1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bản sắc Hà Nội_NVC Oct.2010

21 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 256 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cấu trúc và giải cấu trúc văn hóa Hà Nội Cấu trúc và giải cấu trúc bản sắc văn hóa Hà Nội Construction and Deconstruction of Hanoi’s Cultural Identity Nguyễn Văn Chính vanchinh1028@gmail com Tóm tắt C[.]

Trang 1

Cấu trúc và giải cấu trúc bản sắc văn hóa Hà Nội

Construction and Deconstruction of Hanoi’s Cultural Identity

Bài viết này, trên cơ sở phân tích tính năng động của dòng di dân nông thôn – đô thị, các quá trình

đô thị hóa, sự đa dạng văn hóa và những khác biệt trong không gian sinh tồn của cư dân Hà Nội,

đã đi đến nhận xét rằng không có một bản sắc Hà Nội với tư cách là một thực thể văn hóa xác định, bền vững và bất biến Tính chất “tứ chiếng” và dòng chảy liên tục của các lớp cư dân khác nhau, nơi hội tụ của tinh hoa và bình dân, nơi phô bầy sự tương phản giữa giàu sang và khốn cùng là những đặc điểm dễ nhận thấy trong suốt trường kỳ lịch sử của thành phố thủ đô, nhưng cũng là đặc trưng phổ biến có thể quan sát được ở nhiều đô thị “kinh kỳ” trên thế giới Khái niệm bản sắc văn hóa của một thành phố hay một quốc gia-dân tộc, thực ra chỉ là một cấu trúc có tính

nhân tạo (artificial construction), tùy thuộc vào thiên kiến chủ quan của nhà nghiên cứu và tác

động của bối cảnh chính trị xã hội cụ thể Nói cách khác, bản sắc văn hóa không phải là một thực thể tồn tại khách quan mà nó là kết quả của tư duy, một khái niệm được tạo nên thông qua nhận thức chủ quan của mỗi cá nhân hay cộng đồng

Ghi chú: Bài viết đã xuất bản Trích dẫn nguồn xuất xứ của tài liệu như sau:

“Cấu trúc và giải cấu trúc bản sắc văn hóa Hà Nội” Bài viết in trong Khoa Lịch sử: Một

chặng đường nghiên cứu lịch sử (2006-2011), Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội 2011, tr

163-192.

Trang 2

1 Đặt vấn đề

Phần lớn các nghiên cứu về lịch sử và văn hóa Hà Nội cho đến nay thường bị ám ảnh bởi

ý nghĩ rằng thành phố này có một bản sắc văn hóa riêng với những “đặc trưng khác với các vùng miền khác”[1] Dẫu thừa nhận rằng cái bản sắc riêng ấy rất khó nhận diện và thấu hiểu, người ta vẫn mặc nhiên cho rằng bản sắc văn hóa Hà Nội là một thực thể hiển nhiên không có gì phải bàn cãi, và nhiệm vụ của nhà nghiên cứu chỉ là đi tìm cho ra cái bản sắc ấy Nỗi ám ảnh của giả thuyết về một bản sắc văn hóa riêng của Hà Nội đã làm nảy sinh chủ nghĩa hoài cổ và biến các công trình khoa học thành những bản tụng ca, gán cho thành phố này những giá trị vượt thời gian và không gian, tạo ra một lớp sương mờ

ảo như huyền thoại phủ lên trên thành phố ngàn năm tuổi nhưng vẫn đang không ngừng đổi thay này

Nhìn lại các công trình nghiên cứu đã có về Hà Nội, chúng ta có thể nhận thấy dù rất nhiều về số lượng nhưng chúng đều dựa trên các cách tiếp cận theo hướng luận giải duy tình [moral interpretation], nặng về khoa trương hoặc phảng phất cái hơi hướng của thuyết văn hóa trung tâm và ngoại vi mà các nhà nghiên cứu phương Tây đã dầy công phát triển [2] Tuy nhìn nhận Hà Nội như một trung tâm của hội tụ và lan tỏa văn hóa nhưng rất hiếm khi các nhà nghiên cứu chỉ ra một cách rõ ràng họ đang nói về Thăng Long – Hà Nội với tư cách là một đô thị, một tỉnh (gồm cả khu vực nông thôn và đô thị), hay một vùng trong khi các thuật ngữ “người Hà Nội”, bản sắc Hà Nội”, “lối sống Hà Nội”, “ngôn ngữ Hà Nội”, v.v thường được sử dụng như một khái niệm hiển nhiên để từ

đó, hàng loạt các giá trị được dán vào Sự mơ hồ của khái niệm và sự thiếu vắng của một

cơ cấu lý luận khi tiếp cận văn hóa và lối sống đô thị có lẽ là một trong những nguyên nhân chính của tình trạng không sản sinh ra được những nhận thức mới về bản chất văn hóa và những ngụ ý thực tiễn cho bảo tồn và phát triển văn hóa của Hà Nội bất chấp số lượng nghiên cứu về nó đang ngày càng trở nên đồ sộ[3] Gạt bỏ những khác biệt và đồngnhất hóa tính đa dạng để tìm một mẫu số chung có tên gọi bản sắc văn hóa Hà Nội làm cho việc nhận diện các chiều kích văn hóa của thành phố - thủ đô trở nên khiên cưỡng và đầy cảm tính Thêm vào đấy, việc lý tưởng hóa các giá trị văn hóa của thành phố lại đang tạo ra sức ép vô hình lên các nhà quản lý mà hậu quả của nó là làm nảy sinh những đòi hỏi về một cơ chế chính sách đặc thù như kiểu “Luật Thủ đô” mới được đưa ra thảo luận gần đây [4]

1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Hội thảo về bản sắc văn hoá Hà Nội trong văn học- nghệ thuật thế kỷ XX

http://www.cpv.org.vn/cpv, ngày 24/09/2010.

