Bối cảnh xã hội, lịch sử và văn hóa Sự lãnh đạo của Đảng với đường lối văn nghệ xuyên suốt là yếu tố trọng yếu chấm dứt sự phân hóa phức tạp của văn hóa và văn học nước ta những năm
Trang 1KHÁI QUÁT
VĂN HỌC VIỆT NAM 1975
Trang 21945-I Bối cảnh xã hội, lịch sử và văn
hóa
Sự lãnh đạo của Đảng với đường lối văn nghệ
xuyên suốt là yếu tố trọng yếu chấm dứt sự phân hóa phức tạp của văn hóa và văn học nước ta
những năm trước 45, tạo nên một nền văn nghệ khá thống nhất về tư tưởng
Hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mĩ suốt 30 năm đã tác động sâu sắc, toàn diện tới đời sống tinh thần nói chung và đời sống văn học nói riêng.
Nền kinh tế chậm phát triển, điều kiện giao lưu văn hóa bị hạn chế đã có ảnh hưởng không nhỏ đến văn học
Trang 6II Quá trình phát triển và những thành tựu chủ yếu
Chặng 1: Kháng chiến chống Pháp (1945- 1954)
Nội dung chủ đạo:
1945-1946: Đây là thời kỳ văn học chuyển mình Văn học cách mạng là trào lưu chủ đạo, chi phối, nhưng vẫn còn đan xen với những xu hướng văn học khác 1946-1954: Văn học gắn bó sâu sắc với đời sống
cách mạng và kháng chiến; hướng tới khám phá sức mạnh và phẩm chất tốt đẹp của quần chúng công
nông binh; thể hiện niềm tự hào dân tộc và niềm tin vào tương lai tất thắng của kháng chiến
Trang 7“Cái giờ nghiêm trọng của đời mày đang điểm Bây giờ hoặc là không
bao giờ nữa, mày phải cương quyết Không có thứ nhân đạo nào cấm mày không được tàn nhẫn ngay với mày Mày hãy diệt hết những con
người cũ ở trong mày đi – những con người mà mày mệnh danh là cố
nhân, theo một cái cố tật ưa du dương với kỷ niệm Đào thải, chưa đủ Phải tàn sát Giết, giết hết Thò đứa nào ở dĩ vãng hiện về đòi hỏi bất cứ một tí gì của mày bây giờ, là mày phải giết ngay Mày phải tự hoại nội tâm của mày đi đã Mà hãy lấy mày ra làm lửa mà đốt cháy hết những phong cảnh cũ của tâm tưởng mày”… Chàng chạy ra đường Ngoài đường,
cuộc Cách Mệnh đang bước dài trên khắp ngả phố Trên các cửa sổ mở, gió đời lùa cờ máu bay theo một chiều… Nguyễn thấy mệt mỏi trong lòng
và trên thân chàng thì xót nhức vô cùng Thì ra, lúc ở nhà ra đi, chàng
vừa chịu xong một cái nhục hình Lý trí đã lột hết lượt da trên mình
Nguyễn… Cái luồng gió ban nãy thổi cờ máu, thổi mãi vào thịt non
Nguyễn đang se dần lại Nguyễn thèm đến một con rắn mỗi năm thoát xác một lần…
Trích “Lột xác” (1946)
Nguyễn Tuân
Trang 8II Quá trình phát triển và những thành tựu
chủ yếu
Chặng 1: Kháng chiến chống Pháp (1945- 1954)
Những thành tựu chủ yếu:
a/ Văn xuôi:
+ Mở đầu cho văn xuôi kháng chiến là truyện ngắn và ký (Một lần
tới thủ đô - Trần Đăng, Đôi mắt, Ở rừng - Nam Cao, Làng - Kim Lân,
Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài…)
+ Từ 1951 mới xuất hiện những tác phẩm tiểu thuyết dày dặn
(Vùng mỏ - Võ Huy Tâm, Đất nước đứng lên – Nguyên Ngọc…)
b/ Thơ:
+ Đạt được những thành tựu bước đầu về cách tân nghệ thuật,
phát triển lối thơ tự do (Màu tím hoa sim – Hữu Loan, Tình sông
núi, Nhớ máu - Trần Mai Ninh, Không nói, Đêm mít tinh - Nguyễn
Đình Thi…) và lối thơ dân tộc (Cá nước, Bầm ơi - Tố Hữu…)
Trang 9Nhớ máu – Trần Mai Ninh
Ơ cái gió Tuy Hoà…
Cái gió chuyên cần
Và phóng túng.
