1. Trang chủ
  2. » Tất cả

khaiquatvanhocvn1945-1975

32 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khái Quát Văn Học Việt Nam 1945-1975
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 1,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bối cảnh xã hội, lịch sử và văn hóa  Sự lãnh đạo của Đảng với đường lối văn nghệ xuyên suốt là yếu tố trọng yếu chấm dứt sự phân hóa phức tạp của văn hóa và văn học nước ta những năm

Trang 1

KHÁI QUÁT

VĂN HỌC VIỆT NAM 1975

Trang 2

1945-I Bối cảnh xã hội, lịch sử và văn

hóa

Sự lãnh đạo của Đảng với đường lối văn nghệ

xuyên suốt là yếu tố trọng yếu chấm dứt sự phân hóa phức tạp của văn hóa và văn học nước ta

những năm trước 45, tạo nên một nền văn nghệ khá thống nhất về tư tưởng

Hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mĩ suốt 30 năm đã tác động sâu sắc, toàn diện tới đời sống tinh thần nói chung và đời sống văn học nói riêng.

Nền kinh tế chậm phát triển, điều kiện giao lưu văn hóa bị hạn chế đã có ảnh hưởng không nhỏ đến văn học

Trang 6

II Quá trình phát triển và những thành tựu chủ yếu

Chặng 1: Kháng chiến chống Pháp (1945- 1954)

Nội dung chủ đạo:

1945-1946: Đây là thời kỳ văn học chuyển mình Văn học cách mạng là trào lưu chủ đạo, chi phối, nhưng vẫn còn đan xen với những xu hướng văn học khác 1946-1954: Văn học gắn bó sâu sắc với đời sống

cách mạng và kháng chiến; hướng tới khám phá sức mạnh và phẩm chất tốt đẹp của quần chúng công

nông binh; thể hiện niềm tự hào dân tộc và niềm tin vào tương lai tất thắng của kháng chiến

Trang 7

“Cái giờ nghiêm trọng của đời mày đang điểm Bây giờ hoặc là không

bao giờ nữa, mày phải cương quyết Không có thứ nhân đạo nào cấm mày không được tàn nhẫn ngay với mày Mày hãy diệt hết những con

người cũ ở trong mày đi – những con người mà mày mệnh danh là cố

nhân, theo một cái cố tật ưa du dương với kỷ niệm Đào thải, chưa đủ Phải tàn sát Giết, giết hết Thò đứa nào ở dĩ vãng hiện về đòi hỏi bất cứ một tí gì của mày bây giờ, là mày phải giết ngay Mày phải tự hoại nội tâm của mày đi đã Mà hãy lấy mày ra làm lửa mà đốt cháy hết những phong cảnh cũ của tâm tưởng mày”… Chàng chạy ra đường Ngoài đường,

cuộc Cách Mệnh đang bước dài trên khắp ngả phố Trên các cửa sổ mở, gió đời lùa cờ máu bay theo một chiều… Nguyễn thấy mệt mỏi trong lòng

và trên thân chàng thì xót nhức vô cùng Thì ra, lúc ở nhà ra đi, chàng

vừa chịu xong một cái nhục hình Lý trí đã lột hết lượt da trên mình

Nguyễn… Cái luồng gió ban nãy thổi cờ máu, thổi mãi vào thịt non

Nguyễn đang se dần lại Nguyễn thèm đến một con rắn mỗi năm thoát xác một lần…

Trích “Lột xác” (1946)

Nguyễn Tuân

Trang 8

II Quá trình phát triển và những thành tựu

chủ yếu

Chặng 1: Kháng chiến chống Pháp (1945- 1954)

Những thành tựu chủ yếu:

a/ Văn xuôi:

+ Mở đầu cho văn xuôi kháng chiến là truyện ngắn và ký (Một lần

tới thủ đô - Trần Đăng, Đôi mắt, Ở rừng - Nam Cao, Làng - Kim Lân,

Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài…)