2 “Cultural diffusionism” hay “theory of centre and periphery” là một lý thuyết được biết đến từ lâu trong

nhân loại học văn hóa phương Tây Hầu hết các nghiên cứu về văn hóa Thăng Long – Hà Nội của các nhà nghiên cứu Việt Nam, dù có hay không đả động gì đến luận thuyết này thì vẫn chủ yếu xoay quanh hai khái niệm “hội tụ” và “lan tỏa” văn hóa, lấy đó làm điểm xuất phát cho các phân tích khoa học Xin đọc thêm: Ngô Đức Thịnh (2007), “Lý thuyết “trung tâm-ngoại vi” trong nghiên cứu không gian văn hóa”, Tạp chí

Văn hóa Dân gian; và Ngô Đức Thịnh (2006), “Bốn luận điểm phương pháp luận trong nghiên cứu Thăng Long – Hà Nội” Trong “Văn hóa, văn hóa tộc người, văn hóa Việt Nam” Hà Nội, Nxb Khoa học Xã hội

3 Hà Nội đã tiến hành một dự án đồ sộ có tên “Tủ sách Thăng Long ngàn năm văn hiến” nhằm thu thập toàn

bộ tư liệu liên quan đến thành phố Ngoài hàng ngàn sách/báo đã xuất bản, tủ sách dự kiến sẽ trình làng 100 đầu sách được biên soạn trên cơ sở nguồn tài liệu mới thu thập được http://vietbao.vn, ngày 25/8/2010.

4 Báo Hà Nội Mới (16/09/2010) cho biết trong Dự thảo Luật Thủ đô, 20 cơ chế chính sách đặc thù riêng

cho Hà Nội đã được đề xuất, có nguy cơ biến thành phố này thành một “vương quốc” riêng.

Trang 3

Trong bài viết nhỏ này tôi không có hy vọng cung cấp những tư liệu mới liên quan đến lịch sử văn hóa xã hội của thành phố Thay vào đó, mong muốn của tôi là trên cơ sở những tư liệu đã có, đề xuất một cách tiếp cận khác để nhận diện chân thực hơn bản sắc văn hóa đô thị và góp phần trả lời câu hỏi liệu có hay không một bản sắc Hà Nội với tư cách là một thực thể văn hóa xác định, bền vững và bất biến mà các nhà nghiên cứu đã gán cho nó

Nếu chúng ta quan niệm văn hóa đô thị như là một cấu trúc (construction) thì trong cấu trúc ấy có những yếu tố cấu thành, tạm gọi là các cấu trúc phụ (sub-constructions or

component parts) tạo nên hình hài và sắc thái của cấu trúc tổng thể Trong điều kiện của

một thành phố, chúng ta có thể quan sát các nhóm cư dân và lối sống của họ như là những yếu tố cấu thành diện mạo văn hóa của thành phố mà ta hình dung như một cấu trúc tổng thể Vận dụng cách tiếp cận này vào trường hợp Hà Nội, tôi sẽ cố gắng mổ xẻ lịch sử cư trú, không gian sinh tồn và đặc điểm xã hội của các cấu trúc phụ mà ở đây là các nhóm cư dân chủ thể của văn hóa, để xem các bộ phận này có vai trò thế nào trong việc tạo nên một ám ảnh về bản sắc văn hóa Hà Nội Tôi sẽ bắt đầu bằng việc khái niệm hóa không gian văn hóa Hà Nội, sau đó phân tích những năng động dân số học trong quá trình đô thị hóa, tính đa dạng về sắc tộc và chủng tộc của các bộ phận dân cư, những khácbiệt trong không gian sinh tồn và lối sống cũng như mối liên hệ của chúng mà tôi cho rằng nó sẽ là những đầu mối giúp hiểu được bản chất của những giá trị được khái quát thành “bản sắc văn hóa” Hà Nội

2 Nông dân và thị dân

Thanh lịch, hào hoa và tinh tế thường được các nhà nghiên cứu nhấn mạnh như những đặc tính tiêu biểu cho lối sống của người Hà Nội, thậm chí nó còn được đề cao như một giá trị “có tính mẫu mực, hay giá trị chuẩn của dân tộc, của đất nước”[5] Cơ sở của lập luận như vậy có lẽ chủ yếu được khởi nguồn từ cảm hứng của hàng ngàn tác phẩm về Hà Nội dưới dạng các bài tản văn, thơ ca và hội họa hơn là từ những chứng cứ được thu thập

và phân tích có hệ thống Dù chịu ảnh hưởng của cảm xúc hay lý trí, các nhà nghiên cứu nói chung có khuynh hướng gắn lối sống thanh lịch ấy với tầng lớp thị dân ở một trung tâm đô thị phát triển vào bậc nhất của đất nước [6], cho rằng “lối sống ấy kết tinh văn hóa

“Kinh kỳ” của giới nho sỹ và thương nhân “kẻ chợ” tập trung tại 36 phố phường, hòa với những yếu tố văn minh Pháp được tiếp thu bởi trí thức Tây học và viên chức nhà nước bảo hộ”[7]

Quan điểm về một lối sống “thanh lịch” như vậy được nói đến trong hầu hết các nghiên cứu về văn hóa Hà Nội nhưng thực ra chưa bao giờ được phân tích một cách khoa học Tôi cho rằng ít nhất có ba yếu tố để nghi ngờ cái biểu tượng văn hóa này:

5 Hồ Phương Lan (Bt.) Thăng Long Hà Nội Ngàn Năm Văn Hiến; Nxb Lao Động, Hà Nội 2009, tr 47, cũng

xem thêm các trang 66-68.

