BÁO CÁO SÁNG KIẾN MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG CẤP DÂN TỘC NỘI TRÚ TỈNH THÁI NGUYÊN 1 Lời giới thiệu Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau v[.]
Trang 1BÁO CÁO SÁNG KIẾN MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG CẤP DÂN TỘC NỘI TRÚ
TỈNH THÁI NGUYÊN
1 Lời giới thiệu
Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về giáo dục giới tính, nhưng nhìn chung, có thể hiểu giáo dục giới tính là hoạt động cung cấp những thông tin khoa học về giới tính, về cách ứng xử trong quan hệ với người khác giới trong tình bạn, tình yêu, tình dục và hôn nhân gia đình nhằm thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi phù hợp với giới tính của bản thân, xây dựng giới tính (nam tính, nữ tính) sao cho phù hợp với khuôn mẫu của xã hội
Giáo dục giới tính là việc làm có ý nghĩa thiết thực trong cuộc sống hiện nay, bởi lẽ trong tình hình Việt Nam đang hội nhập thế giới, bên cạnh những nét văn minh, tích cực chúng ta cần tiếp thu, thì những hành vi ngoại lai không phù hợp với chuẩn mực văn hóa, lối sống của chúng ta đang xâm nhập vào giới trẻ Điều này đã dẫn tới một bộ phận thanh, thiếu niên hiện nay có sống buông thả, sống thực dụng
Vấn đề giáo dục giới tính có là vấn đề cần thiết tham gia vào quá trình giáo dục
và đào tạo vẫn đang còn nhiều ý kiến khác nhau Thiết nghĩ bên cạnh việc học các
bộ môn văn hóa, học nghề thì học sinh vẫn có nhu cầu tìm hiểu, nhận thức đối với các vấn đề giới tính Vấn đề này đang có sức hút nhất định và ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành và phát triển nhân cách của học sinh trong trường
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: "Một số giải pháp quản lý nâng cao hiệu quả giáo dục giới tính cho học sinh Trường Trung cấp Dân tộc nội trú tỉnh Thái Nguyên”.
2 Tên sáng kiến
Một số giải pháp quản lý nâng cao hiệu quả giáo dục giới tính cho học sinh
Trang 2trường Trung cấp Dân tộc nội trú tỉnh Thái Nguyên.
3 Đồng tác giả sáng kiến
- Nguyễn Thị Thủy; Phạm Thị Lý
- Địa chỉ: Khoa CNTT - May thời trang – Trường Trung cấp Dân tộc nội trú tỉnh Thái Nguyên
- Số điện thoại: 0979.770.130; Email: Nguyenthuy200388@gmail.com
4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến
Sáng kiến được tạo ra do cá nhân tự nghiên cứu, tham khảo và viết ra
5 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến:
Áp dụng trong chương trình giáo dục giới tính cho học sinh tại trường
6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử
Áp dụng trong năm học 2019-2020
7 Mô tả bản chất của sáng kiến:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG
7.1 Cơ sở viết sáng kiến
7.1.1 Đối tượng giáo dục:
Học sinh tại nhà trường là đối tượng học sinh độ tuổi từ 15-18 tuổi vị thành niên là một giai đoạn phát triển rất nhanh về thể chất, tâm sinh lý và tinh thần Tình hình bùng nổ thông tin hiện nay, đặc biệt là qua mạng Internet, các xu hướng văn hóa đã và đang xâm nhập, ảnh hưởng rất nhiều đến suy nghĩ và hành vi của lứa tuổi vị thành niên Nhiều vấn đề về sức khỏe sinh sản ở người lớn xuất phát từ những thói quen dung nhập trong giai đoạn vị thành niên, như hành vi tình dục, rượu chè, ma túy Do đó, việc giáo dục giới tính cho lứa tuổi này rất cần thiết, nhằm đảm bảo sự phát triển lành mạnh về thể chất và tinh thần
- Bước vào bậc THPT, các em ở độ tuổi từ 15-16 đến 18 tuổi, đây là quãng đời diễn ra những "biến cố" đặc biệt, là giai đoạn đặc trưng với các dấu hiệu của tuổi dậy thì của nam và nữ
Trang 3- Đời sống cảm xúc của các em bị chi phối bởi hai yếu tố cơ bản Đó là: Sự cải tổ