Gió đi ngang, đi dọc, Gió trẻ lại - lưng chừng Gió nghĩ
Gió cười, Gió reo lên lồng lộng.
Tôi đã thấy lòng tôi dậy Rồi đây
Còn mấy bước tới Nha Trang
- A, gần lắm!
Ta gần máu,
Ta gần người,
Ta gần quyết liệt.
Ơi hỡi Nha Trang!
Cái đô thành vĩ đại Biết bao người niệm đọc tên mi.
Ta có nhớ Những con người
Đã bước vào bất tử!
Ơ, những người!
Đen như mực, đặc thành keo
Tròn một củ Hay những người gầy sắt lại Mặt rẹt một đường gươm Lạnh gáy
Lòng bàn tay Khắc ấn chuỗi dao găm Chân bọc sắt,
Mắt khoét thủng đêm dày
…
TRẦN MAI NINH
(1917-1947)
Trang 10Hồng Nguyên
Lũ chúng tôi
Bọn người tứ xứ,
Gặp nhau từ hồi chưa biết chữ
Biết nhau từ buổi “một hai”
Súng bắn chưa quen,
Quân sự mươi bài
Lòng vẫn cười vui kháng chiến
Lột sắt đường tàu,
Rèn thêm đao kiếm,
Áo vải chân không,
Đi lùng giặc đánh.
Ba năm rồi gửi lại quê hương.
Mái lều gianh, Tiếng mõ đêm trường, Luống cày đất đỏ
Ít nhiều người vợ trẻ Mòn chân bên cối gạo canh khuya Chúng tôi đi
Nắng mưa sờn mép ba lô, Tháng năm bạn cùng thôn xóm.
Nghỉ lại lưng đèo Nằm trên dốc nắng.
Kì hộ lưng nhau ngang bờ cát trắng Quờ chân tìm hơi ấm đêm mưa.
Trang 11Hồng Nguyên
[…]
Chúng tôi đi mang cuộc đời lưu động,
Qua nhiều nơi không nhớ hết tên làng.
Đã nghỉ lại rất nhiều nhà dân chúng
Tôi nhớ bờ tre gió lộng
Làng xuôi xóm ngược mái rạ như nhau
Có nắng chiều đột kích mấy hàng cau.
Có tiếng gà gáy xóm,
Có “Khai hội, yêu cầu, chất vấn!”
Có mẹ hiền bắt rận cho những đứa con xa.
Trăng lên tập hợp hát om nhà.
Tôi nhớ
Giường kê cánh cửa,
Bếp lửa khoai vùi
Đồng chí nứ vui vui,
Đồng chí nứ dạy tôi dăm tối chữ,
Đồng chí mô nhớ nữa,
Kể chuyện Bình – Trị – Thiên,
Cho bầy tôi nghe ví,
Bếp lửa rung rung đôi vai đồng chí
- Thưa trong nớ hiện chừ vô cùng gian khổ, Đồng bào ta phải kháng chiến ra ri.
Đêm đó chúng tôi đi Nòng súng nghiêng nghiêng, Đường mòn thấp thoáng…
Trong điếm nhỏ, Mươi người trai tráng,
Trang 12Em sao em không nói
Mưa rơi ướt mái đầu Mỗi đứa một khăn gói
Ngày nào lần gặp sau Ngập ngừng không dám hỏi Chuyến này chắc lại lâu Đoàn thể gọi
Chiều mờ gió hút Nào đồng chí - bắt tay
Em Bóng nhỏ Đường lầy.
