HĐND là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân ở địa phương vì 4 lí do: - Về cách thành lập: là cơ quan do nhân dân ở địa phương trực tiếp bầu ra và trao c
Trang 1CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG
I/ VIỆC PHÂN CHIA ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH LÃNH THỔ VÀ PHÂN LOẠI CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG:
1 Phân chia đơn vị hành chính lãnh thổ theo HP2013:
- Nước sẽ chia thành cấp tỉnh (bao gồm tỉnh và TP trực thuộc TƯ):
- Nước ta hiện nay có 63 đơn vị hành chính cấp tỉnh (58 tỉnh và 5 TP trực thuộc TƯ)
Dù là đơn vị hành chính cấp tỉnh nhưng điều kiện về dân số, diện tích,… khác nhau VD: Trong 63 đơn vị hành chính cấp tỉnh: tỉnh có diện tích rộng nhất: Nghệ An Dân
số đông nhất: TP.HCM (tầm 9 triệu dân), dân số ít nhất: Bắc Kạn (300 nghìn dân) Kinh tế: HCM đóng 1/3 tổng thu ngân sách
→ Quy chế quản lí cũng khác nhau
- Cấp tỉnh chia thành cấp huyện, bao gồm:
+ Huyện
+ Quận
+ Thị xã
+ TP thuộc tỉnh
+ TP thuộc TP trực thuộc TƯ (đây là đơn vị hành chính mới được quy định từ
2013 nhưng đến năm 2020 mới xuất hiện là TP Thủ Đức)
*Lưu ý: TP thuộc TƯ chia thành quận nội thành và huyện ngoại thành
Hiện nay VN có 711 đơn vị hành chính cấp huyện (trước đây là 713)
- Cấp huyện sẽ chia thành cấp xã, bao gồm:
+ Xã
+ Phường
+ Thị trấn
Hiện nay chúng ta có 11162 đơn vị hành chính cấp xã
→ TƯ sẽ là cấp trên trực tiếp của cấp tỉnh Cấp tỉnh sẽ là cấp trên trực tiếp của cấp huyện Cấp huyện sẽ là cấp trên trực tiếp của cấp xã
Trang 2*Lưu ý:
- Thêm 1 điểm mới của HP2013 của việc phân chia đơn vị hành chính lãnh thổ,
đó là có quy định về đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt sẽ do QH quyết định thành lập nhằm tận dụng những điều kiện về khí hậu, địa hình, tài nguyên thiên nhiên, tiềm năng kinh tế để phát triển kinh tế vùng Mục đích muốn hướng đến những hòn đảo của VN
- Trước năm 2013, QH sẽ quyết định việc điều chỉnh địa giới hành chính cấp tỉnh, còn CP sẽ quyết định việc điều chỉnh địa giới hành chính cấp huyện, cấp xã Đến HP2013 có đổi mới: UBTVQH mới là cơ quan quyết định việc điều chỉnh địa giới hành chính cấp huyện, cấp xã (bởi vì việc điều chỉnh địa giới hành chính ảnh hưởng đến tâm lí đời sống của dân cư Vì vậy phải để cho cơ quan dân cử quyết mới hợp lí hơn với ý chí nguyện vọng của nhân dân)
- Đặc biệt, Đ111 HP2013 cũng quy định việc điều chỉnh địa giới hành chính phải tiến hành lấy ý kiến của nhân dân địa phương theo trình tự thủ tục luật định → tránh
sự tùy tiện của cơ quan hành chính trong việc điều chỉnh địa giới hành chính làm ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân
2 Việc phân loại chính quyền địa phương:
a Căn cứ vào tính chất nông thôn và đô thị: phân thành 2 loại:
Chính quyền địa phương ở địa bàn nông thôn và chính quyền địa phương ở địa bàn
đô thị Cụ thể là:
- Đối với cấp tỉnh: 58 tỉnh được xếp vào địa bàn nông thôn, còn 5 TP thuộc TƯ xếp vào địa bàn đô thị