về mặt giải phẫu sinh lí dẫn đến dậy thì Hoạt động giao tiếp với bạn bè cùng lứa tuổi và với người lớn
- Ở học sinh khối lớp 10 (độ tuổi 15-16) đã nảy sinh những xúc cảm tình cảm yêu đương đầu đời Do đó phải giáo dục định hướng đúng đắn cho các em thông qua việc GDGT
Như vậy, khi giáo dục giới tính giáo viên phải nắm được các đặc điểm tâm sinh lí diễn ra phức tạp của học sinh khi mới bước vào cấp học THPT có sự quan tâm đúng mức đến tâm tư, nguyện vọng của các em nhằm điều chỉnh kịp thời những hành vi lệch lạc
7.1.2 Những kiến thức cơ bản về giáo dục giới tính và bình đẳng giới cần cung cấp cho học sinh ở trường:
- Giúp các em nắm được một số kiến thức cơ bản như: Sự phát triển tâm sinh lý; giáo dục giới tính; giáo dục sức khoẻ tình dục lành mạnh và an toàn, các biện pháp tránh thai, phòng các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục, những biến đổi và khác biệt về tính cách em trai em gái do các hoocmon từ các tuyến sinh dục gây ra
- Giáo dục kỹ năng giao tiếp ứng xử trong quan hệ giữa bạn trai, bạn gái ở tuổi
vị thành niên, ứng xử với cha mẹ, anh em trong gia đình
- Hiểu biết sâu sắc các giá trị của tình bạn, tình yêu, hiểu biết những thất bại tâm lý và các nguy hại lâu dài phải gánh chịu nếu vượt qua trái cấm
- Giáo dục bạn trai biết tự trọng, tôn trọng bảo vệ bạn gái, có bản lĩnh, biết tự kiềm chế để chứng minh cho một tình yêu lành mạnh nếu nó chớm nở
- Giáo dục kỹ năng phòng vệ trước các áp lực nội tại đến từ hai phía, đặc biệt giáo dục kỹ năng phòng vệ cho các em gái, và rất nhiều nội dung khác xoay quanh tâm lý giới tính tuổi mới lớn giúp các em tự tin, tự chủ, tự hoàn thiện nhân cách, tự
Trang 4nhận thức để thay đổi hành vi, vững vàng nói "không" trước cám dỗ của bản năng
ở độ tuổi dậy thì
7.2 Thực trạng của vấn đề cần giải quyết
7.2.1 Thực trạng chung trong xã hội
Giáo dục giới tính là một lĩnh vực rất phức tạp Có nhiều quan niệm, nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này
Có những ý kiến cho rằng chỉ nên giáo dục giới tính khi các em vào thời kỳ chín muồi giới tính
Một số ý kiến nhầm lẫn giáo dục giới tính với giáo dục tính dục, hoặc giáo dục tình dục, giáo dục tình yêu Thực ra tính dục chỉ là một bộ phận của giới tính Sự thu hẹp phạm vi của giáo dục giới tính như vậy sẽ có thể đưa đến tác dụng phản diện hoặc hạn chế hiệu quả của giáo dục giới tính
Có một số người cho rằng, không nên giáo dục giới tính, vì như thế là làm hoen
ố tâm hồn thanh cao của các em, là thiếu tế nhị, không phù hợp với môi trường sư phạm, là "vẽ đường cho hươu chạy"
Ở nhiều nước trên thế giới, các hình thức giáo dục giới tính đã có vị trí của nó trong trường phổ thông Nếu các hình thức đó được tiến hành tốt đẹp thì trẻ em ở từng độ tuổi đều có được những thông tin cần thiết và lĩnh hội được mọi vấn đề có liên quan đến đời sống tình cảm của con người
7.2.3 Thực trạng về nhận thức của học sinh khi mới nhập học và bước vào năm học mới.
Thông qua phiếu khảo sát cho học sinh 02 lớp: CNTT2019A, CNTT2019B
Bảng 1 Khảo sát nhận thức về giáo dục giới tính học sinh 02 lớp CNTT2019A,
CNTT 2019B
Mức độ nhận thức về giáo dục giới
Trang 5Nhận thức tốt 40% 45%
Bảng 2 Khảo sát nhận thức về thái độ của học sinh khi được tham gia vào các lớp
học giáo dục giới tính trước đây tại trường THCS( học sinh 02 lớp CNTT2019A, CNTT 2019B)
Thái độ của học sinh khi tham gia
vào các lớp học GDGT trước đây CNTT 2019A CNTT 2019B
7.3 Thực trạng quản lý việc giảng dạy của giáo viên
- Quản lý việc phân công giáo viên giảng dạy.