Trang 13Heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùn
Bầm ra ruộng cấy bầm run
Chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non
Mạ non bầm cấy mấy đon
Ruột gan bầm lại thương con mấy lần.
Mưa phùn ướt áo tứ thân
Mưa bao nhiêu hạt, thương bầm bấy
nhiêu!
Bầm ơi, sớm sớm chiều chiều
Thương con, bầm chớ lo nhiều bầm
nghe!
Con đi trăm núi ngàn khe
Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm
Con đi đánh giặc mười năm
Chưa bằng khó nhọc đời bầm sáu mươi.
Con ra tiền tuyến xa xôi
Yêu bầm yêu nước, cả đôi mẹ hiền.
Nhớ thương con bầm yên tâm nhé Bầm của con, mẹ Vệ quốc quân.
Con đi xa cũng như gần Anh em đồng chí quây quần là con
Bầm yêu con, yêu luôn đồng chí Bầm quý con, bầm quý anh em.
Bầm ơi, liền khúc ruột mềm
Có con có mẹ, còn thêm đồng bào Con đi mỗi bước gian lao
Xa bầm nhưng lại có bao nhiêu bầm! Bao bà cụ từ tâm như mẹ
Yêu quý con như đẻ con ra.
Cho con nào áo nào quà Cho củi con sưởi, cho nhà con ngơi Con đi, con lớn lên rồi
Chỉ thương bầm ở nhà ngồi nhớ con! Nhớ con, bầm nhé đừng buồn
Giặc tan, con lại sớm hôm cùng bầm.
Mẹ già tóc bạc hoa râm Chiều nay chắc cũng nghe thầm tiếng con
Trang 14II Quá trình phát triển và những thành tựu chủ yếu
Trang 15II Quá trình phát triển và những thành tựu chủ yếu
Chặng 2: Kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam và xây dựng XHCN ở
miền Bắc (1955- 1964)
Nội dung bao trùm: Hình ảnh con người mới xã hội chủ nghĩa.
Những thành tựu chủ yếu:
a/ Văn xuôi: mở rộng đề tài
- Đề tài kháng chiến chống Pháp (Sống mãi với thủ đô - Nguyễn Huy Tưởng, Cao điểm cuối cùng - Hữu Mai…)
- Đề tài hiện thực đời sống trước cách mạng tháng Tám (Vợ nhặt - Kim Lân, Vỡ bờ - Nguyễn Đình Thi, Cửa biển – Nguyên Hồng …)
- Đề tài công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội gắn với sự đổi đời của con người (Sông Đà - Nguyễn Tuân, Mùa lạc - Nguyễn Khải, Cái sân gạch - Đào Vũ…)
Trang 16II Quá trình phát triển và những thành tựu chủ yếu
Chặng 2: Kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam và xây
Trang 17Xanh biếc màu xanh, bể như hàng nghìn mùa thu qua còn để tâm hồn nằm đọng lại
Sóng như hàng nghìn trưa xanh trời đã tan xanh ra thành bể và thôi không trở lại làm
trời
Nếu núi là con trai thì bể là phần yểu điệu
nhất của quê hương đã biến thành con gái
Mỗi đêm hè, da thịt sóng sinh sôi
Trang 18Quê hương
Giang Nam
Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường
Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ
“Ai bảo chăn trâu là khổ?”
Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao
Rồi kháng chiến trường kỳ
Quê tôi đầy bóng giặc
Từ biệt mẹ, tôi đi
Cô bé nhà bên – (có ai ngờ)
Cũng vào du kích
Hôm gặp tôi vẫn cười khúc khích
Mắt đen tròn (thương thương quá đi thôi!)
