Mặt khác, các trường phái nghiên cứu văn học hiện nay với những mối bận tâm về con người: phê bình phân tâm học, phê bình Marxism , lí thuyết tiếp nhận… trên thực tế đã đạt được nhiều th
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
TRẦN THỊ ÁNH NGUYỆT
CON NGƯỜI VÀ TỰ NHIÊN TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM SAU NĂM 1975 TỪ GÓC NHÌN PHÊ BÌNH SINH THÁI
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số: 62.22.01.02
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Lê Lưu Oanh
HÀ NỘI - 2015
Trang 2Luận ỏn được hoàn thành dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS - TS Lê Lưu Oanh Chúng tôi xin chân thành cảm ơn PGS cùng tập thể các nhà khoa học thuộc chuyên ngành Lí luận văn học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã giúp đỡ chúng tôi trong quá trình nghiên cứu
Người viết cũng xin cảm ơn sự giúp đỡ, chia sẻ của bạn bè, đồng môn
và những người thân trong thời gian thực hiện luận ỏn
Luận ỏn được viết bằng niềm yêu thích đặc biệt với vấn đề nghiên cứu, tuy nhiên không tránh khỏi những thiếu sót, chúng tôi mong nhận được những nhận xét, góp ý từ bạn đọc
Tác giả
Trần Thị Ánh Nguyệt
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được hoàn thành với sự hướng dẫn và giúp đỡ tận tình của nhiều nhà khoa học Các
số liệu, kết quả được trình bày trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận án
Trần Thị Ánh Nguyệt
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ của luận án 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Những đóng góp mới của luận án 3
6 Cấu trúc của luận án 4
Chương 1: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 5
1.1 Phê bình sinh thái – Một khuynh hướng mới trong phê bình văn học 5
1.1.1 Khái niệm phê bình sinh thái 5
1.1.2 Lịch sử phê bình sinh thái 7
1.1.3 Phê bình sinh thái - một khuynh hướng nghiên cứu văn học 15
1.2 Lịch sử phê bình mối quan hệ con người với tự nhiên trong văn học Việt Nam 22
1.2.1.Các công trình nghiên cứu 22
1.2.2 Phê bình sinh thái – những khởi đầu mới mẻ 23
Chương 2: KHUYNH HƯỚNG VĂN XUÔI SINH THÁI VIỆT NAM 31
SAU NĂM 1975 31
2.1 Những tiền đề lịch sử xã hội của văn học sinh thái Việt Nam 31
2.2 Sự hình thành của văn xuôi sinh thái sau năm 1975 32
2.2.1 Giai đoạn manh nha 32
2.2.2 Giai đoạn hình thành ý thức sinh thái 34
2.3 Những thay đổi trong cách thể hiện mối quan hệ giữa con người và tự nhiên 39
2.3.1 Thay đổi điểm nhìn 40
2.3.2 Thay đổi motif cốt truyện 45
2.3.3 Thay đổi tính chất của nhân vật 48
2.3.4 Thay đổi giọng điệu 49
Trang 5Chương 3: CẢM HỨNG PHÊ PHÁN TỪ ĐIỂM NHÌN PHÊ BÌNH
SINH THÁI 55
3.1 Ý thức về con người "tội đồ" trong mối quan hệ với tự nhiên 55
3.1.1 Thống trị tự nhiên 55
3.1.2 Chiếm đoạt không gian hoang dã 61
3.2 Ý thức về con người nạn nhân trong mối quan hệ với tự nhiên 68
3.2.1 Số phận con người trong những thảm họa tự nhiên 68
3.2.2 Niềm kính sợ với sinh mệnh tự nhiên 74
3.3 Ý thức về con người tha hóa 77
3.3.1 Ý thức sinh thái giai cấp 78
3.3.2.Ý thức sinh thái nữ quyền 82
3.4 Ý thức về nỗi bất an sinh thái 89
3.4.1 Cái nhìn phản lãng mạn về nông thôn 89
3.4.2 Nỗi bất an đô thị 94
Chương 4: KIẾN LẬP CẢM QUAN ĐẠO ĐỨC SINH THÁI 101
4.1 Sự trở lại và nối dài diễn ngôn lãng mạn về tự nhiên 101
4.1.1 Tiền đề từ các diễn ngôn phương Đông 101
4.1.2 Mĩ hóa, lí tưởng hóa cái tự nhiên 104
