Từ những đặc trưng trên của tài chính doanh nghiệp, chúng ta có thể rút ra kết luận về khái niệm tài chính doanh nghiệp như sau: “Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các luồng chuyển dịch
Trang 1CHƯƠNG 1.
TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP VÀ KỸ THUẬT CHIẾT KHẤU DÒNG TIỀN
1.1 Khái niệm và chức năng, vai trò, nhiệm vụ của quản trị tài chính doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm quản trị tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp là một khâu trong hệ thống tài chính của nền kinh tế thịtrường, là một phạm trù kinh tế khách quan gắn liền với sự ra đời của nền kinh tế hànghóa-tiền tệ, tính chất và mức độ phát triển của tài chính doanh nghiệp cũng phụ thuộc vàotính chất và nhịp độ phát triển của nền kinh tế hàng hóa
Trong nền kinh tế thị trường, tài chính doanh nghiệp được đặc trưng bằng nhữngnội dung chủ yếu sau đây:
Một là, tài chính doanh nghiệp phản ánh những luồng chuyển dịch giá trị trong
nền kinh tế Luồng chuyển dịch đó chính là sự vận động của các nguồn tài chính gắn liềnvới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Đó là sự vận động của các nguồntài chính được diễn ra trong nội bộ doanh nghiệp để tiến hành quá trình sản xuất kinhdoanh và được diễn ra giữa doanh nghiệp với ngân sách nhà nước thông qua việc nộpthuế cho Nhà nước hoặc tài trợ tài chính; giữa doanh nghiệp với thị trường: thị trườnghàng hoá-dịch vụ, thị trường sức lao động, thị trường tài chính trong việc cung ứng cácyếu tố sản xuất (đầu vào) cũng như bán hàng hoá, dịch vụ (đầu ra) của quá trình sản xuấtkinh doanh
Hai là, sự vận động của các nguồn tài chính doanh nghiệp không phải diễn ra một
cách hỗn loạn mà nó được hoà nhập vào chu trình kinh tế của nền kinh tế thị trường Đó
là sự vận động chuyển hoá từ các nguồn tài chính hình thành nên các quỹ, hoặc vốn kinhdoanh của doanh nghiệp và ngược lại Sự chuyển hoá qua lại đó được điều chỉnh bằngcác quan hệ phân phối dưới hình thức giá trị nhằm tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ phục
vụ cho các mục tiêu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Từ những đặc trưng trên của tài chính doanh nghiệp, chúng ta có thể rút ra kết luận
về khái niệm tài chính doanh nghiệp như sau:
“Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các luồng chuyển dịch giá trị phán ánh sự vận động và chuyển hóa các nguồn tài chính trong quá trình phân phối để tạo lập hoặc
sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đạt tới các mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp.”
Định nghĩa quản trị tài chính doanh nghiệp
Trang 2Quản trị tài chính doanh nghiệp là việc lựa chọn và đưa ra các quyết định tàichính, tổ chức thực hiện các quyết định đó nhằm đạt được mục tiêu hoạt động tài chínhcủa doanh nghiệp, đó là tối đa hoá giá trị cho chủ doanh nghiệp hay là tối đa hóa lợinhuận, không ngừng làm tăng giá trị doanh nghiệp và khả năng cạnh tranh của doanhnghiệp trên thị trường
Quản trị tài chính là một trong các chức năng cơ bản của quản trị doanh nghiệp.Chức năng quản trị tài chính có mối liên hệ mật thiết với các chức năng khác trong doanhnghiệp như: chức năng quản trị sản xuất, chức năng quản trị marketing, chức năng quảntrị nguồn nhân lực
Quản trị tài chính doanh nghiệp bao gồm các hoạt động liên quan đến đầu tư, tàitrợ và quản trị tài sản theo mục tiêu chung của công ty Vì vậy, chức năng quyết định củaquản trị tài chính có thể chia thành ba nhóm: quyết định đầu tư, tài trợ và quản trị tài sản,trong đó quyết định đầu tư là quyết định quan trọng nhất trong ba quyết định căn bản theomục tiêu tạo giá trị cho các cổ đông
Như vậy, “Quản trị tài chính doanh nghiệp là các hoạt động nhằm phối trí các dòng tiền tệ trong doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp Quản trị tài chính bao gồm các hoạt động làm cho luồng tiền tệ của công ty phù hợp trực tiếp với các
kế hoạch.”
1.1.2 Các quyết định của nhà quản trị tài chính.
Quản trị tài chính bao gồm các hoạt động liên quan đến đầu tư, tài trợ và quản trị
tài sản theo mục tiêu chung của công ty Vì vậy, chức năng quyết định của quản trị tài
chính có thể chia thành ba nhóm: quyết định đầu tư, tài trợ và quản trị tài sản
Quyết định đầu tư
Quyết định đầu tư là quyết định quan trọng nhất trong ba quyết định căn bản củaquản trị tài chính Nhà quản trị tài chính cần xác định nên dành bao nhiêu cho tiền mặt,khoản phải thu và bao nhiêu cho tồn kho, bởi mỗi tài sản có đặc trưng riêng, có tốc độchuyển hoá thành tiền và khả năng sinh lợi riêng Do vậy, để duy trì một cơ cấu tài sảnhợp lý, các nhà quản trị tài chính không chỉ ra các quyết định đầu tư mà còn ra các quyếtđịnh cắt giảm, loại bỏ hay thay thế đối với các tài sản không còn giá trị kinh tế Các quyếtđịnh này tác động trực tiếp lên khả năng sinh lợi và rủi ro của doanh nghiệp
Tóm lại, để thực hiện mục tiêu làm tăng giá trị của công ty, các nhà quản trị tàichính phải ra các quyết định nhằm xác định quy mô tăng trưởng của công ty và đảm bảomột cơ cấu tài sản thích hợp bằng các hoạt động đầu tư, cắt giảm Các quyết định này tácđộng trực tiếp lên khả năng sinh lợi và rủi ro của doanh nghiệp
Trang 3Quyết định tài trợ
Để tài trợ cho tài sản, các nhà quản trị tài chính phải tìm kiếm các nguồn vốn thíchhợp thông qua các quyết định tài trợ Các nguồn vốn để tài trợ cho tài sản bao gồm cáckhoản nợ ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, vốn chủ Họ có thể nghiên cứu xem còn hìnhthức tài trợ nào khác không? Một tổ hợp tài trợ nào được xem là tối ưu?
Cần lưu ý rằng chính sách cổ tức là một phần trong quyết định tài trợ của công ty
Tỷ lệ trả cổ tức xác định mức thu nhập được giữ lại trong công ty Giữ lại nhiều thu nhậphiện tại hơn có nghĩa là số tiền được sử dụng để trả cổ tức sẽ ít hơn Do đó, giá trị cổ tứctrả cho các cổ đông phải được cân đối với chi phí cơ hội của thu nhập giữ lại vì thu nhậpgiữ lại được sử dụng như là một phương thức tài trợ vốn chủ, nó có thể đem lại thu nhậpcao hơn cho cổ đông nếu được giữ lại thay vì trả cổ tức
Ngoài ra, khi đã quyết định về tổ hợp tài trợ, nhà quản trị tài chính còn phải xácđịnh phương án tốt nhất để thu hút nguồn vốn cần thiết Hơn nữa, họ cũng cần phải hiểuđược các cơ chế để nhận được các khoản vay ngắn hạn, ký kết các hợp đồng vay dài hạnhay thương lượng để bán cổ phiếu, trái phiếu
Quyết định quản trị tài sản
Quyết định thứ ba đối với nhà quản trị tài chính là quyết định quản trị tài sản Mộtkhi đã mua tài sản và đã có các nguồn tài trợ phù hợp thì các tài sản này còn phải đượcquản lý một cách hiệu quả Các tài sản khác nhau sẽ yêu cầu cách thức vận hành khácnhau Do vậy, nhà quản trị tài chính sẽ quan tâm nhiều hơn đến việc quản trị các tài sảnlưu động so với tài sản cố định trong khi phần lớn trách nhiệm quản lý tài sản cố địnhthuộc về các nhà quản trị sản xuất, những người vận hành trực tiếp tài sản cố định
1.1.3 Vai trò của quản trị tài chính doanh nghiệp
Quản trị tài chính là sự tác động của nhà quản trị đến các hoạt động tài chính trongdoanh nghiệp Trong các quyết định của doanh nghiệp, vấn đề cần được nhà quản trị tàichính quan tâm giải quyết không chỉ là lợi ích của cổ đông và nhà quản lý mà còn cả lợiích của nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp và Chính phủ Đó là nhóm người có nhu cầutiềm năng về các dòng tiền của doanh nghiệp Do vậy, nhà quản trị tài chính, mặc dù cótrách nhiệm nặng nề về hoạt động nội bộ của doanh nghiệp vẫn phải lưu ý đến sự nhìnnhận, đánh giá của người ngoài doanh nghiệp như cổ đông, chủ nợ, khách hàng, Nhànước…
Quản trị tài chính là một hoạt động có mối liên hệ chặt chẽ với các hoạt động kháccủa doanh nghiệp Quản trị tài chính tốt có thể khắc phục những khiếm khuyết trong cáclĩnh vực khác Một quyết định tài chính không được cân nhắc, hoạch định kĩ lưỡng có thể
Trang 4gây nên những tổn thất lớn cho doanh nghiệp và cho nền kinh tế Hơn nữa, do doanhnghiệp hoạt động trong một môi trường nhất định nên các doanh nghiệp hoạt động cóhiệu quả sẽ góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển Bởi vậy, quản trị tài chính doanhnghiệp tốt có vai trò quan trọng đối với việc nâng cao hiệu quả quản lý tài chính quốc gia.
Quản trị tài chính luôn giữ một vai trò trọng yếu trong hoạt động quản lý doanhnghiệp Quản trị tài chính quyết định tính độc lập, sự thành bại của doanh nghiệp trongquá trình kinh doanh Trong hoạt động kinh doanh hiện nay, quản trị tài chính doanhnghiệp giữ những vai trò chủ yếu sau:
- Huy động đảm bảo đầy đủ và kịp thời vốn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp: Trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp thường nảy sinh các nhu cầu vốn
ngắn hạn và dài hạn cho hoạt động kinh doanh thường xuyên của doanh nghiệp cũng nhưcho đầu tư phát triển Vai trò của tài chính doanh nghiệp trước hết thể hiện ở chỗ xácđịnh đúng đắn các nhu cầu về vốn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong thời
kỳ và tiếp đó phải lựa chọn các phương pháp và hình thức thích hợp huy động nguồn vốn
từ bên trong và bên ngoài đáp ứng kịp thời các nhu cầu vốn cho hoạt động của doanhnghiệp Ngày nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế đã nảy sinh nhiều hình thức mớicho phép các doanh nghiệp huy động vốn từ bên ngoài Do vậy, vai trò của quản trị tàichính doanh nghiệp ngày càng quan trọng hơn trong việc chủ động lựa chọn các hìnhthức và phương pháp huy động vốn đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động nhịp nhàng vàliên tục với chi phí huy động vốn ở mức thấp
- Tổ chức sử dụng vốn tiết kiệm và hiệu quả: Quản trị tài chính doanh nghiệp đóng
vai trò quan trọng trong việc đánh giá và lựa chọn dự án đầu tư trên cơ sở phân tích khảnăng sinh lời và mức độ rủi ro của dự án từ đó góp phần chọn ra dự án đầu tư tối ưu Hiệuquả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào việc tổ chức sử dụngvốn Việc huy động kịp thời các nguồn vốn có ý nghĩa rất quan trọng để doanh nghiệp cóthể nắm bắt được các cơ hội kinh doanh Việc hình thành và sử dụng tốt các quỹ củadoanh nghiệp, cùng với việc sử dụng các hình thức thưởng, phạt vật chất hợp lý sẽ gópphần quan trọng thúc đẩy cán bộ công nhân viên gắn liền với doanh nghiệp từ đó nângcao năng suất lao động, góp phần cải tiến sản xuất kinh doanh nâng cao hiệu quả sử dụngtiền vốn
- Giám sát, kiểm tra chặt chẽ các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp: Thông qua các tình hình tài chính và việc thực hiện các chỉ tiêu tài chính, các nhà
quản lý doanh nghiệp có thể đánh giá khái quát và kiểm soát được các mặt hoạt động củadoanh nghiệp, phát hiện được kịp thời những tồn tại vướng mắc trong kinh doanh, từ đó
Trang 5có thể đưa ra các quyết định điều chỉnh các hoạt động phù hợp với diễn biến thực tế kinhdoanh.