Giữa cuộc hành quân không nói được một lời
Đơn vị đi qua, tôi ngoái đầu nhìn lại
Mưa đầy trời nhưng lòng tôi ấm mãi…
Hòa bình tôi trở về đây Với mái trường xưa, bãi mía, luống cày Lại gặp em
Thẹn thùng nép sau cánh cửa Vẫn khúc khích cười khi tôi hỏi nhỏ Chuyện chồng con (khó nói lắm anh ơi!) Tôi nắm bàn tay nhỏ nhắn ngậm ngùi
Em vẫn để yên trong tay tôi nóng bỏng…
Hôm nay nhận được tin em Không tin được dù đó là sự thật Giặc bắn em rồi, quăng mất xác Chỉ vì em là du kích, em ơi!
Đau xé lòng anh, chết nửa con người!
Xưa yêu quê hương vì có chim có bướm
Có những ngày trốn học bị đòn roi Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất
Có một phần xương thịt của em tôi.
Trang 19II Quá trình phát triển và những thành tựu
a/ Văn xuôi: Truyện và ký phát triển mạnh ở cả 2 miền Nam Bắc nhằm
phản ánh chính xác và kịp thời hiện thực kháng chiến (Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi – Nguyễn Tuân, Người mẹ cầm súng – Nguyễn Thi, Hòn Đất – Anh
Đức…)
b/ Thơ:
+ Đào sâu chất hiện thực, suy tưởng, chính luận.
+ Hình thành một lớp nhà thơ trẻ trưởng thành trong kháng chiến chống
Mỹ (Bằng Việt, Nguyễn Duy, Xuân Quỳnh, Phạm Tiến Duật, Trần Đăng
Khoa, Nguyễn Khoa Điềm…)
+ Thơ tự do và trường ca là hai thể loại phát triển mạnh mẽ.
Trang 20PHẠM TIẾN DUẬT (1941-2007)
Không có kính, ừ thì có bụi, Bụi phun tóc trắng như người già Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha.
Không có kính, ừ thì ướt áo Mưa tuôn, mưa xối như ngoài trời Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi.
Những chiếc xe từ trong bom rơi
Ðã về đây họp thành tiểu đội Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi.
Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy Võng mắc chông chênh đường xe chạy Lại đi, lại đi trời xanh thêm.
Không có kính, rồi xe không có đèn, Không có mui xe, thùng xe có xước,
Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước Chỉ cần trong xe có một trái tim
BÀI THƠ VỀ TIỂU ĐỘI XE KHÔNG KÍNH
Không có kính không phải vì xe không có kính
Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi
Ung dung buồng lái ta ngồi,
Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.
Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng
Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim
Thấy sao trời và đột ngột cánh chim
Như sa, như ùa vào buồng lái.
Trang 21LƯU QUANG VŨ (1948-1988) – XUÂN QUỲNH (1942-1988)
Trang 22Ôi cái quần chéo go Ống rộng dài quét đất Cái áo cánh chúc bâu
Đi qua nghe sột soạt
Tiếng gà trưa Mang bao nhiêu hạnh phúc Đêm cháu về nằm mơ
Nghe xao động nắng trưa
Nghe bàn chân đỡ mỏi
Nghe gọi về tuổi thơ
Tiếng gà trưa
Ổ rơm hồng những trứng
Này con gà mái tơ
Khắp mình hoa đốm trắng
Này con gà mái vàng
Lông óng như màu nắng
Tiếng gà trưa
Có tiếng bà vẫn mắng:
- Gà đẻ mà mày nhìn Rồi sau này lang mặt!