- Quản lý việc chuẩn bị bài lên lớp và giờ lên lớp của giáo viên.
- Quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên.
7.4 Thực trạng quản lý công tác tổ chức giáo dục giới tính
Quản lý công tác tổ chức các hoạt động chính khóa
- Kết hợp trong giờ sinh hoạt lớp.
- Môn học giáo dục sức khỏe sinh sản.
- Hoạt động ngoài giờ lên lớp.
7.5 Thực trạng quản lý cơ sở vật chất phục vụ công tác GDGT
Nhà trường chưa có phòng tư vấn học đường, còn có nhiều hạng mục cơ sở vật chất khác cần được trang bị để phục vụ tốt công tác GDGT trong học sinh THPT Có thể kể đến các sách, vở tài liệu, tivi, các phương tiện multimedia, tranh ảnh, phòng…
7.6 Thực trạng quản lý việc phối hợp với cha mẹ học sinh trong công tác giáo dục giới tính.
Khảo sát sự trao đổi của cha mẹ học sinh, học sinh về việc GDGT cho con em
Trang 6Mức độ
Tổng số
Cha mẹ học sinh trao đổi
với học sinh
Số lượng Tỉ lệ (%)
Khảo sát về sự quan tâm của cha mẹ học sinh về tuổi dậy thì và việc GDGT cho con em
SL TL (%) SL TL (%)
7.7 Những ưu, khuyết điểm của thực trạng quản lý hoạt động giáo dục giới tính tại trường
a Ưu điểm
- Về nhận thức: Các CB-GV, cha mẹ học sinh đều đã có nhận thức khá tốt về sự cần thiết của công tác GDGT cho học sinh ở lứa tuổi THPT trách nhiệm giáo dục thuộc về gia đình và cha mẹ học sinh Đa số học sinh đã có ý thức về đặc điểm lứa tuổi, khái niệm giới tính, hiểu về bệnh AIDS, cách phòng tránh, có ý thức học tập khá nghiêm túc các vấn đề về giới tính
- Nội dung chương trình GDGT hiện hành ở cấp THPT đã được thực hiện tương đối đầy đủ, BGH có kiểm tra việc thực hiện chương trình Việc phân công giáo viên giảng dạy GDGT đúng chuyên môn Ngoài ra còn phân công các lực lượng khác tham gia GDGT như GVCN chú ý kết hợp giữa GDGT với giáo dục đạo đức, hoàn thiện nhân cách cho học sinh
Trang 7- BGH các trường có quan tâm quản lý việc chuẩn bị bài lên lớp, quản lý giờ lên lớp, dự giờ rút kinh nghiệm về công tác GDGT, quản lý giáo viên tham gia tập huấn cập nhật kiến thức GDGT do các cấp quản lý giáo dục
- Hiểu biết của học sinh về giới tính và các vấn đề giới tính có tiến bộ, ít sai lệch, phù hợp với lứa tuổi
*Nguyên nhân:
- Do hoàn cảnh kinh tế của nhân dân được cải thiện, cha mẹ học sinh có điều kiện quan tâm đến con cái hơn Mặt khác sự phát triển của thông tin và truyền thông như tivi, sách, báo, internet…phát triển mạnh, qua đó người dân và học sinh có những kiến thức
cơ bản về giới tính về các bệnh liên quan đế giới tính
- Nhà trường có quan tâm đến giáo dục giới tính như có phân công giáo viên giảng dạy, phân công thêm lực lượng tham gia GDGT
b Nhược điểm
- Mặc dù CB-GV và cha mẹ học sinh nhận thức khá tốt về công tác GDGT, trách nhiệm GDGT song cách thức tiến hành GDGT chưa tương xứng với tầm quan trọng của công tác này
- Việc giảng dạy chương trình theo qui định chưa sinh động, nội dung giảng dạy chủ yếu dựa vào sách giáo khoa, giáo viên ít cập nhật thông tin, chưa theo kịp nhu cầu giáo dục ngày càng cao của xã hội Phương pháp giảng dạy còn đơn điệu, không phù hợp đặc trưng của nội dung giáo dục có tính “nhạy cảm” và mang tính
