1 CHƯƠNG I NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỰ DO KINH TẾ 1 Thế nào là tự do kinh tế Tự do kinh tế được hiểu là các giao dịch kinh tế mà không có sự can thiệp của Nhà nước, nhưng có sự hỗ trợ của Nhà nước thông[.]
Trang 1CHƯƠNG I : NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỰ DO KINH TẾ
1 Thế nào là tự do kinh tế:
Tự do kinh tế được hiểu là các giao dịch kinh tế mà không có sự can thiệpcủa Nhà nước, nhưng có sự hỗ trợ của Nhà nước thông qua việc thiết lập hệ thốngluật pháp, một đồng tiền mạnh và mở cửa thị trường
Các thành phần của tự do kinh tế là lựa chọn cá nhân, trao đổi tự nguyện
và bảo vệ tài sản và con người Một nền kinh tế tự do là nền kinh tế mà trong đó
lựa chọn cá nhân sẽ quyết định hàng hoá và dịch vụ nào sẽ được sản xuất, sẽ đượcsản xuất như thế nào Tư hữu là cơ nền tảng của tự do kinh tế do với sự tư hữu, cánhân có quyền lựa chọn và quyết định họ sẽ sử dụng các nguồn lực (thời gian, kỹnăng, tiền…) của họ như thế nào, mặt khác họ cũng không có quyền sử dụng nguồnlực của người khác và không có quyền yêu cầu người khác phải cung cấp cái gì đócho họ
Tự do kinh tế phản ánh quyền được bảo vệ, đó là quyền bảo vệ tài sản củangười này chống lại sự chiếm đoạt của người khác không thuộc về sở hữu của họ
Các chính sách và cơ quan nhà nước với vai trò hỗ trợ là cần thiết đối với sự
tự do kinh tế, nhà nước cung cấp hạ tầng cho sự trao đổi tự nguyện, bảo vệ các cánhân và tài sản của họ tránh khỏi sự chiếm đoạt của kẻ khác bằng vũ lực, sự lừa đảohay trộm cướp Đồng thời nhà nước với hệ thống luật pháp và cơ quan tư pháp đảmbảo các hợp đồng được các phía tôn trọng và thực hiện một cách công bằng Nhànước cũng tăng cường sự tự do kinh tế thông qua việc tạo điều kiện thuận lợi trongviệc tiếp cận một đồng tiền mạnh – đó là loại tiền được kiểm soát một cách hợp lýnhằm tránh khỏi sự mất giá do lạm phát quá mức
Tuy nhiên, với sự tự do kinh tế cũng đặt ra yêu cầu nhà nước phải hạn chếnhiều hoạt động như hạn chế thuế, chi tiêu chính phủ và các chính sách thay thế cho
sự lựa chọn cá nhân, tự nguyên trao đổi và hợp tác thị trường
2 Tư tưởng tự do kinh tế trong các học thuyết kinh tế tư sản:
2.1 Các học thuyết kinh tế chính trị học tư sản cổ điển:
a Học thuyết của những người theo Chủ nghĩa trọng thương:
Chủ nghĩa trọng thương xuất hiện trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản ở vào giaiđoạn tích luỹ nguyên thuỷ tư bản, với việc thực hiện thương mại bất bình đẳng vớicác nước yếu và nước thuộc địa Tư tưởng chủ yếu của học thuyết này là tăng cườnghoạt động xuất khẩu (đặc biệt là các hàng hoá đã qua chế biên) hạn chế nhập khẩu
Sử dụng các biện pháp hành chính phi kinh tế để tác động vào hoạt động kinh tếnhư đánh thuế cao, cấm xuất khẩu nguyên liệu thô, cấm mang tiền, vàng ra nướcngoài Nhìn nhận chung thì chủ nghĩa trọng thương hoàn toàn không coi trọng tự
do kinh tế Tuy nhiên, ở một khía cạnh nào đó với việc gắn kết các thương gia vớicác nhà nước trong đó nhà nước bảo vệ hoạt động kinh doanh và tài sản của họcũng như việc coi tiền (vàng) là của cải duy nhất của xã hội từ đó duy trì một đồng
Trang 2tiền mạnh (gắn chặt với vàng) thì cũng có thể coi như đó là những tư tưởng tạo cơ
sở cho sự phát triển và tồn tại của sự tự do kinh tế
b Học thuyết của những người theo Chủ nghĩa trọng nông:
Có thế nói tư tưởng tự do kinh tế của những người theo chủ nghĩa trọng nôngthể hiện rõ nhất qua học thuyết về trật tự tư nhiện, trong đó quy luật tác động vàolĩnh vực kinh tế là quy luật luân lý Theo đó, họ kêu gọi nên coi trọng và tuân theocác quy luật là tất yếu, thừa nhận quyền được tự do của con người coi đó luật tựnhiên không thể thiếu được, chủ trương có sự tự do cạnh tranh giữa những ngườisản xuất, thừa nhận quyền bất khả xâm phạm đối với chế độ sở hữu