Cháu về lấy gương soi Lòng dại thơ lo lắng
Tiếng gà trưa Tay bà khum soi trứng Dành từng quả chắt chiu Cho con gà mái ấp
Cứ hàng năm hàng năm Khi gió mùa đông tới
Bà lo đàn gà toi Mong trời đừng sương muối
Để cuối năm bán gà Cháu được quần áo mới
Trang 23Hạt gạo làng ta
Có bão tháng bảy
Có mưa tháng ba Giọt mồ hôi sa Những trưa tháng sáu Nước như ai nấu
Chết cả cá cờ Cua ngoi lên bờ
Mẹ em xuống cấy…
Hạt gạo làng ta Những năm bom Mỹ Trút trên mái nhà Những năm khẩu súng Theo người đi xa
Những năm băng đạn Vàng như lúa đồng Bát cơm mùa gặt Thơm hào giao thông…
Hạt gạo làng ta
Có công các bạn Sớm nào chống hạn Vục mẻ miệng gàu Trưa nào bắt sâu Lúa cao rát mặt Chiều nào gánh phân Quang trành quét đất…
Hạt gạo làng ta Gửi ra tiền tuyến Gửi về phương xa
Em vui em hát Hạt vàng làng ta.
HẠT GẠO LÀNG TA
Hạt gạo làng ta
Có vị phù sa
Của sông Kinh Thầy
Có hương sen thơm
Trong hồ nước đầy
Có lời mẹ hát
Ngọt bùi đắng cay.
TRẦN ĐĂNG KHOA (1958-)
Trang 24III Những đặc điểm cơ bản
1 Nền văn học chủ yếu vận động theo hướng cách mạng hóa, gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của đất nước
Mô hình nhà văn – chiến sĩ
Nội dung phản ánh những vấn đề lớn lao, trọng đại nhất của đất nước và cách mạng (tất cả các nội dung đời tư đều được nhìn nhận lại từ góc độ này)
Sự hình thành CÁI TÔI QUẦN CHÚNG (cái tôi cá nhân tan hòa vào tập thể, nhân dân, phát ngôn nhân danh dân tộc, thời đại và nhân loại tiến bộ)
Trang 25Là thi sĩ phải là hồn cao khiết,
Chí kiên cường và sứ mệnh cao siêu;
Ca tự do, tiến bộ với tình yêu
Yêu nhân loại, hòa bình và công lý
-Cao giọng hát những bài ca chính khí
Của anh hùng đã vì nước quên mình,
Sống quang vinh mà chết cũng quang vinh,
Của Bãi Sậy, Thái Nguyên và Yên Bái
[…]
Là thi sĩ nghĩa là cao khúc họa
Cuộc đấu tranh vĩ đại của hoàn cầu
Chống hung tàn xâm lược khắp năm châu,
Trên trái đất dựng cao cờ dân chủ.
Dùng cán bút làm đòn xoay chế độ,
Mỗi vần thơ: bom đạn phá cường quyền,
Và lúc cần, quẳng bút lấy long tuyền.
Là thi sĩ – Sóng Hồng
Trang 26Với trái tim vĩ đại
Của trăm triệu con người
Trang 27III Những đặc điểm cơ bản
1 Nền văn học chủ yếu vận động theo hướng cách mạng hóa, gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của đất nước
2 Nền văn học hướng về đại chúng
Quần chúng là nguồn bổ sung cho lực lượng sáng tác
Quần chúng là đối tượng phản ánh của văn học
Quần chúng là đối tượng phục vụ của văn học
Trang 28III Những đặc điểm cơ bản
1 Nền văn học chủ yếu vận động theo hướng cách mạng hóa, gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của đất nước
2 Nền văn học hướng về đại chúng
3 Nền văn học mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn
Khuynh hướng sử thi: là khuynh hướng xây dựng những tượng đài thiêng liêng, lớn lao, đại diện cho sức mạnh
- Lời văn : ngợi ca, tráng lệ, hào hùng
Trang 29III Những đặc điểm cơ bản
1 Nền văn học chủ yếu vận động theo hướng cách mạng hóa, gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của đất nước
2 Nền văn học hướng về đại chúng
3 Nền văn học mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn
Cảm hứng lãng mạn: là cảm hứng khẳng định cái tôi dạt dào tình cảm cách mạng
- Niềm tin yêu mãnh liệt vào tương lai đất nước và dân tộc
- Xu hướng xây dựng những hình ảnh đẹp đẽ, bay bổng, nâng đỡ con người vượt qua thực tế gian khổ.
