹ) cho rằng: chính trị là tìm kiếm giải pháp để thực hiện phân phối các lợi ích Người Trung Quốc (Tôn Trung
Sơn, 1866 - 1925) lại quan niệm: chính trị là sắp đặt lo liệu quản lý để xã hội có kỷ cương
nền nếp; chính trị là quản lý việc của dân chúng và lực lượng quản lý việc của dân chúng
là chính quyền Ngoài ra, trong giới học già tư sản đã có thời kỳ lan truyền quan điểm xem chính trị là một "nhà hát" trong đó có vở diễn, nghệ sỹ, người xem, sự bài trí sân khấu và nhà phê bình Trong "nhà hát chính trị" đó, mỗi người dù vô tình hay cố ý đều đóng một vai trò nhất định, song sự tồn tại của "nhà hát" lại không phụ thuộc vào các cá nhân ấy Mặc dù vẫn có những đạo diễn, song lại có nhiều ngẫu hứng trong quá trình
"biểu diễn" làm cho đời sống chính trị trở nên rất phong phú, đa dạng và phức tạp Chính trị là khả năng con người đóng những vai trò khác nhau, hoàn thành những chức năng khác nhau trong khuôn khổ của một thể chế chính trị Theo quan điểm đó, bản chất chính trị là sự phân chia trách nhiệm và thẩm quyền cũng như bảo đảm hiệu quả chính trị và sự bền vững của chính thể Chính trị được hiểu như là sự khôn khéo, khả năng đạt được sự phân chia chức năng mà vẫn duy trì tác động qua lại của chúng
b/ Chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng: Chính trị là hoạt động Chính trị là một lĩnh vực của đời sống xã hội, thể hiện mối quan hệ và hoạt động của các giai cấp, các chính đảng, tập đoàn xã hội hay dân tộc - quốc gia liên quán đến việc giành, giữ, sử dụng hoặc chi phối quyền lực nhà nước Chính trị chỉ ra đời khi xã hội có phân chia giai cấp (xuất hiện quyền lực xã hội) và nhà nước; xã hội có chính trị là xã hội còn giai cấp và nhà nước Trong xã hội đó, vấn đề chính trị luôn tồn tại, chỉ khác nhau về tính chất, quy mô, mục tiêu, phương pháp Là một trong những lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội, chính trị có mối quan hệ và tác động qua lại với các lĩnh vực khác của đời sống xã hội (kinh tế,
2 M.Weber, Tác phẩm chọn lọc (tiếng Nga), Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1990, tr.646
Trang 55
văn hóa, tư tưởng ) Kế thừa những tinh hoa nhân loại về chính trị đồng thời vận dụng một cách khoa học các phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác- Lênin rất chú trọng đến vấn đề chính trị và đề xuất những quan niệm mới về chính trị:
- Chính trị là lợi ích, là quan hệ lợi ích, là đấu tranh giai cấp trước hết vì lợi ích giai
cấp (lợi ích kinh tế);
- Cái căn bản nhất của chính trị là việc tổ chức chính quyền nhà nước, là sự tham
gia vào công việc nhà nước, định hướng cho nhà nước, xác định hình thức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của nhà nước Quyền lực là vấn đề trung tâm của chính trị, từ chỗ nắm quyền lực chính trị, người ta tổ chức ra bộ máy thực thi quyền lực đó là nhà nước;
- Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế, là việc xây dựng nhà nước về kinh tế
đồng thời chính trị không thể không chiếm vị trí hàng đầu (ưu tiên) so với kinh tế Tuy nhiên, chính trị cũng có tính độc lập tương đối và tác động trở lại tới cơ sở hạ tầng là các quan hệ sản xuất;
- Chính trị là lĩnh vực phức tạp, nhạy cảm nhất, liên quan tới vận mệnh hàng triệu
người Chính trị “giống đại số hơn là số học và càng giống toán cao cấp hơn là toán học
sơ đẳng”3; và chính trị như “nghệ thuật của khả năng” trong sự đo lường đạo đức Chính trị vừa là khoa học c ũng vừa là nghệ thuật, để giải quyết vấn đề chính trị đòi hỏi có cả kiến thức khoa học, kinh nghiệm và sự uyển chuyển, khéo léo của nghệ thuật
c/ Ngày nay trên thế giới có nhiều cách hiểu khác nhau về chính trị, song tựu chung có một số quan niệm như:
- Chính trị là những vấn đề liên quan đến công việc của nhà nước hay xã hội, là phạm vi hoạt động gắn với những quan hệ giữa các gia cấp, các dân tộc và các nhóm xã hội khác nhau Nghiên cứu chính trị, về bản chất là nghiên cứu hình thức nhà nước và việc thực thi quyền lực của nhà nước (tức thẩm quyền phân bổ các giá trị) Ngày nay, chính trị thế giới đương đại đang tồn tại hai hệ thống chính trị cơ bản là chủ nghĩa xã hội
và chủ nghĩa tư bản, tương ứng với các hình thức tổ chức quyền lực nhà nước theo nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa và phân chia quyền lực Các nhà nước xã hội chủ
3 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 41, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1977, tr.110
Trang 66
nghĩa đảm bảo sự tập trung thống nhất quyền lực ở cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất đồng thời là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân (quốc hội) Quyền lực nhà nước gồm quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp đều có chung một nguồn gốc thống nhất là nhân dân, do nhân dân ủy quyền, giao quyền Các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp thống nhất ở mục tiêu chính trị, nội dung chính trị của nhà nước; bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa được tổ chức theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, không phân chia nhưng có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp Trong khi đó, trên nền tảng của nguyên tắc phân chia quyền lực, các nhà nước tư sản được phân chia thành 3 hình thức cơ bản là4: (i) Phân quyền mềm dẻo của chính quyền đưọc tổ chức theo chế độ đại nghị, chính phủ và người đứng đầu chính phủ phải chịu trách nhiệm trước quốc hội (mô hình đại nghị Anh quốc) (ii) Phân quyền cứng rắn của chính quyền được tổ chức theo chế độ tổng thống, người đứng đầu nhà nước vừa là người đứng đầu hành pháp phải chịu trách nhiệm trực tiếp trước nhân dân (mô hình cộng hòa Tổng thống Mỹ) (iii) Phân quyền hỗn hợp, chính quyền được tổ chức theo chính thể lưỡng tính cộng hòa, không chỉ tổng thống
do dân bầu chịu trách nhiệm trước nhân dân mà chính phủ vẫn phải chịu trách nhiệm trước quốc hội (mô hình cộng hòa Pháp)
- Chính trị được biểu hiện ở hai phương diện: quan hệ lợi ích (suy cho cùng là lợi ích kinh tế) và quan hệ quyền lực Hai mối quan hệ này có liên quan chặt chẽ với nhau
trở thành hai mặt của vấn đề chính trị: quyền lực là điều kiện thực hiện lợi ích và ngược lại, lợi ích kinh tế là cơ sở để củng cố quyền lực
Chính trị là hoạt động tìm kiếm cách thức giải quyết mâu thuẫn của con người khi sống chung thành cộng đồng; là “nghệ thuật của phép cai trị” hay là "nghệ thuật của các khả năng" Theo nghĩa này, chính trị là hoạt động tìm kiếm các cách thức dung hòa những lợi ích khác nhau trong cộng đồng bằng cách chia cho các thành viên một phần quyền lực tương ứng với tầm quan trọng của họ đối với sự tồn vong và lợi ích của cộng đồng Đồng thời, chính trị cũng là quyền lực - là vấn đề trung tâm của bất kỳ nhà nước nào (chính trị hiểu theo nghĩa rộng)
4 Hình thức nhà nước được hiểu là cách thức tổ chức và phương pháp thực hiện quyền lực nhà nước
Trang 77
- Chính trị diễn ra ở mọi cấp độ xã hội và tồn tại trong từng gia đình, từng nhóm xã hội; là những công việc của chung và là cách thức các nhóm đưa ra quyết định tập thể (trên cơ sở các nguyên tắc đa số, sự thỏa hiệp và đồng thuận)
- Chính trị là quá trình thông qua đó các cá nhân và các nhóm đạt tới sự nhất trí về một tiến trình chung hoặc một hành động tập thể - ngay cả khi họ có thể tiếp tục bất đồng
về những mực tiêu mà hành động đó nhằm đạt được
- Chính trị liên quan đến việc sản xuất, phân bổ và sử dụng các nguồn lực xã hội; là cách phân phối tài nguyên hay lợi ích Về bản chất, quyền lực là khả năng giành được những kết quả mong muốn thông qua bất kỳ phương tiện nào (nghĩa rộng nhất) Chính trị
là sự xác định ai được gì, bao giờ và như thế nào?5 Thực tế cho thấy: các nguồn lực xã hội luôn khan hiếm và hữu hạn nhưng khát vọng và nhu cầu của con người lại là vô hạn; chính trị chính là cuộc đấu tranh để giành quyền tiếp cận các nguồn lực hữu hạn và quyền lực là phương tiện để đạt được mục tiêu này
Vì vậy, có thể định nghĩa: Chính trị là toàn bộ những hoạt động có liên quan đến
các mối quan hệ giữa các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc và các quốc gia mà cốt lõi là vấn đề giành, giữ, tổ chức và sử dụng quyền lực nhà nước; là sự tham gia của nhân dân vào công việc nhà nước và xã hội, sự xác định hình thức tổ chức, nhiệm
vụ, nội dung hoạt động của nhà nước; là hoạt động chính trị thực tiễn của các giai cấp, đảng phái chính trị, các nhà nước nhằm tìm kiếm những khả năng thực hiện đường lối và những mục tiêu đã đề ra nhằm thỏa mãn lợi ích
Là một lĩnh vực đặc biệt quan trọng của đời sống xã hội có giai cấp nên hoạt động chính trị được thực hiện bởi nhiều chủ thể nhằm đạt được những lợi ích chính trị nhất định, như: (i) Với tư cách là tổ chức, gồm có: đảng chính trị, nhà nước, tổ chức chính trị
- xã hội, giai cấp, quốc gia-dân tộc (ii) Với tư cách cá nhân, bao gồm: thủ lĩnh chính trị, chính khách, công chức và công dân (những cá nhân chính trị) Chính trị là lĩnh vực hoạt
động quan trọng liên quan đến mối quan hệ giữa các giai cấp, các dân tộc và các quốc gia- dân tộc Đây cũng là cách hiểu truyền thống của chính trị học, phản ánh
khuynh hướng nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các cá nhân và bộ máy nhà nước Chính
5 Harold Lasswell, Politics is who gets what, when, and how?, Cleveland: Meridian Books, 1963
Trang 88
trị là những hoạt động thực tiễn của các giai cấp, các đảng phái và là sự góp mặt tích cực của người dân trong việc xây dựng hoàn thiện thể chế, hoạch định chính sách và thực hiện các mục tiêu, đường lối chính sách của một đất nước
1.1.1.2 Mối quan hệ giữa chính trị và luật pháp
Trong sự vận động phong phú và đa dạng của đời sống xã hội hiện thực có sự tham gia của các quan hệ chính trị và luật pháp Là những vấn đề hết sức phức tạp nhưng giữa chính trị và luật pháp có mối liên hệ mật thiết với nhau và trở thành những yếu tố nổi bật giữ vai trò chi phối định hướng cho tiến trình phát triển của xã hội Chính trị và luật pháp
là những hiện tượng và thiết chế trung tâm của thượng tầng kiến trúc, có vai trò quyết định trong chỉ đạo, định hướng tác động đối với cơ sở hạ tầng xã hội (tập trung ở lĩnh vực kinh tế)
a/ Chính trị và luật pháp: sản phẩm chung của một nguồn gốc lịch sử
Là một lĩnh vực của đời sống xã hội, song chính trị không ra đời cùng với buổi khai sinh của xã hội loài người Chỉ đến khi xã hội loài người xuất hiện chế độ tư hữu, đấu tranh giai cấp và nhu cầu về quản lý xã hội mới sản sinh ra nhà nước, khi đó chính trị mới thực sự trở thành một lĩnh vực không thể thiếu của đời sống xã hội Nhà nước vừa ra đời, giai cấp thống trị đã phải tìm đến chiếc cẩm nang để duy trì địa vị của mình (trước
hết là địa vị kinh tế) là luật pháp (law) Như vậy, pháp luật ra đời là kết quả tất yếu của
cuộc đấu tranh chính trị để ghi nhận thành quả của cuộc đấu tranh đó và là phương tỉện hữu hiệu giúp giai cấp thống trị áp đặt ý chí của họ đối với toàn xã hội nhờ một đặc tính của pháp luật: là những quy tắc xử sự chung, mang tính cưỡng chế làm khuôn mẫu hành
vi cho các thành viên trong xã hội
Là những hiện tượng xã hội mang tính lịch sử, có chung nguồn gốc, cùng phát sinh
và phát triển nên chính trị và pháp luật, luôn có sự gắn kết không thể tách rời nhau (mặc
dù giữa chúng cũng có những khác biệt nhất định) Ở đây, tính khách quan của chính trị
đã quy định khách quan cho sự ra đời của pháp luật Là sản phẩm của cuộc đấu tranh
giai cấp (xuất hiện một cách tất yếu khách quan trong điều kiện xã có phân chia và đối kháng giai cấp) nên chính trị và luật pháp mang bản chất giai cấp sâu sắc Điều này cũng
Trang 9xã hội (gồm ba yếu tố tổng hợp là: điều kiện tự nhiên địa lý, điều kiện dân số dân cư và
phương thức sản xuất) Trong đó, chính trị phản ánh toàn bộ đời sống xã hội trong đó cốt lõi nhất là kinh tế Chính trị là việc xây dựng nhà nước về kinh tế, “là biểu hiện tập trung của kinh tế” 6, "… là kinh tế cô đọng lại" 7 Trong mối quan hệ trên thì kinh tế là tính thứ nhất, chính trị là tính thứ hai, là cái phản ánh của kinh tế, thể hiện qua tư duy chính trị,
đường lối chính trị, thể chế chính trị Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế bởi kinh
tế bao giờ cũng quyết định chính trị (do các quan hệ kinh tế quyết định các quan hệ xã hội) Và khi kinh tế thay đổi thì địa vị chính trị của các giai cấp cũng thay đổi theo Trong
mối quan hệ trên thì kinh tế là tính thứ nhất; chính trị là tính thứ hai - là cái phản ánh của
kinh tế, được thể hiện qua tư duy, đường lối và thể chế chính trị
Luật pháp có chức năng điều chỉnh các quan hệ xã hội, phụ thuộc vào ý chí chủ quan của giai cấp thống trị (giai cấp ban hành pháp luật), đồng thời nó cũng tuân theo quy luật riêng là phản ánh các quy luật khách quan của đời sống xã hội mà cốt lõi là các quy luật kinh tế Trong đó, cơ sở kinh tế (tính chất, nội dung của các quan hệ kinh tế và cơ chế quản lý kinh tế) quyết định sự ra đời, nội dung, hình thức và sự phát triển của pháp luật Các điều kiện kinh tế và quan hệ kinh tế không chỉ là nguyên nhân trực tiếp quyết định sự ra đời của pháp luật mà còn quyết định toàn bộ nội dung, hình thức, cơ cấu, sự phát triển của pháp luật Nói chung, điều kiện, kết cấu, tính chất và trình độ kinh tế quyết định nội dung, cơ cấu hệ thống, tính chất và trình độ của pháp luật; chế độ kinh tế quyết định việc tổ chức bộ máy và phương thức hoạt động của các thiết chế pháp lý Cho nên, nếu “con người đã quên nguồn gốc của pháp luật từ các điều kiện kinh tế cũng như họ đã quên chính bản thân nguồn gốc của họ từ vương quốc của động vật” 8 Kinh tế là nguyên
6 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 42, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1977, tr 311 - 312
7 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 45, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1977, tr 418
8 C.Mác và Ăngghen, Toàn tập, tập 18, tiếng Nga, tr.273
Trang 1010
nhân trực tiếp quyết định sự ra đời và phát triển của pháp luật vì chế độ kinh tế là cơ sở của pháp luật và do đó sự thay đổi của chế độ kinh tế sớm muộn cũng dẫn đến sự thay đổi của pháp luật Song, phản ánh của pháp luật đối với kinh tế không phải là phản ánh trực tiếp mà nó thông qua lăng kính chính trị, dưới dạng các quan điểm chính sách về kinh tế
và xã hội
Là những thiết chế quan trọng đặc biệt trong kiến trúc thượng tầng và cùng xuất hiện trên cơ sở những tiền đề, điều kiện khách quan của cơ sở hạ tầng, chính trị và luật pháp có sự liên hệ biện chứng, gắn bó khăng khít lẫn nhau và cùng tác động trở lại đối với cơ sở hạ tầng, thể hiện vai trò lãnh đạo, định hướng xây dựng và phát triển kinh tế -
xã hội Với tư cách là những yếu tố quan trọng hàng đầu, có ý nghĩa chi phối đối với
thượng tầng kiến trúc xã hội, chính trị và luật pháp không hoàn toàn phụ thuộc một chiều vào sự phản ánh cơ sở hạ tầng mà chúng có tính độc lập tương đối, có khả năng tác động mạnh mẽ trở lại hạ tầng kinh tế, được biểu hiện trên các phương diện: định hướng phát
triển kinh tế trên cơ sở quy luật thực trạng khách quan; lựa chọn mô hình phát triển kinh
tế phục vụ cho lợi ích giai cấp, điều tiết phát triển kinh tế; tác động lên các chủ thể kinh
tế và tham gia vào quản lý xã hội, quản lý con người trong quá trình sản xuất Trong khi khẳng định vai trò quyết định, tính thứ nhất của kinh tế đối với chính trị, chủ nghĩa Mác - Lênin cũng nhấn mạnh tính độc lập tương đối và sự tác động trở lại của chính trị đối với
kinh tế: “Chính trị không thể không giữ địa vị ưu tiên so với kinh tế” 9 Ưu tiên cho chính trị ở đây là ưu tiên cho việc giành lấy quyền lực chính trị và ưu tiên cho xây dựng các quyết sách chính trị đúng Điều đó cho thấy, để phát triển kinh tế cần phải quan tâm đến
chính trị, đặc biệt là định hướng chính trị của đảng cầm quyền và bộ máy nhà nước
"Không có một lập trường chính trị đúng thì một giai cấp nhất định nào đó, không thể nào giữ vững được sự thống trị của mình, và do đó, cũng không thể hoàn thành được nhiệm vụ của mình trong lĩnh vực sản xuất"10
Là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu của thượng tầng kiến trúc xã hội,
luật pháp không hoàn toàn phản ánh thụ động các quan hệ kinh tế mà còn có khả năng
tác động trở lại, có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển kinh tế Khi pháp luật thể
9 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 42, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1977, tr.349
10 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 42, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1977, tr.350
Trang 1111
hiện ý chí của giai cấp thống trị (là lực lượng tiến bộ của xã hội) và phản ánh đúng trình
độ phát triển của kinh tế - xã hội thì pháp luật có nội dung tiến bộ và phát huy tác dụng tích cực Vì vậy, nếu xây dựng một hệ thống pháp luật tốt, góp phần củng cố, bảo vệ các quan hệ sản xuất thống trị, chủ đạo và kích thích phát triển quan hệ mầm mống tương lai đồng thời sẽ xóa bỏ quan hệ sản xuất lỗi thời, phản động; kích thích các yếu tố kinh tế -
xã hội phát triển Ngược lại, hệ thống pháp luật tồi, què quặt, chắp vá sẽ mở đường cho các quan hệ sản xuất tàn dư trỗi dậy, cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội và làm chậm tiến trình xây dựng đất nước11
c/ Tác động biện chứng giữa hai bộ phận trung tâm của thượng tầng kiến trúc
Nằm ở vị trí trung tâm, giữ vai trò chi phối toàn bộ kết cấu thượng tầng kiến trúc,
chính trị và luật pháp có tác động và ảnh hưởng lẫn nhau mạnh mẽ, trở thành hình thức
và bước đi kế tiếp của nhau Nhờ nắm trong tay quyền lực chính trị, giai cấp thống trị
thông qua nhà nước thể hiện ý chí của mình một cách tập trung, thống nhất và biến ý chí giai cấp trở thành ý chí của nhà nước và được ghi nhận trong quy tắc xử sự Đó là sự thể chế hóa các quyết sách chính trị dưới dạng các quy định của luật pháp Một quyết sách chính trị ra đời không thể đi ngay và phát huy tác dụng trong cuộc sống mà nó phải qua quá trình tổ chức thực hiện, trong đó có các hoạt động lập pháp và lập quy Đó chính là việc kỹ thuật hóa và chi tiết hóa nội dung các quyết sách thành các chế định pháp lý mang tính cưỡng chế hành chính, làm cơ sở để tổ chức thực hiện quyết sách trên thực tế
Là hình thức biểu hiện của chính trị, ghi nhận yêu cầu, quan điểm chính trị của giai cấp
cầm quyền, pháp luật cũng là phương tiện để thực hiện đường lối chính trị
Những nhu cầu kinh tế của đời sống xã hội thông qua chính trị mà trở thành pháp
luật, vì thế chính trị là nền tảng của pháp luật Đồng thời, cũng thông qua vai trò của pháp luật, nhà nước thực hiện điều chỉnh, tác động trở lại cơ sở hạ tầng, vì vậy pháp luật trở thành công cụ đắc lực của chính trị Nó đòi hỏi pháp luật ban hành phải phản ánh
được nội dung tư tưởng của đảng cầm quyền; phải xuất phát từ chủ trương, chính sách của đảng trong từng giai đoạn để đề ra công tác xây dựng pháp luật cho phù hợp Chủ trương, chính sách của đảng là cơ sở, địa bàn xuất phát cho việc ban hành pháp luật
11 Ví dụ như: vai trò của Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1787 đã tác động và thúc đẩy các quan hệ sản xuất tư bản phát triển, Hoa Kỳ không phải trải qua con đường phát triển tuần tự là phương thức sản xuất phong kiến
Trang 1212
Thậm chí, chính trị còn có thể coi là một “nguồn” của luật pháp, được phản ánh rõ nhất
trong luật hiến pháp (đạo luật cơ bản của mỗi quốc gia) là một hình thức văn bản thể chế hóa quan điểm chính trị của đảng cầm quyền và là cơ sở để xây dựng các đạo luật chuyên ngành Nói cách khác, mối liên hệ giữa chính trị và pháp luật thể hiện tập trung nhất trong quan hệ với đường lối chính sách của đảng cầm quyền với pháp luật của nhà nước Sự tác động của chính trị đối với pháp luật thể hiện trước hết ở việc nhà nước ban hành, thay đổi, hủy bỏ, hoàn thiện pháp luật, bảo vệ pháp luật khỏi sự vi phạm , bảo đảm pháp luật, đưa pháp luật vào đời sống Pháp luật thể chế hóa đường lối chính sách của đảng cầm quyền tức là làm cho ý chí của đảng cầm quyền trở thành ý chí của nhà nước Đường lối chính sách của đảng có vai trò chỉ đạo nội dung và phương hướng phát triển của pháp luật Sự thay đổi trong đường lối chính sách của đảng cầm quyền sớm hay muộn cũng dần đến sự thay đổi trong pháp luật Như vậy, là một tổ chức đặt biệt của quyền lực chính trị, nhưng quyền lực nhà nước chỉ có thể được triển khai và phát huy có hiệu lực trên cơ sở của pháp luật Pháp luật là hệ thống các quy tắc sử xự do nhà nước ban hành, luôn phản ánh những quan điểm và đường lối chính trị của lực lượng nắm quyền lực nhà nước và bảo đảm cho quyền lực đó được triển khai nhanh, rộng trên quy
mô toàn xã hội Sức mạnh của chính trị (hay đúng hơn là quyền lực chính trị) không thể hiện ở chính bản thân mà được thông qua vai trò của luật pháp - công cụ để duy trì bảo vệ
và là biểu hiện thực tế của quyền lực chính trị trong đời sống xã hội Quyền lực chính trị của một giai cấp luôn được thể hiện trước hết ở hiệu lực thực thi của luật pháp, vì “nếu không có một bộ máy đủ sức cưỡng bức người ta tuân theo những tiêu chuẩn của pháp quyền thì pháp quyền có cũng như không” 12 Trong quan hệ này, chính trị là nguồn gốc
cơ sở xuất phát của luật pháp, còn luật pháp là một trong những hình thức ghi nhận những yêu cầu cơ bản của chính trị “Một đạo luật là một biện pháp chính trị, là chính trị”
13 Ngược lại, phương hướng phát triển của luật pháp của mỗi quốc gia luôn phụ thuộc vào nước là do đường lối chính sách và chỉ đạo của đảng cầm quyền, phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội và tương quan giữa các lực lượng chính trị - xã hội trong nước
12 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 33, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1976, tr.121
13 V.I.Lênin, Toàn tập, tập 42, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1977, tr.129
Trang 1313
Chính trị và luật pháp gắn bó hết sức gần gũi với nhau trên cơ sở thống nhất về nguồn gốc, điều kiện ra đời và về chủ thể (giai cấp nào thống trị về chính trị thì giai cấp
đó có quyền ban hành pháp luật); thống nhất với nhau về mục tiêu, đối tượng phản ánh và
cùng chung bản chất giai cấp Có thể nói chính trị như thế nào thì pháp luật như thế ấy
Mặc dù ở mỗi thời kỳ lịch sử có những điểm khác biệt nhưng chính trị và luật pháp luôn
có mắt xích gắn kết và quan hệ gần gũi không thể tách rời nhau Với các chế độ xã hội: chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư sản, xã hội chủ nghĩa đều có một kiểu pháp luật tương ứng Thậm chí, ngay trong một chế độ xã hội, ở mỗi giai đoạn khác nhau, đường lối chính trị khác nhau thì pháp luật cũng có sự khác nhau
Từ sự thống nhất cao về bản chất giữa chính trị và luật pháp, nên trong thực tế đôi khi không có sự phân biệt rạch ròi giữa hai khái niệm này Ở một số nước, các khái niệm:
khoa học chính trị (political science), khoa học pháp lý (law science) và khoa học về nhà nước (state science) thường được dùng thay thế cho nhau Đồng thời, sự vận động của mối quan hệ giữa chính trị và pháp luật đến một giai đoạn nhất định sẽ xuất hiện nhà nước pháp quyền (rule of law), là sự thể hiện sự phát triển cao của mối quan hệ quyền lực
và luật pháp Điểm cốt lõi của tư tưởng nhà nước pháp quyền là sự thống nhất giữa quyền lực và luật pháp hay là mối liên hệ bên trong tất yếu giữa nhà nước và pháp luật Chính trị và luật pháp thống nhất với nhau nhưng không phải là đồng nhất và sự khác nhau giữa chúng là do chức năng của mỗi bên quy định: chính trị là mục tiêu phương hướng, pháp luật là sự cụ thể hóa và vận dụng trong thực tế Sự thống nhất giữa chính trị và luật pháp cũng không loại trừ khả năng khác biệt giữa chúng ở những điểm, những giai đoạn nhất định Chính trị và luật pháp thống nhất nhưng không đồng nhất mà chúng song hành với nhau Nhà nước và pháp luật tác động qua lại lẫn nhau, không thể tồn tại thiếu nhau Mối quan hệ giữa nhà nước và pháp luật thể hiện trong hoạt động xây dựng pháp luật, áp dụng pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật - nghĩa là trong tất cả các giai đoạn của cơ chế
điều chỉnh pháp luật Quan hệ giữa chính trị và luật pháp là quan hệ giữa mục tiêu và phương tiện Chính trị và luật pháp luôn phải cần đến nhau, bởi sự tồn tại của chúng phải
dựa vào nhau và một khi tách biệt hoàn toàn thì chúng đều trở nên vô nghĩa
1.1.1.3 Nguồn gốc và bản chất của chính trị
Trang 1414
a/ Nguồn gốc của chính trị
Chính trị có nguồn gốc từ các phương diện kinh tế và xã hội Nguồn gốc kinh tế
của chính trị thể hiện ở những nội dung sau:
- Một là, từ nguyên nhân ra đời của chính trị gắn liền với sự xuất hiện của giai cấp
và nhà nước trong lịch sử Sự xuất hiện đó lại liên quan chặt chẽ đến vấn đề tư hữu tư liệu sản xuất (những của cải dư thừa của xã hội) - nghĩa là liên quan đến hoạt động kinh tế
Để bảo vệ cho sự tư hữu về tư liệu sản xuất đó, những tầng lớp "trên" của xã hội đã tổ chức ra nhà nước nhằm mục đích cưỡng chế các giai tầng xã hội khác Như vậy chính trị xuất hiện trong lịch sử xuất phát từ kinh tế
- Hai là, từ góc độ lợi ích, chính trị là lợi ích, là quan hệ giữa các giai cấp, quốc
gia-dân tộc trong việc phân chia lợi ích; chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế
- Ba là, chính trị thuộc kiến trúc thượng tầng xã hội, bao gồm hệ tư tưởng chính trị, nhà nước, các đảng phái xuất hiện khi xã hội phân chia thành các giai cấp dựa trên cơ sở
hạ tầng kinh tế Cơ sở hạ tầng kinh tế là yếu tố quyết định đến sự hình thành các quan điểm và các thiết chế chính trị Là bộ phận của thượng tầng kiến trúc xã hội, chính trị có chức năng phản ánh tồn tại xã hội là hạ tầng cơ sở
Ngoài ra, sự ra đời của chính trị còn bắt nguồn từ các nguyên nhân xã hội do nhu
cầu cần có sự phối hợp chung trong hành động trong xã hội (quan điểm của C.Mác) hoặc nhằm để hóa giải các mâu thuẫn, xung đột cá nhân (lý thuyết Khế ước xã hội)
Hai là, bản chất chính trị của giai cấp thể hiện về mặt tổ chức thành các đảng phái,
bộ máy nhà nước để giai cấp cầm quyền đạt được mục đích duy trì địa vị và lợi ích Thông qua hoạt động của các đảng phái là đội tiên phong của giai cấp và thông qua hoạt
Trang 15Bốn là, bản chất giai cấp của chính trị thể hiện ở văn hóa chính trị (political culture), bao gồm hệ tư tưởng, nền tảng pháp lý và các giá trị, chuẩn mực được áp dụng cho toàn xã hội
Tính giai cấp là mặt cơ bản thể hiện bản chất của chính trị Tuy nhiên, xuất phát từ nhu cầu cần tập hợp lực lượng để giải quyết các vấn đề chung của cộng đồng xã hội nên chính trị cũng phản ánh rõ nét tính xã hội Dù trong xã hội nào, chính trị cũng bảo vệ lợi ích của giai cấp (lực lượng) cầm quyền nhưng cũng phải chú ý đến lợi ích chung của toàn
xã hội
1.1.1.4 Kết cấu của chính trị
Tiếp cận từ lý thuyết hệ thống, chính trị là một tổng thể được hợp thành bởi các yếu tố (bộ phận) khác nhau có quan hệ chặt chẽ với nhau Từ đó hình thành kết cấu chính trị bao gồm các yếu tố cấu thành một nền chính trị và mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành đó, như: hệ tư tưởng chính trị và thể chế chính trị
- Hệ tư tưởng chính trị hay Ý thức hệ chính trị (political ideology) - là hệ thống lý
luận hoàn chỉnh gồm những quan niệm, quan điểm phản ánh các mối quan hệ chính trị-xã hội đặc biệt giữa các giai cấp, dân tộc, quốc gia xoay quanh vấn đề nhà nước và pháp luật diễn ra trong lịch sử cũng như lợi ích của các tầng lớp giai cấp nhất định xung quanh vấn
đề này, có khả năng hướng dẫn đối với các lực lượng xã hội Hệ tư tưởng được cho là kết tinh của lập trường giai cấp và là vũ khí tinh thần của giai cấp đấu tranh (Lênin) Đó là toàn bộ những học thuyết, tư tưởng, quan điểm của một giai cấp về giành và giữ quyền lực nhà nước; xác định chế độ chính trị; hình thức tổ chức nhà nước; và quan hệ với các giai cấp, tầng lớp khác Không có lý luận, học thuyết, chủ nghĩa và hệ tư tưởng nói
chung, giai cấp cầm quyền không có điểm tựa tinh thần, không có định hướng tư tưởng
và chính trị để cân nhắc, lựa chọn và ra quyết định về đường lối chính sách Vì vậy, bất
Trang 16“hạt nhân tinh thần”, là phần “linh hồn” của hệ thống chính trị, nhà nước
- Thể chế chính trị (political institute) là những quy định, quy chế, chuẩn mực, quy
phạm, nguyên tắc, luật lệ nhằm điều chỉnh và xác lập các quan hệ chính trị; là những dạng thức cấu trúc tổ chức, các bộ phận chức năng cấu thành của một chủ thể hay hệ thống chính trị Thể chế chính trị là hình thức biểu hiện của hệ tư tưởng chính trị, là "con đẻ" của hệ tư tưởng chính trị
1 2 Chính trị học: khái niệm và đối tượng nghiên cứu
1.2.1 Khái niệm chính trị học
Thuật ngữ chính trị học hay khoa học chính trị (political science) theo chữ Hy Lạp
là politologie - được cấu thành từ các từ “politike” (chính trị) và ‘logos” (tri thức) với ý nghĩa là khoa học nghiên cứu chính trị Tuy nhiên, chính trị là một lĩnh vực xã hội rộng lớn, cấu trúc rất phức tạp với những quan hệ biểu hiện rất đa dạng, vì vậy nó là đối tượng nghiên cứu của nhiều khoa học, trong đó có chính trị học
Chính trị học là một bộ môn khoa học nghiên cứu lĩnh vực chính trị của đời sống
xã hội như một chỉnh thể nhằm nhận thức và vận dụng những quy luật và tính quy luật
Trang 1717
chung nhất vào các hoạt động chính trị Ngoài ra, chính trị học cũng đi sâu nghiên cứu vấn đề trung tâm của chính trị là quyền lực nhà nước cùng với những cách thức giành, giữ, sử dụng quyền lực nhà nước, cơ cấu tổ chức và vận hành quyền lực nhà nước Vì vậy, chính trị học còn được xem là là khoa học cai trị hay là khoa học quản lý con người
Trên thế giới, khoa học chính trị ra đời từ rất sớm: từ thế kỷ IV tr.CN, những nghiên cứu về chính trị và chính thể trong các tác phẩm nổi tiếng của Platon, Aristotle (các triết gia Hy Lạp); Khổng Tử, Mạnh Tử (372- 289 tr.CN), Hàn Phi Tử (Trung Quốc) tập trung phản ánh những kinh nghiệm chính trị được tích lũy, đặc biệt về cách tổ chức
và thuật trị nước Đặc biệt, các nhà tư tưởng Hy Lạp - La Mã đã đặt những viên gạch nền móng đầu tiên cho sự ra đời của khoa học chính trị Các học giả nghiên cứu lịch sử tư tưởng chính trị đã xem Aristotle là người sáng lập khoa học chính trị Đến các thời kỳ Phục hưng (đầu thế kỷ XVI), thời kỳ Khai sáng (đầu thế kỷ XVII) chính trị học đã có những bước tiến mới về chất với sự xuất hiện những quan điềm tiến bộ của các nhà tư tưởng như Machiavelli, Vonte (1694 –1778), J.Locke, S.L.Montesquieu, J.J Rousseau Khoa học chính trị đã chuyển từ việc tập trung mô tả về lịch sử chính trị, các thể chế chính trị và các quy phạm pháp luật sang trọng tâm là nghiên cứu "hành vi" trong quá trình ra quyết định chính trị, bao gồm hành vi của các cá nhân con người chính trị, các tổ chức chính trị, và mối quan hệ giữa chúng
Tuy nhiên, phải đến cuối thế kỷ XIX, với những tư tưởng chính trị đã phát triển thành lý luận, học thuyết về chính trị, khoa học chính trị mới xuất hiện như là một ngành khoa học độc lập nghiên cứu chính trị như một chỉnh thể, có đối tượng, phương pháp, các khái niệm và phạm trù, trở thành nội dung của “sự nghiệp” giáo dục công dân, đào tạo chính khách (có trụ sở, giảng đường, giáo sư, ngân sách…) Năm 1949, theo sáng kiến của UNESCO, một số nước đã thành lập Hội Khoa học chính trị quốc tế (IPSA) nhằm tăng cường mối liên hệ quốc tế trên lĩnh vực chính trị Đến nay, với tư cách là một môn khoa học, chính trị học trở thành một ngành nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn của chính trị, miêu tả và phân tích các hệ thống chính trị và các ứng xử chính trị; được quan tâm nghiên cứu ở nhiều nước trên thế giới, nhất là ở các nước tư bản phát triển như Mỹ, Pháp, Anh,…Các lĩnh vực của chính trị học bao gồm lý thuyết chính trị và triết học chính trị,
Trang 1818
giáo dục công dân (civics) và chính trị đối sánh (comparative politics), các hệ thống quốc gia, phân tích chính trị (cross-national political analysis), phát triển chính trị, quan hệ quốc tế, chính sách ngoại giao, chính trị và luật quốc tế, quản lý hành chính, ứng xử quản
Ở phương Tây, mặc dù chính trị học đã được khẳng định từ khá lâu, song đến nay vẫn chưa có sự thống nhất quan điểm về đối tượng nghiên cứu Tùy theo cách nhìn nhận
về ngành khoa học này mà xuất hiện những quan điểm khác nhau về đối tượng nghiên
cứu, như: (i) Quan điểm thứ nhất, xuất phát từ chỗ coi chính trị học là siêu lý luận về
chính trị mà P.Noack (nhà chính trị học người Đức) cho rằng, chính trị học gồm cả triết học chính trị (lý luận chính trị), học thuyết về các thể chế chính trị, xã hội chính trị và chính trị quốc tế; trong khi đó một số người khác lại quan niệm chính trị học là học
thuyết về các hệ thống chính trị và lý luận quan hệ quốc tế (ii) Quan điểm thứ hai, đồng
nhất chính trị với xã hội học chính trị, tiêu biểu là R.Aron,…Quan điểm thứ ba, xem chính trị học là lý luận chung về chính trị, nghiên cứu chính trị như một chỉnh thể, một hiện tượng xã hội, trong khi không hạn chế phương diện riêng biệt của chính trị và phân tích chính trị trong một loạt các khác thể phi chính trị khác Ngoài những quan điển nêu trên, còn có một số quan điểm khác về đối tượng của chính trị học, như: chính trị học là khoa học nhà nước, khoa học về sự thống trị của nhà nước; khoa học về trật tự chính trị; khoa học về sự sự hình thành và phân chia quyền lực; khoa học về sự phân phối có tính chất quyền uy các giá trị xã hội14
Ngày nay, theo nghĩa chung nhất, chính trị học là một ngành khoa học nghiên cứu
về chính trị Vì chính trị ra đời và gắn liền với giai cấp và nhà nước (gắn với các hoạt động của các đảng phái, hoạt động cầm quyền, cai trị, phân bổ lợi ích,…) nên chính trị
14.Học viện Chính sách và phát triển, PGS.TS Trần Đình thảo (chủ biên), Giáo trình Chính trị học (Tài liệu hướng dẫn nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn), Nxb.Chính trị quốc gia, 2011, tr.19-20
Trang 1919
học cũng được coi là môn khoa học về quyền lực, cầm quyền, cai trị, là khoa học về việc giành, giữ, và thực thi quyền lực nhà nước Do vậy, chính trị học là khoa học về sự cai trị (hay còn gọi là khoa học về chính phủ) mà nội dung của nó xoay quanh vấn đề tìm kiếm
một hình thức nhà nước, một hình thức cai trị hợp lý nhất Là một bộ phận/thiết chế
thuộc kiến trúc thượng tầng xã hội, chính trị có tác động ảnh hưởng tới các yếu tố quan
hệ sản xuất hợp thành cơ sở hạ tầng xã hội, mà quan trọng còn là hoạt động thực tiễn của các giai cấp, các đảng phái và các chủ thể khác nhau trong đời sống xã hội Đánh giá về tầm quan trọng của khoa học chính trị, Platon cho rằng: “Khoa học của nhà chiến lược, của quan tòa, của nhà diễn thuyết, của nhà truyền giáo là khoa học của kẻ nô bộc Khoa
học thật sự và duy nhất của vương quyền là khoa học chính trị” Thực tiễn đã chỉ ra rằng,
mỗi bước đi của hoạt động chính trị ngày càng cần phải có lý thuyết soi đường nếu không muốn rơi vào sai lầm, phiến diện hoặc đi đến thất bại Do đó, chính trị học cần phải được tích cực nghiên cứu phát triển để đáp ứng yêu cầu thực tiễn
1.2.2 Đối tượng nghiên cứu
Mọi khoa học đều có đối tượng nghiên cứu của mình là những quy luật, tính quy luật thuộc khách thể nghiên cứu của nó Chính trị học là khoa học nghiên cứu đời sống chính trị một cách có hệ thống nhằm tìm ra những quy luật, hoặc tính quy luật của đời sống chính trị (lấy đời sống chính trị làm đối tượng nghiên cứu)
Đối tượng nghiên cứu của chính trị học là những quy luật, tính quy luật chung nhất của đời sống chính trị - xã hội; những cơ chế tác động, cơ chế sử dụng cùng những phương thức, thủ thuật, công nghệ chính trị để hiện thực hóa những quy luật, tính quy luật chung đó
Chẳng hạn, cho đến nay, các nhà chính trị học phương Tây thừa nhận có một số
quy luật của đời sống chính trị như: Luật sắt của chế độ quả đầu (iron law of oligarchy)
Đó là một quá trình tự nhiên của các nhóm và tổ chức sau một thời gian phát triển sẽ hình thành một cấu trúc quyền lực theo thứ bậc, trong đó có một nhóm nhỏ các nhà lãnh đạo
đứng đầu Luật Duverger (Duverger's law) mang tên nhà chính trị học người Pháp-
M.Duverger, khi ông phát hiện ra sự tương quan giữa hệ thống bầu cử với hệ thống đảng cầm quyền): các chế độ bầu cử được xây dựng trên nguyên tắc đa số phiếu có xu hướng
Trang 2020
sinh ra chế độ 2 đảng, trong khi những hệ thống bầu cử với cách thức đại diện tỷ lệ
thường sinh ra chế độ đa đảng Luật “hòa bình dân chủ” phát biểu rằng, các quốc gia có
nền dân chủ không gây chiến tranh với nhau
Nhìn chung, đối tượng nghiên cứu của chính trị học có thể được chia thành 3 nhóm như sau: (i) Thể chế chính trị (hệ thống tổ chức và thực thi quyền lực); (ii) Hành vi chính trị (bao gồm hành vi của chính phủ, nhà chính trị và hành vi của người dân); (iii) Môi trường chính trị (môi trường trong đó hoạt động chính trị diễn ra)
1.2 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu Chính trị học
1.2.1 Các cách tiếp cận nghiên cứu chính trị học
- Tiếp cận triết học chính trị: việc giải thích các hiện tượng chính trị từ góc độ triết học được xem là lâu đời nhất trong nghiên cứu khoa học chính trị Nội dung nghiên cứu
của cách tiếp này thường tập trung vào lý giải các vấn đề liên quan đến nhà nước, chính quyền, sự tự do và công bằng….và xem xét, đánh giá các vấn đề từ khía cạnh đạo đức Những người ủng hộ cách tiếp cận này tin rằng, triết học chính trị gắn liền với ý thức hệ chính trị và nó có thể sẽ giúp xây dựng được một nền chính trị tốt
- Tiếp cận lịch sử: những người ủng hộ cách tiếp cận này thường nhấn mạnh khía
cạnh lịch sử của các hiện tượng, tình huống chính trị Họ cho rằng, chính trị và lịch sử liên quan mật thiết với nhau và nghiên cứu về chính trị luôn phải có quan điểm lịch sử Theo họ, lịch sử không chỉ nghiên cứu về quá khứ, mà phải kết nối quá khứ với những sự kiện hiện tại để có thể giúp dự báo cho hiện tại và tương lai Theo cách tiếp cận này, chính trị chỉ có thể hiểu đúng được khi đặt nó vào bối cảnh lịch sử cụ thể để xem xét
- Tiếp cận thể chế: là cách tiếp cận nhấn mạnh vai trò của các thể chế chính trị hay
là cấu trúc chính trị; chủ yếu được sử dụng để xem xét sự tương tác giữa hệ thống chính trị quốc gia (chủ yếu là nhà nước) với các nhóm lợi ích chính trị, các đảng chính trị, truyền thông đại chúng và các cơ quan giám sát khác
- Tiếp cận pháp lý: cách tiếp này luận giải thích các quá trình chính trị dưới lăng
kính pháp luật, liên quan đến các quá trình pháp lý, các cơ quan pháp luật Thông qua cách tiếp cận này, những giá trị chính trị căn bản như tự do, dân chủ, công bằng,…được
đo lường bằng hiệu quả của việc thiết lập và thực thi pháp luật
Trang 2121
- Tiếp cận hành vi: đòi hỏi tính thực chứng theo nghĩa là các các kết luận phải dựa
trên bằng chứng hành vi trong thực tiễn và thường luận giải, phân tích hành vi chính trị dựa trên giả định về bản chất con người như tính vị kỷ và tính duy lý Đây là cách tiếp cận bổ sung cho các cách tiếp cận truyền thống bằng các phương pháp thực chứng của khoa học xã hội hiện đại trong nghiên cứu chính trị
- Tiếp cận hệ thống: là một trong những phát triển quan trọng trong tư duy nhân
loại từ cuối thế kỷ XIX, được sử dụng trước hết trong các khoa học tự nhiên như sinh học, vật lý học và toán học và sau đó lan sang các khoa học xã hội khác như xã hội học
và chính trị học Có thể diễn giải cách tiếp cận này như sau: Hệ thống chính trị hoạt động trong một môi trường xã hội cụ thể Môi trường này chuyển tải các nhu cầu, sức ép khác nhau của xã hội Cả "nhu cầu" và "sự ủng hộ" là những gì mà David Easton gọi là "đầu vào" mà hệ thống chính trị phải xử lý15 Sau khi xem xét các yếu tố khác nhau, hệ thống chính trị đưa ra các quyết định hành động đối với một số nhu cầu theo các thứ tự ưu tiên Thông qua quá trình chuyển đổi, “đầu vào” được chuyển đổi thành "đầu ra" bởi các nhà hoạch định dưới dạng các chính sách, các quyết định, quy tắc, quy định và luật pháp Các
"đầu ra" đến lượt nó lại tạo ra "nhu cầu" mới thông qua cơ chế phản hồi, tạo ra "đầu vào" mới Đó là một quá trình tuần hoàn theo chu kỳ mà hệ thống chính trị thích nghi và biến đổi cùng với sự biến đổi của môi trường xã hội
1.2.2 Phương pháp nghiên cứu chính trị học
1.2.2.1 Phương pháp luận
Cơ sở phương pháp luận của khoa học chính trị là phương pháp duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử; trước hết là sự vận dụng phương pháp biện chứng duy vật vào việc nghiên cứu lĩnh vực chính trị của đời sống xã hội Hạt nhân của phương pháp duy vật biện chứng là nhìn sự vật trong sự vận động và phát triển, cho phép xem xét đời sống
chính trị trong sự vận động, phát triển Phương pháp duy vật lịch sử với các quan điểm lý
luận trung tâm về hình thái kinh tế - xã hội, lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản
xuất, cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng xã hội Sự vận động phát triển đó
một mặt là sự thay đổi nội tại của các yếu tố cấu thành nền chính trị, như: sự phát triển
15 David Easton, A system analysis of polititcal life, New York: Wiley, 1965
Trang 2222
của quyền lực chính trị và các hình thức nhà nước trong lịch sử; mặt khác là sự vận động
phát triển mang tính quy luật của đời sống chính trị trên cơ sở mối quan hệ biện chứng giữa sự phát triển của lực lượng sản xuất phù hợp với quan hệ sản xuất cùng với kiến trúc thượng tầng trên nền các quan hệ sản xuất đó Phương pháp duy vật lịch sử cho phép nghiên cứu các chế độ chính trị đặt trong bối cảnh lịch sử của nó; cung cấp bức tranh sinh động về các cuộc cách mạng xã hội của một giai cấp giành và giữ chính quyền và những hình thức nhà nước cụ thể
1.2.2.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
Chính trị là một lĩnh vực hoạt động đặc biệt của con người và con người hoạt động trong lĩnh vực chính trị có mối quan hệ chặt chẽ với các sự kiện chính trị Vì vậy, việc đảm bảo yêu cầu khách quan trong việc nghiên cứu chính trị là rất cần thiết Vấn đề đặt ra với các nhà chính trị học là, trong hàng loạt các sự kiện chính trị xảy ra đó, cần phải tìm
ra được bản chất của vấn đề và lấy đó làm căn cứ xuất phát cho các quyết sách chính trị?
Do đối tượng nghiên cứu của chính trị học là lĩnh vực rất phong phú và phức tạp đồng thời trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, chính trị học
sử dụng các phương pháp cụ thể để giải quyết những vấn đề đặt ra, như:
- Phương pháp hệ thống: Phương pháp này cho phép nhìn nhận chính trị như một
hệ thống với các yếu tố, bộ phận cấu thành vừa phụ thuộc lẫn nhau vừa có tính độc lập tương đối; giữa các thuộc tính có sự đan kết, tác động biện chứng lẫn nhau của một chỉnh thể Đồng thời, mỗi hệ thống vừa có tác động qua lại với hệ thống khác, vừa là nhân tố của hệ thống lớn hơn Nghiên cứu hệ thống không chỉ cho phép có cái nhìn toàn diện, đầy
đủ về kết cấu của một sự kiện, quá trình chính trị, mà còn là công cụ để đánh giá sự tác động giữa các yếu tố với nhau; từ đó có những nhận định đúng đắn về các sự kiện phức tạp của đời sống chính trị
- Phương pháp thống nhất giữa lôgic và lịch sử: là phương pháp chủ đạo trong
nghiên cứu chính trị học Lịch sử là cuộc sống, logíc là bản chất của cuộc sống; thống nhất giữa logic và lịch sử là sự phù hợp giữa hiện thực và bản chất Do đó, nếu không có
sự tái sinh về mặt lịch sử sẽ không có được nhận thức logic, tính qui luật của các hiện tượng, quá trình chính trị-xã hội Nghiên cứu các hiện tượng chính trị cũng cần phải đạt
Trang 23Phương pháp này yêu cầu làm rõ trạng thái hiện thời, logíc khách quan nội tại phản ánh bản chất, quy luật của đời sống chính trị trong mối quan hệ với kinh tế, xã hội, văn hóa tinh thần Việc nhận thức các hiện tượng chính trị đòi hỏi phải làm sáng tỏ những vấn
đề như: hiện tượng chính trị đó đã xuất hiện như thế nào trong một bối cảnh lịch sử nhất định, nó chịu ảnh hưởng bởi những yếu tố nào trong đời sống chính trị - xã hội, những biến đổi và khuynh hướng vận động của hiện tượng đó trong tương lai
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: được sử dụng phối, kết hợp để làm sáng tỏ
nhiệm vụ của từng nhiệm vụ Phương pháp phân tích, tổng hợp cũng cho phép phân tích các diễn biến của đời sống chính trị, những khía cạnh khác riêng lẻ, khác nhau hoặc lặp
đi lặp lại của đời sống chính trị và tổng hợp thành các nhận định mang tính quy luật về đời sống chính trị Ngoài ra, phương pháp này cũng cho phép chỉ ra những nguyên nhân -
hệ quả cùng bản chất của các sự kiện các hiện tượng chính trị Phương pháp phân tích thường được sử dụng để làm sáng tỏ các vấn đề lớn, trước hết cần làm rõ các nội dung bên trong của nó Ngược lại, phương pháp tổng hợp sẽ từ những vấn đề nhỏ, tiểu mục và mục…để làm rõ những nhiệm vụ đặt ra đối với từng nội dung nghiên cứu
- Phương pháp so sánh: được sử dụng để đối chiếu các quan điểm, sự kiện, hiện
tượng và quá trình chính trị đã diễn ra trong lịch sử giữa các chủ thể, quốc gia, khu vực Bằng việc so sánh, giúp cho thấy được những điểm tương đồng cũng như những khác biệt giữa các thiết chế chính trị và các chế độ chính trị khác nhau, từ đó tìm được cái mạnh và cái yếu của từng loại hình, thể chế chính trị16 Bằng phương pháp so sánh có thể phát hiện được những nguyên nhân của các sự kiện chính trị Cũng trên cơ sở so sánh nhiều chiều, nhiều cấp độ (so sánh đồng đại và so sánh lịch đại), phương pháp này cho phép chỉ ra mối liên hệ cái chung-cái riêng, cái phổ biến-cái đặc thù, bản chất-hiện tượng,
16 Cũng do đó, trong chính trị học xuất hiện một bộ môn rất quan trọng là Chính trị học so sánh (Comparative Politics)
Trang 2424
tương đồng-dị biệt, giá trị-phản giá trị; giúp kiểm nghiệm, đối chứng để làm rõ cấp độ, giới hạn những ưu-hạn chế của các hiện tượng chính trị và đảm bảo yêu cầu khách quan trong nghiên cứu
- Phương pháp điều tra xã hội học: cũng cần thiết để giúp các chủ thể chính trị có
thể nắm được những thông tin phản hồi cần thiết từ dư luận xã hội trong việc thực hiện các chủ trương, chính sách, từ đó có sự điều chỉnh quyết sách kịp thời
- Phương pháp thực nghiệm: ưu điểm của phương pháp này là cho phép khẳng
định tính đúng đắn, tính phù hợp của các quyết định chính trị tương ứng với điều kiện,
hoàn cảnh cụ thể Thông qua thực nghiệm, sự khái quát về chính trị sẽ được nâng lên nhờ
những sự kiện thực tế và do đó tăng các tính hiệu quả, khả thi trong việc thực hiện các quyết sách chính trị
- Phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn: đòi hỏi việc xem xét từng vấn đề
nghiên cứu trong mối liên hệ giữa các quan điểm lý luận với xu hướng vận động khách quan của hiện thực đời sống chính trị cũng như những tác động, ảnh hưởng của quan điểm đó đối với thực tiễn đương thời, góp phần khẳng định tính đúng đắn, phù hợp và khả thi của vấn đề nghiên cứu
1.3 Đặc điểm, phạm vi và nội dung nghiên cứu của chính trị học
1.3.1 Đặc điểm
- Chính trị học l à khoa học chính trị cơ bản nghiên cứu đời sống chính trị dưới dạng khái quát và toàn diện nhất, lấy quyền lực chính trị là phạm trù cơ bản, trung tâm (khoa học về quyền lực chính trị)
- Nghiên cứu các tư tưởng, quy luật chính trị (như: quy luật đấu tranh giành giữ và thực thi quyền lực chính trị, quy luật phát triển của văn hóa chính trị,…), các mối quan hệ
về lý luận chính trị của các chế độ xã hội17; trên cơ sở đó cung cấp cơ sở lý luận cho hoạt động chính trị
- Nghiên cứu hoạt động chính trị nhằm giành, giữ và sử dụng chính quyền; nghiên cứu quyền lực chính trị, phương thức giành quyền lực chính trị, các thiết chế và hình thức
17 Như: Lý luận chính trị về nhà nước cổ đại của Platon và Aristote; Nho giáo của Khổng Tử; Chính trị học tư sản; Chính trị học vô sản do C.Mác và Ph.Ănghen khởi xướng
Trang 2525
tổ chức thực hiện quyền lực chính trị, các kiểu hệ thống chính trị trong lịch sử và đang tồn tại;
- Nghiên cứu các mối quan hệ giai cấp, dân tộc, quốc gia, đảng phái cũng như quan
hệ qua lại giữa các tổ chức chính trị - xã hội liên quan tới việc hình thành và phát triển của quyền lực chính trị mà trọng tâm là quyền lực nhà nước;
- Chú ý nghiên cứu làm rõ các vấn đề về mục tiêu chính trị trước mắt và mục tiêu lâu dài mang tính hiện thực; những biện pháp, phương tiện, thủ thuật, hình thức tổ chức
có hiệu quả để đạt các mục tiêu đề ra; việc lựa chọn và sắp xếp cán bộ,
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu của chính trị học
Là lĩnh vực chính trị - được tạo bởi những vấn đề về chính trị cùng với những hoạt động và quan hệ của các chủ thể chính trị thích ứng với thiết chế chính trị xác định xoay quanh các vấn đề của đời sống chính trị
1.3.2 1 Chính trị học tập trung nghiên cứu các vấn đề, như:
- Lý thuyết, quan điểm chính trị;
- Quyền lực chính trị và kiểm soát quyền lực chính trị;
- Mối quan hệ giữa dân chủ và pháp quyền;
- Lý luận, thực tiễn và công nghệ chính trị về bầu cử;
- Quyền con người và tự do chính trị;
- Đảng chính trị;
- Chính khách và công chức;
- Ý thức chính trị và văn hóa chính trị
- Nhóm lợi ích, phong trào xã hội và truyền thông đại chúng;
- Các xu hướng chính trị đương đại
1.3.2.2 Ngoài ra, chính trị học cũng đi sâu nghiên cứu các hoạt động chính trị trong đời sống xã hội có liên quan đến nhà nước và những quan hệ giữa các chủ thể chính trị Qua đó, chính trị học làm sáng tỏ mặt khoa học của chính trị, đồng thời cũng
nghiên cứu những phương thức, biện pháp ứng xử trong quan hệ chính trị nhằm làm sáng
tỏ mặt nghệ thuật của chính trị
1.3.3 Nội dung nghiên cứu của chính trị học
Trang 2626
Chính trị học tập trung nghiên cứu những vấn đề khác nhau của đời sống chính trị, như: lý thuyết chính trị, các sự kiện chính trị, hành vi chính trị, quá trình chính trị hay các thể chế chính trị,
1.3.3.1 Nếu lấy đối tượng chính trong nghiên cứu làm tiêu chí, người ta thường
phân ra các cách nội dung nghiên cứu cơ bản như:
- Nghiên cứu thể chế: là những nội dung nghiên cứu lâu đời nhất, lấy việc nghiên
cứu các thể chế quyền lực cơ bản (như: lập pháp, hành pháp, tư pháp, các đảng chính trị
và hệ thống bầu cử, ) làm trung tâm, tập trung xem xét, so sánh các thể chế này ở các nước khác nhau (không chỉ từ góc độ pháp lý, mà chủ yếu trong thực tế hoạt động) Các tiếp cận này rất có ý nghĩa trong việc bước đầu tìm hiểu hoạt động chính trị cơ bản ở các nước khác nhau Bên cạnh những ưu điểm của nó, nghiên cứu thể chế cũng thường bị phê phán vì không tính đến các tổ chức chính trị - xã hội khác, bỏ qua một số mối liên hệ xã hội, không thấy hết sự ảnh hưởng của các yếu tố đó đối với nền chính trị (có thể chúng không có tác động trực tiếp trong ngắn hạn, nhưng lại có tác động quan trọng trong dài hạn) Các nghiên cứu này cũng thường bị phụ thuộc nhiều vào các khái niệm của pháp luật, dễ bị cho là lấy “tinh thần câu chữ” pháp lý thay cho hiện thực chính trị, và cũng dễ
bị sa vào mô tả hơn là lý giải
- Nghiên cứu chính sách: Các nghiên cứu lấy quá trình chính sách làm trung tâm,
từ đó mới xem xét các yếu tố thể chế, hành vi chính trị Nói cách khác, các thể chế chính trị được đặt vào trong vai trò thực tế của nó là việc đưa ra và thi hành các chính sách- nội dung chính của chính trị (quá trình phân bổ các giá trị)
- Nghiên cứu hệ thống, cấu trúc chức năng: Các nghiên cứu này đặt mạnh tính hệ
thống, tính chỉnh thể và mối tương tác giữa các yếu tố trong toàn bộ hệ thống trong việc đưa ra các quyết định, mà các thể chế chính cũng chỉ là một khâu
1.3.3.2 Nếu lấy tiêu chí là vai trò của cá nhân con người, có thể có 3 nhóm nội dung nghiên cứu là:
- Phân tích cấu trúc (vĩ mô): tập trung phân tích quan hệ chính trị giữa các nhóm
lớn trong xã hội (giai cấp, đẳng cấp, tầng lớp ưu tú ) Chủ nghĩa Mác cũng được coi là thuộc trường phái này
Trang 2727
- Phân tích hành vi (vi mô): Là cách tiếp cận xuất phát từ con người cá nhân Theo
đó, các đặc điểm tự nhiên, bản chất của con người sẽ qui định hành vi chính trị của chính
họ Lựa chọn công cộng là trường phái nổi bật, trong đó sử dụng các phương pháp, tiếp cận của kinh tế học tân cổ điển để giải thích các hành vi cá nhân, hành vi nhóm trong các hoạt động chính trị quan trọng Từ đó, cách tiếp cận này lý giải sự hình thành và vai trò của các thể chế
- Phân tích văn hóa: từ các đặc điểm của văn hóa (những giá trị bền vững trong các
cộng đồng) để giải thích và dự đoán các hành vi chính trị của các cộng đồng khác nhau
Nhìn chung, các nội dung nghiên cứu chính trị học rất đa dạng và phong phú, hiện nay việc nghiên cứu và giảng dạy chính trị học trên thế giới có thể tạm phân thành 4 lĩnh vực nghiên cứu cơ bản sau:
- Lý thuyết chính trị: Chính trị học nghiên cứu sự hình thành và phát triển của các
tư tưởng chính trị, các học thuyết chính trị trong quá khứ và hiện tại; cung cấp những hiểu biết cơ bản, có hệ thống các nguyên lý, các quy luật của chính trị để từ đó ứng dụng vào hoạt động chính trị trong những điều kiện cụ thể, đưa ra các dự báo trong tương lai
Lý thuyết chính trị giúp chúng ta hiểu biết rõ hơn những khái niệm định hình nền chính trị như: tự do, bình đẳng, cá nhân, cộng động, dân chủ và công bằng…; giúp con người tìm kiếm các mô hình chính trị hợp lý hơn và đưa ra các cách thức để đạt được các
mô hình đó Do vậy, lý thuyết chính trị thường bao hàm sự phê bình, phản biện đối với đời sống chính trị hiện thực hoặc có thể ngầm đưa ra các quan điểm chính trị nào đó
Từ thế kỷ XVII đến nay, mặc dù các nghiên cứu lý thuyết chính trị đề cập đến nhiều nội dung khác nhau, dưới nhiều lát cắt khác, nhưng đều tập trung xoay quanh hai
mối quan hệ cơ bản là: giữa cá nhân với cộng đồng/xã hội và công dân với nhà nước, từ
đó hình thành hai trường phái cơ bản: tư tưởng chính trị cánh hữu và tư tưởng chính trị cánh tả Hiện nay, ở các quốc gia phương Tây, mỗi trường đại học hoặc trung tâm nghiên cứu chính trị học có thể nghiên cứu, giảng dạy các lý thuyết chính trị khác nhau
- Chính trị học quốc gia: Tập trung nghiên cứu đặc trưng mô hình chính trị của
quốc gia của chính cơ sở đào tạo, bao gồm: các triết lý chính trị của quốc gia (nền chính trị của quốc gia đó được xây dựng dựa trên cơ sở của tư tưởng chính trị nào, tại sao lại
Trang 2828
như vậy); văn hóa chính trị của quốc gia (gồm các yếu tố tạo nên văn hóa chính trị của quốc gia đó, các đặc trưng văn hóa chính trị của quốc gia, văn hóa chính trị của các nhóm khác nhau trong xã hội, lý giải các hiện tượng chính trị từ góc độ văn hóa chính trị…); hệ thống chính trị quốc gia (gồm hệ thống tổ chức và hoạt động của các đảng phái, tổ chức
và hoạt động của chính phủ, các nhóm lợi ích, vai trò của các tổ chức truyền thông trong đời sống chính trị và các chủ thể quyền lực khác), chính sách quốc gia và vai trò của các chủ thể quyền lực trong quá trình đó; hệ thống bầu cử, đặc biệt là bầu các chức danh quyền lực quan trọng như bầu tổng thống, bầu cử quốc hội Với các nội dung trên, việc lựa chọn giới thiệu các nội dung ở mỗi cơ sở đào tạo cũng có sự khác biệt nhất định
- Địa chính trị (geopolitics): là một từ ghép, một lĩnh vực khoa học nằm giữa hai
lĩnh vực chính trị và địa lý (bao hàm cả địa lý lẫn chính trị) Khi mới ra đời (vào khoảng đầu thế kỷ XX), địa chính trị được xem là một đứa con lai giữa khoa học địa lý với một ngành khoa học chính trị, nghiên cứu quốc gia trong sự vận động của nó trong mối liên quan đến địa lý học (hay nghiên cứu các mối tương quan giữa địa lý các quốc gia và chính sách của họ) Ban đầu, thuật ngữ này chủ yếu ám chỉ tác động của yếu tố địa lý lên chính trị, qua thời gian nó đã phát triển và mang nghĩa rộng hơn: “Địa chính trị [là] nghiên cứu các mối quan hệ giữa các dữ liệu địa lý với nền chính trị của các quốc gia”18;
là “sự phân tích những ảnh hưởng của địa lý đến các mối quan hệ quyền lực trong chính trị quốc tế Địa chính trị là lý thuyết về các quốc gia với tư cách là một cơ thể địa lý hoặc một hiện tượng trong không gian, với tư cách đất đai, lãnh thổ, khu vực hoặc là một đất nước” hay “nghiên cứu các chiến lược của các cơ thể chính trị trong không gian” (Rudolf Kjellen- nhà khoa học chính trị người Thụy Điển)19 Các tác giả Alfred Thayer Mahan (1840-1914) và Halford John Mackinder (1861-1947) lại cho rằng: những cuộc đấu tranh địa chính trị quan trọng nhất nhằm giành vị trí bá quyền trong lịch sử đều diễn
ra giữa các cường quốc hải dương và cường quốc lục địa Điều này đã diễn ra từ rất sớm trong lịch sử nhân loại, điển hình là sự đối đầu giữa Athens - một cường quốc hải dương
và Sparta- một cường quốc lục địa, trong cuộc Chiến tranh Peloponnese Mahan cho rằng
18 Từ điển bách khoa Le Petit Larousse illustré của Pháp, 2000, tr.473
19 Trong định nghĩa này, Kjellén chú trọng đến hai yếu tố chủ chốt của địa chính trị: quyền lực và không gian (lãnh
thổ, đất đai)
Trang 2929
nắm giữ một lực lượng hải quân hùng mạnh là chìa khóa để phát triển sức mạnh quốc gia Những quốc gia kiểm soát được đại dương như nước Anh thời bấy giờ có vị thế áp đảo trong hệ thống quan hệ quốc tế Trong khi đó, năm 1939 Halford Mackinder lại lập luận trong thuyết về “vùng đất trung tâm” (heartland theory) rằng quốc gia nào có thể kiểm soát được vùng lãnh thổ nằm giữa nước Đức và vùng Siberia sẽ có thể kiểm soát được thế giới “Địa chính trị là một ngành khoa học quốc gia mới nghiên cứu về nhà nước,…một học thuyết về quyết định luận không gian của các tiến trình chính trị, dựa trên cơ sở rộng rãi của địa lý học, đặc biệt là địa lý học chính trị (Karl Haushofer (1869 - 1946) Địa chính trị cũng là thuật ngữ chỉ nghệ thuật/cách thức sử dụng quyền lực hay ảnh hưởng chính trị trên một phạm vi lãnh thổ nhất định; được xem là khoa học nghiên cứu về “mối quan hệ giữa quyền lực chính trị quốc tế với khung cảnh địa lý” (Saul Bernard Cohen, 1964) “Nói một cách tóm tắt, theo truyền thống thì địa chính trị được dùng để chỉ các mối liên hệ và quan hệ nhân quả giữa quyền lực chính trị với không gian địa lý Nói một cách cụ thể, nó thường được coi là một khối tư duy có nhiệm vụ thử nghiệm những yêu cầu chiến lược đặc thù dựa trên tầm quan trọng tương đối của sức mạnh trên đất liền và sức mạnh trên biển trong lịch sử thế giới… Truyền thống địa chính trị có một số quan ngại thường xuyên, ví dụ như những nhân tố tương quan sức mạnh trong nền chính trị thế giới, như việc xác định các khu vực chủ chốt của quốc tế, và các mối quan hệ giữa khả năng hải quân và khả năng trên bộ” 20 (Oyvind osterud, 1988)
Ngày nay, địa chính trị là một khoa học nhân văn nghiên cứu những tác động của các yếu tố địa lý tới hành vi của các quốc gia, các quan hệ quốc tế và chính trị quốc tế và ngược lại (một công cụ của chính sách đối ngoại nhằm giúp hiểu được các quan hệ quốc
tế trong mối quan tâm đến dự báo); xem xét việc các yếu tố như vị trí địa lý, khí hậu, tài nguyên thiên nhiên, dân số hay địa hình tác động tới chính sách đối ngoại của một quốc gia và vị thế của quốc gia đó trong hệ thống quốc tế “Địa chính trị là một bộ phận của chủ nghĩa hiện thực truyền thống trong lĩnh vực nghiên cứu quan hệ quốc tế” (Peter J.Taylor21); là một môn khoa học nhìn lịch sử và tương lai của các quốc gia trên thế giới
20 Oyvind Osterud, “Sử dụng và lạm dụng địa chính trị”, Journal of Peace Research, No.2, 1988, p.191
21 Peter J.Taylor - tác giả sách “Political Geography” (Địa lý học chính trị), Longman, xuất bản lần thứ 3, 1993
Trang 3030
dưới con mắt địa lý học, như việc xét xem con sông, quả núi, đồng bằng, cao nguyên… này là nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển hoặc tồn vong của đất nước cũng như việc lập chính sách về mặt kinh tế, chính trị và xã hội của nó thế nào Việc học tập và nghiên cứu địa-chính trị bao gồm việc phân tích các yếu tố địa lý, lịch sử và khoa học xã hội trong sự tương quan với chính trị không gian và các mô hình ở các quy mô khác nhau (từ cấp độ quốc gia đến quốc tế)
Một điểm chính trong tư duy địa chính trị gây nhiều chú ý liên quan đến tầm quan trọng của vị trí địa lý đối với chính sách đối ngoại cũng như có mối liên hệ với sức mạnh
và sự phát triển của mỗi quốc gia Các đặc điểm về kinh tế, chính trị và quân sự của một quốc gia bắt nguồn từ các yếu tố địa lý và môi trường của quốc gia đó Các yếu tố địa lý này có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển về kinh tế-xã hội và chính trị, đồng thời góp phần định hình bản sắc và lịch sử của mỗi quốc gia, nhất là tác động của các đặc điểm địa lý như núi non và đại dương đối với sinh mệnh chính trị của các quốc gia Yếu
tố địa chính trị (vị trí địa lí và địa hình) ảnh hưởng đến lập trường và đóng vai trò quan trọng đối với chính sách đối ngoại của một quốc gia, hay “chính trị của một quốc gia nằm
ở trong địa lý của nó” (Napoléon Bonaparte) Trong việc hoạch định chính sách quốc gia,
các nhà lý thuyết địa chính trị đã tìm cách chứng minh tầm quan trọng của những điều đáng chú ý như việc xác lập được đường biên giới quốc gia, quyền tiếp cận các đường biển quan trọng và quyền kiểm soát những khu vực đất liền có tầm quan trọng chiến lược” 22
Chẳng hạn: Một quốc gia nằm kẹp giữa hai quốc gia lục địa sẽ có các mục tiêu chính sách đối ngoại khác xa với một đảo quốc hay một quốc gia được bao bọc xung quanh bởi các rào cản tự nhiên Những quốc gia nằm ở những khu vực có khí hậu ôn hòa thường có sức mạnh kinh tế và quân sự lớn hơn các quốc gia khác nhờ lợi thế nông nghiệp và khai thác tài nguyên Trong khi đó, các quốc gia ở gần xích đạo hay có khí hậu giá lạnh thường có nền kinh tế kém phát triển hơn và phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết Tương tự điều kiện khí hậu cũng có thể tác động tới an ninh của một quốc gia Việc
22 Từ điển bách khoa Britannica, 2004 CD-ROM
Trang 31bờ Đông sang bờ Tây, giáp với 2 đại dương lớn là Đại Tây Dương và Thái Bình Dương
Vị trí địa lý vô cùng thuận lợi để giao thương và làm giàu Người ta cũng cho rằng chính sách đối ngoại mang xu hướng biệt lập của Mỹ trước Chiến tranh thế giới lần thứ hai bắt nguồn từ vị trí địa lý cách biệt châu Âu của Mỹ và việc nước này được 2 đại dương mang lại một rào cản phòng thủ tự nhiên Đặc điểm địa lý này cũng lý giải tại sao nước Mỹ lại coi trọng phát triển lực lượng hải quân Trong khi đó, với vị trí địa lý nằm bên lề châu Âu