+ Từ 1951 mới xuất hiện những tác phẩm tiểu thuyết dày dặn

(Vùng mỏ - Võ Huy Tâm, Đất nước đứng lên – Nguyên Ngọc…)

b/ Thơ:

+ Đạt được những thành tựu bước đầu về cách tân nghệ thuật,

phát triển lối thơ tự do (Màu tím hoa sim – Hữu Loan, Tình sông

núi, Nhớ máu - Trần Mai Ninh, Không nói, Đêm mít tinh - Nguyễn

Đình Thi…) và lối thơ dân tộc (Cá nước, Bầm ơi - Tố Hữu…)

Trang 9

Nhớ máu – Trần Mai Ninh

Ơ cái gió Tuy Hoà…

Cái gió chuyên cần

Và phóng túng.

Gió đi ngang, đi dọc, Gió trẻ lại - lưng chừng Gió nghĩ

Gió cười, Gió reo lên lồng lộng.

Tôi đã thấy lòng tôi dậy Rồi đây

Còn mấy bước tới Nha Trang

- A, gần lắm!

Ta gần máu,

Ta gần người,

Ta gần quyết liệt.

Ơi hỡi Nha Trang!

Cái đô thành vĩ đại Biết bao người niệm đọc tên mi.

Ta có nhớ Những con người

Đã bước vào bất tử!

Ơ, những người!

Đen như mực, đặc thành keo

Tròn một củ Hay những người gầy sắt lại Mặt rẹt một đường gươm Lạnh gáy

Lòng bàn tay Khắc ấn chuỗi dao găm Chân bọc sắt,

Mắt khoét thủng đêm dày

TRẦN MAI NINH

(1917-1947)

Trang 10

Hồng Nguyên

Lũ chúng tôi

Bọn người tứ xứ,

Gặp nhau từ hồi chưa biết chữ

Biết nhau từ buổi “một hai”

Súng bắn chưa quen,

Quân sự mươi bài

Lòng vẫn cười vui kháng chiến

Lột sắt đường tàu,

Rèn thêm đao kiếm,

Áo vải chân không,

Đi lùng giặc đánh.

Ba năm rồi gửi lại quê hương.

Mái lều gianh, Tiếng mõ đêm trường, Luống cày đất đỏ

Ít nhiều người vợ trẻ Mòn chân bên cối gạo canh khuya Chúng tôi đi

Nắng mưa sờn mép ba lô, Tháng năm bạn cùng thôn xóm.

Nghỉ lại lưng đèo Nằm trên dốc nắng.

Kì hộ lưng nhau ngang bờ cát trắng Quờ chân tìm hơi ấm đêm mưa.

Trang 11

Hồng Nguyên

[…]

Chúng tôi đi mang cuộc đời lưu động,

Qua nhiều nơi không nhớ hết tên làng.

Đã nghỉ lại rất nhiều nhà dân chúng

Tôi nhớ bờ tre gió lộng

Làng xuôi xóm ngược mái rạ như nhau

Có nắng chiều đột kích mấy hàng cau.

Có tiếng gà gáy xóm,

Có “Khai hội, yêu cầu, chất vấn!”

Có mẹ hiền bắt rận cho những đứa con xa.

Trăng lên tập hợp hát om nhà.

Tôi nhớ

Giường kê cánh cửa,

Bếp lửa khoai vùi

Đồng chí nứ vui vui,

Đồng chí nứ dạy tôi dăm tối chữ,

Đồng chí mô nhớ nữa,

Kể chuyện Bình – Trị – Thiên,

Cho bầy tôi nghe ví,

Bếp lửa rung rung đôi vai đồng chí

- Thưa trong nớ hiện chừ vô cùng gian khổ, Đồng bào ta phải kháng chiến ra ri.

Đêm đó chúng tôi đi Nòng súng nghiêng nghiêng, Đường mòn thấp thoáng…

Trong điếm nhỏ, Mươi người trai tráng,

Trang 12

Em sao em không nói

Mưa rơi ướt mái đầu Mỗi đứa một khăn gói

Ngày nào lần gặp sau Ngập ngừng không dám hỏi Chuyến này chắc lại lâu Đoàn thể gọi

Chiều mờ gió hút Nào đồng chí - bắt tay

Em Bóng nhỏ Đường lầy.