4.1.3 Nhận thức về quê hương như là môi trường sinh thái 112
4.1.4 Văn học đồng quê về những người nghèo khổ 116
4.2 Nhận diện mẫu hình nhân cách cho chủ nghĩa nhân văn sinh thái 125 4.2.1 Lắng nghe tiếng nói từ tự nhiên 125
4.2.2 Đồng cảm với thế giới tự nhiên bị thương tổn 132
4.2.3 Tiếng nói của những thân phận bé nhỏ 136
KẾT LUẬN 143 DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nghiên cứu văn học sau khi “trở về chính mình” với những lí thuyết như chủ nghĩa cấu trúc, chủ nghĩa hình thức, phê bình mới… chủ yếu quan tâm đến những phương diện nội tại của tác phẩm dường như nhiều khi trở nên tự thu hẹp, khó tiếp cận với những vấn đề đương đại rộng lớn Mặt khác, các trường phái nghiên cứu văn học hiện nay với những mối bận tâm về con người: phê bình phân tâm học, phê bình Marxism , lí thuyết tiếp nhận… trên thực tế đã đạt được nhiều thành tựu nhưng
có lẽ “đang trong giai đoạn thác ghềnh và thỉnh thoảng mất phương hướng” [150, xvii] Cần phải tìm một hướng đi khác cho nghiên cứu văn học Do vậy hiện nay, bên cạnh những hướng nghiên cứu văn học trước đó vẫn đang có những tìm tòi mới
mẻ và đạt được nhiều thành tựu thì cũng xuất hiện sự chuyển hướng văn hóa trong nghiên cứu văn học, xuyên qua văn học để quan sát sự đổi thay văn hóa, nghiên cứu
ý thức văn hóa được thể hiện như thế nào trong văn học, nghiên cứu ý thức về xã hội, ý thức về môi trường thể hiện trong văn học
Thế kỉ XXI là thế kỉ mà nhiều nhà nghiên cứu cho rằng con người phải đối mặt với nhiều nguy cơ sinh thái nhất Trong xã hội hiện đại, cùng với tốc độ đô thị hóa và sự ỷ lại vào khoa học kĩ thuật con người đang ngày càng quay lưng với tự nhiên, khai thác quá mức, khiến cho tự nhiên ngày càng cạn kiệt Thiên nhiên trả thù con người không phải chỉ bằng các thảm họa, thiên tai, mà đáng sợ hơn, trả thù bằng sự biến mất của chính nó Cái “dây chuyền sống” huyền diệu của tạo hóa đang ngày càng bị phá hủy Phê bình sinh thái (ecocritisim) nổi lên khi vấn đề biến đổi khí hậu, sự xuống cấp về môi trường không còn là vấn đề của mỗi quốc gia dân tộc nữa, nó ảnh hưởng đến sự sống Văn học quan tâm đến sự sống cho nên khúc ngoặt của phê bình sinh thái xét đến cùng lại liên quan đến bản thể của văn học
Trên thế giới, khởi phát từ Anh – Mĩ, phê bình sinh thái đang là một trào lưu năng động hiện nay, thu hút sự quan tâm ngày càng nhiều hơn các nước ngoài phương Tây Việt Nam là quốc gia chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của tình trạng biến đổi khí hậu, nước biển dâng, mưa bão, lũ lụt Sống ở vùng đất nhạy cảm với những đổi thay của môi trường, hẳn nhiên điều đó sẽ ánh xạ vào tác phẩm, nhất là với nhà văn đa cảm, trắc
ẩn Ý thức sinh thái này đã được nhiều tác giả văn xuôi sau năm 1975 đề cập đến: sự
hủy hoại môi sinh dẫn tới việc mất cân bằng tự nhiên; quá trình đô thị hóa, nền kinh tế thị trường khiến con người rời xa môi trường sinh thái, con người trở thành nạn nhân, công cụ của thương mại… Do vậy văn học có khuynh hướng tìm về biểu hiện mối
Trang 7quan hệ giữa con người và tự nhiên, có một tư duy sinh thái trong việc nhận diện, phân tích và thể hiện những nỗi đau môi trường, số phận con người trong cuộc khủng hoảng môi sinh cũng như hướng con người sống có trách nhiệm với thiên nhiên, biết hòa mình vào tự nhiên để được thanh thản, cân bằng trong cuộc sống…Từ hướng nghiên cứu này, có một cách tiếp cận riêng trên con đường khám phá một trong những hấp dẫn của văn học Việt Nam sau 1975 và qua đó kết nối văn học với những vấn đề thiết cốt của nhân loại về trách nhiệm của con người trong khủng hoảng môi sinh