- Đối với cấp huyện: tất cả các huyện được xếp vào địa bàn nông thôn, còn quận, thị xã, TP thuộc tỉnh, TP thuộc TP trực thuộc TƯ được xếp vào địa bàn đô thị
- Đối với cấp xã: tất cả các xã được xếp vào địa bàn nông thôn, còn thị trấn và phường được xếp vào địa bàn đô thị
b Căn cứ vào nghị định phân loại của CP:
- Đối với cấp tỉnh: 63 tỉnh thành được phân thành 4 loại sau đây: Đơn vị hành chính cấp tỉnh loại đặc biệt (TP.HCM & HN), loại I, loại II, loại III
- Đối với cấp huyện: 711 đơn vị hành chính chia thành 3 loại: loại I, loại II, loại III
Trang 3- Đối với cấp xã: 11162 đơn vị hành chính chia thành 3 loại: loại I, loại II, loại III
*Ý nghĩa của việc phân loại: phân loại không có nghĩa là phân biệt đối xử mà mỗi 1
loại có cách tổ chức, quản lí phù hợp, tránh tình trạng cào bằng bình quân, tạo động lực cho sự phát triển
II/ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP:
1 Vị trí, tính chất pháp lí: (Đ113 HP2013) quy định HĐND có 2 tính chất:
a HĐND là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân ở địa phương vì 4 lí do:
- Về cách thành lập: là cơ quan do nhân dân ở địa phương trực tiếp bầu ra và trao cho quyền lực → HĐND sẽ thay mặt nhân dân ở địa phương để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân ở địa phương → dân chủ gián tiếp (dân chủ đại diện)
- Về mặt cơ cấu thành phần: bao gồm các đại biểu HĐND đủ sức đại diện cho mọi thành phần cử tri ở địa phương → muốn vậy, khi bầu cử phải có cơ cấu (17% là người dân tộc)
- Về nhiệm vụ, quyền hạn: đại biểu HĐND có nhiệm vụ rất quan trọng là tiếp công dân và tiếp xúc cử tri để thu thập và biến tâm tư nguyện vọng của tầng lớp nhân dân ở địa phương thành nghị quyết của HĐND
- Về báo cáo công tác và chịu trách nhiệm: đại biểu HĐND phải báo cáo công tác và chịu trách nhiệm trước cử tri, có thể bị cử tri bãi nhiệm khi không còn xứng đáng với niềm tin của cử tri nữa
b HĐND là cơ quan quyền lực NN ở địa phương:
- Có quyền thay mặt nhân dân quyết định những vấn đề quan trọng ở địa phương và thành lập ra những CQNN khác ở địa phương
- Có quyền giám sát hoạt dộng của các CQNN ở địa phương
Trang 4Đây cũng chính là 2 chức năng của HĐND được cụ thể hóa thành những nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND các cấp (Luật tổ chức HĐND)
2 Chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của HĐND các cấp:
a HĐND có quyền quyết định những vấn đề quan trọng ở địa phương và thành lập ra các CQNN khác địa phương theo quy trình sau đây:
Trang 5*Lưu ý:
- Đại biểu HĐND có quyền tự ứng cử hoặc đề cử người khác vào các chsucw vụ do HĐND bầu → HĐND phải thảo luận để xem cso chấp nhận hay không sự tự đề cử, ửng cử này → Nếu HĐND chấp nhận thì phiếu bầu chức danh đó phải có 2 ứng cử viên trở lên → kết quả là người nào được nhiều phiếu hơn thì trúng cử, nếu ngang phiếu nhau thì bầu lần 2, nếu ngang phiếu nữa thì người nào nhiều tuổi hơn sẽ trúng cử.