6 Câu nói được truyền tụng phổ biến trong dân gian “thứ nhất Kinh kỳ, thứ nhì phố Hiến” thường được viện dẫn để chứng minh cho mức độ sầm uất của một đô thị thuộc vào hạng “Thượng Kinh” như Thăng Long,

cơ sở hình thành lối sống hào hoa thanh lịch

7 Hoàng Hưng, Lối sống người Hà Nội Đăng trên http://nguyentrongtao.org, cập nhật ngày 25/09/2010.

Trang 4

(1) Các nghiên cứu đều xem đô thị như là “tiêu chí của sự phát triển, tiến bộ và văn minh” nhưng cho đến tận gần đây Hà Nội vẫn chưa trở thành một đô thị hoàn chỉnh, vẫn chỉ ở “phía bên kia của làng xã” [8] Trong không gian của “thành phố” luôn có một phần thuộc khu vực nông thôn và phần này lúc nào cũng ở vị thế lấn át so với phần thành thị Điều này có nghĩa là không gian địa – văn hóa của Hà Nội luôn hàm chứa hai nhóm văn hóa và lối sống khác nhau song hành tồn tại Đó là văn hóa của thị dân và văn hóa nông dân Chỉ lấy lối sống của một nhóm thị dân để khái quát thành lối sống chung của “người

Hà Nội” là một cách tiếp cận khiên cưỡng và không có cơ sở khoa học;

(2) Trong lịch sử và thậm chí là mới gần đây thôi, số lượng thị dân sống trong các khu phố luôn chiếm một tỷ lệ nhỏ hơn nhiều so với những người nông dân sống trong các làng xã truyền thống của Hà Nội Bộ phận nhỏ thị dân này cũng không đồng nhất, bên cạnh tầng lớp quý tộc và quan chức thuộc tầng lớp cai trị là những trí thức, thương nhân, công chức, thợ thủ công và người buôn bán nhỏ Phần còn lại là những người nhập cư, làm các công việc tạp dịch và lao động chân tay Họ có mối liên hệ chặt chẽ với khu vực nông thôn ở nhiều làng quê thuộc các vùng miền khác nhau, và có xu hướng lưu giữ lối sống nông dân của mình ngay trong lòng thành phố Vậy là ngay trong bộ phận thị dân nhỏ bé ấy vẫn có sự hiện diện của văn hóa và lối sống nông dân đối lập với văn hóa thị dân;

3) Nếu cho rằng cái chất hào hoa thanh lịch được hình thành từ nhóm “tinh hoa” là thị dân và quý tộc thì nhóm này cũng chỉ có thể đại diện cho lối sống của tầng lớp trên và giới trung lưu mà thôi Không có cơ sở để lấy văn hóa và lối sống của nhóm “tinh hoa” này làm đại diện cho văn hóa của một thành phố Lối sống của họ có thể là tiêu chuẩn để vươn tới, là giấc mơ của đông đảo dân chúng ở dưới đáy xã hội nhưng không phải là lối sống của số đông [9] Lập luận cho rằng có một sự giao thoa giữa “văn hóa dân gian” của quần chúng nhân dân lao động bị áp bức và “văn hóa bác học” của giai cấp thống trị [10]

để khái quát một đặc tính chung cho bản sắc Hà Nội chỉ là một biện hộ yếu chưa được chứng minh cả về lý luận và thực tế

Thực ra, các tài liệu đã có về Thăng Long xưa, Hà Nội nay có thể cho phép hình dung được quy mô của khu vực đô thị, số lượng thị dân, và tính chất xen cài nông thôn – đô thịtrong cấu trúc dân cư của thành phố để từ đó xem xét vai trò và ảnh hưởng của văn hóa thị dân được cho là bộ phận cốt lõi tạo nên bản sắc “thanh lịch” của người Hà Nội Tuy nhiên các nhà nghiên cứu lại dường như không mấy quan tâm xem xét những khía cạnh này

Trong một nghiên cứu công phu sử dụng phương pháp GIS/RS, các nhà nghiên cứu cho biết thành Thăng Long gắn với các phố thị để tạo nên một đô thành cho đến trước thời thực dân chỉ là một khu vực có diện tích rộng không quá 1,2 km2 Kiểu kết hợp giữa

8 Nguyễn Thừa Hỷ, “Thăng Long-Hà Nội, hôm qua và hôm nay’.http://www.diendan.nguoihanoi.net

9 Những câu nói trong dân gian thường hay được viện dẫn như “thứ nhất Kinh kỳ, thứ nhì phố Hiến”, “giàu chốn quê không bằng ngồi lê Kẻ Chợ”, “ăn Bắc mặc Kinh”, “chẳng khôn cũng thể là người Thượng Kinh”

v.v., thực ra chỉ là một cách phản ánh những ước vọng của người dân quê lam lũ muốn đổi đời hơn là để tụng ca một lối sống thanh lịch

10 Trần Văn Bính, “Nhận diện con người Hà Nội qua lăng kính văn hóa Thăng Long - Hà Nội, Tạp chí Thông tin Công tác Tư tưởng, Lý luận; số ra tháng 10/2009