Như vậy, có thể nói học thuyết của những người theo chủ nghĩa trọng nông
đã thể hiện và khuyến khích sự tồn tại và phát triển của các nền tảng của sự tự dokinh tế đó là: bảo vệ quyền sở hữu tài sản, sự tự do của con người chống lại sựcưỡng đoạt, bóc lột sức lao động của xã hội phong kiến, cũng như tư tưởng về sự tư
do hoạt động và buôn bán
Tuy nhiên, tư tưởng tự do kinh tế của học thuyết này cũng có sự hạn chế, đó
là việc nó coi nhà nước là tối cao và đứng trên mọi thành viên của xã hội, thừa nhận
sự tồn tại chính đáng của xã hội phong kiến Coi trọng nông nghiệp, trong khi đókhông nhìn thấy vai trò của thương nghiệp trong việc tạo ra sự giao lưu kinh tế rộngrãi, mở cửa thị trường tạo điều kiện cho sự tự do kinh tế
c Học thuyết chính trị cổ điển Anh:
Tư tưởng về tự do kinh tế của học thuyết chính trị cổ điển Anh tập trung vào
tư tưởng tự do kinh tế của A Smith với lý thuyết “bàn tay vô hình” – hay sự hoạtđộng của các quy luật kinh tế khách quan là một “trật tự tự nhiên”, cần phải tôntrọng “trật tự tự nhiên”, tôn trọng bàn tay vô hình Hoạt động sản xuất và lưu thônghàng hoá phải được phát triển dựa trên sự điều tiết của bàn tay vô hình, nhà nướckhông nên can thiệp Nhà nước chỉ nên có các chức năng đó là bảo vệ quyền sở hữucủa các nhà tư bản, đấu tranh chống kẻ thù và trừng trị kẻ phạm pháp Vai trò kinh
tế của nhà nước được thể hiện khi những nhiệm vụ kinh tế vượt quá sức của cácdoanh nghiệp như nhiệm vụ xây dựng đường sá, công trình thuỷ lợi, đê điều…
Như vậy có thể thấy tư tưởng tự do kinh tế của A Smith đã thể hiện đầy đủcác điều kiện cần thiết sự tự do về kinh tế đó là vai trò của nhà nước đối với nềnkinh tế - chỉ nên ở mức hỗ trợ và không nên can thiệp trực tiếp vào các hoạt độngkinh tế “quy luật kinh tế là vô địch mặt dù nhà nước có thể cản trở và làm chậm sựhoạt động của các quy luật đó”
Ngoài ra với lý thuyết về tiền tệ của D Ricardo, học thuyết chính trị cổ điểnAnh cũng đã tạo ra một cơ sở cho sự tự do kinh tế đó là kìm chế lạm phát và coivàng là cơ sở của tiền tệ từ đó tạo ra một đồng tiền mạnh
Đồng thời với lý thuyết lợi thế so sánh trong thương mại quốc tế của D.Ricardo, học thuyết chính trị cổ điển Anh khuyến khích việc mở cửa thị trường, traođổi hàng hoá giữa các nước do việc trao đổi mang lại lợi ích cho cả hai phía cho dù
Trang 32.2 Các học thuyết chính trị học tiểu tư sản:
Hai đại diện tiêu biểu của chính trị học tiểu tư sản là Sismondi và Proudon và
sở dĩ được gọi là chính trị học tiểu tư sản bởi nó quan tâm tới việc bảo vệ nền sảnxuất của các nhà sản xuất nhỏ trong xã hội tư bản Xuất phát từ quan điểm đó,Sismondi đề xuất vai trò kinh tế của nhà nước theo đó nhà nước trực tiếp can thiệp
và nên kinh tế nhằm bảo vệ trật tự xã hội, bảo vệ sản xuất nhỏ, bảo vệ người thứ ba,không cho phép tập trung sản xuất, tập trung sự giàu có, duy trì các phân xưởng thủcông, chế độ tư hữu ruộng đất nhỏ, thực hiện chính sách thuế quan bảo hộ
Đối với Proudon, ông còn đề nghị xoá bỏ sở hữu và giữ lại tài sản cá nhân,như vậy thực chất là xoá bỏ sở hữu tư bản chủ nghĩa, giữ lại tài sản cá nhân (hay sởhữu nhỏ) vì sở hữu là phá hoại sự bình đẳng Khi lý luận về tiền tệ, Proudon coi tiền
tệ là nguyên nhân của mọi tội lỗi của CNTB do dó ông đề nghị tổ chức kinh tế hànghoá mà không cần tiền
Như vậy có thể thấy có lý luận của chính trị học tiểu tư sản hầu như phê phán
sự tự do kinh tế thể hiện qua việc đề cao vai trò của nhà nước trong việc can thiệpsâu, trực tiếp vào nền kinh tế, phá bỏ chế độ sở hữu và tích luỹ tư bản chủ nghĩa,phủ nhận vai trò của tiền tệ như là chất xúc tác cho các hoạt động trao đổi hàng hoá
2.3 Các học thuyết kinh tế của trường phái tân cổ điển