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài luận án là Con người và tự nhiên trong văn xuôi Việt Nam sau năm
1975 từ góc nhìn phê bình sinh thái Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên
chúng tôi hiểu như sau:
Thứ nhất, từ cái nhìn sinh thái, chúng tôi xem xét mối quan hệ giữa con người và những yếu tố tự nhiên Phê bình sinh thái cảnh tỉnh về nguy cơ của khủng hoảng sinh thái Do vậy, đề tài xem xét quan hệ con người với thực thể tự nhiên để phân tích số phận con người trong cuộc khủng hoảng môi sinh, đồng thời chỉ ra những căn nguyên của những thảm họa môi trường Mặt khác, vấn đề tự nhiên bao giờ cũng có mối liên hệ với xã hội Do vậy, luận án cũng xem xét sự kết nối tính sinh thái với các vấn đề xã hội để thấy hành trình bóc lột tự nhiên có mối liên hệ với hành trình bất công xã hội Từ đó, phê bình sinh thái đặt ra nhiều vấn đề về sự bất công môi trường, về nông thôn và thành thị, những vấn đề áp bức phụ nữ, vấn đề giai cấp Từ thực trạng suy thoái môi trường cần thức tỉnh ý thức sinh thái và tạo
ra những góc nhìn khác về sự sống mà có thể cung cấp nền tảng đạo đức và kiến thức cho cách hiểu đúng đắn về tương quan giữa các tồn tại trên trái đất
Thứ hai, từ cái nhìn sinh thái dưới góc độ văn học, chúng tôi "đọc" các mã văn học thể hiện ý thức sinh thái trên các phương diện chủ đề, motif cốt truyện, nhân vật, cảm hứng, ngôn ngữ và giọng điệu Từ đó chỉ ra những đặc điểm của văn học sinh thái như là một xu hướng văn học có tầm quan trọng xã hội thẩm mĩ và chứa đựng bên trong những nhân tố cách tân văn học
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Dựa trên phê bình sinh thái Anh-Mĩ, hướng tiếp cận nảy sinh trong thời đại khủng hoảng môi trường, đề tài chỉ ra những điểm có thể vận dụng lí thuyết phê bình sinh thái để nghiên cứu dựa trên văn xuôi hư cấu sau năm 1975, chủ yếu là truyện ngắn và tiểu thuyết làm đối tượng khảo sát chính Từ đó để thấy sự phản ứng của văn học trước những khủng hoảng sinh thái đang diễn ra
Trang 83 Nhiệm vụ của luận án
- Khảo sát các tác phẩm văn xuôi sinh thái sau năm 1975; phân tích các tác phẩm dưới góc nhìn của phê bình sinh thái
- Đưa ra một cái nhìn toàn cảnh về văn học sinh thái Việt Nam sau năm 1975
- Khảo sát những bình diện khác nhau của khuynh hướng văn xuôi sinh thái
4 Phương pháp nghiên cứu
Ngoài những phương pháp được sử dụng như những thao tác thường xuyên trong nghiên cứu văn học như thống kê – phân loại, phân tích, tổng hợp, so sánh (đồng đại, lịch đại), chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
4.1 Phương pháp luận
- Vận dụng "cảm quan nhìn lại" của phê bình sinh thái làm tiền đề để nhận thức mối quan hệ giữa con người và tự nhiên xung quanh như một thực thể của chỉnh thể sinh thái Sự nhận thức lại này sẽ giúp chúng ta nhận diện rõ hơn mối quan hệ giữa tự nhiên và văn hóa
- Phương pháp liên ngành: Phê bình sinh thái là một hướng nghiên cứu liên
ngành, kết hợp văn học với khoa học, phân tích tác phẩm văn chương để rút ra những cảnh báo môi trường Luận án vận dụng những kiến thức của các ngành khoa học (sinh thái học, dân tộc học, sử học, triết học, chính trị, đạo đức ), một số loại hình nghệ thuật khác (điện ảnh, âm nhạc…) để hiểu và lý giải một số quan điểm của các tác phẩm