Trang 5

thành (citadel), tức trung tâm hành chính - quốc phòng và thị- nơi buôn bán của Thăng Long là một dạng phổ biến thường thấy ở các đô thị phương Đông [11] Nhà nghiên cứu nổi tiếng về Hà Nội Trần Quốc Vượng đã chỉ ra cấu trúc điển hình của thành Thăng Longgồm ba bộ phận: (1) Khu “thành thị quân vương”, tức khu vực hành chính, gồm thành quách, đền miếu, và nơi thưởng ngoạn của triều đình Khu này chỉ chiếm một phần nhỏ thuộc phần lõi của quận Ba Đình ngày nay; (2) Khu “thành thị dân cư” hay còn gọi là khuphố thị mà cốt lõi là khu 36 phố phường còn lại đến hiện nay; (3) Khu vực thôn dã bao gồm các làng ở phía Nam và Bắc của trung tâm hành chính [12] Kiến trúc kiểu phương Đông như vậy cũng thể hiện rõ bản chất chuyên chế của tầng lớp cai trị vì nó không quantâm đến các công trình công cộng của thị dân Khu vực phố thị chủ yếu để cung cấp hànghóa cho nhu cầu của tầng lớp trên sinh sống trong khu hoàng thành hơn là nhu cầu phát triển trên một nền tảng kinh tế phi nông nghiệp Đặt cái bộ phận đô thị và thị dân này vàotrong bối cảnh Hà Nội cho đến cuối thế kỷ 19, tức trước khi nó biến thành một thành phố kiểu châu Âu thì chúng ta mới thấy cái quy mô thành thị và thị dân này nhỏ bé biết chừngnào: Thành cũ Thăng Long chỉ là một bộ phận nhỏ của phủ Hòai Đức, lọt thỏm vào trong

cơ cấu của tỉnh Hà Nội thời Nguyễn một tỉnh được lập ra vào năm 1831 gồm 4 phủ Hoài Đức, Ứng Hòa, Thường Tín và Lý Nhân [13]

Không thể phủ nhận một thực tế là khu vực thành thị đã được mở mang rất nhiều dưới thời thuộc Pháp Chính người Pháp đã mang đến cho Hà Nội một khuôn mặt khác bằng cách tạo ra một đô thị kiểu châu Âu[14] Khu lõi Ba Đình, nền cũ của Hoàng Thành hoangphế, vẫn tiếp tục được lựa chọn để xây dựng thành khu hành chính của thành phố Khu 36phố phường vẫn được bảo tồn làm nơi buôn bán dân sinh Một khu vực hoàn toàn mới gồm đường sá, cầu cống, công sở, các phố thương mại và dịch vụ, các công trình công cộng như vườn hoa - công viên, nhà hát, và khu vực dành cho công chức, sỹ quan quân đội và các nhà tư bản đã được tạo ra Thành phố Hà Nội lúc này đã mở rộng gấp đôi với

63 phường nhưng cũng chỉ có diện tích xấp xỉ 3km2 so với diện tích vỏn vẹn 1.2 km2 ở những thế kỷ trước Vào thuở hoàng kim của Hà Nội thời thực dân những năm 1940s, số dân Hà Nội lúc cao nhất cũng chỉ có 132,145 người [15] Khi Việt Minh vào tiếp quản Hà Nội 1954, thành phố chỉ còn 37,000 người dân sống trong 34 khu phố thuộc 4 quận nội thành Lúc này, sau nhiều lần thay đổi địa giới, diện tích thành phố (bao gồm khu vực

11 Ho Dinh Duan and Shibabaya Mamorou, “Studies on Hanoi Urban Transition in the Late 20 th Century

based on GIS/RS”; Southeast Asian Studies, Vol 46, No.4, March 2009, p 532-546.

12 Trần Quốc Vượng, “Đô thị cổ Việt Nam” In trong cuốn “Trong Cõi”, Nxb Tram Hoa, California, USA,

Hà Nội rộng lớn hơn là quy mô của một thành thị

14 Thành phố Hà Nội được Tổng thống Pháp Sadi Carnot chính thức ký sắc lệnh thành lập ngày 19/7/1888

và sau đó được sự công nhận của Triều đình Huế http://hanoi.org.vn

15 Baron & La Salle Dictionnaire des Communes administratif et militaire, France métropolitaine et France d'outre-mer Paris: Charles-Lavauzelle & Cie, 1949.

Trang 6

nông thôn rộng lớn) đã mở rộng đến 152 km2 nhưng dân số lại giảm so với những năm

1940, có lẽ do ly tán nhiều trong chiến tranh [16]

So với thời thực dân, không gian Hà Nội thực ra chỉ mới được mở rộng thêm bằng biện pháp hành chính trong vài thập kỷ qua, bắt đầu từ 1961 với việc nâng địa giới Hà Nội lên

584 km2 và dân số 91,000 người Năm 1978 Hà Nội lại mở rộng địa bàn bằng cách nâng diện tích tự nhiên lên 2,136 km² Quá trình đô thị hóa cơ học bằng cách sát nhập các làng vào khu vực thành phố trong nhiều thập kỷ đã làm dân số Hà Nội tăng lên đến hơn hai triệu người vào năm 1999 Đợt mở rộng địa giới gần đây nhất vào tháng 8 năm 2008, Hà Nội đã nâng dân số lên 6,4 triệu người, trong đó cư dân thành thị chỉ chiếm 41% và cư dân nông thôn chiếm đa số với 59% [17]

Một số nhà nghiên cứu đã từng đi tìm lời giải cho câu hỏi tại sao Thăng Long – Hà Nội trải bao thế kỷ thăng trầm mà vẫn bé nhỏ với số thị dân khiêm nhường chừng ấy, tại sao một dân tộc vĩ đại với những chiến công hiển hách lẫy lừng mà lại không để lại cho hậu thế những công trình kiến trúc xứng tầm? Hoàng Ngọc Kỷ cho rằng quá trình biển tiến vàviệc lấy đất đắp đê đã tạo nên những cái hồ Hà Nội, và chúng là những nhân chứng sống giúp lý giải tại sao hoàng thành lại bị chôn vùi, hết lớp này đến lớp khác chồng lấp lên nhau [18] Ho Dinh Duan & Mamorou lại đưa ra kiến giải do vị thế bao bọc của sông hồ

và đầm nước, thành Thăng Long khó mà mở rộng ra được [19] Trong khi đó, sử gia Nguyễn Thừa Hỷ cho biết thành phố bị lụi tàn vì nạn binh đao trong suốt thế kỷ 18 [20] Trần Văn Giầu tìm kiếm câu trả lời ở triết lý văn hóa Thăng Long coi trọng tinh thần hơn vật chất, rằng “những kiến trúc tinh thần mang tính chất vĩ đại, vĩnh hằng sáng rực hơn bất kỳ đền đài nào khác”[21] Những điều được viện dẫn ở trên đều ít nhiều liên quan đến

sự thăng trầm và còi cọc về quy mô vật chất của khu vực đô thị Hà Nội trong lịch sử Tuynhiên, không gian của một thành phố và số lượng thị dân chủ yếu phụ thuộc vào điều kiện phát triển của nền kinh tế bởi vì chỉ khi nền kinh tế hàng hóa đủ mạnh để nuôi dưỡng khu vực không trực tiếp sản xuất thì mới tạo ra được một tầng lớp thị dân và doanh nhân đông đảo làm cho khu vực đô thị được mở mang Với nền kinh tế nông nghiệp tự cấp là chủ đạo, và phần lớn người dân vẫn sống trong các làng quê, thì chúng ta

có thể hiểu được tại sao quy mô của một đô thị bậc nhất trời Nam lại chỉ khiêm nhường đến thế

Bằng cách cung cấp các dẫn liệu trên, tôi không có ý cho rằng chỉ với một tầng lớp thị dân nhỏ bé thì không đủ sức “lan tỏa văn hóa” ra cả một “đại dương” nông dân Điều tôi muốn nhấn mạnh ở đây là khi nói đến Hà Nội như một thực thể văn hóa có bản sắc riêng, chúng ta không được quên rằng có một Hà Nội nhà quê và một Hà Nội kẻ chợ Hai bộ phận cư dân này tuy tồn tại trong một cái khung của cơ cấu hành chính chung nhưng có văn hóa và lối sống khác nhau Trong suốt trường kỳ lịch sử hàng ngàn năm của mình, bộphận thị dân của Thăng Long-Hà Nội luôn nhỏ bé và yếu ớt, lại bị phân hóa thành các nhóm khác nhau với quyền lợi, thân phận và lối sống không đồng nhất Sẽ là một thiếu

16 UBND Thành phố Hà Nội, Khái quát về Hà Nội, mục “Nguồn gốc dân cư”; http://www.hanoi.gov.vn

17 Tổng cục Thống kê, Dân số và mật độ dân số năm 2009 phân theo địa phương” Tổng cục Thống kê Việt

Nam, truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010.

18 ‘Vì sao hoàng thành bị chôn vùi’, Thanh Niên (27/9/2010).

19 Ho Dinh Duan & S Mamorou, 2009, “Studies on Hanoi , (đã dẫn).

20 Nguyễn Thừa Hỷ, ‘Thăng Long-Hà Nội ’ ( đã dẫn)

21 Trần Văn Giầu, Văn hóa Thăng Long thời đại Lý – Trần In trong: Hội Ngôn ngữ học “Hà Nội- Những Vấn đề Ngôn ngữ Văn hóa’ Nxb Thời đại, Hà Nội, 2010 ; tr 8-35.

Trang 7

sót khi phân tích bản sắc văn hóa Hà Nội mà lờ đi bộ phận văn hóa nông dân chiếm số đông trong khi có thiên hướng đề cao quá đáng văn hóa của tầng lớp thị dân và quý tộc nhỏ bé so với các tầng lớp xã hội khác Với cách nhìn như vậy, tôi tán đồng nhận xét đíchđáng của một nhà sử học khi ông cho rằng văn hóa nông dân mới là hằng số của lịch sử văn hóa Việt Nam:

Chính đất nước này, dân tộc hình chữ S này là đại dương của 3 chữ Nông: Nông thôn, Nông dân và Nông nghiệp Ba chữ nông ấy là bản chất của dân tộc này, của văn minh văn hóa này GS Trần Quốc Vượng còn gọi 3 chữ Nông này là hằng số của lịch sử văn hóa Việt Nam Trên cái mênh mông như thế, trong lịch sử có thực nổi lên lác đác những hòn

cù lao, lác đác, hiếm ít và nổi lên cũng không được cao lắm, đó chính là những đô thị Trong số đó, hòn cù lao lớn nhất là Thăng Long- Hà Nội [ 22 ]

3 Chính cư và ngụ cư

Nhà nghiên cứu Giang Quân, người đã viết tới 30 đầu sách về Hà Nội cho biết “trước đây

có khoảng 9% người Hà Nội gốc, còn sau khi Hà Nội mở rộng thì có lẽ con số đó giảm xuống chỉ còn 5% (tính theo 6,3 triệu dân) Vì thế mà tính hào hoa, thanh lịch của người

Hà Nội đang ngày một phôi pha”[ 23 ].