Sự ra đời của các học thuyết kinh tế trường phải tân cổ điển nhằm mục díchgiải thích các hiện tượng kinh tế mới phát sinh trong điều kiện chủ nghĩa tư bản đãchuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền, đồng thời bảo vệcho sự tồn tại của chủ nghĩa tư bản trước sự xuất hiện của học thuyết kinh tế Mác.Trường phái này dựa trên sự phân tích vi mô (hay phân tích trong từng đơn vị kinh
tế riêng biệt) từ đó đưa ra các giải pháp về sự lựa chọn của các đơn vị kinh tế trước
sự khan hiếm của các nguồn lực để đạt được lợi ích tốt nhất Đại diện cho trườngphái này là các trường phái kinh tế giới hạn thành Viên, giới hạn Mỹ, giới hạnLaussane và trường phái Cambrigde
Cũng giống như trường phái cổ điển, các học thuyết của trường phái tân cổđiển cũng ủng hộ tự do kinh tế, tự do cạnh tranh chống lại sự can thiệp của nhànước Họ tin tưởng chắc chắn vào cơ chế thị trường tự phát sẽ đảm bảo cân bằngcung cầu thị trường, đảm bảo cho nên kinh tế phát triển Điều này thể hiện rõ nhấtqua lý thuyết “Cân bằng thị trường” của Walras theo đó thị trường sẽ trong trạngthái cân bằng khi ba thị trường là thị trường hàng hoá, thị trường vốn và thị trườnglao động cân bằng, đồng thời các thị trường này có quan hệ tác động qua lại lẫnnhau trong đó sự cân bằng trên thị trường hàng hoá sẽ quyết định đến sự cân bằngtrên thị trường vốn và lao động, hay lý thuyết giá cả của Marshall, theo đó khi giácung và giá cầu gặp nhau thì sẽ chấm dứt cả khuynh hướng tăng lẫn khuynh hướnggiảm lương hàng hoá sản xuất, thế cân bằng được thiết lập
2.4 Các học thuyết kinh tế của trường phái Keynes:
Các học thuyết kinh tế của Keynes ra đời khi mà các học thuyết kinh tế củatrường phái tân cổ điển với lý luận về sự tự điều chỉnh của nền kinh làm cho khôngcòn thất nghiệp và kinh tế được phát triển không giải thích được các hiện tượng
Trang 4thực tế như khủng hoảng, thất nghiệp và lạm phát vẫn diễn ra ngày càng trầm trọng
ở các nước tư bản Theo học thuyết của Keynes thì nhà nước cần phải có sự canthiệp trực tiếp vào nền kinh tế, mà đặc biệt là các chính sách kích cầu nhằm làm chonền kinh tế đạt tới điểm cân bằng tối ưu, từ đó mới có thể giải quyết dứt điểm khủnghoảng và thất nghiệp như chính sách tiêu dùng, đầu tư của chính phủ, chính sách tàichính trong đó coi trọng việc sử dụng công cụ là thuế cao để tăng ngân sách của nhànước, chính sách lạm phát có kiềm chế, chính sách tiền tệ thậm chí Keynes cònkhuyến khích nhà nước đặt hàng các ngành ăn bám như sản xuất vũ khí, phươngtiện chiến tranh, quân sự hoá nền kinh tế miễn là nó tạo ra được nhiều việc làm
Như vậy, có thể thấy các học thuyết của trường phái Keynes đã đặt nền tảng,
cơ sở lý thuyết cho sự can thiệp trực tiếp của nhà nước vào nền kinh tế, từ đó làmgiảm đi sự lựa chọn của cá nhân và như vậy làm giảm đi sự tự do kinh tế, mà điểnhình là chính sách tiêu dùng và đầu tư của nhà nước, chính sách đánh thuế caonhằm tăng ngân sách nhà nước Có thể thấy sự tác động của việc nhà nước tiêudùng và đầu tư nhiều làm cho cầu về tiền trên thị trường tăng lên, giá vốn hay lãisuất tăng làm cho cơ hội đầu tư hay sự lựa chọn của các nhà đầu tư cá nhân bị giảmsút (do giá vốn quá cao) từ đó dẫn tới sự thoái lui của các nhà đầu tư cá nhân Đồngthời việc khuyến khích sử dụng công cụ lạm phát (bơm thêm tiền vào nền kinh tế)nhằm kích thích kinh tế tăng trưởng không những không phát huy hiệu quả mà cònlàm cho tính trạng lạm phát ngày càng trầm trọng, có thể dẫn tới tình trạng lạm phát
“phi mã”, hạn chế khả năng tiếp cận hay sử dụng một đồng tiền mạnh của cá nhân
2.5 Các hoc thuyết của chủ nghĩa tự do mới:
Các lý thuyết của chủ nghĩa tự do mơi hình thành khi mà các học giả củatrường phái này nhận ra rằng việc coi nền kinh tế tư bản chủ nghĩa là nền kinh tế cókhả năng tự điều chỉnh không và chống lại tất cả sự can thiệp của nhà nước vào cáchoạt động của nên kinh tế là còn đúng đắn nữa Đồng thời sự xuất hiện của họcthuyết của Keynes và sự thành công của nền kinh tế kế hoạch của các nước xã hộicũng dẫn tới sự hình thành các học thuyết của chủ nghĩa tự do mới
Các học thuyết của chủ nghĩa tự do mới là sự kết hợp giữa tư tưởng của chủnghĩa tự do cũ bắt đầu từ W.Petty, A.Smith với các lý thuyết về sự điều chỉnh, canthiệp của Keynes hình thành nên quan điểm Tôn trọng sự tự do của nền kinh tếnhưng có sự can thiệp nhà nước ở mức độ thích hợp hay đó là sự tác động tươngthích với sự tự do của thị trường Ho đề ra khẩu hiệu “Thị trường nhiều hơn và nhànước ít hơn”
Chủ nghĩa tự do mới được thể hiện ở Công hoà Liên bang Đức với mô hìnhkinh tế thị trường xã hội, đó mô hình kinh tế kết hợp giữa nguyên tắc tự do, cạnhtranh thị trường với các nguyên tắc về sự công bằng xã hội Nhà nước tham gia vàonền kinh tế thông qua các chính sách như: chính sách sử dụng lao động, chính sáchchống chu kỳ, chính sách thương mại, chính sách đối với các ngành và các vùnglãnh thổ, tuy nhiên sự can thiệp thông qua các chính sách này của nhà nước phảitương thích với hệ thống thị trường Hay là chấp nhận nguyên tắc “Sử dụng nhiềuthị trường đến mức cho phép, sử dụng nhiều chính phủ đến mức cần thiết”
Chủ nghĩa tự do mới ở Mỹ thể hiện qua các thuyết:
Trang 5- Thuyết trọng tiền của Milton Friedman, theo đó bên cạnh việc tôn trọng cácnguyên tắc tự do của nền kinh tế thì chủ trương sử dụng cung tiền như là công cụ đểđiều tiết nên kinh tế trong từng thời kỳ nhằm giảm bớt biên độ giao động theo chu
kỳ và khủng hoảng kinh tế
- Thuyết trọng cung và thuyết kinh tế vĩ mô dự kiến hợp lý đề cao cơ chế tự điềuchỉnh cân bằng của quan hệ cung cầu cho nên các yếu tố như: tiền lương, lãi suất,giá cả… đều có tác động nhạy cảm đối với các nhà kinh doanh và những người laođộng Do đó đòi hỏi phải được xử lý một cách linh hoạt và tránh sự can thiệp thôbạo của nhà nước
2.6 Học thuyết kinh tế của trường phái chính hiện đại
Đặc điểm của trường phái kinh tế chính hiện đại được thể hiện rõ nhất trongquốn “Kinh tế học” của A.Samuelson, đó là sự kết hợp lại tư tưởng kinh tế của cáctrường phái khác nhau mà trong đó lớn nhất là tư tưởng của hai trường phái “Tân cổđiển” và “Học thuyết Keynes”
Cũng giống như trường phái Tư do mới, trường phái chính hiện đại cũng chủtrương thực hiện nền kinh tế với sự tôn trọng các nguyên tắc về tự do kinh tế kếthợp có sự điều tiết của nhà nước Nhưng điểm khác là sự can thiệp của nhà nướctrong học thuyết của trường phái chính hiện đại thể hiện rõ hơn và mạnh hơn so vớitrường phái tự do mới, thể hiện qua lý thuyết về nền kinh tế hỗn hợp theo đó mộtnền kinh tế nên được điều hành bởi hai bàn tay “bàn tay vô hình” và “bàn tay nhànước”, Samuelson cho rằng “điều hành một nền kinh tế không có chính phủ hoặc thịtrường thì cũng như định vỗ tay bằng một bàn tay”
Theo lý thuyết “hai bàn tay” thì bàn tay vô hình hay là tôn trọng các nguyêntắc sự tự do về kinh tế như quy luật cung cầu sẽ quyết định các vấn đề cơ bản củanền kinh tế là sản xuất cái gì, sản xuất cho ai và sản xuất như thế nào?, đồng thờitạo ra cơ chế cạnh tranh để sử dụng hiệu quả và hợp lý các nguồn lực Trong khi đó
“bàn tay nhà nước” thông qua các chính sách như thuế, tiêu dùng và đầu tư củachính phủ… sẽ hạn chế những khuyết tật của thị trường như: ô nhiễm môi trường,độc quyền và bất bình đẳng…
Trường phái chính hiện đại chủ trương nên có sự cân bằng về tác động giữa tự
do kinh tế và sự can thiệp của nhà nước bởi vì thị trương quá không tốt mà nhànước quá sẽ còn có tác động xấu hơn
3 Mô hình phân tích để đánh giá cạnh tranh đối với ngành và các Ngân hàng thương mại
a Các yếu tác động của môi trường cạnh tranh ngành.