4.2 Các phương pháp nghiên cứu khác
- Phương pháp tiếp cận thi pháp học: Thi pháp học hiện đại đã được vận
dụng để nhận diện khuynh hướng văn xuôi sinh thái qua điểm nhìn, motif cốt truyện, nhân vật, giọng điệu
- Phương pháp cấu trúc – hệ thống: Phương pháp này giúp xem xét mối
quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên hệ thống mà cụ thể là những dấu hiệu lặp lại
có tính quy luật của những yếu tố ấy Trên cơ sở hệ thống hóa các yếu tố, tính chỉnh thể sẽ được bộc lộ rõ
5 Những đóng góp mới của luận án
- Tổng thuật các nghiên cứu trên thế giới (chủ yếu là Anh-Mỹ) và Việt Nam
về phê bình sinh thái
- Chứng minh có một khuynh hướng văn xuôi sinh thái sau năm 1975, đặc biệt là sau năm 1986 Chỉ ra những đặc điểm của văn xuôi sinh thái như là một xu hướng văn học có tầm quan trọng xã hội thẩm mĩ và chứa đựng những nhân tố cách tân nghệ thuật
Trang 9- Khảo sát 2 bình diện của khuynh hướng văn xuôi sinh thái xác lập cho văn chương đương đại, là 1) cảm hứng phê phán trên tinh thần sinh thái và 2) xác lập đạo đức sinh thái
6 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án gồm 4 chương
Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu
Chương 2: Khuynh hướng văn xuôi sinh thái Việt Nam sau năm 1975
Chương 3: Cảm hứng phê phán từ điểm nhìn phê bình sinh thái
Chương 4: Kiến lập cảm quan đạo đức sinh thái
Trang 10Chương 1
TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Phê bình sinh thái – Một khuynh hướng mới trong phê bình văn học
1.1.1 Khái niệm phê bình sinh thái
Sinh thái (oikos) theo nghĩa gốc tiếng Latin là nhà ở, nơi cư trú, bất kì một sinh vật sống nào cũng cần nơi cư trú của mình
Thuật ngữ sinh thái học (ecology) có nguồn gốc từ chữ Hy Lạp, bao gồm oikos (chỉ nơi sinh sống) và logos (học thuyết, khoa học) Thuật ngữ “sinh thái học” chỉ thật sự ra đời vào năm 1869 do nhà sinh vật học người Đức Ernst Haecker đưa ra Ông là người đầu tiên đặt nền móng cho môn khoa học sinh thái về mối tương quan
về động vật với các thành phần môi trường vô sinh Trải qua hàng trăm năm phát triển, sinh thái học đã có rất nhiều định nghĩa nhưng chung nhất vẫn là học thuyết nghiên cứu về nơi sinh sống của sinh vật, mối tương tác giữa cơ thể sinh vật sống và môi trường xung quanh Ngày nay, sinh thái học không chỉ tồn tại trong sinh học mà
nó còn là khoa học của nhiều ngành khác, trong đó có khoa học xã hội và nhân văn
Với tư cách là một khuynh hướng phê bình văn hóa và văn học, phê bình sinh thái (ecocriticism), được hình thành ở Mĩ vào giữa những năm 90 của thế kỉ
XX, đã hấp thu tư tưởng cơ bản của sinh thái học vào nghiên cứu văn học “dẫn nhập quan niệm cơ bản nhất của triết học sinh thái vào phê bình văn học” [89] Trong các định nghĩa về phê bình sinh thái, định nghĩa của Glotfelty được xem là ngắn gọn và dễ hiểu hơn cả:
Nói đơn giản, phê bình sinh thái là nghiên cứu mối quan hệ
giữa văn học và môi trường tự nhiên Cũng giống như phê bình nữ
quyền xem xét ngôn ngữ và văn học từ góc độ giới tính, phê bình Marxit mang lại ý thức của phương thức sản xuất và thành phần kinh tế để đọc
văn bản, phê bình sinh thái mang đến phương pháp tiếp cận trái đất là
trung tâm (earth-centered approach) để nghiên cứu văn học [150, xviii]