xã hội Giờ học chưa tự nhiên, chưa kết hợp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh
- Chưa có phòng tư vấn học đường để kịp thời giải đáp thắc mắc của học sinh về giới tính Thầy cô chưa phải là người thực sự được học sinh tin cậy để giải bày suy nghĩ
- Cơ sở vật chất nhằm đáp ứng cho công tác GDGT như băng đĩa, tài liệu, giáo trình, tranh ảnh … còn nghèo nàn, thiếu bổ sung, thiếu phòng học phù hợp phục vụ GDGT
Trang 8- Công tác tư vấn, cung cấp kiến thức về tâm sinh lý lứa tuổi THPT cho cha
mẹ học sinh chưa đúng mức Một bộ phận cha mẹ học sinh bận lo sinh kế, không theo dõi giáo dục con, phó mặc việc giáo dục con em cho nhà trường, không tích cực GDGT cho con em
- Công tác GDGT gặp nhiều khó khăn, chưa huy động được các tổ chức xã hội trong và ngoài nhà trường tham gia giáo dục, chưa vận động được các nguồn kinh phí, thực hiện xã hội hóa giáo dục trong lĩnh vực GDGT
* Nguyên nhân
Do đặc điểm tâm lí dân tộc, nếp sống xã hội : Người dân Việt Nam thường rất e ngại khi nói đến những vấn đề như tình yêu, tình dục, sinh lý nam nữ … Vì vậy việc giáo dục những nội dung này cho học sinh dễ bị dư luận xã hội thành kiến làm ảnh hưởng đến tâm lí giáo viên, học sinh và các bậc cha mẹ học sinh Thực tế vẫn còn một ít cha mẹ học sinh e ngại, không muốn con tham gia học tập các kiến thức
về giới tính Điều này đã làm cho giáo viên cảm thấy e ngại khi giảng dạy cho học sinh các vấn đề giới tính
Sự tác động của các phương tiện thông tin ngoài nhà trường đã làm ảnh hưởng đến tâm sinh lý của học sinh THPT Học sinh có thể tiếp cận thông tin về giới tính bằng nhiều hình thức như sách báo, tranh ảnh, băng hình, internet … Tuy nhiên một số ấn phẩm này núp dưới chiêu bài GDGT để đưa đến cho học sinh nhiều nội dung có nguy cơ làm lệch lạc nhận thức của học sinh, kích thích sự tò mò, làm cản trở việc lĩnh hội tri thức và rèn luyện các phẩm chất giới tính một cách nghiêm túc, làm tăng thêm nỗi e ngại của mọi người về việc dạy cho học sinh những vấn đề về tình yêu, tình dục, sinh lý cơ thể
Nhân lực thực hiện công tác GDGT thiếu người có kiến thức chuyên sâu Giáo viên ít quan tâm tìm hiểu đặc điểm cá nhân học sinh, tâm lý của học sinh khi học tập các bài có nội dung GDGT, chưa thực hiện dạy “cụ thể hóa” đối với các đối tượng học sinh cho phù hợp với tình hình từng lớp Người tư vấn tâm lý như bác sĩ,
Trang 9chuyên gia tâm lý không có dịp đến trường (để báo cáo chuyên đề) Vì vậy việc tư vấn cho học sinh đến nơi đến chốn là điều không thể Học sinh không có nhiều cơ hội để được giãi bày, tâm sự, tìm hiểu thấu đáo vấn đề
Trình độ dân trí của người dân chưa cao, số phụ huynh đủ hiểu biết để cùng với nhà trường tổ chức GDGT một cách đầy đủ và khoa học cho cha mẹ học sinh Cần thiết phải tư vấn tốt hơn cho cha mẹ học sinh để cha mẹ học sinh làm tròn trách nhiệm GDGT cho con em trong tình hình hiện nay