Trang 13

Heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùn

Bầm ra ruộng cấy bầm run

Chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non

Mạ non bầm cấy mấy đon

Ruột gan bầm lại thương con mấy lần.

Mưa phùn ướt áo tứ thân

Mưa bao nhiêu hạt, thương bầm bấy

nhiêu!

Bầm ơi, sớm sớm chiều chiều

Thương con, bầm chớ lo nhiều bầm

nghe!

Con đi trăm núi ngàn khe

Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm

Con đi đánh giặc mười năm

Chưa bằng khó nhọc đời bầm sáu mươi.

Con ra tiền tuyến xa xôi

Yêu bầm yêu nước, cả đôi mẹ hiền.

Nhớ thương con bầm yên tâm nhé Bầm của con, mẹ Vệ quốc quân.

Con đi xa cũng như gần Anh em đồng chí quây quần là con

Bầm yêu con, yêu luôn đồng chí Bầm quý con, bầm quý anh em.

Bầm ơi, liền khúc ruột mềm

Có con có mẹ, còn thêm đồng bào Con đi mỗi bước gian lao

Xa bầm nhưng lại có bao nhiêu bầm! Bao bà cụ từ tâm như mẹ

Yêu quý con như đẻ con ra.

Cho con nào áo nào quà Cho củi con sưởi, cho nhà con ngơi Con đi, con lớn lên rồi

Chỉ thương bầm ở nhà ngồi nhớ con! Nhớ con, bầm nhé đừng buồn

Giặc tan, con lại sớm hôm cùng bầm.

Mẹ già tóc bạc hoa râm Chiều nay chắc cũng nghe thầm tiếng con

Trang 14

II Quá trình phát triển và những thành tựu chủ yếu

Trang 15

II Quá trình phát triển và những thành tựu chủ yếu

Chặng 2: Kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam và xây dựng XHCN ở

miền Bắc (1955- 1964)

Nội dung bao trùm: Hình ảnh con người mới xã hội chủ nghĩa.

Những thành tựu chủ yếu:

a/ Văn xuôi: mở rộng đề tài

- Đề tài kháng chiến chống Pháp (Sống mãi với thủ đô - Nguyễn Huy Tưởng, Cao điểm cuối cùng - Hữu Mai…)

- Đề tài hiện thực đời sống trước cách mạng tháng Tám (Vợ nhặt - Kim Lân, Vỡ bờ - Nguyễn Đình Thi, Cửa biển – Nguyên Hồng …)

- Đề tài công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội gắn với sự đổi đời của con người (Sông Đà - Nguyễn Tuân, Mùa lạc - Nguyễn Khải, Cái sân gạch - Đào Vũ…)

Trang 16

II Quá trình phát triển và những thành tựu chủ yếu

Chặng 2: Kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam và xây

Trang 17

Xanh biếc màu xanh, bể như hàng nghìn mùa thu qua còn để tâm hồn nằm đọng lại

Sóng như hàng nghìn trưa xanh trời đã tan xanh ra thành bể và thôi không trở lại làm

trời

Nếu núi là con trai thì bể là phần yểu điệu

nhất của quê hương đã biến thành con gái

Mỗi đêm hè, da thịt sóng sinh sôi

Trang 18

Quê hương

Giang Nam

Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường

Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ

“Ai bảo chăn trâu là khổ?”

Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao

Rồi kháng chiến trường kỳ

Quê tôi đầy bóng giặc

Từ biệt mẹ, tôi đi

Cô bé nhà bên – (có ai ngờ)

Cũng vào du kích

Hôm gặp tôi vẫn cười khúc khích

Mắt đen tròn (thương thương quá đi thôi!)