- Nghị quyết của HĐND về việc bầu các chức danh sau đây là phải chuyển lên cho cấp trên phê chuẩn trước khi đem ra thi hành:
+ Nghị quyết về việc bầu chủ tịch, phó chủ tịch HĐND (phải chuyển lên cho
thường trực HĐND cấp trên phê, UBTVQH phê đối với cấp tỉnh);
+ Nghị quyết về việc bầu chủ tịch và phó chủ tịch UBND cùng cấp (phải
chuyển lên cho chủ tịch UBND cấp trên trực tiếp phê, Thủ tướng CP phê đối với cấp tỉnh)
*Lưu ý: Có 2 chức danh quan trọng ở địa phương không do HĐND bầu ra, gồm:
chánh án TAND cùng cấp (ở nước ta hiện nay, chánh án TAND cấp tỉnh và cấp
huyện gọi chung là chánh án tòa địa phương: đều do chánh án TANDTC bổ nhiệm,
miễn nhiệm, cách chức theo hàng dọc, không do HĐND cùng cấp bầu); viện trưởng VKSND cùng cấp (ở VN hiện nay, viện trưởng VKSND cấp tỉnh và cấp huyện gọi
chung là viện trưởng VKSND địa phương do viện trưởng VKSNDTC bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo hàng dọc từ trên xưống, không do HĐND cùng cấp bầu).
→ HĐND không bầu 2 chức danh này nên HĐND không có quyền miễn nhiệm, bãi nhiệm, không được quyền bỏ phiếu tín nhiệm, lấy phiếu tín nhiệm đối với 2 chức danh này HĐND không có quyền bãi bỏ văn bản trái pháp luật của 2 chức danh này Tuy nhiên, HĐND vẫn được quyền giám sát hoạt dộng của 2 chức danh này bằng 2 hình thức: xét báo cáo công tác và chất vấn đối với chánh án TAND và viện trưởng VKSND cùng cấp khi có yều cầu → Mối quan hệ giữa HĐND và 2 chức danh này là mối quan hệ hạn chế (không bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm, lấy, bỏ phiếu tín nhiệm nhưng được xét báo cáo công tác và chất vấn khi có yêu cầu).
b Giám sát:
- Đối tượng giám sát: HĐND được quyền giám sát trực tiếp tại kì họp những đối tượng sau: UBND cùng cấp, các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cùng cấp,
Trang 6TAND và VKSND cùng cấp (chỉ chất vấn và xét báo cáo công tác khi có yêu cầu), HĐND cấp dưới trực tiếp
- Biện pháp giám sát: xét báo cáo công tác và xem xét VBQPPL của các cơ quan thuộc đối tượng giám sát của HĐND; thành lập uy ban điều tra để giám sát tại chỗ; chất vấn Theo quy định hiện nay, HĐND được chất vấn các chức danh sau: chủ tịch UBND cùng cấp và các thành viên khác của UBND cùng cấp, thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc UBND cùng cấp, chánh án TAND cùng cấp, viện trưởng VKSND cùng cấp
- Hậu quả pháp lý:
+ Trong quá trình giám sát nếu HĐND phát hiện những văn bản sai trái của UBND cùng cấp, chủ tịch UBND cùng cấp và HĐND cấp dưới trực tiếp → HĐND được quyền ra nghị quyết bãi bỏ 1 phần hoặc toàn bộ những văn bản sai trái đó
+ Nếu trong quá trình giám sát mà HĐND phát hiện ra những hành vi sai trái thì HĐND sẽ xử lí như sau:
• HĐND được quyền lấy phiếu tín nhiệm và bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do HĐND bầu
• HĐND bãi nhiệm, miễn nhiệm đối với các chức danh do HĐND bầu
• HĐND ra nghị quyết giải tán HĐNd cấp dưới trực tiếp nếu nó làm thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của nhân dân địa phương ( nghị quyết giải tán này phải được 2/3 tổng số đại biểu HĐND đồng ý và phải được HĐND cấp trên trực tiếp phê chuẩn trước khi đem ra thi hành)
Trước 2015, HĐND có quyền chất vấn chủ tịch HĐND cùng cấp nhưng luật tổ
chức chính quyền địa phương 2015 quy định HĐND không được chất vấn chủ tịch
HĐND cùng cấp, vì:
- Chủ tịch HĐND không có quyền hạn riêng, chỉ là người điều khiển họp hành, kí nghị quyết của HