ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT =====000===== PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG, SUY THOÁI MÔI TRƯỜNG VÀ SỰ CỐ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HÃY LIÊN HỆ THỰC TẾ Họ và tên Lưu Thị Quỳnh Anh MSSV 2006[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
=====000=====
PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG, SUY THOÁI MÔI TRƯỜNG VÀ SỰ CỐ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT
NAM HÃY LIÊN HỆ THỰC TẾ
Họ và tên: Lưu Thị Quỳnh Anh
MSSV: 20061010
Lớp: K65A
Tiểu luận kết thúc học phần: Pháp luật đất đai và môi trường
Giáo viên hướng dẫn: Ts Đặng Bích Liễu
Hà Nội, 12/2021
Trang 22
MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
PHẦN MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Phương pháp nghiên cứu 3
PHẦN NỘI DUNG 4
I, Khái quát về kiểm soát ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường và sự cố môi trường ở Việt nam 4
1 Khái niệm ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường và sự cố môi trường ở Việt nam 4
2 Khái niệm về kiểm soát ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường, sự cố môi trường 6
II Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường và sự cố môi trường 6
1 Đặc điểm của pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường và sự cố môi trường 6
2 Nội dung chủ yếu của pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường và sự cố môi trường 8
3 Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường và sự cố môi trường 12
4 Đề xuất 1 số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường và sự cố môi trường 14
KẾT LUẬN 15
TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
Trang 33
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày nay, kinh tế ngày càng phát triển, xã hội ngày càng đi lên tuy nhiên môi trường hiện nay lại không có chiều hướng tốt lên mà ngày càng tệ đi kéo theo những nguy cơ tiềm ẩn gây nguy hiểm cho sức khỏe và cuộc sống con người Việc quan trong đề ra trước mắt là cần phải kiểm soát ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường và suy thoái môi trường để đảo ngược tình hình giúp cho tình trạng môi trường hiện nay được cải thiện
Vì lý do đó em quyết định chọn đề tài : “Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường và sự cố môi trường ở Việt nam? Hãy liên hệ thực tế?”
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, pháp lý về pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường và sự cố môi trường
ở Việt Nam Và từ đó đề ra những giải pháp nhằm hoàn thiện những chính sách, pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường và sự cố môi trường
3 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong bài tiểu luận : Phân tích, tổng hợp,
xử lý dữ liêu, so sánh
Trang 4
4
PHẦN NỘI DUNG
I, Khái quát về kiểm soát ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường và sự cố môi trường ở Việt nam
1 Khái niệm ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường và sự cố môi trường
ở Việt nam
1.1 Khái niệm ô nhiễm môi trường
Ô nhiễm môi trường là khái niệm được nhìn nhận dưới nhiều góc độ Dưới góc độ kinh tế học, ô nhiễm môi trường là sự thay đổi không có lợi cho môi trường sống về các tính chất vật lí, hoá học và sinh học mà qua đó có thể gây tác hại tức thời hoặc lâu dài đến sức khoẻ của con người, các loài động thực vật và các điều kiện sống khác Dưới góc độ sinh học thì ô nhiễm môi trường là chỉ tình trạng của môi trường trong đó những chỉ số hoá học, lí học của nó dần bị thay đổi theo chiều hướng xấu đi
Dưới góc độ pháp lý thì tại khoản 8 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 đã quy định ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật Cụ thể hơn thành phần môi trường là yếu tố vật chất tạo thành môi trường bao gồm đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật và các hình thái vật chất khác (khoản 2 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014) Sự biến đổi của các thành phần môi trường trên có thể bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác nhau Trong đó nguyên nhân chủ yếu nhất là do các chất gây ô nhiễm Các chất gây ô nhiễm là chất hoặc yếu tố vật lí khi xuất hiện trong môi trường thì làm cho môi trường bị ô nhiễm
Ô nhiễm môi trường được định nghĩa dưới nhiều góc độ khác nhau tuy nhiên có một điểm chung là đều đề cập đến nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi trường là do sự biến đổi của các thành phần môi trường theo chiều hướng xấu đi gây ra bất lợi cho con người, động thực vật và các điều kiện sống khác Ví dụ cụ thể như ở Hà Nội, sông Tô Lịch phải chịu một lượng lớn rác thải, nước thải khiến nước song đổi màu gây ra ảnh hưởng tới sức khỏe và sinh hoạt của người dân sống ở khu vực dọc 2 bên sông trong nhiều năm qua Đồng thời nó còn tác động xấu tới hệ sinh thái thủy sinh, làm giảm khả năng phục hồi đa dạng sinh học
Trang 55
1.2 Khái niệm suy thoái môi trường
Theo Khoản 9, Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2014 quy định: “ Suy thoái môi trường là sự suy giảm về chất lượng và số lượng của thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật.” Suy thoái môi trường có thể chia thành các cấp
độ như: suy thoái môi trường, suy thoái môi trường nghiêm trọng và suy thoái môi trường đặc biệt nghiêm trọng
Theo nguồn GEMET (General Multilingual Environmental Thesaurus): “ Suy thoái môi trường là quá trình môi trường tự nhiên bị xâm hại theo một cách nào đó, làm giảm tính đa dạng sinh học và sức khỏe chung của môi trường Quá trình này có thể hoàn toàn có nguồn gốc tự nhiên, hoặc nó có thể được đẩy nhanh hoặc gây ra bởi các hoạt động của con người Nhiều tổ chức quốc tế công nhận suy thoái môi trường là một trong những mối đe dọa lớn mà hành tinh phải đối mặt, vì con người chỉ được giao cho một Trái đất để làm việc cùng, và nếu môi trường bị tổn hại không thể khắc phục được, điều
đó có nghĩa là sự kết thúc của sự tồn tại của loài người.”
Như vậy, suy thoái môi trường là trạng thái môi trường mà các thành phần môi
trường bị biến đổi về cả số lượng và chất lượng Ví dụ nạn chặt phá rừng trái phép, khai thác rừng quá mức kéo dài khiến cho diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp (theo số liệu của Tổng cục Lâm nghiệp trung bình mỗi năm chúng ta mất đi 2.430ha rừng) dẫn đến
sự suy giảm về chất lượng của đa dạng sinh học dưới mức an toàn
1.3 Khái niệm sự cố mội trường
Theo Khoản 10 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường: “Sự cố môi trường là sự cố xảy ra trong quá trình hoạt động của con người hoặc biến đổi của tự nhiên, gây ô nhiễm, suy thoái hoặc biến đổi môi trường nghiêm trọng.” Một số sự cố môi trường thường xảy
ra và để lại những hậu quả khôn lường đối với con người và thiên nhiên có thể kể đến:
“thiên tai; sự cố lĩ thuật của các cơ sở kinh doanh sản xuất, cơ sở công nghiệp; hỏa hoạn;
sự cố trong khai thác, thăm dò vận chuyển khoáng sản, sự cố trong lò phản ứng hạt nhân, nhà máy điện nguyên tử;….” Ở Việt Nam, sự cố môi trường không còn quá xa lạ như: Hiện tượng cá chết hàng loạt ở bờ biển miền Trung, sự cố cháy rừng ở miền Trung,…
Trang 66
2 Khái niệm về kiểm soát ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường, sự cố môi trường
Kiểm soát ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường, sự cố môi trường sau đây gọi chung là kiểm soát ô nhiễm môi trường Bởi ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường
và sự cố môi trường đều gây ra tình trạng ô nhiễm