1.1.4 Nhiệm vụ của quản trị tài chính
Mặc dù người ta có thể gán cho quản trị tài chính nhiều mục tiêu nhưng trong cuấnsách này chúng tôi muốn nhấn mạnh mục tiêu của quản trị tài chính là tối đa hóa giá trịcho những người chủ hiện tại của công ty
Với mỗi cổ đông hay người chủ của doanh nghiệp, giá trị này thể hiện trong giátrị của tổng số cổ phần mà họ nắm giữ Một cách logic, giá trị của mỗi cổ phần bằng giátrị thị trường của doanh nghiệp sau khi trừ đi các khoản nợ chia cho tổng số cổ phiếu hiệnhữu của công ty
Trên thực tế, giá trị thị trường của cổ phiếu thường phản ánh sự đánh giá của thịtrường về các quyết định đầu tư, tài trợ và quản trị tài sản của công ty Còn giá trị chongười chủ là tổng số giá trị thị trường của các cổ phiếu họ đang nắm giữ Ý tưởng cơ bản
ở đây là cần phải đánh giá sự thành công của một quyết định kinh doanh thông qua ảnhhưởng của nó lên giá trị thị trường của cổ phiếu
Mục tiêu tạo giá trị
Mục tiêu cơ bản được thừa nhận ở hầu hết các công ty là tối đa hóa giá trị cho các
cổ đông Tất nhiên mục tiêu này sẽ đem lại lợi ích cho cổ đông và đảm bảo phân bố hiệuquả các nguồn lực khan hiếm theo cách thức đem lại lợi ích cho nền kinh tế
Giá trị của cổ đông được tăng tối đa bằng cách tăng tối đa khoản chênh lệch giữagiá trị thị trường của toàn bộ cổ phiếu và lượng vốn chủ do cổ đông cung cấp Khoảnchênh lệch này chính là giá trị thị trường tăng thêm (Market Value Added - MVA):
MVA = Giá trị thị trường của cổ phiếu - Vốn chủ do cổ đông cung cấp
= (Số cổ phiếu lưu hành) ×(Giá thị trường) - Tổng vốn cổ phần thường
Cũng có những ý kiến tranh cãi về việc chọn giá trị cho cổ đông làm mục tiêu củaquản trị tài chính Song, nếu suy cho cùng thì đây là mục tiêu phản ánh tổng hợp nhấtmong muốn của chủ - nhóm hữu quan quan trọng nhất của doanh nghiệp
Hơn nữa, mục tiêu tăng giá trị cho cổ đông hay chủ doanh nghiệp chỉ có thể đạtđược khi nó thỏa mãn chặt chẽ các yêu cầu nghiêm khắc của thị trường Chúng ta thửduyệt lại hàng loạt các chỉ tiêu hiệu quả để xem xét khả năng đại diện của nó cho nhữngmong muốn của cổ đông hay không
Thông thường, mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận là mục tiêu hợp lý được liên tục nhắcđến trong các công ty Tuy nhiên, với mục tiêu này, nhà quản trị có thể tiếp tục làm tănglợi nhuận bằng cách phát hành ít cổ phiếu và sử dụng lợi nhuận để đầu tư vào chứng
Trang 6khoán ngắn hạn Hơn nữa, chỉ tiêu này cũng không nói lên được doanh nghiệp phải bỏ ranhững gì để có được lợi nhuận cực đại Với đa phần các công ty, điều này sẽ làm giảmphần lợi nhuận của từng cổ đông – nghĩa là thu nhập trên cổ phiếu sẽ giảm Vì thế, tối đahóa thu nhập trên cổ phiếu (EPS) thường được xem là một phiên bản cải tiến của mục tiêutối đa hóa lợi nhuận Tuy nhiên, tối đa hóa lợi nhận trên cổ phiếu không phải là mục tiêuthích đáng nhất vì nó không xác định cụ thể thời điểm và độ dài thời gian của thu nhập kỳvọng.
Dự án đầu tư đem lại 100 triệu đồng thu nhập sau 5 năm nữa liệu có giá trị hơn sovới dự án đem lại 15 triệu đồng mỗi năm trong 5 năm hay không ? Câu trả lời cho câu hỏinày phụ thuộc vào giá trị thời gian của tiền tệ và phụ thuộc vào người đầu tư Chỉ có một
số ít cổ đông hiện tại muốn một dự án hứa hẹn đem lại thu nhập đầu tiên sau 100 năm nữacho dù khoản thu nhập này là lớn bao nhiêu Vì thế, phân tích của chúng ta phải tính đếncấu trúc thời gian của thu nhập
Ngoài ra, còn một thiếu sót nữa của mục tiêu tối đa hóa thu nhập trên cổ phiếu, vàcũng là thiếu sót của các công cụ đo lường thu nhập truyền thống là nó không xét đến yếu
tố rủi ro Một số dự án đầu tư rủi ro hơn nhiều so với các dự án khác nên dòng thu nhậptương lai của các cổ phiếu này sẽ rủi ro hơn nếu được thực hiện Hơn nữa, mức độ rủi rocủa một công ty phụ thuộc vào tỷ lệ nợ so với vốn chủ trong cấu trúc vốn Rủi ro tàichính này cũng đóng góp vào tổng rủi ro của người đầu tư Hai công ty có thể có cùngthu nhập kỳ vọng trên cổ phiếu nhưng nếu dòng thu nhập của công ty có xu hướng rủi rohơn dòng thu nhập của công ty kia thì giá cổ phiếu của công ty đó sẽ thấp hơn
Và cuối cùng, mục tiêu này không phản ánh ảnh hưởng của chính sách cổ tức đếngiá thị trường của cổ phiếu Bởi vì, nếu mục tiêu duy nhất là tối đa hóa thu nhập trên cổphiếu thì công ty sẽ không bao giờ trả cổ tức Họ có thể làm tăng thu nhập trên cổ phiếubằng cách giữ lại thu nhập và đầu tư lại với một tỷ suất sinh lợi tuy dương nhưng lại rấtthấp so với mong muốn của chủ
Vì những nguyên nhân trên, mục tiêu tối đa hóa thu nhập trên cổ phiếu có thểkhông trùng với mục tiêu tối đa hóa giá thị trường của cổ phiếu Giá thị trường của cổphiếu biểu diễn đánh giá chung của tất cả những người tham gia trên thị trường về giá trịcủa một công ty cụ thể Giá trị thị trường tính đến cả thu nhập hiện tại và thu nhập kỳvọng của cổ phiếu, thời gian, thời hạn và rủi ro của các dòng thu nhập, chính sách cổ tứccủa công ty cũng như các nhân tố khác liên quan đến giá thị trường của cổ phiếu Giá trịthị trường là một thước đo về hiệu quả kinh doanh, nó cho biết các nhà quản trị đang hoạtđộng hữu hiệu và hiệu quả như thế nào vì các cổ đông của họ
Trang 7Thông qua thị trường chứng khoán, các nhà quản trị liên liên tục được đánh giá.Khi các cổ đông không thỏa mãn với hiệu quả của các nhà quản lý, họ có thể bán cổ phiếu
đi và đầu tư vào một công ty khác Như thế, sự không hài lòng của các cổ đông với hànhđộng của các nhà quản trị, sẽ tạo áp lực lên giá cổ phiếu Do đó, các nhà quản trị phải tậptrung vào việc tạo ra giá trị cho các cổ đông Điều này đòi hỏi các nhà quản trị phải đánhgiá các chiến lược đầu tư, tài trợ và quản trị tài sản trên góc độ ảnh hưởng đến giá trị cổđông (giá cổ phiếu)
Các bên hữu quan
Cững đã từ lâu, người ta nhận ra rằng sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyềnkiểm soát trong các công ty hiện đại dẫn đến những mâu thuẫn tiềm ẩn giữa những ngườichủ và những người quản lý Đặc biệt là mục tiêu của các nhà quản trị có thể khác vớimục tiêu của các cổ đông Trong công ty lớn, do có quá nhiều cổ phiếu nên các cổ đôngkhông thể trình bày mục tiêu của họ, họ có ít khả năng kiểm soát và tác động đến các nhàquản trị Vì vậy, sự tách biệt giữa quền sở hữu với hoạt động quản lý tạo ra một tìnhhuống để các nhà quản trị có thể hành động vì lợi ích của họ hơn là vì lợi ích của các cổđông
Chúng ta có thể xem xét các nhà quản trị như những người đại diện cho nhữngngười chủ sở hữu Các cổ đông hy vọng rằng các đại diện sẽ hành động vì lợi ích cao nhấtcủa họ nên ủy quyền ra quyết định cho đại diện Jensen và Meckling lần đầu tiên đã xâydựng một lý thuyết đầy đủ về công ty trong các cam kết đại diện Họ đã chứng minh rằngnhững người chủ, trong tình huống này là các cổ đông, có thể tự đảm bảo rằng các đạidiện (các nhà quản trị) sẽ đưa ra các quyết định tối ưu chỉ khi nào họ có động cơ hợp lý vàkhi họ bị kiểm soát Các động cơ thúc đẩy này có thể là quyền chọn mua chứng khoán,thưởng, các đặc quyền (chẳng hạn như chi phí văn phòng và cước điện thoại) Các yếu tốnày liên quan trực tiếp đến mức độ chặt chẽ trong các quyết định của các nhà quản trị.Việc kiểm soát được thực hiện bằng cách kiểm tra các đại diện, xem xét lại một cách hệthống các đặc quyền quản lý Các hoạt động kiểm soát này chắc chắn sẽ mất nhiều chi phínhưng đây cũng là một kết quả tất yếu do sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền kiểmsoát công ty Tỷ lệ sở hữu của các nhà quản trị càng thấp thì họ sẽ càng ít hành động theohướng phù hợp với mục tiêu tối đa hóa giá trị của cổ đông và do vậy, công ty phải cần đếnnhiều cổ đông bên ngoài hơn để kiểm soát các hoạt động của họ
Trong khi đó, một số người lại cho rằng việc điều chỉnh các nhà quản trị khôngphải do những người sở hữu mà do thị trường lao động Theo lập luận của họ, các thịtrường vốn hiệu quả là nơi cung cấp các dấu hiệu về giá trị chứng khoán nên nó cũng phảnánh thành tích của các nhà quản trị Các nhà quản trị có kết quả hoạt động tốt sẽ thuận lợi
Trang 8hơn so với những nhà quản trị có kết quả làm việc kém trong việc tìm việc làm ở nơi khác.