và không có các đường biên giới đảm bảo an ninh, nước Nga thường xuyên có một mối quan hệ căng thẳng và khó nhọc với các cường quốc châu Âu…Trong quan hệ với Trung Quốc, Việt Nam là một nước nhỏ nằm cạnh Trung Quốc lớn mạnh gấp nhiều lần và “lời nguyền địa lý” (tyranny of geography) là một yếu tố quan trọng định hình quan hệ giữa hai nước trong lịch sử Trong khi Trung Quốc luôn tìm kiếm ảnh hưởng, sự kiểm soát hoặc phụ thuộc từ phía Việt Nam thì ngược lại, Việt Nam luôn tìm cách duy trì nền độc lập, tự chủ của mình đối với người khổng lồ phương Bắc Chính điều này đã dẫn tới những thăng trầm, thậm chí đối đầu, trong quan hệ giữa hai quốc gia trong nhiều giai đoạn của lịch sử
- Chính trị học so sánh lấy sự so sánh các hệ thống chính trị làm đối tượng nghiên
cứu cơ bản nhằm rút ra các kết luận, các mối liên hệ có tính nhân - quả hoặc dự báo các kết quả trong tương lai Việc lựa chọn các trường hợp, các nước để so sánh không thể tùy tiện mà tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu và giả thuyết khoa học mà có thể lựa chọn phạm vi nghiên cứu các nước (scope of countries) theo các cấp độ: mức độ thấp = 1 nước, mức độ trung bình = 1 số nước (< 20 nước), mức độ cao = nhiều nước (> 50 nước) Chính trị học so sánh đặt trọng tâm là nghiên cứu các nền chính trị khác nhau (ở các quốc
Trang 3232
gia khác nhau) hoặc trong cùng một quốc gia (nhưng ở các thời kỳ khác nhau) và có thể theo nhiều cách tiếp cận khác nhau như trên đã chỉ ra Thông qua lựa chọn một số các hệ thống chính trị điển hình để kiểm soát các yếu tố, chính trị học so sánh rút ra các kết luận
về mối quan hệ mang tính nhân - quả thông qua việc so sánh các yếu tố được gọi là “các giá trị chung, phổ quát” của các hệ thống chính trị trên thế giới Lịch sử phát triển của chính trị học so sánh cũng chính là lịch sử của sự phát triển các phương pháp so sánh
nhằm nâng cao độ tin cậy của các kết luận
- Chính trị quốc tế: Tùy thuộc từng cơ sở nghiên cứu và đào tạo trên thế giới, chính
trị quốc tế (Quan hệ quốc tế) được xem là một phần nội dung quan trọng của chính trị học, hoặc là một khoa học có tính độc lập hơn mang tính liên ngành Chính trị quốc tế nghiên cứu vấn đề ngoại giao giữa các nước, các vấn đề toàn cầu và cách thức giải quyết chúng thông qua các hệ thống quốc tế Các chủ thể tham gia vào quá trình này gồm có các quốc gia, các tổ chức quốc tế, các tổ chức liên chính phủ (IGO), các tổ chức phi chính phủ (NGO), các công ty xuyên quốc gia (TNC)
Mặc dù được cho là ra đời từ khá sớm, nhưng phải đến đầu thế kỷ XX, chính trị quốc tế mới trở thành một ngành khoa học nằm trong chính trị học và ngày nay đã trở thành một ngành học mang tính liên ngành Bên cạnh các vấn đề mang tính truyền thống như: toàn cầu hóa, quan hệ ngoại giao, chủ quyền quốc gia, an ninh quốc tế, sự bền vững của môi trường sinh thái, chủ nghĩa dân tộc, vấn đề vũ khí hạt nhân, tài chính và kinh tế toàn cầu; nghiên cứu chính trị quốc tế cũng mở rộng tới các vấn đề khác như: chủ nghĩa khủng bố, tội phạm có tổ chức, an ninh con người, chủ nghĩa can thiệp quốc tế, quyền con người…
1.4 Vai trò và nhiệm vụ của chính trị học
1.4.1 Vai trò của chính trị học
- Chính trị học trang bị kiến thức về các lĩnh vực của đời sống chính trị cho các cá nhân trong xã hội để có ý thức chủ động và trách nhiệm, tự giác khi tham gia vào đời
sống chính trị; giúp các cá nhân có ý thức về lợi ích chung, từ đó hiểu được các quyền
hạn và nghĩa vụ của bản thân, cũng như các trách nhiệm và thẩm quyền của nhà nước,
Trang 3333
- Chính trị là lĩnh vực liên quan đến tổ chức và sử dụng quyền lực công, do vậy nghiên cứu về chính trị sẽ giúp tìm kiếm các mô hình chính phủ, cách thức tổ chức và thực thi quyền lực; giúp hình thành và hoàn thiện các thể chế quản lý xã hội đúng đắn và hiệu quả nhất, đem lại lợi ích cho giai cấp và quốc gia-dân tộc Đó cũng là quá trình tổng kết thực tiễn, khám phá những quy luật và đúc rút những kinh nghiệm chính trị, cung cấp
cơ sở khoa học và thực tiễn cho quá trình xác định các mục tiêu, ra quyết định, giải quyết các xung đột và dự báo xu hướng vận động của nền chính trị trong tương lai,…
- Nghiên cứu chính trị, đặc biệt là các xu hướng chính trị quốc tế nhằm góp phần giải quyết những vấn đề về quốc gia và quan hệ quốc tế, như quá trình hợp tác - cạnh tranh - xung đột giữa các quốc gia - dân tộc; hiểu được cơ chế vận hành của các tổ chức quốc tế, bản chất của các công ty, tập đoàn xuyên quốc gia, các phong trào mang tính toàn cầu,…để từ đó các chủ thể (nhất là các quốc gia-dân tộc) có những đối sách phù hợp
và hiệu quả
1.4.2 Nhiệm vụ của chính trị học
- Trang bị cho công dân cơ sở khoa học để họ có căn cứ đạt tầm nhìn phân tích về
sự kiện chính trị, xây dựng thái độ động cơ đúng đắn phù hợp với khả năng trong sự phát triển chung mà mỗi công dân tham gia như một chủ thể;
- Góp phần hình thành cơ sở khoa học cho các chương trình chính trị, cho việc hoạch định chiến lược với những mục tiêu đối nội, đối ngoại cùng các phương pháp, phương tiện hoặc thủ thuật chính trị nhằm đạt mục tiêu chính trị đã đề ra;
- Phân tích các thể chế chính trị và mối quan hệ, tác động qua lại giữa chúng để xây dựng học thuyết chính trị làm rõ sự khác nhau, bài học kinh nghiệm và sự phát triển của nền dân chủ
1.5 Mối quan hệ giữa chính trị học với một số ngành luật học
Khoa học chính trị có liên quan mật thiết với luật học và nhiều ngành khoa học xã hội và nhân văn Do đó, việc làm sáng tỏ mối quan hệ giữa chính trị học với một số ngành luật học là cần thiết
1.5.1 Chính trị học với Luật Hiến pháp
Trang 3434
Luật hiến pháp là một ngành luật liên quan tới vai trò, quyền lực của các định chế chính trị ở khía cạnh pháp lý (như: nhà nước và mối quan hệ giữa công dân với nhà nước)23 Là một tập hợp các nguyên tắc và quy tắc cao nhất trong sinh hoạt chính trị, pháp lý của một cộng đồng chính trị; về bản chất, hiến pháp là bản khế ước của nhân dân tạo lập nên cộng đồng chính trị của mình Trong khoa học luật hiến pháp, thuật ngữ “hiến pháp” cũng có khi được đề cập đến với các nghĩa khác nhau, như: là bản văn hiến pháp, ngành luật hiến pháp (chủ yếu ở những nước có hiến pháp không thành văn) cũng có thể
là chủ nghĩa lập hiến (constitutionalism)
Ở Việt Nam hiến pháp là một văn kiện chính trị- pháp lý đặc biệt quan trọng khẳng định thể chế chính trị, các nguyên tắc cơ bản về tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước, các quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Là đạo luật cơ bản, luật gốc của nhà nước, hiến pháp có hiệu lực pháp lý cao nhất trong hệ thống pháp luật Vì vậy, hiến pháp (hay bản văn hiến pháp) là sự quan tâm của cả khoa học chính trị và khoa học luật hiến pháp Các nhà chính trị học và các luật gia đều quan niệm tính chính đáng hay tính hợp pháp (legitimacy) là yếu tố trung tâm của mối quan hệ giữa chính quyền và dân chúng24 Song, bản văn hiến pháp chỉ là một bộ phận hay là một nguồn của luật hiến pháp, cũng không bao quát được hoàn toàn bộ môn khoa học chính trị mà nó chỉ đề cập đến các định chế chính trị cơ bản, phương thức tác động của quyền lực nhà nước tới xã hội (và chế độ chính trị trong hiến pháp xã hội chủ nghĩa) nằm trong phạm vi nghiên cứu của khoa học chính trị Đồng thời, một nội dung quan trọng của khoa học chính trị là nghiên cứu “văn hóa chính trị” với ý nghĩa là điểm khởi đầu phạm vi tác động xã hội của chính trị, hình thành thái độ của nhân dân đối với chính quyền nhưng phụ thuộc vào sự hiểu biết về chính trị học và luật hiến pháp
Do vậy, từ giữa thế kỷ XX, ở Pháp đã xuất hiện khuynh hướng tách chính trị học khỏi bộ môn luật hiến pháp để trở thành một bộ môn riêng biệt25; còn ở các nước thuộc
hệ thống Anh- Mỹ, chính trị học trở thành một bộ môn độc lập rất được chú trọng Là hai
bộ môn độc lập nhưng luật hiến pháp và chính trị học có chung một đối tượng nghiên cứu
23 Hilaire Barnett, Constitutional and Administrative Law, Lawman (India) Private Limited, Cavendish Publishing Limited, p
1
24 Joseph L Klesner, Comparative Politics - An Introduction, McGraw- Hill Education, USA, 2014, p.65
25 Lê Đình Chân, Luật hiến pháp- khuôn mẫu dân chủ, Tủ sách đại học, Sài Gòn, 1975, tr.28
Trang 3535
là quyền lực nhà nước Theo quan niệm của chủ nghĩa Mác, chính quyền là vấn đề cơ bản nhất của mọi cuộc cách mạng Vì vậy, chính quyền hay quyền lực nhà nước giữ vị trí trung tâm của khoa học chính trị (với tính cách là một bộ môn nghiên cứu các điều kiện của sinh hoạt chính trị) Do mục tiêu tối thượng của các hoạt động chính trị là giành - giữ
- sử dụng chính quyền, nên các học giả chính trị tư sản cũng nhấn mạnh: “Quyền lực là vấn đề căn bản của chính trị Nó là một trong những toà nhà của khoa học chính trị- ở giữa chúng ta như khái niệm tiền tệ trong kinh tế học” 26 Mối quan hệ khăng khít giữa chính trị học với luật hiến pháp đòi hỏi việc nghiên cứu luật hiến pháp phải song hành với tìm hiểu chính trị học; và ngược lại, để các vấn đề chính trị được xã hội nhận thức cũng đòi hỏi luật hiến pháp được thấm nhuần vào xã hội
1.5.2 Chính trị học với Lý luận chung về nhà nước và pháp luật
Chính trị học và Lý luận chung về nhà nước và pháp luật là hai ngành khoa học có quan hệ đặc biệt gắn bó Lý luận chung về nhà nước và pháp luật là khoa học nghiên cứu các vấn đề lý luận cơ bản về nhà nước và luật pháp, như nguồn gốc, bản chất, chức nãng của nhà nước, những đặc trưng cơ bản của các hình thức nhà nước; đặc điểm, vai trò của pháp luật Nếu nhà nước là đối tượng nghiên cứu của Chính trị học từ giác độ chủ thể quan trọng của chính trị, thì Lý luận chung về nhà nước và pháp luật cũng nghiên cứu nhà nước với tư cách là một chủ thể cơ bản trong xã hội có giai cấp với công cụ quản lý chủ yếu bằng pháp luật Do vậy, Chính trị học và Lý luận chung về nhà nước và pháp luật
có mối quan hệ đan xen chặt chẽ và bổ sung cho nhau
Câu hỏi ôn tập
1 Chính trị là gì? Phân tích làm rõ quan hệ giữa chính trị và chính trị học?
2 Khái niệm, đặc điểm và đối tượng nghiên cứu của chính trị học?
3 Tại sao nói: chính trị học là khoa học về quyền lực?
4 Ý nghĩa của mối quan hệ giữa chính trị và luật pháp?