Giữa cuộc hành quân không nói được một lời

Đơn vị đi qua, tôi ngoái đầu nhìn lại

Mưa đầy trời nhưng lòng tôi ấm mãi…

Hòa bình tôi trở về đây Với mái trường xưa, bãi mía, luống cày Lại gặp em

Thẹn thùng nép sau cánh cửa Vẫn khúc khích cười khi tôi hỏi nhỏ Chuyện chồng con (khó nói lắm anh ơi!) Tôi nắm bàn tay nhỏ nhắn ngậm ngùi

Em vẫn để yên trong tay tôi nóng bỏng…

Hôm nay nhận được tin em Không tin được dù đó là sự thật Giặc bắn em rồi, quăng mất xác Chỉ vì em là du kích, em ơi!

Đau xé lòng anh, chết nửa con người!

Xưa yêu quê hương vì có chim có bướm

Có những ngày trốn học bị đòn roi Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất

Có một phần xương thịt của em tôi.

Trang 19

II Quá trình phát triển và những thành tựu

a/ Văn xuôi: Truyện và ký phát triển mạnh ở cả 2 miền Nam Bắc nhằm

phản ánh chính xác và kịp thời hiện thực kháng chiến (Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi – Nguyễn Tuân, Người mẹ cầm súng – Nguyễn Thi, Hòn Đất – Anh

Đức…)

b/ Thơ:

+ Đào sâu chất hiện thực, suy tưởng, chính luận.

+ Hình thành một lớp nhà thơ trẻ trưởng thành trong kháng chiến chống

Mỹ (Bằng Việt, Nguyễn Duy, Xuân Quỳnh, Phạm Tiến Duật, Trần Đăng

Khoa, Nguyễn Khoa Điềm…)

+ Thơ tự do và trường ca là hai thể loại phát triển mạnh mẽ.

Trang 20

PHẠM TIẾN DUẬT (1941-2007)

Không có kính, ừ thì có bụi,  Bụi phun tóc trắng như người già  Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc  Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha. 

Không có kính, ừ thì ướt áo  Mưa tuôn, mưa xối như ngoài trời  Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa  Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi. 

Những chiếc xe từ trong bom rơi 

Ðã về đây họp thành tiểu đội  Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới  Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi. 

Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời  Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy  Võng mắc chông chênh đường xe chạy  Lại đi, lại đi trời xanh thêm. 

Không có kính, rồi xe không có đèn,  Không có mui xe, thùng xe có xước, 

Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước  Chỉ cần trong xe có một trái tim

BÀI THƠ VỀ TIỂU ĐỘI XE KHÔNG KÍNH

Không có kính không phải vì xe không có kính 

Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi 

Ung dung buồng lái ta ngồi, 

Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng. 

Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng 

Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim 

Thấy sao trời và đột ngột cánh chim 

Như sa, như ùa vào buồng lái.

Trang 21

LƯU QUANG VŨ (1948-1988) – XUÂN QUỲNH (1942-1988)

Trang 22

Ôi cái quần chéo go Ống rộng dài quét đất Cái áo cánh chúc bâu

Đi qua nghe sột soạt

Tiếng gà trưa Mang bao nhiêu hạnh phúc Đêm cháu về nằm mơ

Nghe xao động nắng trưa

Nghe bàn chân đỡ mỏi

Nghe gọi về tuổi thơ

Tiếng gà trưa

Ổ rơm hồng những trứng

Này con gà mái tơ

Khắp mình hoa đốm trắng

Này con gà mái vàng

Lông óng như màu nắng

Tiếng gà trưa

Có tiếng bà vẫn mắng:

- Gà đẻ mà mày nhìn Rồi sau này lang mặt!