Vì vậy, nếu thị trường lao động cạnh tranh cả bên trong và bên ngoài công ty, nó sẽ tạo ranguyên tắc cho các nhà quản trị Trong tình huống đó, dấu hiệu thay đổi về tổng giá trị thịtrường của chứng khoán công ty trở nên rất quan trọng
Trách nhiệm xã hội
Tối đa hóa giá trị cổ đông không có nghĩa là các nhà quản trị phải từ bỏ các tráchnhiệm xã hội như bảo vệ người tiêu dùng, trả lương công bằng, duy trì chính sách thuếtrung thực và điều kiện làm việc an toàn, hỗ trợ giáo dục và quan tâm đến các vấn đề môitrường.Bên cạnh lợi ích cổ đông, các nhà quản trị còn phải tính đến lợi ích của tất cả cácbên hữu quan Các bên hữu quan bao gồm chủ nợ, nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp,cộng đồng nơi công ty hoạt động… có thể nói, công ty chỉ có thể đạt được mục tiêu cuốicùng là tối đa hóa giá trị cổ đông khi họ quan tâm đến lợi ích chính đáng của các bên hữuquan
1.1.5 Tổ chức hoạt động quản trị tài chính
Cũng như giám đốc của ba lĩnh vực chức năng cơ bản khác của công ty, phó giámđốc tài chính, hay còn là trưởng phòng tài chính (CFO) thường phải trực tiếp báo cáo chogiám đốc điều hành Trong một số công ty, giám đốc tài chính cũng có thể là một thànhviên của hội đồng quản trị Bên cạnh việc theo dõi hoạt động kế toán, tài chính, thuế, chứcnăng kiểm toán, các CFO ngày nay thường chịu trách nhiệm lập kế hoạch chiến lược,quản trị và kinh doanh ngoại tệ, quản trị rủi ro lãi suất và quản trị quy mô sản xuất và tồnkho Ngoài ra, các CFO cũng phải có khả năng giao tiếp một cách hiệu quả với cộng đồngđầu tư liên quan đến hiệu suất tài chính của công ty
Trong các công ty lớn, các hoạt động tài chính do giám đốc tài chính quản lý và sẽchia thành hai nhóm, một bộ phận do trưởng phòng tài chính và bộ phận kia do kế toántrưởng quản lý Trách nhiệm của các kế toán trưởng chủ yếu thuộc về lĩnh vực kế toán, kếtoán chi phí cũng như kiểm soát ngân sách và dự đoán, phần lớn liên quan đến hoạt độngbáo cáo nội bộ Trách nhiệm của các nhà tài chính thuộc các lĩnh vực ra quyết định, chúngthường gắn với các hoạt động quản trị tài chính như đầu tư (hoạch định ngân sách, quản lýlương), tài trợ (quan hệ với ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư, quan hệ cổ đông, chitrả cổ tức) và quản trị tài sản (quản trị tiền mặt, quản trị tín dụng) Sơ đồ tổ chức này cóthể làm suy nghĩ sai lệch, nghĩa là có sự tách biệt giữa nhiệm vụ tài chính và kế toán Tuynhiên, trong các công ty được tổ chức tốt, thông tin sẽ dịch chuyển dễ dàng giữa các bộphận còn trong các công ty nhỏ, chức năng tài chính và chức năng kế toán có thể đượcđồng nhất trong một hoạt động
Hội đồng quản trị
Giám đốc điều hành
Trang 9Hình 1-1 Chức năng quản trị tài chính trong sơ đồ tổ chức
Cần lưu ý rằng các chức năng kiếm soát và tài chính trong hình 1.1 chỉ là ví dụminh họa Trên thực tế, các chức năng này thường được thực hiện khác nhau giữa cáccông ty
Quan hệ giữa quản trị tài chính và các chức năng khác trong công ty
Khi bạn nghiên cứu quản trị tài chính, bạn cần phải hiểu rằng quản trị tài chínhkhông phải là một lĩnh vực hoàn toàn độc lập trong quản trị kinh doanh Quản trị tài chínhcần đến nhiều lĩnh vực liên quan và các nhiều ngành nghiên cứu Điều quan trọng nhấttrong số đó là tài chính và kinh tế, vì thế, các yếu tố kinh tế vĩ mô và vi mô cũng rất quantrọng Marketing, sản xuất, quản trị nguồn nhân lực và các nghiên cứu định lượng cũng tác
Tài chính
Hoạch định ngân sách đầu tư
Quản trị tiền mặt
Quan hệ với ngân hàng
thương mại và đầu tư
Xử lý dữ liệu
Sổ cáiBáo cáo thuếKiểm soát nội bộChuẩn bị báo cáo tài chínhChuẩn bị ngân sách
Phó giám đốcTài chính Phó giám đốcMarketing
Phó giám đốcMarketing
Trang 10động rất lớn đến quản trị tài chính Chúng ta sẽ lần lượt nghiên cứu các vấn đề này trongphần sau đây.
Kế toán
Các nhà quản trị tài chính đóng một vai trò quan trọng trong việc quản trị các tàisản vật chất và tài sản tài chính của công ty và đảm bảo khả năng tài trợ cần thiết để hỗ trợcho các tài sản Từ đấy, có thể thấy thực tiễn của tài chính có quan hệ rất chặt chẽ với kếtoán vì các giao dịch tài chính được ghi lại trong cấu trúc của các hệ thống kế toán Người
ta thường nói kế toán là ngôn ngữ của tài chính Các nhà quản trị tài chính thường sử dụngcác dữ liệu kế toán để ra quyết định Thông thường, các nhân viên kế toán chịu tráchnhiệm xây dựng các báo cáo và đưa ra các kết quả đo lường tài chính để giúp các nhàquản trị đánh giá hiệu quả trong quá khứ, xu hướng trong tương lai của công ty và tuân thủnhững quy định luật pháp Nhiệm vụ xây dựng các báo cáo tài chính như bảng cân đối kếtoán, báo cáo thu nhập và báo cáo ngân quỹ cũng là nhiệm vụ của các nhân viên kế toán
Trong khi các kế toán viên ghi lại các giao dịch kinh doanh, thì các nhà quản trị tàichính chủ yếu quan tâm đến dòng ngân quỹ vì họ thường phải xác định tính khả thi củacác quyết định đầu tư và tài trợ Nhà quản trị tài chính sử dụng dữ liệu tài chính khi ra cácquyết định phân bổ nguồn lực trong tương lai trong các kế hoạch đầu tư dài hạn, khi quảntrị các khoản đầu tư vào vốn luân chuyển và khi ra các quyết định tài chính (xác định cấutrúc vốn phù hợp, xác định các nguồn cần thiết để hỗ trợ cho các chương trình đầu tư củacông ty)
Kinh tế
Có hai lĩnh vực kinh tế mà các nhà quản trị tài chính phải nắm vững, đó là kinh tế
vĩ mô và vi mô Kinh tế vi mô liên quan đến các quyết định kinh tế của các cá nhân, các
hộ gia đình, và các công ty trong khi kinh tế vĩ mô xem xét các nhân tố kinh tế trênphương diện tổng thể Các công ty chịu ảnh hưởng rất lớn bởi hiệu quả chung của nềnkinh tế và phụ thuộc vào các thị trường tiền tệ cũng thị trường vốn Vì thế, nhà quản trịtài chính cần phải nhận biết và hiểu rõ ảnh hưởng của các chính sách tiền tệ đến chi phívốn và tính sẵn sàng của nguồn vốn tín dụng Đồng thời, họ cần phải nắm vững chínhsách thuế và tác động của nó đến nền kinh tế Và cuối cùng, kỳ vọng về nền kinh tế tươnglai là một yếu tố quan trọng được tính đến khi xây dựng dự đoán doanh số cũng như các
dự đoán khác
Quản trị tài chính sử dụng kinh tế vi mô khi xây dựng các mô hình ra quyết định
để tạo ra các phương thức sản xuất thành công và hiệu quả nhất cho công ty Đặc biệt, họ
sử dụng khái niệm kinh tế vi mô về xác định chi phí biên bằng doanh thu biên khi ra các
Trang 11quyết định đầu tư dài hạn (hoạch định ngân sách), khi quản trị tiền mặt, tồn kho và quảnphải thu (quản trị vốn luân chuyển)
Hình 1-2 Tác động của các lĩnh vực khác lên quản trị tài chính Các chức năng khác
Hình 1.2 biểu diễn mối quan hệ giữa quản trị tài chính và các chức năng hỗ trợ cănbản Marketing, sản xuất, các phương pháp định lượng và quản trị nguồn nhân lực đềuliên quan trực tiếp đến các quyết định hằng ngày do các nhà quản trị tài chính đưa ra
Hỗ trợ
Hỗ trợ
Các lĩnh vực quyết định của tài
chính
1 Phân tích đầu tư
2.Quản trị vốn luân chuyển
Trang 12Chẳng hạn, các nhà quản trị tài chính cần phải xem xét tác động của dự án phát triển sảnphẩm mới và các chương trình cổ động trong lĩnh vực marketing vì các kế hoạch này sẽcần đến vốn và do đó sẽ tác động đến dòng ngân quỹ dự kiến của công ty Tương tự nhưvậy, những thay đổi trong quy trình sản xuất cũng có thể cần đến vốn và do đó các nhàquản trị tài chính phải đánh giá và tài trợ cho các hoạt động này Các công cụ phân tíchđược xây dựng từ các phương pháp định lượng thường rất hữu ích khi phân tích các vấn
đề quản trị tài chính phức tạp và chính sách lương cũng có thể tác động đến vấn đề đạidiện của công ty
1.2 Giá trị tiền tệ theo thời gian
1.2.1 Tiền lãi, lãi đơn và lãi kép
Tiền lãi và lãi suất
Tiền lãi là số tiền mà người đi vay phải trả thêm vào vốn gốc đã vay sau một khoảng thời gian.
Vẻ bề ngoài, tiền lãi là số tiền mà người đi vay đã trả thêm vào vốn gốc đã vay saumột khoảng thời gian Có thể lý giải nguyên nhân khiến người cho vay nhận được khoảntăng thêm này bằng việc người cho vay đã sẵn lòng hi sinh cơ hội chi tiêu hiện tại, bỏ quacác cơ hội đầu tư để “cho thuê” tiền trong một quan hệ tín dụng
Ví dụ: Bạn vay 10 triệu đồng vào năm 2015 và cam kết trả 1 triệu đồng tiền lãimỗi năm thì sau 2 năm, bạn sẽ trả một khoản tiền lãi là 2 triệu đồng cùng với vốn gốc 10triệu đồng
sẽ nhận được một khoản Io, đó chính là cái giá của việc đã cho phép người khác quyền sửdụng tiền của mình trong thời gian này
Tuy nhiên, sẽ rất bất tiện nếu sử dụng tiền lãi làm công cụ định giá thuê sử dụngtiền trong trường hợp thời gian tính lãi quá dài với những giá trị cho vay khác nhau Vìthế, người ta thường sử dụng một công cụ khác là lãi suất để tính chi phí của việc sử dụngtiền
Lãi suất là tỷ lệ phần trăm tiền lãi so với vốn gốc trong một đơn vị thời gian.