5 Nêu và phân tích các cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu chính trị học
26 Rod Hague, Martin Harrop and Shaun Breslin, Political Science- A Comparative Introduction, St Martin’s Press- New
york, 1993, p 8
Trang 361
Chương 2 KHÁI LƯỢC LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ Nội dung chính của Chương
2.1 Tư tưởng chính trị phương Đông
2.2 Tư tưởng chính trị phương Tây
-
Tư tưởng chính trị (political thought) là những quan niệm của các giai cấp, các nhóm xã hội về thực tiễn chính trị, xoay quanh trục cơ bản nhất là vấn đề quyền lực, bao gồm việc giành - giữ - tổ chức và sử dụng quyền lực nhà nước Tư tưởng chính trị xuất hiện cùng với sự ra đời, phát triển của hiện thực chính trị của các quốc gia, khu vực Với khách thể là toàn bộ đời sống chính trị, trực tiếp các tư tưởng nảy sinh trong thực tiễn; tư tưởng và quan điểm trị nước luôn là một vấn đề quan trọng trong lịch sử của nhân loại
Trên cơ sở tập trung trình bày những nội dung tư tưởng chính trị cơ bản trong kho tàng tư tưởng chính trị của nhân loại, bao gồm tư tưởng chính trị phương Đông, tư tưởng chính trị Việt Nam tư tưởng chính trị phương Tây; chương này cung cấp những nội dung
cơ bản về lịch sử tư tưởng chính trị trong tiến trình phát triển tư duy chính trị của nhân loại nhằm hình thành những tri thức và kỹ năng nghiên cứu tư tưởng chính trị
1.1 Tư tưởng chính trị phương Đông
Ở khu vực phương Đông, nhà nước xuất hiện rất sớm trong khi sự phân hóa giai cấp chưa chín muồi Là khởi đầu của văn minh nhân loại, từ thời cổ đại người phương Đông đã sớm nhận thức được sức mạnh cộng đồng trong nhu cầu trị thủy, chống giặc ngoại xâm và ý thức đó đã thức đẩy nhanh chóng quá trình tạo dựng nhà nước1 Đặc điểm
xã hội là công hữu về ruộng đất chiếm ưu thế, tàn dư công xã kéo dài, nền kinh tế xã hội diễn ra với sự cống nạp từ bên dưới và phân phối từ bên trên Mâu thuẫn cơ bản trong xã hội chiếm hữu nô lệ là mâu thuẫn giữa chủ nô và nô lệ dẫn tới cuộc đấu tranh giai cấp quyết liệt Khi nhà nước hình thành, các nhà tư tưởng chính trị phương Đông cũng luôn tìm kiếm phương thức quản lý xã hội có hiệu quả, hàm chứa những giá trị và ý nghĩa sâu sắc trong lịch sử tư tưởng nhân loại
1 Sự ra đời của nhà nước trước hết do yêu cầu thống nhất, quản lý trị thủy và thủy lợi, do những công việc này cần có sự tham gia của chính quyền nhà nước tập trung
Trang 372
2.1.1 Tư tưởng chính trị Ấn Độ
2.1.1.1 Khái quát lịch sử, kinh tế - xã hội - văn hóa - tư tưởng Ấn Độ cổ đại
a/ Trong suốt chiều dài lịch sử Ấn Độ là một quốc gia lớn ở châu Á, là cái nôi của nền văn minh nhân loại Từ rất xa xưa đất nước Ấn Độ đã là nơi con người cư trú, với 2 chủng tộc chính, là: người Dravida (da sẫm- thấp hèn, bản địa, văn minh nông nghiệp):
cư trú sớm nhất, chủ yếu ở phía Nam và người Aryan- (da trắng - người cao quý - ngoại lai, văn minh du mục): chủ yếu cư trú ở phía Bắc Ngoài ra còn có người Hy Lạp, Hung
nô, Arập…Lịch sử phát triển văn hóa Ấn Độ cổ đại được chia làm 3 thời kỳ:
- Thời kỳ Văn minh sông Ấn (thung lũng Ấn hà, từ giữa TNK III- đầu TNK II tr.CN), còn gọi là nền Văn hóa Harappa, khởi đầu cho nền văn minh Ấn Độ
Trên cơ sở điều kiện và tiền đề đó, triết học Ấn Độ cổ đại đã hình thành, phát triển
và trải qua hai thời kỳ:
- Thời kỳ văn minh Veda - Sử thi (từ giữa TNK II- TK VII tr.CN) thời kỳ này lịch
sử Ấn Độ được phản ánh trong tập Veda2 Đây là thời kỳ xuất hiện các quốc gia chiếm hữu nô lệ đầu tiên của người Aryan trên lưu vực sông Hằng Ở Ấn Độ xuất hiện hai vấn
đề có ảnh hưởng rất quan trọng và lâu dài trong xã hội là: chế độ đẳng cấp varna (màu sắc, chủng tính) và đạo Bàlamôn Cùng với việc hình thành các quốc gia chiếm hữu nô
lệ, chế độ phân biệt đẳng cấp xã hội hà khắc và những nghi lễ tôn giáo nên người Ấn Độ
đã chế tác ra bộ hình điển Brahman để chú thích và thuyết minh cho các nghi thức của Veda Tư tưởng Ấn Độ được thể hiện trong kinh Veda, Upanishad, Sử thi cổ Ấn Độ Ramayana và Mahabharata, trong đó thế giới quan thần thoại tôn giáo mang tính chất đa thần tự nhiên chiếm địa vị thống trị Tiếp theo là sự biến chuyển từ thế giới quan đa thần sang nhất thần và cuố i cu ̀ ng hòa trộn với nó là thuyết nhất nguyên với quan niệm về
“Tinh thần vũ trụ tối cao” là bản thể của thế giới - đánh dấu bước chuyển từ tư duy thần thọai tôn giáo sang tư duy triết học
- Thời kỳ hình thành các quốc gia Ấn Độ còn gọi là thời kỳ cổ điển hay thời kỳ
Phật giáo - Bàlamôn giáo (TK VI tr.CN -III s.CN): đất nước Ấn Độ trải qua hàng loạt
những biến động lớn lao trong đời sống xã hội (về kinh tế, chính trị, xã hội, tư tưởng)
2 Đặc điểm của Kinh Veda là hướng con người đến tư tưởng cao cả, văn phong đẹp đẽ và bước chuyển những nghi thức từ
bên ngoài vào kinh nghiệm nội tại
Trang 383
Miền Bắc Ấn Độ xuất hiện nhiều quốc gia theo chính thể đế chế hoặc cộng hòa nhỏ, độc lập hoặc phụ thuộc Qua thăng trầm của lịch sử và đặc biệt là sau khi đánh bại quân đội
của Alechxăng Maxêđoan (321 tr.CN) Ấn Độ hình thành đế quốc Maurya ở vương triều
Chandragupta hùng mạnh đã trở nên là một quốc gia thống nhất và rộng lớn Tri thức khoa học phát triển mạnh, hình thành các trường phái triết học -chính trị - tôn giáo lớn Trên bình diện tư tưởng, cuộc đấu tranh giữa các ý thức hệ cũng diễn ra quyết liệt Đây
cũng là thời kỳ hình thành các trường phái triết học lớn như: Sànkhya, Vais’esika, Nyàya, Yoga, Mimàmsà và Vedanta, gọi là các darsanas hay hệ thống triết học chính thống (as’tika) và các môn phái Jaina, Lokàyata và Phật giáo (hệ thống triết học không chính thống -nas’tika), đi sâu lý giải về thế giới và nhân sinh hệ thống chặt chẽ hơn Một số tôn giáo khác đã phát triển trong truyền thống tăng lữ, trở thành thời kỳ hoàng kim của cổ điển của Ấn Độ giáo
Trên cơ sở của lịch sử phát triển lâu dài, khoa học và văn hóa Ấn Độ đã hình thành
và phát triển từ rất sớm và đạt nhiều thành tựu rực rỡ về thiên văn, toán học, y học, văn
học, Nét nổi bật của văn hóa Ấn Độ cổ - trung đại là thường mang dấu ấn sâu đậm về tín ngưỡng, tôn giáo, tâm linh và các yếu tố thần bí
b/ Đặc điểm kinh tế - xã hội của Ấn Độ cổ đại:
- Sự tồn tại rất sớm và kéo dài của kết cấu kinh tế- xã hội theo mô hình công xã
nông thôn với chế độ quốc hữu hóa về ruộng đất Xã hội Ấn Độ là xã hội nô lệ mang
nặng tính chất gia trưởng, lại bị kìm hãm bởi chế độ công xã nông thôn tồn tại lâu dài và kiên cố, vững chắc dựa trên mối liên hệ có tính chất gia trưởng kéo dài với nền kinh tế nông nghiệp và thủ công nghiệp có tính tự túc, tự cấp (kinh tế tự nhiên) Ở đó, chỉ tồn tại một hình thức sản xuất mang tính cộng đồng, trong đó nông dân trong các công xã là lực lượng sản xuất chủ yếu Vì vậy, đời sống xã hội phát triển khá trì trệ và chậm chạp
- Chế độ phân biệt đẳng cấp dựa trên sự thống trị của tôn giáo hết sức chặt chẽ Xã hội Ấn Độ cổ đại bị đè nặng bởi nỗi khổ do quan hệ bất công và sự bóc lột hà khắc của chủ nô đối với nô lệ và tính chặt chẽ nghiêm ngặt của đẳng cấp Và đó là “chướng ngại
cơ bản trên con đường tiến bộ và hùng cường của Ấn Độ” (C.Mác) Ở Ấn Độ cổ đại, chế
độ nô lệ mặc dù chưa phát triển thuần thục (điển hình) như các nước phương Tây, nhưng
Trang 394
do sự bóc lột có tính chất gia trưởng của chủ nô đối với nô lệ và sự trì trệ, bảo thủ, chật hẹp của chế độ công xã nông thôn, nên nó cũng tàn bạo và hà khắc, dã man không kém bất cứ chế độ chiếm hữu nô lệ nào trong lịch sử và nó cũng tạo ra một kiểu dáng phương Đông đặc thù là chế độ nô lệ Ấn Độ cổ đại Sự hình thành chế độ đẳng cấp cùng với chiến tranh giữa các vương quốc đã dẫn đến việc xác lập và củng cố chế độ quân chủ khắc nghiệt trên bán đảo Ấn Độ (một số nước khác như Ai Cập, Lưỡng hà cổ đại tuy cũng có chế độ đẳng cấp nhưng không điển hình bằng ở Ấn Độ)
c/ Nét đặc thù của tư tưởng chính trị:
- Tư tưởng chính trị Ấn Độ xuất hiện sớm với nhiều trường phái đa dạng phong
phú, vừa đấu tranh bài xích nhau quyết liệt vừa chịu ảnh hưởng của nhau, tiêu biểu là
Bàlamon, Arthsaxtra, Phật giáo…Đặc biệt, đạo Bàlamon và đạo Phật phát sinh từ Ấn Độ
đã trở thành cơ sở cho nhiều lý thuyết tư tưởng tôn giáo, tư tưởng chính trị của nhiều dân tộc phương Đông cũng như trên thế giới Chế độ chiếm hữu nô lệ mang nặng tính chất của chế độ phân biệt đẳng cấp xã hội khắc nghiệt Các tư tưởng Ấn Độ cổ đại đã hình thành và phát triển vừa mang tính đa dạng vừa mang tính thống nhất
- Tư tưởng chính trị Ấn Độ được nảy sinh trên cơ sở những điều kiện kinh tế-xã hội
của Ấn Độ cổ- trung đại Nó vừa bị qui định vừa góp phần củng cố duy trì những điều kiện đó Xã hội Ấn Độ cổ đại tồn tại bởi những công xã nông thôn chật hẹp với sự trói
buộc hà khắc của chế độ nô lệ cùng với chế độ phân biệt đẳng cấp hết sức khắc nghiệt Tính chất đặc biệt ấy ảnh hưởng sâu sắc đến nội dung và tính chất của các quan điểm tư tưởng chính trị Đến lượt nó, sự ra đời của các tư tưởng chính trị Ấn Độ cổ đại nhằm chủ yếu bảo vệ chế độ có tính chất đặc biệt ấy, mà điểm quan trọng là cuộc đấu tranh xung quanh việc thừa nhận và khẳng định hệ thống phân chia đẳng cấp varna, bảo vệ chế độ Bàlamôn; khát vọng giải phóng, yêu cuộc sống, yêu hòa bình
- Tư tưởng chính trị chịu ảnh hưởng của tôn giáo: Ấn Độ là nơi tôn giáo xuất hiện
sớm nhất trên Trái đất này, đồng thời là một trong những nơi có nhiều tôn giáo nhất3 Trong khi đạo Bàlamôn được sùng bái từ TK X tr.CN thì hình như trên thế giới chưa có
3 Ấn Độ cũng là nơi khởi nguồn của 4 tôn giáo lớn trên thế giới bao gồm:Ấn Độ giáo, Phật giáo, Jaina giáo và Sikh giáo
Trang 405
nơi nào có bóng dáng của tôn giáo Tôn giáo là hơi thở của người Ấn Độ, vì vậy ở Ấn Độ
không những triết học mà cả những tư tưởng chính trị cũng chịu ảnh hưởng của tôn giáo Các tư tưởng, học thuyết chính trị và quan hệ giai cấp chìm đắm trong tôn giáo, thần thọai Tôn giáo mang tính chính trị, đè nặng áp bức lên đời sống tinh thần và chi phối toàn bộ các quan hệ xã hội Lịch sử nhà nước Ấn Độ gắn liền với những tư tưởng chính trị tôn giáo truyền thống- những thứ đã chi phối một cách mạnh mẽ đời sống kinh tế- xã hội của Ấn Độ, nhất là tư tưởng về đẳng cấp xã hội, tư tưởng chính trị trong giáo lý Bàlamôn, Phật giáo và luận thuyết Arthasaxtra
2.1.1.2 Một số dòng tư tưởng chính trị chủ yếu
a/ Đạo Bàlamôn
Hình thành nửa đầu thiên niên kỷ thứ I tr.CN (thời kỳ Veda), coi thế giới linh hồn
- Brahma sáng tạo ra các thần linh, vũ trụ, con người và cả muôn loài động thực vật
Brahma ban cho mỗi loài một số kiếp (dharma) theo một trật tự vĩnh hằng Lúc này, ở Ấn
Độ xuất hiện một chế độ xã hội đặc biệt là chế độ varna (chủng tính, đẳng cấp), dựa trên
sự phân biệt về chủng tộc, dòng họ, nghề nghiệp và tôn giáo Tư tưởng phân chia đẳng cấp được sử dụng để biện minh cho một thực tế lịch sử sản phẩm của chế độ chiếm hữu
nô lệ là sự bất bình đẳng về quyền và nghĩa vụ theo vị trí xã hội của các nhóm cư dân tự
do, được gọi là các varna trong Kinh Veđa (xuất hiện vào khoảng TNK II tr.CN), người
Ấn Độ đã tin vào sự tồn tại 4 loại varna: Brahman (Bàlamon), Ksatria, Vaisia, Sudra; việc varna bậc thấp tuân thủ ý chí của varna bậc cao là điều hiển nhiên Căn cứ để phân chia là mức độ tài sản (nhiều ít), chức vụ và vai trò xã hội, chủng tộc
Quyền lực nhà nước, vua chúa và tầng lớp giáo sỹ Brahman được khẳng định qua nội dung “Các luật Manu” (tuyển tập tập quán pháp của người Ấn Độ, lấy tên của vị thân sáng tạo ra con người là Manu-tên đầu của “Manavadharmasastra” Chế độ chính trị đẳng cấp trong luật Manu có những đặc trưng sau:
- Nó xác lập ách áp bức bóc lột nặng nề của giai cấp thống trị trên cơ sở một trật
tự xã hội phân biệt đẳng cấp nghiệt ngã Luật Manu liệt kê chi tiết các bổn phận dành
cho 4 giai cấp truyền thống: Balamon, Kshatrya, Vaishya, Shudra Theo đó, cả 3 varna
đầu tiên đều là dân Arya, là những người được coi là sinh 2 lần (một lần là mẹ sinh ra,