Cháu về lấy gương soi Lòng dại thơ lo lắng

Tiếng gà trưa Tay bà khum soi trứng Dành từng quả chắt chiu Cho con gà mái ấp

Cứ hàng năm hàng năm Khi gió mùa đông tới

Bà lo đàn gà toi Mong trời đừng sương muối

Để cuối năm bán gà Cháu được quần áo mới

Trang 23

Hạt gạo làng ta

Có bão tháng bảy

Có mưa tháng ba Giọt mồ hôi sa Những trưa tháng sáu Nước như ai nấu

Chết cả cá cờ Cua ngoi lên bờ

Mẹ em xuống cấy…

Hạt gạo làng ta Những năm bom Mỹ Trút trên mái nhà Những năm khẩu súng Theo người đi xa

Những năm băng đạn Vàng như lúa đồng Bát cơm mùa gặt Thơm hào giao thông…

Hạt gạo làng ta

Có công các bạn Sớm nào chống hạn Vục mẻ miệng gàu Trưa nào bắt sâu Lúa cao rát mặt Chiều nào gánh phân Quang trành quét đất…

Hạt gạo làng ta Gửi ra tiền tuyến Gửi về phương xa

Em vui em hát Hạt vàng làng ta.

HẠT GẠO LÀNG TA

Hạt gạo làng ta

Có vị phù sa

Của sông Kinh Thầy

Có hương sen thơm

Trong hồ nước đầy

Có lời mẹ hát

Ngọt bùi đắng cay.

TRẦN ĐĂNG KHOA (1958-)

Trang 24

III Những đặc điểm cơ bản

1 Nền văn học chủ yếu vận động theo hướng cách mạng hóa, gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của đất nước

Mô hình nhà văn – chiến sĩ

Nội dung phản ánh những vấn đề lớn lao, trọng đại nhất của đất nước và cách mạng (tất cả các nội dung đời tư đều được nhìn nhận lại từ góc độ này)

Sự hình thành CÁI TÔI QUẦN CHÚNG (cái tôi cá nhân tan hòa vào tập thể, nhân dân, phát ngôn nhân danh dân tộc, thời đại và nhân loại tiến bộ)

Trang 25

Là thi sĩ phải là hồn cao khiết,

Chí kiên cường và sứ mệnh cao siêu;

Ca tự do, tiến bộ với tình yêu

Yêu nhân loại, hòa bình và công lý

-Cao giọng hát những bài ca chính khí

Của anh hùng đã vì nước quên mình,

Sống quang vinh mà chết cũng quang vinh,

Của Bãi Sậy, Thái Nguyên và Yên Bái

[…]

Là thi sĩ nghĩa là cao khúc họa

Cuộc đấu tranh vĩ đại của hoàn cầu

Chống hung tàn xâm lược khắp năm châu,

Trên trái đất dựng cao cờ dân chủ.

Dùng cán bút làm đòn xoay chế độ,

Mỗi vần thơ: bom đạn phá cường quyền,

Và lúc cần, quẳng bút lấy long tuyền.

Là thi sĩ – Sóng Hồng

Trang 26

Với trái tim vĩ đại

Của trăm triệu con người

Trang 27

III Những đặc điểm cơ bản

1 Nền văn học chủ yếu vận động theo hướng cách mạng hóa, gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của đất nước

2 Nền văn học hướng về đại chúng

Quần chúng là nguồn bổ sung cho lực lượng sáng tác

Quần chúng là đối tượng phản ánh của văn học

Quần chúng là đối tượng phục vụ của văn học

Trang 28

III Những đặc điểm cơ bản

1 Nền văn học chủ yếu vận động theo hướng cách mạng hóa, gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của đất nước

2 Nền văn học hướng về đại chúng

3 Nền văn học mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn

Khuynh hướng sử thi: là khuynh hướng xây dựng những tượng đài thiêng liêng, lớn lao, đại diện cho sức mạnh

- Lời văn : ngợi ca, tráng lệ, hào hùng

Trang 29

III Những đặc điểm cơ bản

1 Nền văn học chủ yếu vận động theo hướng cách mạng hóa, gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của đất nước

2 Nền văn học hướng về đại chúng

3 Nền văn học mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn

Cảm hứng lãng mạn: là cảm hứng khẳng định cái tôi dạt dào tình cảm cách mạng

- Niềm tin yêu mãnh liệt vào tương lai đất nước và dân tộc

- Xu hướng xây dựng những hình ảnh đẹp đẽ, bay bổng, nâng đỡ con người vượt qua thực tế gian khổ.