Công thức tính lãi suất:
P×t×100 %
Trong đó: i: Lãi suất
I: Tiền lãi
Trang 13P: Khoản tiền gửi ban đầut: số thời kỳ
Như vậy, với lãi suất đã thoả thuận, ta có thể tính ra tiền lãi I trả cho vốn gốc trongthời gian t:
I=P×i×t
Theo công thức trên, tiền lãi phụ thuộc vào ba yếu tố là vốn gốc P0, lãi suất i vàthời kỳ cho vay t Tiền lãi chính là số tiền thu được (đối với người cho vay) hoặc chi ra(đối với người đi vay) do việc sử dụng vốn vay
Có thể thấy rằng với sự xuất hiện của lãi suất, khả năng sinh lợi theo thời gian trởthành giá trị tự thân của nó
Lãi đơn
Lãi đơn là số tiền lãi chỉ tính trên số vốn gốc mà không tính trên số tiền lãi sinh ratrong các thời kỳ trước
Ví dụ: Bạn gửi 10 triệu đồng vào tài khoản tính lãi đơn với lãi suất 8%/năm Sau
10 năm, số tiền gốc và tiền lãi bạn thu về là bao nhiêu?
Sau năm thứ nhất, số tiền tích luỹ là: P1 = 10 + 10 x 0,08 = 10 (1 +0,08) = 10,8 trđSau năm thứ hai, số tiền tích luỹ là:P2 = 10 (1+0,08) + 10 x 0,08 = 10 (1 + 0,08 +0,08)
= 10 (1 + 2 x 0,08) = 11,6 trđ
Sau năm thứ ba, số tiền tích luỹ là: P3 = 10 (1 + 2 x 0,08) + 10 x 0,08
= 10 (1 + 2 x 0,08 + 0,08) = 10 (1 + 3 x0,08)
Pn : Tiền tích luỹ của một khoản tiền cho vay tại thời điểm vào cuối thời kỳ n
Po: Khoản tiền gởi ban đầu
i: Lãi suất
n: Số thời kỳ
Trang 14Từ cách tính trên, có thể thấy rằng đã có sự phân biệt đối xử giữa tiền gốc và tiềnlãi sinh ra từ vốn gốc Vốn gốc thì có khả năng sinh lãi, trong khi tiền lãi sinh ra từ vốngốc lại không có khả năng này Chính vì thế, phương pháp lãi đơn thường chỉ được ápdụng trong thời gian ngắn, còn hầu hết các tình huống trong tài chính liên quan đến giá trịthời gian của tiền tệ không hề dựa trên phương pháp tính này Trong hầu hết trường hợp,người ta sử dụng lãi kép để đo lường giá trị thời gian của tiền tệ, bởi vì thực tế, mọi đồngtiền luôn luôn có khả năng sinh lãi
Lãi kép
Trong khi tính lãi đơn, người ta không hề quan tâm đến khả năng sản sinh tiền lãicủa các khoản tiền lãi sinh ra trong các thời kỳ trước Phương pháp tính lãi kép chính làcách để khắc phục thiếu sót này nhằm đáp ứng với thực tiễn của các giao dịch vay nợtrong thời kỳ dài
Lãi kép là số tiền lãi được tính căn cứ vào vốn gốc và tiền lãi sinh ra trong các thời
kỳ trước Nói cách khác, lãi được định kỳ cộng vào vốn gốc để tính lãi cho các thời kỳsau
Trở lại ví dụ trên, bạn gởi 10 triệu đồng vào tài khoản tính lãi kép với lãi suất 8%/năm Sau 10 năm, số tiền gốc và tiền lãi bạn thu về là bao nhiêu?
Sau năm thứ nhất, số tiền tích luỹ là: P1 = 10 + 10 x 0,08 = 10 (1 +0,08) = 10,8 trđSau năm thứ hai, số tiền tích luỹ là: P2 = 10 (1+0,08) + 10(1 + 0,08) x 0,08
= 10 (1 + 0,08)(1 + 0,08) = 10 (1 + 0,08)2 = 11,664 triệu đôngSau năm thứ ba, số tiền tích luỹ là: P3 = 10 (1 + 0,08)2 + 10 (1 + 0,08)2 x 0,08 = 10 (1 + 0,08)2(1 + 0,08) = 10 (1 + 0,08)3 = 12,597 triệu đồng
Sau năm thứ 10, số tiền tích luỹ sẽ là: P10 = 10 (1 + 0,08)10 = 21,59 triệu đồng
Một cách tổng quát: P n=P0×(1+i) n Trong đó:
Pn : Tiền tích luỹ của một khoản tiền cho vay tại thời điểm vào cuối thời kỳ n
Po: Khoản tiền gởi ban đầu
i: Lãi suất
n: Số thời kỳ
Trang 15Từ công thức trên, có thể thấy phát sinh một vấn đề quan trọng, đó là thời điểmtiền lãi phát sinh hay chính xác hơn là thời điểm tiền lãi được tích lũy để tiếp tục tính lãi.
Vì thế, chúng ta không chỉ quan tâm đến lãi suất mà còn phải quan tâm đến thời kỳ ghéplãi Dường như với một lãi suất như nhau, tiền lãi được ghép với tần suất cao hơn sẽ sinh
ra tiền lãi sớm hơn, rốt cục, tổng tiền lãi sẽ lớn hơn
Lãi suất thực và lãi suất danh nghĩa
Với phân tích trên, có thể khẳng định rằng các khoản đầu tư cho vay có thể đemlại thu nhập khác nhau phụ thuộc vào thời kỳ ghép lãi khác nhau, chứ không chỉ phụthuộc vào lãi suất phát biểu mà còn phụ thuộc vào thời kỳ ghép lãi Như thế, lãi suất phải
được công bố đầy đủ bao gồm lãi suất danh nghĩa và thời kỳ ghép lãi Lãi suất danh nghĩa là lãi suất phát biểu gắn với một thời kỳ ghép lãi nhất định
Ví dụ: Bạn vay 10 triệu đồng, lãi suất 10%/năm Số tiền bạn sẽ hoàn lại vào cuối
Lãi suất thực là lãi suất sau khi đã điều chỉnh thời hạn ghép lãi đồng nhất với thời hạn phát biểu lãi suất
Do đó, về mặt biểu hiện, lãi suất thực là lãi suất mà thời kỳ ghép lãi và thời kỳphát biểu lãi suất trùng nhau còn lãi suất danh nghĩa là lãi suất có thời kỳ phát biểu lãikhông trùng với thời gian ghép lãi
Trang 16Nếu thời hạn phát biểu lãi suất là t1 và thời gian ghép lãi là t2 Ta có số lần ghéplãi trong thời gian phát biểu lãi suất m = t1/t2
Giả sử trong thời hạn phát biểu lãi suất có m lần ghép lãi, gọi r là lãi suất thực, khiđó:
1+r= ( ( 1+ i
m ) )m Hay r= ( (1+ i
m ) )m−1
Lãi suất và phí tổn cơ hội vốn
Tiền lãi là phí tổn cơ hội của việc gởi tiền hoặc cho vay Trở lại với người chovay, để nhận được tiền lãi khi cho vay tiền, họ đã chấp nhận bỏ đi các cơ hội đầu tư có lợinhất đối với họ
Một cách khái quát, chi phí cơ hội của việc sử dụng một nguồn lực theomột cách nào đó là số tiền lẽ ra có thể nhận được với phương án sử dụng tốt nhất tiếptheo với phương án đang thực hiện Vì thế, chi phí cơ hội giữa các bên tham gia vào cùngmột giao dịch có thể khác nhau Do đó, chúng ta chuyển khái niệm lãi suất sang một ýnghĩa khái quát hơn là chi phí cơ hội vốn
Mặt khác, đối với các nhà quản trị, không chỉ có hoạt động gởi tiền hoặccho vay vì đồng tiền trong tay họ luôn có khả năng sinh lợi Do vậy, đồng tiền sẽ trởthành những khoản đầu tư và họ cần phải hiểu giá trị thời gian của các khoản tiền đó,hiểu rõ chi phí cơ hội vốn mà họ dành cho khoản đầu tư
1.2.2 Giá trị thời gian của tiền tệ
Trên thực tế, khoản tiền có thể được phát sinh vào bất kỳ thời điểm nào và tiền tệ
có giá trị thời gian nên việc xác định thời gian xuất hiện của tiền tệ là vô cùng quan trọng.Người ta có thể nói đến một khoản tiền trên hai khía cạnh là độ lớn và thời gian
1.2.2.1.S phát sinh c a ti n t theo th i gian ự phát sinh của tiền tệ theo thời gian ủa tiền tệ theo thời gian ền tệ theo thời gian ệ theo thời gian ời gian
Bởi vì đồng tiền có giá trị theo thời gian nên với mỗi cá nhân hay tổ chức đều cầnthiết phải xác định rõ các khoản thu nhập hay chi tiêu bằng tiền của họ ở từng thời điểm
cụ thể
Một khoản tiền là một khoản thu nhập hoặc một khoản chi phí phát sinh vào bất kìmột thời điểm cụ thể trên trục thời gian Tuy nhiên, trong các bài toán học thuật, người tathường quy nó về đầu kì, giữa kì hay cuối kì Vì hoạt động liên tục của các cá nhân haycác tổ chức làm xuất hiện liên tục các khoản tiền dòng tiền ra và dòng tiền vào theo thờigian tạo nên dòng tiền tệ
a Dòng tiền tệ
Trang 17Dòng tiền tệ là chuỗi các khoản thu nhập hoặc chi trả xảy ra qua một sốthời kì nhất định Dòng tiền có nhiều hình thức khác nhau nhưng nhìn chung có thể phânchia thành 2 loại là dòng tiền đều và dòng tiền hỗn tạp
Dòng tiền có thể được biểu diễn như sau:
Hình 1.3 Đường thời gian biểu diễn dòng tiền tệ
Chẳng hạn một cửa hàng cung cấp dịch vụ cho thuê nhà trong 5 năm với giá chothuê là 24 triệu đồng mỗi năm, thời gian thanh toán vào ngày 31 tháng 12 hằng năm Thunhập từ cho thuê nhà là một dòng tiền đều thông thường bao gồm 5 khoản tiền bằng nhautrong 5 năm Bây giờ, thay vì tiền thuê nhà được trả vào cuối năm, cửa hàng yêu cầungười thuê phải trả vào đầu năm, tức là vào ngày 1 tháng 1 hằng năm Thu nhập lúc này
là một dòng tiền đều đầu kỳ Hoặc theo cách khác, thay vì bỏ tiền ra mua nhà và chothuê, người chủ sử dụng số tiền đó để mua cổ phiếu ưu đãi của một công ty cổ phần vàhàng năm hưởng mức cổ tức cố định 20 triệu đồng Giả định công ty tồn tại vĩnh viễn,khi đó thu nhập từ mua cổ phiếu là một dòng tiền đều vĩnh cửu
c Dòng tiền tệ hỗn tạp
Trong tài chính, không phải lúc nào chúng ta cũng gặp tình huống trong đódòng tiền bao gồm các khoản thu nhập hoặc chi trả giống nhau qua các thời kì Chẳnghạn như doanh thu và chi phí qua các năm thường rất khác nhau Vì thế, dòng thu nhậpròng của một công ty thường là một dòng tiền tệ hỗn tạp, bao gồm các khoản thu nhậpkhác nhau, chứ không phải một dòng tiền đều
Như vậy, dòng tiền hỗn tạp là dòng tiền tệ bao gồm các khoản tiền không bằng nhau phát sinh qua một số thời kì nhất định.
n - 1
n
Trang 18Cũng với ví dụ cho thuê nhà trên đây nhưng thu nhập thực tế của người chủ cửahàng không phải là 24 triệu đồng mỗi năm vì người đó phải bỏ ra một tỷ lệ phần trăm trêndoanh số chi phí sửa chữa và tất nhiên, chi phí này không giống nhau giữa các năm Khiđấy, thu nhập ròng sau khi trừ đi chi phí sửa chữa sẽ hình thành một dòng tiền không đềunhau qua các năm Dòng tiền ấy chính là dòng tiền hỗn tạp vì nó bao gồm các khoản tiềnkhông giống nhau
Sau khi đã hiểu và phân biệt được từng loại dòng tiền khác nhau, bây giờ chúng taxem xét cách xác định giá trị tương lai và hiện tại của từng loại dòng tiền tệ này
1.2.2.2.Giá tr t ị tương lai của tiền tệ ương lai của tiền tệ ng lai c a ti n t ủa tiền tệ ền tệ ệ
Bạn có 1 triệu đồng ở thời điểm hiện tại, vậy sau 3 năm nữa, bạn sẽ có bao nhiêu?