Để hiểu rõ hơn định nghĩa này, chúng ta cần hiểu quan niệm của phê bình sinh thái về con người/ tự nhiên, tự nhiên/ văn hóa, những vấn đề làm nên tư tưởng đặc thù của phê bình sinh thái Về mặt từ nguyên, tự nhiên (nature) mà gốc Latin của nó là natura, nghĩa là “đặc điểm thuộc về tự nhiên, vũ trụ” hay natus (sự sinh ra, được sinh ra)… để phân biệt với thế giới được chế tạo, như các đồ vật được làm bởi con người Dẫu vậy, “tự nhiên” đã trở thành một diễn ngôn mơ hồ, luôn biến đổi, nó
là cái tồn tại mặc nhiên từ buổi hoang sơ, nhưng cũng là cái đã bị con người sở hữu
và chiếm hữu theo nhiều cách “Tự nhiên” do đó đã không còn là nó một cách
Trang 11nguyên thủy, mà các yếu tố cấu thành nó ít nhiều đều bị quy định bởi con người Theo sự biến thiên này, cặp từ tự nhiên (nature)/ văn hóa (culture) không còn là sự đối lập đơn giản mà có sự xuyên thấm lẫn nhau Thật khó có một thứ gì đó có thể phân loại rành mạch rõ ràng, nhất là cặp đôi “phiền phức” văn hóa/ tự nhiên Peter Barry đã chứng minh bằng cách lấy thí dụ, cái chúng ta gọi là ‘môi trường bên ngoài’ là một chuỗi các khu vực xâm nhập, sấn chéo lên nhau và dịch chuyển dần dần từ khu vực tự nhiên sang khu vực văn hóa, theo trật tự như sau:
Khu vực một: cái hoang dã (the wilderness) Thí dụ sa mạc, đại dương, những lục địa không có người sinh sống
Khu vực hai: Cảnh trí hiểm trở (the scenic sublime) Thí dụ rừng, hồ, núi, thác nước…
Khu vực ba: vùng nông thôn (the countryside) Thí dụ đồi, cánh đồng, rừng cây Khu vực bốn: cảnh trí nhân tạo quanh nhà (the domestic picturesque) Thí dụ công viên, vườn, đường…
Khi chúng ta di chuyển (trong suy nghĩ) giữa các khu vực này, rõ ràng chúng ta
đã di chuyển từ khu vực thứ nhất – “thuần túy” tự nhiên sang khu vực thứ tư – phần lớn
là “văn hóa” Dĩ nhiên, cái hoang dã bị ảnh hưởng bởi hiệu ứng nhà kính – vốn là do văn hóa tạo ra, và các khu vườn thì tồn tại phụ thuộc vào ánh nắng – vốn thuộc lực lượng tự nhiên [140, 252] Do vậy, các nhà phê bình sinh thái sử dụng thuật ngữ human/ nonhuman khi chỉ mối quan hệ giữa con người và môi trường tự nhiên Karen Thornber giải thích “sử dụng thuật ngữ "nonhuman" (thế giới phi nhân loại) để chỉ sinh học (nghĩa
là, các sinh vật không phải con người) và vô sinh (có nghĩa là để nói, yếu tố vật chất không sống như không khí, nước và đất) Tôi sử dụng thuật ngữ " human" (nhân loại) để chỉ con người và công trình xây dựng của con người cả về vật chất và trí tuệ, bao gồm cả công nghệ” [158] Phê bình sinh thái khẳng định tầm quan trọng của việc nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa nhân loại (human) và phi-nhân-loại (nonhuman) trong các diễn ngôn văn hóa Phê bình sinh thái trở thành một giải pháp khôi phục ý nghĩa và tầm quan trọng của tự nhiên với con người cũng như khẳng định vai trò của ngôn ngữ trong việc định hình và thay đổi các quan niệm về tự nhiên như lời khẳng định của Glotfelty
Toàn bộ phê bình sinh thái chia sẻ những giả thuyết cơ bản mà văn hóa con người kết nối với tự nhiên, ảnh hưởng tới nó và chịu ảnh hưởng của
nó Phê bình sinh thái đặt vấn đề quan hệ nối kết giữa tự nhiên và văn hóa, đặc biệt là sự tạo tác văn hóa của ngôn ngữ và văn học Như một quan điểm phê bình, phê bình sinh thái đặt một chân ở văn học và chân kia trên mặt đất, như là một diễn ngôn lí thuyết, phê bình sinh thái dàn xếp giữa con người (human) và (thế giới) phi nhân loại (nonhuman) [151, xix]