- Khách hàng:
Khách hàng là người có cầu về sản phẩm dịch vụ ngân hàng do NHTM cung cấp.Khách hàng không chỉ là các khách hàng hiện tại mà phải tính đến cả các khách hàng tiềmnăng Khách hàng là người tạo ra lợi nhuận, tạo ra sự thắng lợi cho các NHTM
- Các đối thủ cạnh tranh:
Trang 6Các đối thủ cạnh tranh trong ngành của NHTM bao gồm toàn bộ các doanh nghiệpđang kinh doanh cùng lĩnh vực và cùng 1 khu vực thị trường
Theo M.Porter có tám vấn đề sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sự cạnh tranh giữa các đốithủ: Số lượng đối thủ cạnh tranh nhiều hay ít?, mức độ tăng trưởng của ngành là nhanh haychậm?, chi phí lưu kho hay chi phí cố định là cao hay thấp?, Các đối thủ cạnh tranh có đủngân sách để khác biệt hoá sản phẩm hay chuyển hướng kinh doanh không?, năng lực củacác đối thủ có tăng hay không và nếu có tăng thì khả năng tăng ở tốc độ nào?, tính chất đadạng hình thức kinh doanh của các đối thủ cạnh tranh ở mức độ nào?,mức độ kỳ vọng củacác đối thủ cạnh tranh vào chiến lược kinh doanh và sự tồn tại các rào cản rời bỏ ngành
- Các đối thủ tiềm ẩn (các Doanh nghiệp sẽ tham gia thị trường tài chính):
Các Doanh nghiệp sẽ tham gia thị trường là đối thủ mới xuất hiện hoặc sẽ xuất hiệntrên khu vực thị trường tài chính mà doanh nghiệp đang và sẽ hoạt động Tác động của cácdoanh nghiệp này đối với hoạt động của Doanh nghiệp nông nghiệp đến đâu hoàn toàn phụthuộc vào sức mạnh cạnh tranh của các doanh nghiệp đó (quy mô, chất lượng dịch vụ, …).Theo M.Porter, những nhân tố sau tác động đến quá trình tham gia thị trường của cácđối thủ mới: các rào cản thâm nhập thị trường, hiệu quả kinh tế của quy mô, bất lợi về chiphí do các nguyên nhân khác, sự khác biệt hoá của dịch vụ, yêu cầu về vốn của thâm nhập,chi phí chuyển đổi, sự tiếp cận đường dây phân phối, các chính sách của quản lý vĩ mô
- Sức ép của các nhà cung cấp:
Các nhà cung cấp hình thành các thị trường cung cấp các yếu tố đầu vào khác nhauTheo M.Porter, các nhân tố cụ thể dưới đây sẽ tác động trực tiếp và tạo ra sức ép từ phíanhà cung cấp tới hoạt động mua sắm các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất của NHTMnhư: số lượng nhà cung cấp ít (hay nhiều), tính chất thay thế của các yếu tố đầu vào là khó(dễ), tầm quan trọng của các yếu tố đầu vào, khả năng của các nhà cung cấp và vị trí quantrọng đến mức độ nào của NHTM đối với nhà cung cấp
Trang 7Sơ đồ 1: Môi trường cạnh tranh ngành
b Các chỉ tiêu đánh giá sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
- Phải lấy yêu cầu của khác hàng làm chuẩn mực
- Thực lực của NHTM là yếu tố cơ bản để thoả mãn nhu cầu của khách hàng
- Khi nói đến sức cạnh tranh là bao hàm ý so sánh với các đối thủ của doanh nghiệp
Vì thế cần đánh giá từng mặt để phát huy thế mạnh và khắc phục điểm yếu
Việc đánh giá sức cạnh tranh cần được lượng hoá một cách tối đa và sử dụng mộtmột hệ thống tổng hợp các chỉ tiêu sau:
Thị phần của NHTM: Đó là phần thị trường mà doanh nghiệp chiếm được, thị phần
càng lớn thể hiện sức cạnh tranh càng mạnh Để tồn tại và cạnh tranh doanh nghiệp phảichiếm giữ được một thị trường bất kể là nhiều hay ít, phạm vi hẹp hay rộng lớn như quốcgia và thế giới Điều đó thể hiện quy mô tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
Vị thế tài chính: chỉ tiêu có tầm quan trọng nhất trong việc nâng cao vị thế cạnh tranh
của doanh nghiệp đặc biệt là đối với các NHTM0 Khả năng nguồn tài chính mạnh hay yếucần được cân nhắc khi đánh giá năng lực cạnh tranh như: lợi nhuận, dòng tiền mặt, tỷ lệvốn vay, mức dự trữ…Cụ thể phản ánh ở các hệ số thanh khoản, các hệ số hoạt động vàcác chỉ số sinh lợi…
Nguy cơ bị các sản phẩm thay
thế
Các đối thủ tiềm ẩn
Khách hàng
Sản phẩm thay thế
Trang 8Quản lý và lãnh đạo: Theo Philip Kolter, quản trị là sự đương đầu với tính phức hợp