Kiểm soát ô nhiễm môi trường là tập hợp các biện pháp, hoạt động nhằm phòng ngừa, ngăn chặn, phát hiện, xử lý ô nhiễm và phục hồi môi trường Trong nhiều trường hợp, kiểm soát ô nhiễm môi trường cũng đồng nghĩa với việc ngăn chặn phát sinh, giảm thiểu và loại bỏ các chất gây ô nhiễm (ở các thể loại rắn, lỏng, khí và các dạng tiếng ồn, bức xạ, độ rung) ra môi trường.1
II Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường và sự cố môi trường
Khoản 18 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2014 quy định: “Kiểm soát ô nhiễm là quá trình phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý ô nhiễm.” Có thể thấy so với khái
niệm quản lí nhà nước về bảo vệ môi trường chỉ thể hiện hoạt động quản lý của Nhà nước thông qua việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ và quyền hạn đối với việc bảo vệ môi trường thì khái niệm kiểm soát ô nhiễm môi trường có nội hàm rộng hơn, thể hiện
ở nhiều khía cạnh hơn như chủ thể kiểm soát, mục đích kiểm soát, cách thức, công cụ
và phương tiện kiểm soát, nội dung kiểm soát 2
1 Đặc điểm của pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường và sự cố môi trường
Đặc điểm của pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường bao gồm 3 đặc điểm: Chủ thể, mục đích và công cụ kiểm soát
Thứ nhất, về chủ thể của kiểm soát ô nhiễm môi trường không chỉ là Nhà nước (thông qua hệ thống các cơ quan quản lí nhà nước về môi trường) mà còn bao gồm các
1 https://bktt.vn/Ki%E1%BB%83m_so%C3%A1t_%C3%B4_nhi%E1%BB%85m_m%C3%B4i_tr%C6%B0%E1
%BB%9Dng
2 GS TS Lê Hồng Hạnh - Phó GS.TS Vũ Thu Hạnh, Giáo trình Luật môi trường, NXB Công An Nhân Dân
Trang 77
doanh nghiệp, các cộng đồng dân cư, các hiệp hội ngành nghề, các tổ chức, hộ gia đình
và cá nhân Nói cách khác, kiểm soát ô nhiễm là trách nhiệm của toàn xã hội, của toàn thể nhân dân.3 Cụ thể hơn bên cạnh sự quản lý của các cơ quan nhà nước về môi trường thông qua các hoạt động như: xây dựng, ban hành theo thẩm quyền và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, ban hành hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật môi trường; Xây dựng, chỉ đạo thực hiện chiến lược, chính sách, chương trình, đề án, quy hoạch, kế hoạch về bảo vệ môi trường….Thì cũng cần sự phối hợp, hợp tác của các doanh nghiệp, các cộng đồng dân cư, các hiệp hội ngành nghề, các
tổ chức, hộ gia đình và cá nhân….để đạt được kết quả tối ưu nhất Nếu chủ thể của kiểm soát ô nhiễm môi trường chỉ dừng lại ở một chủ thể như Nhà nước, nhân dân không cần phải có trách nhiệm với việc kiểm soát ô nhiễm tự do phá hoại môi trường thì việc kiểm soát ô nhiễm sẽ bị đình trệ, việc xác định chủ thể của kiểm soát ô nhiễm môi trường bao gồm nhân dân còn giúp họ ý thức được vai trò và trách nhiệm của mình để có những hành động phù hợp với trách nhiệm của mình
Thứ hai, mục đích chính của việc kiểm soát ô nhiễm môi trường là phòng ngừa, hạn chế, khống chế không để tình trạng ô nhiễm môi trường xảy ra Nói cách khác thì kiểm soát ô nhiễm là quá trình con người giữ thế chủ động trong việc ngăn chặn, giảm tác hại các tác động xấu đến môi trường từ các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội Ví dụ như hiện nay đất nước ta đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nên các hoạt động phát triển công nghiệp rất được chú trọng, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm việc phát triển kinh tế gắn liền với bảo vệ môi trường, điều này được thể hiện thông qua quan điểm của Đảng tại các Đại hội Đảng Tuy nhiên nếu vì những lí do khác nhau như thiên tai, hậu quả của biến đổi khí hậu toàn cầu… mà ô nhiễm môi trường vẫn xảy ra thì kiểm soát ô nhiễm còn mang mục đích là hoạt động xử lí, khắc phục hậu quả, phục hồi lại tình trạng môi trường như ban đầu