Kế hoạch của bạn sẽ như thế nào nếu muốn có 15 triệu sau 5 năm Bạn nên nhớ rằngđồng tiền luôn sinh lợi, đồng tiền có giá trị theo thời gian
a Giá trị tương lai của một khoản tiền
Giá trị tương lai của một khoản tiền hiện tại là giá trị của số tiền này ở thời điểmhiện tại cộng với số tiền lãi mà nó có thể sinh ra trong khoảng thời gian từ thời điểm hiệntại đến một thời điểm trong tương lai
Vận dụng khái niệm lãi kép, chúng ta có công thức tìm giá trị tương lai của mộtkhoản tiền gởi vào cuối năm thứ n:
Giá trị tương lai (FV) : là giá trị của khoản tiền ở hiện tại (PV) đượcquy đổi về tương lai trong khoảng thời ‘/gian n với chi phí cơ hội vốn k
i : Chi phí cơ hội của tiền tện: Số thời kỳ
b Giá trị tương lai của dòng tiền
Giá trị tương lai của dòng tiền được xác định bằng cách ghép lãi từng khoản tiền
về thời điểm cuối cùng của dòng tiền và sau đó, cộng tất cả các giá trị tương lai này lại.Công thức chung để tìm giá trị tương lai của một dòng tiền là :
Khi dòng tiền phát sinh cuối mỗi thời kỳ là : A1, A2 , , An Giá trị tương laicuối thời hạn FVn sẽ được xác định như sau:
Trang 19Ví dụ: Ta có dòng tiền sau:
Chúng ta xem ví dụ tìm giá trị tương lai vào cuối năm thứ 5 của một dòng tiềnnhận được 50 triệu đồng vào cuối năm thứ nhất và năm thứ hai, sau đó nhận được 60triệu đồng vào cuối năm thứ ba và năm thứ tư, 100 triệu đồng vào cuối năm thứ 5, tất cảđược ghép với lãi suất 5%/năm
Ví dụ: Có một dòng tiền phát sinh vào cuối năm thứ nhất 10 triệu, cuối năm thứ
hai 10 triệu, cuối năm thứ ba 10 triệu Như vậy, cuối năm thứ ba thì trong tài khoản cóbao nhiêu tiền với lãi suất 8%/năm?
Giá trị tương lai của một dòng tiền đều trong vòng 3 năm với lãi suất 8%/năm
FVA3 = 32,46 triệu đồng
10tr
10tr10,8tr11,66trghép lãi 2 năm
10tr
10tr
Trang 20Tổng quát: FVAn là giá trị tương lai của một dòng tiền đều, A là khoản tiền nhận(trả) mỗi năm, n là độ dài của dòng tiền thì công thức tính FVAn là:
Hay
FVA n=A×((1+i) n−1
Giá trị tương lai dòng tiền đều đầu kỳ
Ngược lại với dòng tiền đều thông thường, các khoản tiền nhận (trả) xảy ra vàocuối mỗi thời kỳ, dòng tiền đều đầu kỳ là một chuỗi các khoản tiền đều nhau xảy ra vàođầu mỗi thời kỳ
Giá trị tương lai của một dòng tiền đều đầu kỳ với lãi suất 8%/năm trong 3 năm
FVAD 3=10×((1+0,08)0 ,083−1)×(1+0,08)=32,46×1,08=35,06
triệu đồngCần lưu ý rằng giá trị tương lai của dòng tiền đều đầu kỳ trong 3 năm đơn giảnbằng giá trị tương lai của một dòng tiền đều thông thường ba năm được đưa về tương laithêm một năm nữa Vì thế, giá trị tương lai của một dòng tiền đều đầu kỳ với chi phí cơhội vốn i trong n năm được xác định là:
FVAD n=A×((1+i) n−1
1.2.2.3 Giá tr hi n t i c a ti n t ị hiện tại của tiền tệ ệ theo thời gian ại của tiền tệ ủa tiền tệ theo thời gian ền tệ theo thời gian ệ theo thời gian
Chúng ta đều biết rằng một đồng ngày hôm nay đáng giá hơn một đồng sau một,hai hay ba năm nữa Tính giá trị hiện tại của dòng ngân quỹ cho phép chúng ta đưa tất cảngân quỹ về thời điểm hiện tại để so sánh theo giá trị đồng tiền ngày hôm nay Nói cáchkhác, chúng ta cần biết để có số tiền trong tương lai thì phải bỏ ra bao nhiêu ở thời điểmhiện tại Đấy chính là giá trị hiện tại của các khoản tiền trong tương lai
a Giá trị hiện tại của một khoản tiền
Giả sử bạn có hai khoản tiền: 100 triệu đồng vào hôm nay và 200 triệu đồng sau
10 năm nữa; hai khoản tiền này đều chắc chắn và có chi phí cơ hội vốn là 8%/năm Giátrị hiện tại của 100 triệu đồng hôm nay thì đã rõ còn 200 triệu đồng nhận được sau 10năm đáng giá bao nhiêu ở thời điểm hiện tại Như vậy, cần bao nhiêu tiền vào hôm nay để
FVAn = A (1 + i)n-1 + A (1 + i)n-2 + + A (1 + i)1 + A (1 + i)0
Trang 21Quá trình tìm giá trị hiện tại là quá trình ngược của quá trình ghép lãi Vìthế, công thức tính giá trị hiện tại được suy ra từ công thức tính giá trị tương lai của mộtkhoản tiền như sau:
b Giá trị hiện tại của một dòng tiền
Giá trị hiện tại của một dòng tiền là tổng giá trị hiện tại của các khoản tiềnphát sinh ở thời điểm tương lai Công thức chung cụ thể như sau:
PV n=∑ A n
(1+i )n
Ví dụ: Giá trị hiện tại của dòng tiền trên được biểu diễn như sau:
Giá trị hiện tại của một dòng tiền đều cuối kỳ
Trở lại ví dụ về giá trị tương lai của dòng tiền đều cuối kỳ Bây giờ, chúng
ta xác định xem phải gửi bao nhiêu tiền ở thời điểm hiện tại để có thể rút cuối mỗi năm
10 triệu đồng trong 3 năm, lãi suất 8%/năm Ta có thể sử dụng công thức sau để tìm giátrị hiện tại của dòng tiền đều n năm
11(1 )n n
Trang 22 Giá trị hiện tại của một dòng tiền đều vĩnh cửu
Đôi khi, chúng ta gặp dòng tiền đều kéo dài không xác định Một số loại trái phiếu
có hình thức của một dòng tiền vĩnh cữu vì các chứng khoán này sẽ không bao giờngừng, nghĩa là không bắt buộc người phát hành phải mua lại trái phiếu theo giá trị ghitrên mặt phiếu vào một thời điểm trong tương lai Dòng tiền đều có tính chất như vậy làdòng tiền đều vĩnh cửu Việc xác định giá trị hiện tại của dòng tiền đều đặc biệt này cầnthiết cho việc đánh giá trái phiếu vĩnh cửu và cổ phiếu ưu đãi Cách xác định hiện giá củadòng tiền đều vĩnh cửu dựa vào cách xác định hiện giá dòng tiền đều thông thường
1.2.3.1 Xác đ nh y u t lãi su t ị hiện tại của tiền tệ ếu tố lãi suất ố lãi suất ất
Trên thực tế, đôi khi, chúng ta gặp tình huống biết giá trị tương lai, giá trị hiện tại
và số thời kỳ nhưng chưa biết lãi suất Khi đấy, cần phải xác định được lãi kép (k) ngầmđịnh trong tình huống này là bao nhiêu
Giả sử bây giờ bạn đầu tư 10 triệu đồng vào tài sản tài chính có thời hạn 8 năm.Sau 8 năm, bạn sẽ nhận được 30 triệu đồng Như vậy lãi suất từ công cụ tài chính này làbao nhiêu?
Sử dụng công thức tính giá trị tương lai của một khoản tiền, ta có:
FV3 =10× (1+k) ^ 8 =30
=> k =14,72%
Với phương trình căn bản tính giá trị tương lai của một khoản tiền đều, có thể giảibài toán tìm lãi suất của một dòng tiền đều nếu biết: (1) giá trị tương lai của dòng tiềnđều, (2) khoản trả đều và (3) số thời kỳ
Ví dụ ông A muốn có một số tiền là 32 triệu đồng cho con ông học đại học trongnăm năm tới Ông dùng thu nhập từ tiền cho thuê nhà hàng năm là 5 triệu đồng để gởivào tài khoản ngân hàng Hỏi ông A mong muốn ngân hàng trả một mức lãi suất hằngnăm là bao nhiêu để sau năm năm ông có được số tiền như kế hoạch?
Áp công thức tính giá trị tương lai của dòng tiền đều để tìm FV5
Dùng phương pháp tính gần đúng, chúng ta xác định được lãi suất i bằng khoảng12%
Nếu dùng máy tính tài chính hoặc Excel, chúng ta có thể tìm được lãi suất chínhxác hơn là 12,37%
Trang 231.2.3.2 Xác định yếu tố kỳ hạn
Ngoài ra, có lúc có tình huống đã biết giá trị tương lai, giá trị hiện tại và lãi suấtnhưng chưa biết số thời kỳ Khi ấy, cần phải biết số thời kỳ tính lãi, để từ đó suy ra thờigian cần thiết để một số tiền Po trở thành FV
Giả sử bây giờ bạn đầu tư 10 triệu đồng để mua một công cụ tài chính trả lãi kép10% mỗi năm Sau một khoảng thời gian bao lâu, bạn nhận được cả gốc và lãi tổng cộng
Ví dụ ông B muốn có một số tiền là 32 triệu đồng cho con ông học đại học Ôngdùng thu nhập từ tiền cho thuê nhà hằng năm là 5 triệu đồng để gửi vào tài khoản tiếtkiệm, ghép lãi theo năm Hỏi ông B phải gởi tiền trong bao nhiêu năm để có được số tiềnnhư dự kiến biết rằng ngân hàng trả lãi 12%/năm?