- một quyết định quản trị tốt là phải đạt được một mức quyết định của sản phẩm Nhằmgiải quyết tính phức hợp, các nhà quản trị tiến hành việc hoạch định (xác định các mục tiêuchung cho tương lai và thiết lập các bước chi tiết để đạt được mục tiêu đó), lập ngân sách(phân bổ các nguồn để đạt mục tiêu), tổ chức (tạo lập kết cấu tổ chức, các công việc thựchiện kế hoạch) và kiểm tra (theo dõi thực hiện và tiến hành các hoạt động thích hợp đảmbảo kế hoạch được thực hiện tốt) Việc đánh giá năng lực quản trị, cần cân nhắc thực tếquản trị này có hiệu quả thực hiện có hiệu quả như thế nào so với các đối thủ thì thế nào?.Nhà quản trị phải có tầm nhìn tốt, có khả năng thúc đẩy - giữ mọi người hành động theohướng đúng, khơi dậy những giá trị và cảm hứng có tính căn bản Việc đánh giá năng lựclãnh đạo cần được cân nhắc trên cơ sở những thay đổi trong nghiên cứu môi trường bênngoài kỳ vọng với doanh nghiệp trong tương lai.Những thách thức đối với doanh nghiệpcàng lớn thì tầm quan trọng của người lãnh đạo càng cao
Khả năng nắm bắt thông tin: doanh nghiệp phải nắm bắt được đầy đủ thông tin, bao
gồm các thông tin về cạnh tranh của hàng hoá, dịch vụ cùng loại (theo sơ đồ); thông tin vềtình hình cung cầu và giá cả; thông tin về công nghệ thích hợp; thông tin về hoạt động và
cả các chiến lược, phương thức, “thủ đoạn” của các đối thủ cạnh tranh,…
Chất lượng dịch vụ và hình thức dịch vụ: chất lượng đem lại cho doanh nghiệp một
khả năng chiến thắng vững chắc, là con đường doanh nghiệp thu hút và tạo dựng hình ảnh,thương hiệu tốt nhất Mặt khác, khi tiếp xúc với hàng hoá có mẫu mã, bao bì đẹp sẽ tạomột sự thu hút lớn để người tiêu dùng chú ý và quyết định dùng sản phẩm
Giá cả của dịch vụ: Cùng một chất lượng nhưng dịch vụ của doanh nghiệp nào có giá
cả thấp hơn sẽ được người tiêu dùng sử dụng nhiều hơn Giá cả dịch vụ phải phù hợp vớiphân khúc thị trường, phân đoạn thị trường và đối tượng khách hàng mà doanh nghiệpmuốn hướng đến…
Kênh phân phối: Đối với các doanh nghiệp thì kênh phân phối là chỉ tiêu đánh giá
sức cạnh tranh vô cùng quan trọng Lý do là trong kinh doanh hiện đại, sản phẩm và giá cả
là hai yếu tố cơ bản quyết định những giá trị cơ bản dành cho khách hàng ở khâu sản xuấtthì phân phối là yếu tố chủ yếu đem đến giá trị sử dụng cho khách hàng và cách đưa hànghoá đến tay người tiêu dùng thông qua dịch vụ khách hàng
Truyền tin và xúc tiến: Tuỳ theo từng doanh nghiệp cũng như mục tiêu và kế hoạch
tiêu thụ sản phẩm mà chi phí cao hay thấp cho việc marketing Khi một doanh nghiệp có tỷ
lệ chi phí marketing trên tổng doanh thu cao mà doanh nghiệp vẫn duy trì và mở rộng lạithị phần so với mục tiêu đề ra, điều đó chứng tỏ việc marketing là phù hợp và có hiệu quả.Còn không đạt mục tiêu đề ra thì có nghĩa doanh nghiệp phai xem xét lại cơ cấu chi tiêu
có thể thay vì quảng cáo rầm rộ thì nên đầu tư theo chiều sâu để tăng lợi ích lâu dài nhưđầu tư cho nghiên cứu và phát triển sản phẩm…
Trang 9Trình độ người lao động: Chỉ tiêu này cân nhắc về trình độ của lực lượng lao động và
năng suất lao động, những yêu cầu kỹ năng, đào tạo, các kế hoạch tuyển dụng… khả nănghiện tại và tương lai của đội ngũ nhân viên, điều kiện làm việc và tinh thần của côngnhân…
Tích hợp những tác nhân trên chính là sự tổng hợp nội lực của doanh nghiệp trênnhững thị trường mục tiêu với các đối thủ cạnh tranh trực tiếp
3 Tự do kinh tế trong ngành Ngân hàng:
Để xem xét cũng như đánh giá về sự tư do kinh tế trên bình diện rộng như của mộtquốc gia hay trong diện hẹp như trong ngành ngân hàng ta có thể phân tích một sốyếu tố cơ bản như sau:
3.1 Quy mô và hoạt động của các ngân hàng thương mại nhà nước:
Theo các nhà kinh tế theo trường phái tự do kinh tế quy mô của các công ty nhànước có tác động rất lớn tới sự tự do về kinh tế, càng có nhiều công ty nhà nước vớiquy mô lớn thì sự tự do kinh tế càng giảm sút Vì theo họ, các công ty nhà nước cónhững đặc điểm hoạt động khác với các công ty tư nhân, cụ thể các công ty nhànước hoạt động không phụ thuộc vào khách hàng mang lại lợi ích cho họ hay là sựlựa chọn về sự rủi ro đầu tư vốn, mà mục tiêu của nó là nhằm tác động, điều tiết nềnkinh tế
Đối với ngành ngân hàng của Việt Nam hiện nay, các ngân hàng thương mại nhànước chiếm giữ một vai trò lớn trong thị trường vốn ở Việt Nam, thể hiện qua sốlượng ngân hàng các ngân hàng nhà nước chỉ là 5/73 ngân hàng đang hoạt động trênthị trường Việt Nam nhưng chiếm tới 77,31% tổng tài sản của toàn ngành ngânhàng Các ngân hàng thương mại nhà nước cũng chiếm ưu thế áp đào về thị phầncho vay và huy động vốn, cụ thể chiếm 79,5% thị phần cho vay và 78,51% thị phầnhuy động vốn