Thứ ba, công cụ kiểm soát ô nhiễm môi trường bao gồm: Công cụ mệnh lệnh – kiểm soát; công cụ kinh tế; công cụ kỹ thuật; công cụ truyền thông, giáo dục Công cụ mệnh lệnh - kiểm soát là hệ thống quy chuẩn về chất lượng môi trường và chất thải, giấy phép môi trường, các hình thức xử phạt vi phạm ở đây có thể là xử phạt hành chính hoặc hình
sự và chế độ thanh tra, kiểm tra Công cụ kinh tế là các loại thuế, phí, trợ cấp, ký quỹ
3 GS TS Lê Hồng Hạnh - Phó GS.TS Vũ Thu Hạnh, Giáo trình Luật môi trường, NXB Công An Nhân Dân
Trang 88
phục hồi môi trường, quỹ môi trường,…nhằm thay đổi hành vi của tổ chức, hộ gia đình
và cá nhân trong việc gây ô nhiễm môi trường và hỗ trợ phục hồi môi trường Công cụ
kỹ thuật là các công nghệ, kỹ thuật được sử dụng trong quan trắc, phòng ngừa phát sinh,
tái chế, xử lý, tiêu hủy chất thải và cải tạo, phục hồi môi trường Công cụ truyền thông,
giáo dục là các biện pháp nâng cao nhận thức, hiểu biết về kiểm soát ô nhiễm môi trường
cho các nhà quản lý, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư.4
2 Nội dung chủ yếu của pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường, suy
thoái môi trường và sự cố môi trường
Nội dung chính của hoạt động kiểm soát ô nhiễm môi trường (hay còn gọi là các
hình thức pháp lí của kiểm soát ô nhiễm môi trường) gồm: Thu thập, quản lí và công bố
các thông tin về môi trường, xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch kiểm soát ô
nhiễm; ban hành và áp dụng các tiêu chuẩn môi trường; quản lí chất thải; xử lí, khắc
phục tình trạng môi trường bị ô nhiễm 5
3.1 Thu thập, quản lí và công bố các thông tin về môi trường
Muốn kiểm soát ô nhiễm môi trường thì việc đầu tiên cần phải có được đầy đủ, chính
xác các thông tin môi trường Theo Khoản 1 Điều 128 Luật Bảo vệ môi trường: “Thông
tin môi trường gồm số liệu, dữ liệu về thành phần môi trường, các tác động đối với môi
trường, chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường, hoạt động bảo vệ môi trường.”
Chính vì thế, việc có được các thông tin môi trường sẽ giúp chủ thể kiểm soát ô nhiễm
môi trường nắm được tình hình, thực trạng môi trường từ đó chủ động trong việc kiểm
soát ô nhiễm môi trường
Hoạt động thu thập các thông tin về môi trường luôn cần đến sự trợ giúp của các
biện pháp, công cụ, phương tiện kĩ thuật đặc biệt, được biết đến với các hoạt động quan
trắc môi trường, chương trình quan trắc môi trường, hệ thống quan trắc môi trường Bởi
thông tin trong lĩnh vực này vô cùng rộng lớn và đa dạng cả về phạm vi không gian và
số lượng như năm 2019 miền Trung xảy ra cháy rừng liên tiếp ở nhiều tỉnh thành, trường
hợp này cần sử dụng quan trắc môi trường hay còn gọi là hoạt động theo dõi giám sát
4 https://bktt.vn/Ki%E1%BB%83m_so%C3%A1t_%C3%B4_nhi%E1%BB%85m_m%C3%B4i_tr%C6%B0%E1%BB%9
Dng
5 GS TS Lê Hồng Hạnh - Phó GS.TS Vũ Thu Hạnh, Giáo trình Luật môi trường, NXB Công An Nhân Dân
Trang 99
chất lượng môi trường định kỳ sẽ giúp nắm được tình hình kịp thời nhanh chóng dập tắt đám cháy
Chủ thể quan quan trắc môi trường: Bộ Tài nguyên & Môi trường tổ chức việc quan trắc hiện trạng môi trường quốc gia; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức chương trình quan trắc môi trường trên địa bàn, báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp và Bộ Tài nguyên và Môi trường về kết quả quan trắc môi trường Khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, cụm công nghiệp, làng nghề, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phải thực hiện chương trình quan trắc phát thải và các thành phần môi trường Các thông tin môi trường phải được thu thập và quản lí theo quy định của pháp luật và phải được công khai (trừ những thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước)
3.2 Quy hoạch bảo vệ môi trường
Về khái niệm, có nhiều quan điểm khác nhau về quy hoạch môi trường Các quốc gia Bắc Mỹ thì họ quan niệm rằng nó là một phương pháp quy hoạch tổng hợp, kết hợp nhiều vấn đề, nhiều bên có liên quan và thường gọi là quy hoạch tổng thể Theo các