Từ công thức tính giá trị tương lai của một dòng tiền đều, ta có:
⇒ (1,12) ×n =(6,4× 0,12)+1=1,768
⇒ n×lg(1,12) = lg(1,768)
1.2.3.3 Xác đ nh kho n tr đ u ị hiện tại của tiền tệ ản trả đều ản trả đều ền tệ theo thời gian
Khi giải các bài toán dòng tiền đều, người ta thường gặp các tình huống biết trướcgiá trị tương lai (hoặc hiện tại) của dòng tiền, lãi suất và số thời kỳ Tuy nhiên, vấn đề cầnphải xác định là quy mô của khoản trả đều Trong kinh doanh thường có nhu cầu xác địnhkhoản trả đều định kỳ trong các bài toán quỹ chìm và nợ trả góp (giảm dần một khoản nợthông qua việc trả đều)
Bạn có thể tìm ra khoản trả đều định kỳ của một dòng tiền đều bằng cách sử dụngphương trình giá trị tương lai (hiện tại) của dòng tiền đều
Trang 24Ví dụ, một người phải gởi bao nhiêu tiền vào tài khoản tiết kiệm cuối mỗi năm để
có thể tích lũy được khoản tiền 100 triệu đồng vào cuối năm thứ 8 với suất sinh lợi của tàikhoản là 5 %, ghép lãi theo năm?
Xác định khoản tiền gởi vào tài khoản mỗi năm bằng phương trình tính giá trịtương lai FV8 của dòng tiền đều ta có A =10,472 triệu đồng
CHƯƠNG 2 : QUẢN TRỊ VỐN KINH DOANH
2.1 Quản trị vốn cố định
2.1.1 Tài sản cố định và vốn cố định của doanh nghiệp
2.1.1.1 Tài sản cố định
* Khái niệm tài sản cố định
Tư liệu lao động là một trong các yếu tố quan trọng không thể thiếu để tiến hànhhoạt động kinh doanh Trong doanh nghiệp thường có nhiều loại tư liệu lao động khácnhau: Xét về mặt giá trị, có loại có giá trị lớn, có loại có giá trị tương đối nhỏ; xét về mặtthời gian sử dụng, có loại có thời gian sử dụng rất dài, có loại có thời gian sử dụng tươngđôi ngắn Để thuận tiện cho công tác quản lý, người ta chia tư liệu lao động ra thành hailoại: Tài sản cố định và công cụ, dụng cụ nhỏ Vệc phân chia như vậy dựa vào các tiêuchuẩn cơ bản sau:
- Tiêu chuẩn về thời gian: Có thời gian sử dụng từ 1 năm trở lên
- Tiêu chuẩn về giá trị: Có giá trị lớn, mức giá trị cụ thể được Chính phủ quy địnhphù hợp với tình hình kinh tế của từng thời kỳ
Một tư liệu lao động được xếp vào tài sản cố định nếu thỏa mãn đủ tất cả các tiêuchuẩn trên Những tư liệu lao động không đạt đủ các tiêu chuẩn quy định trên được coi lànhững công cụ, dụng cụ lao động nhỏ Những tư liệu lao động không đủ tiêu chuẩn trênđược coi là những công cụ dụng cụ được mua sắm bằng nguồn vốn lưu động của doanhnghiệp Tuy nhiên việc phân biệt giữa đối tượng lao động và tư liệu lao động không chỉđơn thuần dựa vào đặc tính hiện vật mà còn dựa vào tính chất và công dụng của chúngtrong quá trình sản xuất: Trong từng trường hợp tài sản được coi là tư liệu lao động hoặcđối tượng lao động, ví dụ máy móc dùng trong sản xuất được coi là TSCĐ nhưng máymóc đó là các sản phẩm mới hoàn thành thì chỉ được coi là đối tượng lao động
Trong điều kiện tiến bộ khoa học kỹ thuật, khoa học đã trở thành lực lượng sảnxuất trực tiếp dẫn đến tài sản cố định bao gồm cả những tài sản cố định không có hìnhthái vật chất được gọi là tài sản cố định vô hình Đây là những chi phí mà doanh nghiệp
bỏ ra cũng đồng thời thỏa mãn 2 tiêu chuẩn trên gồm : Chi phí thành lập doanh nghiệp,chi phí về bằng phát minh sáng chế, chi phí lợi thế kinh doanh
Trang 25Nếu chi phí này không đồng thời thỏa mãn 2 tiêu chuẩn trên thì được hạch toántrực tiếp hoặc được phân bổ dần vào chi phí kinh doanh của doanh nghiệp.
Như vậy, Tài sản cố định của doanh nghiệp là những tài sản có giá trị lớn, có thời gian sử dụng dài cho các hoạt động của doanh nghiệp và phải thỏa mãn đồng thời tất cả các tiêu chuẩn là tài sản cố định.
* Đặc điểm chung của TSCĐ
- Tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất sản phẩm
- Hình thái vật chất và đặc tính sử dụng ban đầu không thay đổi trong quá trình sảnxuất
- Giá trị của tài sản cố định được chuyển dịch dần từng phần vào giá trị sản phẩmsản xuất ra
Tài sản cố định là những tư liệu lao động chủ yếu và những tài sản khác có giá trị lớn, tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, các TSCĐ của doanh nhiệp cũng đượccoi như là một loại hàng hoá thông thường khác Thông qua mua bán trao đổi, TSCĐ cóthể được chuyển dịch quyền sở hữu và quyền sử dụng từ chủ thể này sang chủ thể kháctrên thị trường
* Phân loại tài sản cố định: Là việc phân chia toàn bộ tài sản cố định theo những
tiêu thức nhất định nhằm phục vụ yêu cầu quản lý của doanh nghiệp Thông thường cónhững cách phân loại sau:
- Theo hình thái biểu hiện:
- Theo công dụng kinh tế có thể chia TSCĐ làm 2 loại:
+ TSCĐ dùng trong hoạt động sản xúât kinh doanh: gồm những TSCĐ tham giavào quá trình sản xuất kinh doanh
+ TSCĐ dùng ngoài sản xuất kinh doanh: là những tài sản cố định dùng cho hoạtđộng phúc lợi công cộng, không mang tính chất sản xuất; nhà văn hoá, nàh ở và các côngtrình phúc lợi tập thể
Trang 26Cách phân loại này giúp nhà quản lý thấy được cơ cấu tài sản cố định tạo điều kiệnthuận lợi cho việc quản lý và tính khấu hao
- Theo tình hình sử dụng: chia TSCĐ làm 3 loại
- Theo mục đích sử dụng: chia TSCĐ làm 3 loại
+TSCĐ dùng cho mục đích kinh doanh
+TSCĐ dùng cho mục đích phúc lợi, sự nhiệp, an ninh quốc phòng: TSCĐ sinhhoạt văn hóa, thể dục thể thao, nhà ở, công trình phúc lợi tập thể
+TSCĐ bảo quản hộ, giữ hộ theo quy định của cơ quan có thẩm quyền
Cách phân loại này giúp nhà quản lý thấy cơ cấu tài sản cố định theo mục đích sửdụng của nó, từ đó có biện pháp quản lý sao cho có hiệu quả nhất
- Theo quyền sở hữu:
+ TSCĐ tự có: Là những TSCĐ thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp
+ TSCĐ đi thuê: Là những TSCĐ thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp khác Có
2 loại:
Thuê hoạt động: Doanh nghiệp có trách nhiệm quản lý sử dụng theo các quy định
trong hợp đồng thuê Doanh nghiệp không trích khấu hao đối với những TSCĐ này
Thuê tài chính: Doanh nghiệp phải theo dõi, quản lý, sử dụng và trích khấu hao
như đối với TSCĐ thuộc sở hữu của mình
Cách phân loại này giúp nhà quản lý thấy được kết cấu tài sản cố địnhthuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp và của người khác dẫn đến khai thác, sử dụng hợp
lý tài sản cố định của doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả đồng vốn
- Theo nguồn hình thành: TSCĐ chia làm 2 loại:
+ TSCĐ hình thành từ nguồn vốn chủ sở hữu+ TSCĐ hình thành từ các khoản nợ phải trảCách phân loại này giúp nhà quản lý thấy được nguồn hình thành TSCĐcủa doanh nghiệp mình để có biện pháp theo dõi quản lý
Trang 272.1.1.2 Vốn cố định trong doanh nghiệp
* Khái niệm
Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, việc mua sắm hay lắp đặt các tài sản cốđịnh của doanh nghiệp đều phải thanh toán bằng tiền Số vốn đầu tư ứng trước để muasắm, xây dựng, lắp đặt các tài sản cố định gọi là vốn cố định của doanh nghiệp (VCĐ)
Mối quan hệ giữa TSCĐ và vốn cố định: Là số vốn đầu tư ứng trước nên quy mô
vốn cố định sẽ quyết định quy mô tài sản cố định, ảnh hưởng đến trình độ trang bị kỹthuật và công nghệ của doanh nghiệp Song ngược lại những đặc điểm của TSCĐ trongquá trình sử dụng lại có ảnh hưởng, chi phối đặc điểm tuần hoàn và luân chuyển vốn cốđịnh
* Đặc điểm luân chuyển của vốn cố định
- Vốn cố định luân chuyển lâu dài trong nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh
- Vốn cố định luân chuyển dần dần từng phần trong các chu kỳ sản xuất dẫn đếncấu thành chi phí sản xuất sản phẩm
- Sau nhiều chu kỳ sản xuất, vốn cố định mới hoàn thành một vòng luân chuyển
Do đó yêu cầu việc quản lý vốn cố định luôn gắn liền với việc quản lý hình tháihiện vật của nó
Như vậy, vốn cố định là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước về tài sản cố định
mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần dần từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất và hoàn thành một vòng luân chuyển khi tài sản cố định hết thời gian sử dụng.
2.1.2 Khấu hao tài sản cố định và các khía cạnh kinh tế của quản lý khấu hao
2.1.2.1 Hao mòn và khấu hao tài sản cố định
* Hao mòn tài sản cố định: Là sự giảm dần giá trị sử dụng và giá trị của tài sản cố
định do tham gia vào hoạt động kinh doanh, do bào mòn tự nhiên, do tiến bộ khoa học kỹthuật trong quá trình hoạt động Có 2 loại:
- Hao mòn hữu hình: Là sự giảm dần về giá trị sử dụng và theo đó làm giảm dầngiá trị của tài sản cố định
Sự hao mòn hữu hình tài sản cố định tỷ lệ thuận với thời gian sử dụng và cường độ
sử dụng chúng Ngoài nguyên nhân chủ yếu trên, trong quá trình sử dụng và bảo quản, tàisản cố định còn bị hao mòn do tác động của các yếu tố tự nhiên như độ ẩm, nắng, mưa
Sự hao mòn của tài sản còn chịu sự ảnh hưởng của sức bền vật liệu cấu thành tài sản cốđịnh…
Trang 28- Hao mòn vô hình: Là sự giảm thuần túy về mặt giá trị của tài sản cố định do ảnhhưởng của tiến bộ khoa học kỹ thuật Nó không liên quan đến việc giảm sút giá trị sửdụng của tài sản cố định
Ngày nay, sự tiến bộ của khoa học và công nghệ diễn ra rất nhanh chóng đã khiếncho nhiều tài sản cố định bị hao mòn vô hình rất nhanh, thậm chí cả những tài sản cố địnhcòn mới nguyên, chưa qua sử dụng nhưng chúng đã bị mất giá trị vì bị hao mòn vô hình
Ví dụ: Máy móc thiết bị trong nghành tin học, điện tử…
* Khấu hao tài sản cố định
Để bù đắp giá trị tài sản cố định bị hao mòn trong quá trình sản xuất, doanh nghiệpphải chuyển dịch dần dần phần giá trị hao mòn vào giá trị sản phẩm sản xuất trong kỳ gọi
là khấu hao tải sản cố định
Khấu hao tài sản cố định là việc tính toán và phân bổ một cách có hệ thống nguyên giá cuả tài sản cố định vào chi phí kinh doanh qua thời gian sử dụng của tài sản
cố định.