Thực ra, không có cơ sở khoa học nào khả dĩ có thể phân biệt được người Hà Nội gốc và người Hà Nội nhập cư Câu hỏi đặt ra là một gia đình sống ở Hà Nội bao nhiêu lâu thì được xem là người Hà Nội gốc? Ngoài thời gian định cư ở Hà Nội thì còn có tiêu chí nào khác để xác định tính chất “gốc” của người Hà Nội? Chưa có nhà nghiên cứu nào có ý định làm rõ câu hỏi này nhưng dường như đang có một cách hiểu ngấm ngầm rằng người

Hà Nội gốc là người có lối sống thanh lịch, đối lập với cách sống xô bồ và hỗn tạp của người Hà Nội nhập cư [24] Vì vậy người ta mới la lên rằng cái chất hào hoa thanh lịch của Hà Nội nay đang mất đi là do làn sóng di dân ào ạt vào thành phố Cách nói như vậy, theo tôi, chỉ là để thể hiện một ước vọng muốn phổ biến và phát triển những lối sống và thế ứng xử có văn hóa của người dân thành phố hơn là một thuộc tính phổ quát có thật đã từng tồn tại ở Hà Nội mà nay đã mất đi Về một phương diện nào đó, có thể đồng ý với giả thiết của Hoàng Hưng [25] và Nguyễn Thừa Hỷ [26] rằng cái thuộc tính hào hoa thanh lịch mà ngày nay người ta xem là bản sắc chung của người Hà Nội thực ra chỉ trở nên phổ biến và được nói đến nhiều dưới thời cận đại, trong những gia đình trí thức, quan lại

22 Lê Văn Lan, "Hà Nội đâu phải nơi tá túc để kiếm chác", trả lời phỏng vấn trang Tuần Việt Nam,

ngày 30/9/2010.

23 Trả lời phỏng vấn Thể thao Văn hóa, in trong : ‘Nhà nghiên cứu Giang Quân với 30 đầu sách về Hà Nội’; Thể thao Văn hóa, ngày 24/08/2010.

24 Lê Phú Khải, ‘Như thế nào là người Hà Nội’, BBCVietnamese, 10/6/2010 Cũng xem Vương Trí Nhàn,

‘Người Hà Nội thứ thiệt không nói thế’ ; http://www.bbc.co.uk/vietnamese/culture/2010/09/

25 Hoàng Hưng, ‘Lối sống người Hà nội”, 2010 (đã dẫn) Nguyễn Thừa Hỷ (đã dẫn) cũng cho rằng đô thị

Hà Nội đến thời thực dân, thành phố dần chuyển sang mô hình thời cận đại, đã làm xuất hiện ‘một giai tầng mới với lối sống lịch lãm, phóng khoáng của một « Hà Thành hoa lệ » đối lập với một « Hà thành lầm than »

26 Nguyễn Thừa Hỷ, trong ‘Thăng long Hà Nội ’ (đã dẫn) cũng cho rằng đến thời thực dân, Hà nội dần chuyển sang mô hình một thành phố thời cận đại, bắt đầu xuất hiện ‘một giai tầng mới với lối sống lịch lãm, phóng khoáng của một « Hà Thành hoa lệ », đối lập với một « Hà thành lầm than ».

Trang 8

và công chức Tây học, trên cơ sở tiếp nối truyền thống kẻ sỹ của những đạo đức nho học trước đó Nói như vậy cũng đồng nghĩa với việc thừa nhận rằng cái nếp sống thanh lịch

ấy thực ra cũng không có tính chất “gốc” mà chủ yếu được hình thành và phát triển trên

cơ sở của những gia đình nhập cư, vì phần lớn những người làm quan, học hành đỗ đạt vàlàm công chức trong bộ máy công quyền ở Hà Nội đều được tuyển dụng từ nơi khác đến

và hợp thành một nhóm tinh hoa của đô thị

Trên hành trình đi tìm bản sắc của “tiếng Hà Nội gốc”, nhà ngôn ngữ học Hoàng Hành xác định: “Người sinh ra và lớn lên ở (hai huyện) Vĩnh Thuận và Thọ Xương cùng với hậu duệ của họ là người Hà Nội gốc và tiếng nói của họ, thổ ngữ Vĩnh Thuận – Thọ Xương, chính là tiếng Hà Nội gốc” Dẫu vậy, ông vẫn phải thêm rằng “sau khi định đô, người Hà Nội gốc không còn chỉ là cư dân của hai huyện Vĩnh Thuận và Thọ Xương nữa,

mà còn gồm cả những người từ bốn trấn quanh đó về định cư ở nội thị”[27] Điều này có nghĩa rằng tìm hiểu tiếng Hà Nội gốc tức là tìm hiểu cái ngôn ngữ đã được phát triển trên

cơ sở hòa trộn tiếng nói của cư dân hai huyện này với những người nhập cư đến từ các vùng khác chứ không phải cái ngôn ngữ đã tồn tại từ trước khi có thành Thăng Long Nóinhư vậy để thấy rằng cuộc tranh luận về thành phần gốc và mới của cư dân Hà Nội khôngchỉ phức tạp mà còn có nguy cơ đi vào ngõ cụt Hơn thế, nó còn có thể dẫn tới cái bẫy của sự phân biệt đối xử giữa những người được xem là dân gốc với những người bị gán cho cái nhãn nhập cư Câu chuyện này cũng giống như sự phân biệt chính cư và ngụ cư trong các làng truyền thống ở đồng bằng sông Hồng, nơi những người ngụ cư phải chịu nhiều thiệt thòi, phải trải qua nhiều đời với thân phận và vị thế chính trị rất thấp để được nhận cái danh là dân chính cư Hà Nội đương nhiên không phải là một cái làng

Nhìn lại quá trình tụ cư và cấu trúc dân số của Hà Nội từ trong lịch sử cho đến hiện tại, tathấy tồn tại hai khu vực dân cư với độ tương phản rõ rệt trong các năng động dân số học Khu vực nông thôn gồm các làng mạc thôn ấp thuộc các quận huyện ngoại thành về cơ bản không có xáo trộn lớn về dân cư Lịch sử đời sống và ghi chép về lai lịch của các dòng họ sống trong các làng mạc mà người ta còn lưu giữ được đến ngày nay cho thấy mức độ tương đối ổn định về dân số trong một khoảng thời gian nhất định Ngược lại, khu vực đô thị bao gồm các khu hành chính, các phường thủ công và buôn bán có dân số không đông, nhưng mức độ xáo trộn và thay đổi dân số lại diễn ra thường xuyên hơn Bên cạnh tính năng động của một trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa thì Hà Nội cũng thường xuyên là mục tiêu hủy diệt của các cuộc chiến tranh, loạn lạc và ly tán Thêm vào