Mục đích hoạt động của các ngân hàng thương mại nhà nước nói riêng cũng nhưcác công ty nhà nước nhà nước nói chung ở Việt Nam là ngoài việc bảo toàn vàkinh doanh có hiệu quả vốn của nhà nước thì chức năng quan trọng đó là hoạt độngđiều tiết và ổn định thị trường, hay nói cách khác là công cụ hữu hiệu để nhà nước
có thể can thiệp sâu vào thị trường thông qua các quyết định mang tính hành chính điều này theo lý thuyết chính là sự hạn chế tự do kinh tế Số liệu về hoạt động chovay của các ngân hàng thương mại thể hiện rõ điều này, dường như là hoạt động chovay của ngân hàng thương mại nhà nước thường tập trung chủ yếu vào các đơn vịkinh tế thuộc thành phần kinh tế nhà nước - chiếm 40% trên tổng dư nợ của cácngân hàng thương mại nhà nước, trong đó cho vay theo chỉ định của nhà nước theocác chương trình như mía đường, cà phê, khắc phục thiên tai… là khá phổ biến Vàkhi các doanh nghiệp nhà nước sử dụng các khoản cho vay của ngân hàng thươngmại nhà nước không có hiệu quả, không có khả năng trả nợ thì lại có hoạt động nhànước can thiệp yêu cầu ngân hàng thực hiện việc khoanh, dãn nợ đối với nhữngdoanh nghiệp này
Trang 10-Sự phân biệt về đối tượng cho vay của các ngân hàng thương mại nhà nước cũngthể hiện rõ những hạn chế của ngành ngân hàng Việt Nam về sự tự do kinh tế.Trong khi các doanh nghiệp nhà nước thường được cho vay mà không có hoặc córất ít tài sản đảm bảo và với lãi suất ưu đãi thì việc cho vay đối với các đơn vị thuộccác thành phần kinh tế khác thường rất khó khăn do họ buộc phải chứng minh khảnăng trả nợ và lượng tài sản đảm bảo lớn cho khoản vay đó và phải chịu lãi suất chovay cao hơn so với các doanh nghiệp nhà nước.
Tóm lại, việc duy trì hệ thống ngân hàng sở hữu 100% vốn nhà nước và chịu sự chiphối của nhà nước nhằm hoạt động theo các chương trình của chính phủ là sự hạnchế về tự do kinh tế - điều này có thể là cần thiết trong những giai đoạn nhất định,nhưng khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của WTO với những camkết về việc chống trợ cấp cho các ngành kinh tế trong nước thông qua các biện phápnhư cho vay ưu đãi bằng vốn của nhà nước sẽ bị hạn chế Vì vậy, cần thiết phải thayđổi cơ chế quản lý theo hướng cổ phần hoá, giảm các quyết định mang tính hànhchính của nhà nước đối với hoạt động ngân hàng nhằm tạo điều kiện cho ngân hàngthương mại nhà nước thực hiện quyền tự chủ trong hoạt động kinh doanh của mình
là điều kiện cần thiết để thực hiện cam kết gia nhập WTO và hội nhập kinh tế quốc
tế
3.2 Cấu trúc luật pháp và bảo vệ quyền sở hữu:
Trường phái tự do kinh tế cho rằng bảo vệ cá nhân và quyền sở hữu tài sản hợppháp của họ là vấn đề trung tâm của tự do kinh tế và là chức năng quan trọng nhấtcủa nhà nước
Sự thất bại của một hệ thống luật pháp nhằm bảo vệ quyền sở hữu tài sản, tôn trọnghợp đồng và cơ chế giải quyết các tranh chấp phù hợp sẽ làm xói mòn các giá trị cơbản của thị trường Nếu các nhà kinh doanh cảm thấy rằng hoạt động kinh doanh vàquyền lợi trong kinh doanh của hộ không được bảo vệ thì họ sẽ không còn động lựcđầu tư và hoạt động kinh doanh một cách có hiệu quả Và ngược lại nếu một nướcduy trì được hệ thống pháp luật đảm bảo quyền lợi kinh doanh của các nhà đầu tưthì quốc gia đó sẽ duy trì và đạt được các thành tựu phát triển kinh tế bền vững
Có thể thấy hệ thống pháp luật trong ngành ngân hàng Việt Nam đã có nhiều tiền bộnhằm hướng các ngân hàng đến một sự tự do hơn trong hoạt động kinh doanh củamình Minh chứng rõ ràng nhất cho sự tiến bộ này chính là Luật các Tổ chức tíndụng được sửa đổi, theo đó các điều kiện để cho vay của các doanh nghiệp sẽ khôngcòn có sự phân biệt về chính sách tín dụng giữa doanh nghiệp nhà nước và doanhnghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác, tất cả đều bình đẳng trong hai chữ “kháchhàng”, đồng thời ngân hàng cũng có quyền lựa chọn và quyết định khách hàng vaytrên cơ sở khách hàng đó có hoặc không có tài sản đảm bảo bằng thế chấp, bảo lãnhhay cầm cố
Luật các tổ chức tín dụng cũng thừa nhận việc “bảo hộ sở hữu và quyền và các lợiích hợp pháp khác trong hoạt động của các tổ chức tín dụng” Và nhằm đảm bảohoạt động của các ngân hàng được an toàn, đảm bảo lợi ích của người gửi tiền vàngân hàng tránh những rủi ro trong hoạt động ngân hàng nhà nước đã thành lập cơ
Trang 11quan bảo hiểm tiền gửi và quy định về việc trích lập dự phòng rủi ro đối với tất cảcác ngân hàng.