Trang 30

DÁNG ĐỨNG VIỆT NAM

Lê Anh Xuân

Anh ngã xuống đường băng Tân Sơn Nhứt

Nhưng Anh gượng đứng lên tì súng trên

xác trực thăng

Và Anh chết trong khi đang đứng bắn

Máu Anh phun theo lửa đạn cầu vồng.

Chợt thấy Anh, giặc hốt hoảng xin hàng

Có thằng sụp xuống chân Anh tránh đạn

Bởi Anh chết rồi, nhưng lòng dũng cảm

Vẫn đứng đàng hoàng nổ súng tiến công.

Anh tên gì hỡi Anh yêu quý

Anh chẳng để lại gì cho Anh trước lúc lên đường

Chỉ để lại cái dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ

Anh là chiến sĩ Giải phóng quân.

Tên Anh đã thành tên đất nước

Ôi anh Giải phóng quân!

Từ dáng đứng của Anh giữa đường băng Tân Sơn Nhứt

Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân.

3.1968

Trang 31

Ta đi giữa ban ngày

Trên đường cái, ung dung ta bước.

Đường ta rộng thênh thang tám

Đến hôm nay đường xuôi về biển

Mới tinh khôi màu đất đỏ tươi

Đẹp vô cùng, Tổ quốc ta ơi!

Rừng cọ đồi chè, đồng xanh ngào

ngạt

Nắng chói sông Lô, hò ô tiếng hát

Chuyến phà rào rạt bến nước Bình

Sông Thao nô nức sóng dồi

Ai về Hà Nội thì xuôi cùng thuyền.

Ờ, đã chín năm rồi đấy nhỉ!

Kháng chiến ba ngàn ngày không nghỉ

Bắp chân, đầu gối vẫn săn gân.

Ngẩng đầu lên: Trong sáng tuyệt trần Tháng Tám mùa thu xanh thẳm

Mây nhởn nhơ bay Hôm nay ngày đẹp lắm!

Mây của ta, trời thẳm của ta Nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà!

Trang 32

CUỘC CHIA LY MÀU ĐỎ

Nguyễn Mỹ

Ðó là cuộc chia ly chói ngời sắc đỏ 

Tươi như cánh nhạn lai hồng 

Trưa một ngày sắp ngả sang đông 

Thu, bỗng nắng vàng lên rực rỡ: 

Tôi nhìn thấy một cô áo đỏ 

Tiễn đưa chồng trong nắng vườn hoa 

Chồng của cô sắp sửa đi xa 

Cùng đi với nhiều đồng chí nữa 

Chiếc áo đỏ rực như than lửa 

Cháy không nguôi trước cảnh chia li 

Vườn cây xanh và chiếc nón trắng kia 

Không giấu nổi tình yêu cô rực cháy. 

Không che được nước mắt cô đã chảy 

Những giọt long lanh nóng bỏng sáng ngời 

Chảy trên bình minh đang hé giữa làn môi 

Và rạng đông đang bừng trên nét mặt 

- Một rạng đông với màu hồng ngọc 

Cây si xanh gọi họ đến ngồi 

Trong bóng rợp của mình, nói tới ngày mai 

Ngày mai sẽ là ngày sum họp 

Ðã toả sáng những tâm hồn cao đẹp! 

Nắng vẫn còn ngời trên những mắt lá si 

Và người chồng ấy đã ra đi  

Cả vườn hoa đã ngập tràn nắng xế  Cánh hoa đỏ vẫn còn rung nhè nhẹ  Gió nói tôi nghe những tiếng thì thào 

"Khi Tổ quốc cần, họ biết sống xa nhau " 

Nhưng tôi biết cái màu đỏ ấy  Cái màu đỏ như cái màu đỏ ấy 

Sẽ là bông hoa chuối đỏ tươi  Trên đỉnh dốc cao vẫy gọi đoàn người 

Sẽ là ánh lửa hồng trên bếp  Một làng xa giữa đêm gió rét  

Nghĩa là màu đỏ ấy theo đi  Như chưa hề có cuộc chia ly  

Ngày đăng: 18/04/2022, 21:48

w