đó, phần lớn thị dân và thợ thủ công làm việc trong các khu phố thường vẫn giữ mối liên

hệ chặt chẽ với làng quê gốc của họ Những khi triều đình có biến hay bị thất bát trong kinh doanh thì nơi họ lui về vẫn là các làng quê gốc gác của cha ông Trong khi đó, bộ phận trí thức, công chức và quan lại thì được tiếp nhận đến hoặc chuyển đi theo yêu cầu của nhà nước Như đã nói tới ở trên, vào lúc hoàng kim của đô thị Hà Nội thời cận đại hồiđầu những năm 1940, tổng số dân sống trong khu vực đô thị cũng chưa tới 14 vạn người Tuy nhiên con số này có lẽ chưa bao gồm những người dân di cư sống trong thành phố nhưng không có đăng ký chính thức Bộ phận này chắc chắn không nhỏ Họ chủ yếu là những người buôn thúng bán bưng, giúp việc nhà, làm các công việc nặng nhọc như phu

xe hay khuân vác Và nơi tá túc của họ thường ở những khu lao động tồi tàn vùng ven đô

27 Hoàng Hành, ‘Tiếng Hà Nội- sự hội tụ của bốn phương, tinh hoa của một nền văn hóa In trong : Hội

Ngôn ngữ học: ‘Hà Nội Những Vấn đề Ngôn ngữ Văn hóa’ Nxb Thời Đại, Hà Nội 2010, tr 139-151

Trang 9

Cũng giống như nhiều đô thành trên thế giới, Thăng Long – Hà Nội luôn luôn là một điểm đến hấp dẫn của nhiều luồng di cư Luồng thứ nhất bao gồm những thành phần tinh hoa của đất nước Họ là những người có tài năng, học vấn và vốn liếng, được tuyển dụng hoặc tự tìm đến chốn kinh kỳ để phát triển và thi thố với đời Luồng thứ hai là những người dân cùng khổ từ các vùng nông thôn, do lao dịch, thuế má, thất bát, dịch bệnh và bóc lột, bị đẩy đến tình trạng bần cùng Họ đổ về Thăng Long tìm cơ hội thay đổi cuộc đời và tạo nên những khu cư trú tồi tàn của người lao động vùng ngoại ô Luồng di cư thứ

ba là sự hiện diện của những người nước ngoài đủ mọi thành phần sắc tộc và chúng tộc,

từ những thương nhân, nhà truyền giáo, nhà ngoại giao cho đến những người lao động nghèo hèn Họ di chuyển vào các thành phố lớn để tìm kiếm cơ hội phát triển sự nghiệp hoặc chỉ đơn giản là để tìm kế sinh nhai Bên cạnh luồng di cư đến thành phố, cũng có luồng di cư ra khỏi thành phố dù là tự nguyện hay cưỡng bức Đặc biệt, các cuộc chiến tranh binh lửa, xung đột và cướp bóc đẫm máu thường là nguyên nhân làm cho số lượng

cư dân khu vực đô thị giảm đi nhanh chóng Chính sách của các nhà nước ở mỗi thời kỳ cũng khuyến khích hoặc ngăn chặn các luồng di dân vào thành phố làm cho dân số khu vực đô thị thay đổi thất thường Tuy nhiên, hiện tượng nổi bật của các năng động dân số học khu vực đô thị chính là các dòng di cư

Mặc dù các luồng di cư vào Hà Nội trong lịch sử khá đa dạng và liên tục, nhưng phần lớnđiểm đến của những dòng chảy dân số này là khu vực đô thị Vùng nông thôn ngoại thànhđược kiểm soát bởi các cộng đồng làng xã truyền thống với những tập tục khắt khe liên quan đến người ngụ cư có thể được xem là một trong những rào cản hữu hiệu chặn đứng các dòng người nhập cư vào làng xã Mặt khác, điều kiện kinh tế và sở hữu đất đai như lànguồn tư liệu chủ yếu ở khu vực nông thôn đã không hấp dẫn người di cư Như vậy, có thể thấy rằng thành phần cốt lõi của cư dân đô thị từ khi định hình thành Thăng Long chođến hiện tại là người tứ xứ Dòng di dân này có tính năng động cao nhưng không ổn định Vị thế công dân của họ tùy thuộc vào thái độ của nhà nước ở mỗi thời kỳ Họ có thể

trở thành thị dân, trở lại là nông dân hoặc chỉ là những kẻ vagabonds lơ lửng giữa nhà

nước và làng xã [28] Trong con mắt của các nhà quản lý, người di cư từ nông thôn vào đô thị thường không được khuyến khích Có tài liệu lịch sử cho thấy ngay từ thế kỷ 15, vua

Lê Thánh Tông đã từng ra lệnh đuổi tất cả những người dân tứ xứ đổ về Thăng Long kiếm kế sinh nhai, và chỉ kịp sửa sai sau khi nhận thấy chính những người di cư đã góp phần quan trọng phát triển kinh tế của đô thành và đóng thuế nuôi triều đình[29] Câu chuyện từ vài thế kỷ trước vẫn đang là vấn đề thời sự của Hà Nội hôm nay Báo chí đưa tin các nhà chức trách Hà Nội chủ trương ngăn cản luồng nhập cư vào Hà Nội từ năm