Kinh phí phục vụ công tác GDGT còn hạn hẹp, muốn tổ chức hoạt động (chính khóa và ngoại khóa), phòng tư vấn học đường (nếu có) đều cần có kinh phí
để tổ chức
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC
GIỚ TÍNH CHO HỌC SINH
Từ kết quả nghiên cứu, xuất phát từ thực trạng của công tác quản lý hoạt động giáo dục giới tính trong nhà trường, để nâng cao chất lượng GDGT trong thời gian tới, tác giả xin đề xuất các giải pháp sau đây
* Giải pháp 1: Tăng cường đổi mới phương pháp giảng dạy GDGT
- Mục tiêu giải pháp
Giải pháp này nhằm đưa ra một số phương pháp giáo dục giới tính thay cho một số biện pháp hiện nay
- Nội dung giải pháp
+ Phương pháp thuyết trình: Muốn nâng cao chất lượng ở phương pháp
thuyết trình, giáo viên phải trao dồi rèn luyện nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ giản dị, trong sáng, đảm bảo tính khoa học Giáo viên giữ thái độ nghiêm túc, kết hợp giữa giảng dạy và hướng dẫn tự học Nội dung trao đổi phải phù hợp với nội dung giáo dục và tâm lý của học sinh THPT, tránh các câu hỏi thiếu tế nhị vượt quá sự phát triển của tâm lý lứa tuổi
+ Phương pháp dạy học theo nhóm: Giáo viên chia lớp học thành các nhóm
Trang 10nhỏ, mỗi nhóm có nhóm trưởng và thư ký ghi lại nội dung các nhóm thảo luận Do cùng lứa tuổi, tương đồng về tâm lý, các em sẽ chia sẻ và bộc lộ suy nghĩ, cùng nhau chọn ra những suy nghĩ đúng đắn, phê phán những nhận thức lệch lạc Muốn tiết dạy đạt hiệu quả, giáo viên cần chuẩn bị kỹ nội dung thảo luận, dự kiến tình huống trong thảo luận Từ những điều học sinh trình bày, giáo viên xây dựng cho học sinh thái độ sống đúng đắn, biết cư xử đúng, tránh được những sai lầm trong tình yêu, phòng chống bệnh HIV-AIDS
+ Phương pháp đóng vai: giáo viên tạo ra tình huống giả định, cho học sinh
đóng vai theo tình huống, sau đó cả lớp sẽ cùng nhận xét mặt tích cực, tiêu cực của cách giải quyết theo tình huống Nhờ sử dụng phương pháp này, học sinh thâm nhập thực tế dễ dàng hơn và khắc sâu kiến thức về giới tính nhiều hơn
+ Phương pháp cùng tham gia: Giáo viên thực hiện phương pháp này
bằng cách nêu lên lý thuyết ngắn gọn, sau đó để học sinh phát biểu những thắc mắc của mình Đồng thời làm dịu đi những thắc mắc của học sinh làm cho các thông tin mà thầy cô cung cấp “nhẹ nhàng đi vào tâm trí trẻ thay cho những giáo điều khô cứng mang tính học thuật”
Cách nêu lý thuyết để cho học sinh hứng thú giáo viên có thể sử dụng các phần mềm máy tính, trình chiếu với máy Projector để lồng ghép các đoạn phim minh họa về giới tính, từ đó giáo dục học sinh trách nhiệm đối với việc học tập và rèn luyện của bản thân học sinh, phòng tránh những hậu quả từ sự thiếu hiểu biết
- Cách thức thực hiện giải pháp
Chú trọng công tác dự giờ đối với những tiết có dạy giáo dục giới tính để rút kinh nghiệm cho giáo viên cũng như cho các giáo viên khác có dạy chủ đề giáo dục giới tính Hàng năm có tổng kết sơ, tổng kết để đánh giá và rút kinh nghiệm cho những năm học sau
* Giải pháp 2: Tổ chức các hoạt động ngoại khóa
- Mục tiêu giải pháp