chuyên gia môi trường Việt Nam thì: “Quy hoạch môi trường là quá trình sử dụng có
hệ thống các kiến thức khoa học để xây dựng các chính sách và biện pháp trong sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường nhằm định hướng các hoạt động phát triển trong khu vực đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững”6 Còn theo Khoản 21 Điều 3 Luật Bảo
vệ môi trường 2014 thì: “Quy hoạch bảo vệ môi trường là việc phân vùng môi trường
để bảo tồn, phát triển và thiết lập hệ thống hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường gắn với
hệ thống giải pháp bảo vệ môi trường trong sự liên quan chặt chẽ với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội nhằm bảo đảm phát triển bền vững” Dù hiểu theo cách
nào thì quy hoạch bảo vệ môi trường đều nhằm đến mục tiêu là đảm bảo phát triển bền vững dựa trên việc xây dựng các đinh hướng, chính sách bảo vệ môi trường
Nguyên tắc của quy hoạch bảo vệ môi trường: Phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh
tế - xã hội; chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh; chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia bảo đảm phát triển bền vững Bảo đảm thống nhất với quy hoạch sử dụng đất; thống nhất giữa các nội dung cơ bản của quy hoạch bảo vệ môi trường Bảo đảm nguyên tắc bảo vệ môi trường quy định tại Điều 4
6 http://eldata10.topica.edu.vn/LAW113/PDF%20slide/LAW113_Bai2_v1.0014112224.pdf
Trang 1010
của Luật Bảo vệ môi trường Quy hoạch bảo vệ môi trường gồm hai cấp độ là quy hoạch bảo vệ môi trường cấp quốc gia và quy hoạch bảo vệ môi trường cấp tỉnh Kì quy hoạch bảo vệ môi trường là 10 năm, tầm nhìn đến 20 năm.7Quy hoạch bảo vệ môi trường cấp quốc gia chỉ xác lập định hướng phân vùng môi trường trên phạm vi cả nước theo vùng bảo vệ nghiêm ngặt, vùng hạn chế phát thải và vùng khác Còn quy hoạch môi trường cấp tỉnh dưới hình thức báo cáo riêng phải thể hiện được các nội dung chính giống như quy hoạch bảo vệ môi trường cấp quốc gia với yêu cầu chi tiết hơn gắn với vị trí địa lý, điều kiện môi trường tự nhiên, kinh tế - xã hội đặc thù của địa phương lập quy hoạch.8 Trách nhiệm lập quy hoạch do :Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức lập quy hoạch bảo vệ môi trường cấp quốc gia Và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức xây dựng nội dung và lập quy hoạch bảo vệ môi trường trên địa bàn
3.3 Ban hành và áp dụng hệ thống quy chuẩn kĩ thuật môi trường, tiêu chuẩn môi trường
Theo Khoản 5 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường thì: “Quy chuẩn kỹ thuật môi trường
là mức giới hạn của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, hàm lượng của các chất gây ô nhiễm có trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới dạng văn bản bắt buộc áp dụng để bảo vệ môi trường” Như vậy quy chuẩn kỹ thuật môi trường nhằm bảo vệ môi trườngvà l à cơ sở
cho hoạt động đánh giá sự phù hợp khi tác động đến môi trường Ở Việt Nam có các quy chuẩn môi trường cơ bản như sau: Quy chuẩn quốc gia về chất lượng nước bao gồm: nước mặt, nước ngầm, nước biển ven bờ, nước thải công nghiêp chế biến thủy sản,nước thải công nghiệp giấy và bột giấy, nước thải công nghiệp dệt may, nước thải sinh hoạt Quy chuẩn quốc gia về chất lượng không khí Quy chuẩn quốc gia về chất lượng đất Quy chuẩn quốc gia về tiếng ồn độ rung Ví dụ: Theo thông tư số 39/2010/TT-BTNMT ngày 16 tháng 12 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường: Quy chuẩn kĩ thuật đối với âm thanh tại các khu vực cần có sự yên tĩnh cao như bệnh viện, nhà trẻ, lớp học, thư viện, các viện nghiên cứu là 55 dbA
7 https://luatminhkhue.vn/cach-thuc-kiem-sat-o-nhiem-moi-truong suy-thoai-moi-truong-va-su-co-moi-truong .aspx
8 Thuvienphapluat.vn