2010 trở đi, đặc biệt là đối tượng lao động tự do từ các vùng nông thôn [30] Thực ra, những cố gắng bằng biện pháp hành chính như vậy thường không đạt được thành công vì

28 Theo Masaya Shiraishi, trong công trình nghiên cứu “State, Village and Vagabonds: Vietnamese Rural

Society and the Phan Ba Vanh Rebellion,” đăng trong Andrew Turton and Shigeharu Tanabe (eds.) “History and Peasant Consciousness in Southeast Asia”; Osaka: National Museum of Ethnography, 1984, 345–400, thì trong lịch sử Việt nam, có một nhóm cư dân mà ông gọi là “vagabonds” Về bản chất họ là những du

dân nhưng không được thừa nhận và quản lý bởi nhà nước hay làng xã Nhóm này có số lượng đông đảo và thường dễ được tập hợp, là nguy cơ gây bất ổn xã hội mà trường hợp khởi nghĩa Phan Bá Vành là một ví dụ điển hình.

29 UBND Thành phố Hà Nội 2010, phần “Nguồn gốc dân cư”, trong Khái quát về Hà Nội… (đã dẫn).

30 “Cần tính kỹ việc hạn chế nhập cư vào Hà Nội”; http://vnexpress.net/ Thứ Hai, 12/5/2010.

Trang 10

nó đi ngược lại quy luật phát triển và quá trình đô thị hóa của thành phố này Thực chất của quá trình đô thị hóa là sự tăng trưởng tỷ trọng dân số sống trong khu vực thành thị

Đô thị phát triển tạo ra sức hút và trở thành động lực của dòng di dân vào thành phố, trong đó có cả những người lao động có trình độ cao và lao động phổ thông Lao động nhập cư có thể làm cho thành phố tập trung nhiều người nghèo hơn, nhưng nó cũng là nơimang lại niềm hy vọng của nhiều người dân muốn thoát khỏi đói nghèo Hà Nội không thể trở thành một thành phố đóng vai trò trung tâm trong sự phát triển của quốc gia nếu không có đóng góp của những người dân di cư Người lao động nhập cư vào thành phố thường chỉ tìm được việc làm trong nhóm những công việc khó khăn, nguy hiểm, từ quét rác tới các công việc nặng nhọc trong các công trường xây dựng nhưng đó là những việc cần thiết để thành phố có thể vận hành trôi chảy Cũng chính dòng di cư này bổ xung nguồn lao động dồi dào cho khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ Đặc biệt, họ còn

là sự sống còn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ vốn dựa trên chi phí nhân công thấp và lao động bán công nghiệp Từ khi thực hiện đổi mới, đô thị hóa bùng nổ như một cơn sốt

và nhà quản lý đã không tìm ra được chính sách hữu hiệu dẫn đến lo ngại về người nhập

cư sẽ làm quá tải thành phố và giải pháp quen thuộc dễ dàng nhất là cấm nhập cư Nói như sử gia Nguyễn Thừa Hỷ thì “đó là cách quản lý theo kiểu "mục dân" (chăn dắt dân),

"sử dân" (sai khiến dân) của các viên quan cai trị thời phong kiến, trong một xã hội thần dân”[31] và nó không thể thích hợp với mô hình quản lý một xã hội đô thị mở của thế kỷ

21 Các nghiên cứu về dòng di dân vào Hà Nội những năm qua cho thấy bộ phận lao động nhập cư luôn chiếm khoảng 10% dân số nội đô, trong đó có đến hơn 80% đến từ cáctỉnh đồng bằng sông Hồng, và khoảng một nửa số lao động này là phụ nữ [32] Một phân tích của Tổng cục Thống kê [33] cho thấy lao động di cư vào thành phố đều có thu nhập tăng lên so với lao động không di cư, trong đó lao động nhập cư vào Hà Nội đạt được mức thu nhập cao nhất so với các nơi khác Nguồn thu nhập này đã góp phần quan trọng vào thu nhập của các hộ gia đình nông dân vốn chỉ dựa vào diện tích đất nông nghiệp chật hẹp và không có điều kiện cải thiện cuộc sống ở khu vực nông thôn

Tóm lại, dân nhập cư luôn luôn là một bộ phận quan trọng trong cấu trúc dân số của Hà Nội, trong quá khứ đã như vậy, trong hiện tại và tương lai cũng sẽ vẫn tiếp tục như vậy Các lớp người di cư vào thành phố không chỉ mang lại sức sống và những năng động kinh tế - xã hội cho khu vực đô thị, nó còn góp phần tạo nên bức tranh đa dạng và sống động trong đời sống văn hóa của thị dân Vì thế, không có cơ sở để cho rằng các làn sóng dân nhập cư vào thành phố đã làm tăng tính xô bồ, hỗn tạp và làm phai nhạt lối sống thanh lịch của người Hà Nội

4 Chủng tộc và sắc tộc

Cũng giống như mọi thành phố khác trên thế giới, Hà Nội là một đô thị đa sắc tộc Có

những sắc tộc khác nhau tham gia vào quá trình tạo dựng và phát triển của thành phố mà dấu ấn của họ còn lưu lại cả trong đời sống vật chất lẫn tinh thần của thủ

đô Điều đáng ngạc nhiên là trong khi hầu hết các tài liệu nghiên cứu về Hà Nôi

31 Nguyễn Thừa Hỷ, Thăng long – Hà Nội… (đã dẫn)

32 Hoàng Văn Chức, Di dân tự do đến Hà Nội Hà Nội: Chính trị Quốc gia, 2004, tr.126-27

33 “Người dân di cư gặp khó khăn về nơi ở và đăng ký hộ khẩu” Thanh Niên, ngày 23/12/2006.

Ngày đăng: 19/04/2022, 21:33

w