Trang 30DÁNG ĐỨNG VIỆT NAM
Lê Anh Xuân
Anh ngã xuống đường băng Tân Sơn Nhứt
Nhưng Anh gượng đứng lên tì súng trên
xác trực thăng
Và Anh chết trong khi đang đứng bắn
Máu Anh phun theo lửa đạn cầu vồng.
Chợt thấy Anh, giặc hốt hoảng xin hàng
Có thằng sụp xuống chân Anh tránh đạn
Bởi Anh chết rồi, nhưng lòng dũng cảm
Vẫn đứng đàng hoàng nổ súng tiến công.
Anh tên gì hỡi Anh yêu quý
Anh chẳng để lại gì cho Anh trước lúc lên đường
Chỉ để lại cái dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ
Anh là chiến sĩ Giải phóng quân.
Tên Anh đã thành tên đất nước
Ôi anh Giải phóng quân!
Từ dáng đứng của Anh giữa đường băng Tân Sơn Nhứt
Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân.
3.1968
Trang 31Ta đi giữa ban ngày
Trên đường cái, ung dung ta bước.
Đường ta rộng thênh thang tám
Đến hôm nay đường xuôi về biển
Mới tinh khôi màu đất đỏ tươi
Đẹp vô cùng, Tổ quốc ta ơi!
Rừng cọ đồi chè, đồng xanh ngào
ngạt
Nắng chói sông Lô, hò ô tiếng hát
Chuyến phà rào rạt bến nước Bình
Sông Thao nô nức sóng dồi
Ai về Hà Nội thì xuôi cùng thuyền.
Ờ, đã chín năm rồi đấy nhỉ!
Kháng chiến ba ngàn ngày không nghỉ
Bắp chân, đầu gối vẫn săn gân.
Ngẩng đầu lên: Trong sáng tuyệt trần Tháng Tám mùa thu xanh thẳm
Mây nhởn nhơ bay Hôm nay ngày đẹp lắm!
Mây của ta, trời thẳm của ta Nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà!
Trang 32CUỘC CHIA LY MÀU ĐỎ
Nguyễn Mỹ
Ðó là cuộc chia ly chói ngời sắc đỏ
Tươi như cánh nhạn lai hồng
Trưa một ngày sắp ngả sang đông
Thu, bỗng nắng vàng lên rực rỡ:
Tôi nhìn thấy một cô áo đỏ
Tiễn đưa chồng trong nắng vườn hoa
Chồng của cô sắp sửa đi xa
Cùng đi với nhiều đồng chí nữa
Chiếc áo đỏ rực như than lửa
Cháy không nguôi trước cảnh chia li
Vườn cây xanh và chiếc nón trắng kia
Không giấu nổi tình yêu cô rực cháy.
Không che được nước mắt cô đã chảy
Những giọt long lanh nóng bỏng sáng ngời
Chảy trên bình minh đang hé giữa làn môi
Và rạng đông đang bừng trên nét mặt
- Một rạng đông với màu hồng ngọc
Cây si xanh gọi họ đến ngồi
Trong bóng rợp của mình, nói tới ngày mai
Ngày mai sẽ là ngày sum họp
Ðã toả sáng những tâm hồn cao đẹp!
Nắng vẫn còn ngời trên những mắt lá si
Và người chồng ấy đã ra đi
Cả vườn hoa đã ngập tràn nắng xế Cánh hoa đỏ vẫn còn rung nhè nhẹ Gió nói tôi nghe những tiếng thì thào
"Khi Tổ quốc cần, họ biết sống xa nhau "
Nhưng tôi biết cái màu đỏ ấy Cái màu đỏ như cái màu đỏ ấy
Sẽ là bông hoa chuối đỏ tươi Trên đỉnh dốc cao vẫy gọi đoàn người
Sẽ là ánh lửa hồng trên bếp Một làng xa giữa đêm gió rét
Nghĩa là màu đỏ ấy theo đi Như chưa hề có cuộc chia ly