Mục đích của việc khấu hao TSCĐ là nhằm tích lũy vốn để tái sản xuất giản đơn
và tái sản xuất mở rộng tài sản cố định Sau khi hàng hoá được tiêu thụ, số tiền khấu haođược tích luỹ thành quỹ khấu hao TSCĐ Khi chưa có nhu cầu đầu tư mua sắm tài sản cốđịnh, các doanh nghiệp có thể sử dụng linh hoạt quỹ này
2.1.2.2 Các phương pháp khấu hao tài sản cố định
* Nguyên tắc tính khấu hao:
- Phù hợp với mức độ hao mòn của tài sản cố định
- Đảm bảo thu hồi đầy đủ giá trị vốn đầu tư ban đầu
* Các phương pháp khấu hao tài sản cố định :
Căn cứ vào thông tư 45/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính về chế độ quản lý, sửdụng và trích khấu hao TSCĐ
a Phương pháp khấu hao đường thẳng
Công thức: M k=
NG
Giá trị phải khấu hao TSCĐ (G) = Nguyên giá TSCĐ - Giá trị thanh lý ước tính Nguyên giá TSCĐ (NG) là toàn bộ các chi phí thực tế doanh nghiệp đã chi ra để có
tài sản cố định cho tới khi đưa tài sản cố định vào trạng thái sẵn sàng sử dụng Nguyên
Trang 29giá TSCĐ bao gồm: giá mua thực tế phải trả( giá ghi trên hóa đơn trừ đi các khoản triếtkhấu, giảm giá mua hàng nếu có và các chi phí kèm theo trước khi đưa tài sản cố địnhvào sử dụng như chi phí vận chuyển, bốc dỡ, lắp đặt chạy thử, điều chỉnh và lệ phí trước
bạ, lãi tiền vay đầu tư tài sản cố định khi chưa đưa vào sử dụng và thuế không được hoàn.Đối với tài sản cố định doanh nghiệp tự xây dựng thì nguyên giá là giá trị thực tế đã chi
ra để xây dựng tài sản cố định Đối với tài sản cố định vô hình, nguyên giá là tổng chi phíthực tế đã đầu tư vào tài sản đó
Giá trị thanh lý ước tính: được xác định bằng kết quả thanh lý ước tính trừ đi chi phí
thanh lý ước tính Để đơn giản hóa vấn đề người ta quy ước thu thanh lý bằng chi phíthực hiện thanh lý tài sản cố định
Thời gian sử dụng TSCĐ (Tsd): là thời gian sử dụng dự tính cho cả đời tài sản cố
định Việc xác định thời gian sử dụng hữu ích của tài sản cố định dựa vào hai yếu tố chủ
yếu là tuổi thọ kỹ thuật của tài sản cố định (thời gian sử dụng tài sản cố định dựa theo thiết kế kỹ thuật) và tuổi thọ kinh tế (thời gian sử dụng tài sản cố định có tính đến sự lạc
hậu, lỗi thời của tài sản cố định do sự tiến bộ của khoa học và công nghệ)
Chú ý: Mức trích khấu hao trung bình hàng tháng bằng số khấu hao phải trích cả
năm chia cho 12 tháng
Đặc điểm: Mức khấu hao hàng năm không đổi.
Ví dụ 1: Trung tâm sản xuất trường Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp đầu tư
mới một dây chuyền máy giác mẫu thời trang theo giá hoá đơn là 90 triệu đồng, tổng chiphí bốc dỡ, vận chuyển, lắp đặt là 10 triệu đồng Thời gian sử dụng là 5 năm
Yêu cầu: Xác định mức khấu hao hàng năm theo phương pháp khấu hao đường
triệu đồng/năm
Nhận xét:
Ưu điểm: Đơn giản, dễ tính toán.Tổng mức khấu hao của tài sản cố định được
phân bổ đều đặn vào các năm sử dụng tài sản cố định nên không gây ra sự biến động quámức khi tính chi phí khấu hao vào giá thành sản phẩm hàng năm Thông qua việc xem xét
tỷ lệ khấu hao thực tế tài sản cố định có thể đánh giá được tình hình khấu hao và thu hồivốn cố định của doanh nghiệp Phương pháp này biết trước được thời hạn thu hồi vốn
Nhược điểm:
Trang 30- Thu hồi vốn chậm Trong trường hợp không lường trước được hết sự phát triểnnhanh chóng của khoa học và công nghệ doanh nghiệp có thể bị mất vốn cố định.
- Mức khấu hao có thể không phù hợp với công suất sử dụng thực tế của TSCĐ.
Trường hợp sử dụng: Thường được áp dụng đối với các loại TSCĐ hoạt động
không có hiệu quả và TSCĐ ít chịu ảnh hưởng của hao mòn vô hình
b Phương pháp khấu hao theo số dư có điều chỉnh
Để khắc phục những nhược điểm của phương pháp khấu hao đường thẳng và thúcđẩy việc thu hồi nhanh hơn vốn cố định người ta sử dụng phương pháp khấu hao theo số
dư có điều chỉnh
Công thức: M ki=Tn×G i
Trong đó: Gi : giá trị còn lại của tài sản cố định đầu năm thứ i
Tn: Tỷ lệ khấu hao cố định hàng năm của tài sản cố định: Tn=1/Tsd
Tn=T k∗H s
Tk: tỷ lệ khấu hao theo phương pháp đường thẳng
Hs: Là hệ số điều chỉnh được quy định tuỳ theo từng loại TSCĐ
Đặc điểm: Mi những năm đầu cao và giảm dần trong các năm còn lại
Ví dụ 2 : Với tài liệu ví dụ 1, xác định mức khấu hao bằng phương pháp khấu hao
theo số dư có điều chỉnh ?
Đáp án: Theo tài liệu trên ta có : n = 5 H = 2
HT
Ta có bảng tính khấu hao : Đơn vị tính: Triệu đồng
Năm thứ Mức khấu hao (Mi) Giá trị còn lại (Gi)
Trang 31Chú ý: Doanh nghiệp sẽ không thu hồi hết vốn đầu tư.
Biện pháp: Sử dụng phương pháp khấu hao đường thẳng trong một số năm cuối
Trong ví dụ 2, ta sử dụng phương pháp khấu hao bình quân 2 năm cuối:
Ưu điểm: Thu hồi vốn nhanh ở những năm đầu Được coi như một biện pháp “
hoãn thuế” cho doanh nghiệp
Nhược điểm: Giá thành sản phẩm ở những năm đầu sẽ cao do phải chịu chi phí
khấu hao lớn, gây bất lợi cho doanh nghiệp trong cạnh tranh; việc tính toán khá phức tạp Mức khấu hao có thể không phù hợp với công suất sử dụng thực tế của TSCĐ
Trường hợp sử dụng: Thường được áp dụng đối với các loại TSCĐ hoạt động
có hiệu quả và có mức độ hao mòn vô hình lớn
c Phương pháp khấu hao theo sản lượng.
Q
mk là mức khấu hao bình quân tính cho 1 đơn vị sản phẩm.
Q là sản lượng theo công suất thiết kế
Trang 32Qxi là sản lượng sản xuất thực tế năm thứ i (i = 1 n)
Chú ý: Mức trích khấu hao trong tháng bằng mức khấu hao bình quân tính cho 1 đơn vị sản phẩm nhân với sản lượng sản xuất thực tế trong tháng.
Đặc điểm: Mức khấu hao tỷ lệ thuận với sản lượng sản xuất thực tế.
Ví dụ 3: Với tài liệu ví dụ 1, giả thiết thêm: Mức sản lượng (đơn vị tính: 1000 Sản
Ưu điểm: Mức khấu hao phù hợp với hiệu quả hoạt động của TSCĐ.
Nhược điểm: Khi sản lượng thực tế nhỏ hơn nhiều so với công suất thiết kế thì sẽ
không thu hồi đủ vốn đầu tư TSCĐ
Trường hợp sử dụng: Thường được áp dụng đối với các loại TSCĐ trực tiếp sản
xuất sản phẩm và sản lượng sản xuất tương đối phù hợp với công suất thiết kế
2.1.2.3 Lập kế hoạch khấu hao tài sản cố định
* Phạm vi tính khấu hao:
Trang 33- Mọi tài sản cố định có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh đều tríchkhấu hao.
- Những tài sản cố định không tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh thìkhông trích khấu hao gồm:
+ TSCĐ giữ hộ, bảo quản hộ Nhà nước
+ TSCĐ hoạt động phúc lợi: nhà trẻ, câu lạc bộ, nhà ăn, truyền thống
+ TSCĐ chưa khấu hao đủ nhưng đã hư hỏng doanh nghiệp phải xác định nguyênnhân, quy trách nhiệm vật chất bồi thường và không tích khấu hao kể từ khi ngừng hoạtđộng
+ TSCĐ đã khấu hao hết nhưng vẫn sử dụng
+ TSCĐ vô hình đặc biệt là quyền sử dụng đất lâu dài, doanh nghiệp ghi tăngnguyên giá TSCĐ vô hình nhưng không trích khấu hao
* Thời điểm trích khấu hao tài sản cố định
Tăng, giảm tài sản cố định từ ngày nào được trích hoặc thôi trích khấu hao từ ngàyđó
TSCĐ tăng thêm phải trích khấu hao gồm:
- Do mua sắm
- Do xây dựng cơ bản bàn giao đưa vào sản xuất
- TSCĐ chuyển từ dự trữ đưa vào sử dụng
- TSCĐ từ nơi khác chuyển đến
TSCĐ giảm năm kế hoạch gồm:
- TSCĐ sa thải, thanh lý, nhượng bán
- TSCĐ chuyển từ sử dụng sang dự trữ hoặc điều động đi nơi khác
* Trình tự lập khấu hao :Theo trình tự sau:
- Xác định tổng giá trị tài sản cố định vào đầu năm khấu hao, cơ cấu theo nguồnhình thành đó và phạm vi phải tính khấu hao
- Xác định tình hình tăng, giảm tài sản cố định năm khấu hao và nguyên gía tài sản
cố định bình quân tăng, giảm phải tính khấu hao trong năm kế hoạch
∑
i=1
n NG
tKHi×Tsdi
T
Trang 34NG g=
∑
i=1
n NG
gKHii×Tksdi
T Trong đó:
NG tKH i, NG gKH i: Nguyên giá TSCĐ thứ i tăng (giảm) cần tính hoặc thôi tính khấuhao
T sd Thời gian sử dụng TSCĐ thứ i
T ksd Thời gian không sử dụng TSCĐ thứ i
T: Tổng thời gian kỳ tính khấu hao
Nếu tài sản cố định được đầu tư bằng vốn chủ sở hữu thì doanh nghiệp chủ động
sử dụng số tiền khấu hao đó để tái đầu tư tài sản cố định hoặc sử dụng linh hoạt sao cho
có hiệu quả
Nếu tài sản cố định được đầu tư bằng vốn vay, về nguyên tắc doanh nghiệp phải
sử dụng tiền trích khấu hao thu được để trả vốn vay Tuy nhiên chưa đến kỳ trả nợ, doanhnghiệp có thể tạm thời sử dụng vào các mục đích kinh doanh khác
Ví dụ:
- Tổng giá trị tài sản cố định phải tính khấu hao đến cuối quý III năm báo cáo là1.800 triệu đồng
- Dự kiến trong quý IV doanh nghiệp mua thêm một số thiết bị mới có nguyên giá
300 triệu đồng, thanh lý một phương tiện vận tải nguyên giá 100 triệu đồng
- Dự kiến tình hình biến động tài sản cố định ngày đầu các tháng trong năm khấuhao như sau :
1 Tháng 4 đưa vào sử dụng một phân xưởng sản xuất trị giá 360 triệu đồng
2 Tháng 5 thanh lý một nhà kho hết NG = 120 triệu đồng
Trang 353 Tháng 7 doanh nghiệp mua về một máy trị giá 108 triệu đồng.