Tuy nhiên, cũng có thể thấy hệ thống pháp luật Việt Nam còn nhiều bất cập, trong
đó sự thiếu hụt và thiếu đồng bộ trong các các quy định liên quan đến ngân hàngđặc biệt là trong các quy định nhằm điều chỉnh các quan hệ mới phát sinh trong hoạtđộng ngân hàng hiện đại như: giao dịch điện tử, dịch vụ uỷ thác, các sản phẩm pháisinh, quản lý ngân quỹ… dẫn tới gây khó khăn cho ngân hàng trong việc đảm bảotài sản cũng như cơ chế giải quyết các tranh chấp khi thực hiện các hoạt động này.Đồng thời khả năng và trình độ quan lý kém dẫn đến việc áp dụng sai luật, quy địnhcũng như việc hình sự hoá các quan hệ kinh tế của các cơ quan quản lý nhà nướccũng đặc biệt gây ảnh hưởng và gây thiết hại không nhỏ đối với các hoạt động ngânhàng nhất là khi nó làm đình trệ hoạt động sản xuất của các đơn vị khách hàng củacác ngân hàng
Ý thức chấp hành luật pháp cũng như sự tôn trọng đối với các hợp đồng giao dịchkinh tế (trong đó có không ít những sự can thiệp của các cơ quan quản lý nhà nước)của khách hàng mà đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước kém dẫn đến nhiều hiệntượng ảnh hưởng xấu tới hoạt động của ngân hàng như: khai gian, khai khống, chây
ỳ trong việc trả nợ, lãi…
3.3 Khả năng tiếp cận và sử dụng đồng tiền mạnh:
Một quốc gia được xem là tự do kinh tế khi mà quốc gia đó duy trì được sự ổn địnhcủa giá trị của đồng tiền và có mức lạm phát thấp, cũng như khả năng dễ dàng tiếpcận và sử dụng các đồng tiền mạnh Ngược lại nước đó sẽ được xem là ít tự do kinh
tế hơn khi mà nhà nước đó duy trì chính sách làm cho tỷ lệ làm phát cao, không ổnđịnh, hạn chế khả năng chuyển đổi đồng tiền nội địa cũng như hạn chế khả năng sửdụng đồng tiền thay thế
Một tỷ lệ làm phát cao và không ổn định sẽ bóp mép các quan hệ giá cả và từ đó sẽlàm cho các cá nhân hầu như không có khả năng xây dựng một kế hoạch trưongtương lại phù hợp
Từ năm 1997, Việt Nam áp dụng chế độ tỉ giá hối đoái thả nổi có kiểm soát, biên độgiao động giữa đồng Việt Nam và USD trước đây là +/-0.25% và đến ngày3/01/2007 biên độ dao động này được nới rộng lên +/-0.5% Việc áp dụng chế độ tỉgiá hối đoái thả nổi có kiểm soát giúp cho giá trị của đồng việt nam được ổn địnhđồng thời phản ánh được một phần quan hệ cung cầu của thị trường tiền tệ Và thực
tế cho thấy tỷ giá VND/USD trong những năm qua chỉ tăng nhẹ, cụ thể năm 1998tăng 9,6%, 1999: 1,1%, 2004: 3,4%, 2001: 3,8%, 2002: 2,1%, 2003: 2,2%, 2004:0,40% và 2005: 0,4% Hay nói cách khác, năm 2005 so với kỳ gốc năm 2000, nếuchỉ số tăng giá tiêu dùng của cả nước là 25,8%, thì tỷ giá VND/USD chỉ tăng có11,7%
Tuy nhiên hạn chế là hiện nay việc tham gia thoả thuận về tỷ giá Việt Nam phần lớn
là các ngân hàng thương mại nhà nước, do đó chưa thể hiện được tính thị trườngđầy đủ trong việc xác định tỷ giá