4 Tháng 9 thanh lý 1 tài sản cố định đã hư hỏng, NG = 90 triệu đồng
5 Tỷ lệ khấu hao tổng hợp bình quân là 10%
Giả sử toàn bộ số tiền khấu hao trong năm kế hoạch được hình thành từ các nguồnsau
Để tái đầu tư : 221,4 x 0,75 = 166,05 triệu đồng
Để trả nợ : 221,4 x 0,25 = 55,35 triệu đồng
2.1.3 Tác động tài chính của khấu hao đối với doanh nghiệp
Thoạt nhìn sơ qua, có thể không thấy hết ảnh hưởng nhiều mặt của khấu hao Doquá quen thuộc với cơ chế quản lý các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) nên nhiều ngườichỉ nghĩ rằng khấu hao ảnh hưởng đến bảo toàn vốn cố định và giá thành
Thực ra, tốc độ khấu hao nhanh hay chậm có ảnh hưởng đồng thời đến nhiều mặthoạt động và đến quan hệ lợi ích xung quanh việc nộp thuế Có thể tóm tắt như sau:
Trang 36● Nếu tăng tỷ lệ khấu hao thì tốc độ thu hồi vốn đầu tư vào tài sản cố định tănglên, hạn chế hao mòn vô hình, tạo điều kiện nhanh chóng đổi mới công nghệ Điều đócũng có nghĩa là tăng khả năng bảo toàn vốn cố định.
● Tuy nhiên, mặt khác cần phải giải quyết là vấn đề giá thành sản phẩm và khảnăng tiêu thụ trên thị trường (khả năng cạnh tranh qua giá) Nếu tỷ lệ chi phí khấu haotrong giá thành sản phẩm rất nhỏ thì cũng dễ dàng chấp nhận khấu hao nhanh Ngược lại,khi tăng tỷ lệ khấu hao sẽ làm tăng giá thành sản phẩm một cách đáng kể, gây sức épbuộc doanh nghiệp tăng giá bán để giữ mức lợi nhuận mong muốn Nhưng trong điềukiện cạnh tranh, việc tăng giá thường làm giảm khả năng cạnh tranh và mức tiêu thụ Đây
là tác động bất lợi cần xem xét kỹ lưỡng
● Ảnh hưởng tất yếu, như một hệ quả, của việc tăng khấu hao làm lợi nhuận kếtoán sẽ giảm, vì nói chung mặt bằng giá bán bị ấn định bởi thị trường Thật ra, bản chấtkinh tế của số lợi nhuận giảm đi trên sổ sách chỉ phản ánh về mặt kế toán Lợi nhuận báocáo giảm xuống thì thuế lợi tức phải nộp cũng giảm Ở nhiều nước, rất nhiều công ty lợidụng điểm nhạy cảm này để “tránh thuế” một cách hợp lý Lưu ý rằng, đây không phải làtrốn thuế vì doanh nghiệp không vi phạm luật pháp
2.1.4 Quản trị vốn cố định và hiệu quả sử dụng vốn cố định
* Mục đích :
Là căn cứ để đưa ra quyết định về mặt tài chính như : điều chỉnh quy mô, cơ cấuvốn đầu tư, hiện đại hóa tài sản cố định, khai thác những năng lực sản xuất TSCĐ hiện cónhờ đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định
* Hệ thống chỉ tiêu kiểm tra
VCĐ bình quân = VCĐ đầu kỳ + VCĐ cuối kỳ
2
Trang 37Số tiền khấuhao tăng trongkỳ
-Số tiền khấuhao giảm trongkỳ
+ Hệ số hàm lượng vốn cố định : để tạo ra một đồng doanh thu cần bao nhiêu
đồng vốn cố định
Hàm lượng VCĐ = VCĐ bình quân trong kỳ
Doanh thu thuần trong kỳ
+ Tỷ suất lợi nhuận vốn cố định : Một đồng vốn cố định tạo ra bao nhiêu đồng lợi
+ Hệ số hao mòn TSCĐ = Số khấu hao lũy kế ở thời điểm đánh giá
Tổng NG TSCĐ ở thời điểm đánh giá
- Các chỉ tiêu về kết cấu TSCĐ
- Các chỉ tiêu về kết cấu nguồn vốn đầu tư cho TSCĐ
* Xử lý thông tin kiểm tra và đề xuất phương hướng, biện pháp:
Sau khi xây dựng hệ thống chỉ tiêu kiểm tra, khâu quan trọng tiếp theo là phântích, xử lý thông tin để rút ra các kết luận của kiểm tra tài chính Những kết luận cùngnhững giải pháp tài chính thường gồm những nội dung chủ yếu sau:
- Điều chỉnh cơ cấu vốn cố định
Trang 38- Thu hồi vốn: Lựa chọn phương pháp khấu hao, mức khấu hao, đánh giá lại tàisản
- Thanh toán chi trả: Đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp đối với cácnguồn tài trợ
- Nâng cao công suất của máy móc: Có chế độ thưởng phạt về bảo quản và sửdụng thiết bi, nghiên cứu phát minh tiến bộ kỹ thuật
CHƯƠNG 2 : QUẢN TRỊ VỐN KINH DOANH 2.2 Quản trị vốn lưu động
2.2.1 Khái niệm và thành phần, kết cấu vốn lưu động
* Khái niệm
Để tiến hành sản xuất kinh doanh, ngoài các tư liệu lao động còn cần có các đốitượng lao động như nguyên vật liệu, bán thành phẩm Đối tượng lao động có đặc diểm làchỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh, không giữ nguyên hình thái vật chấtban đầu và giá trị của nó được chuyển toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm
Đối tượng lao động xét về hình thái hiện vật được gọi là tài sản lưu động còn xét
về giá trị được gọi là vốn lưu động
Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động Đặc điểm của vốn lưu động chịu sự chi phối bởi đặc điểm của tài sản lưu động.
Tài sản lưu động gồm 2 loại: Tài sản lưu động sản xuất như nguyên vật liệu, phụtùng thay thế, bán thành phẩm tài sản lưu động lưu thông như thành phẩm, vốn bằngtiền, vốn trong thanh toán, chi phí chờ kết chuyển
Có thể nói vốn lưu động của doanh nghiệp là số vốn tiền tệ ứng trước để đầu tưmua sắm tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông trong doanh nghiệp
- Vốn lưu động chuyển toàn bộ giá trị ngay một lần và được hoàn lại toàn bộ khidoanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm
* Thành phần kết cấu vốn lưu động
Nội dung của vốn lưu động bao gồm:
Trang 39- Vốn bằng tiền.
- Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn
- Các khoản phải thu
- Các khoản hàng tồn kho
- Tài sản lưu động khác: Tạm ứng, chi phí trả trước, chi phí chờ kết chuyển
* Phân loại vốn lưu động:
- Theo vai trò của vốn lưu động trong quá trình tái sản xuất: 3 loại
+ Vốn lưu động trong khâu dự trữ: Nguyên vật liệu, nhiên liệu, phụ tùng thay thế,vật liệu đóng gói, công cụ dụng cụ
+ Vốn lưu động trong khâu sản xuất: Sản phẩm đang chế tạo, bán thành phẩm tựchế, chi phí trả trước
+ Vốn lưu động trong khâu lưu thông: Vốn thành phẩm, vốn bằng tiền, các khoản đầu tưtài chính ngắn hạn, vốn trong thanh toán: Phải thu, tạm ứng
- Theo hình thái biểu hiện: 2 loại
+ Vốn vật tư hàng hóa: Là khoản vốn lưu động có hình thái biểu hiện bằng hiện vật cụthể
Gồm : Nguyên vật liệu chính
Nguyên vật liệu phụ Nhiên liệu
Phụ tùng thay thế Công cụ dụng cụ
Sản phẩm dở dang đang chế tạo Vốn thành phẩm
Vốn về chi phí trước
+ Vốn bằng tiền và các khoản phải thu:
Vốn bằng tiền : Gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển
Các khoản phải thu: Chủ yếu là các khoản phải thu từ khách hàng, khoản tạm ứng
Trang 40+ Vốn đầu tư tài chính ngắn hạn.
- Theo nguồn hình thành:
+ Nguồn vốn chủ sở hữu: là số vốn lưu động thuộc quyền sở hữu của doanhnghiệp, doanh nghiệp có đầy đủ các quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền chi phối vàđịnh đoạt
+ Nợ phải trả: Gồm vốn đi vay và vốn trong thanh toán
* Kết cấu vốn lưu động và các nguyên tố ảnh hưởng đến kết cấu
Kết cấu vốn lưu động là quan hệ tỷ lệ giữa các thành phần vốn lưu động chiếmtrong tổng số vốn lưu động tại một thời điểm nhất định
Ý nghĩa: Việc nghiên cứu kết cấu vốn lưu động sẽ giúp ta thấy được tỷ trọng mỗi
khoản vốn chiếm trong cá giai đoạn luân chuyển để xác định trọng điểm quản lý vốn lưuđộng và tìm mọi biện pháp tối ưu để nâng cao hiệu quả sử dụng
Các doanh nghiệp khác nhau thì kết cấu vốn lưu động khác nhau
Các nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu vốn lưu động:
- Về mặt sản xuất: Đặc điểm kỹ thuật, công nghệ sản xuất, độ dài chu kỳ sản xuất,trình độ tổ chức quá trình sản xuất
- Nhân tố về mặt cung ứng: Khoảng cách giữa doanh nghiệp - nhà cung cấp, kỳhạn giao hàng, khối lượng vật tư được cung cấp mỗi lần
- Nhân tố về mặt thanh toán: Phương thức thanh toán, thủ tục thanh toán, việcchấp hành kỷ luật thanh toán
2.2.2 Quản trị tiền mặt
Tiền mặt có hai dạng đó là tiền gởi và tiền mặt Công ty luôn phải duy trì một mứctiền mặt nhất định để có thể trả lương, mua nguyên vật liệu, mua tài sản cố định, trả thuế,trả nợ và trả cổ tức… Tuy nhiên, tiền mặt bản thân nó không có khả năng sinh lợi Vì thếmục tiêu của nhà quản trị tiền mặt là tối thiểu hóa lượng tiền mặt mà họ nắm giữ
2.2.2.1.Các lý do phải nắm giữ tiền mặt
Các công ty thường nắm giữ tài khoản tiền mặt bao gồm tài khoản giao dịch, dựphòng và đầu cơ Tuy nhiên, không thể xác định chi tiết cho từng khoản mục và tổng hợplại để xây dựng thành một tài khoản tiền mặt hợp lý sử dụng cho nhiều mục đích khácnhau Các nhà quản trị tài chính cần xem xét các lý do nắm giữ tiền mặt để xây dựng tàikhoản tiền mặt mục tiêu Các nguyên nhân công ty phải nắm giữ tiền mặt là:
- Thực hiện các giao dịch: các giao dịch liên quan đến việc thanh toán và thu hồinợ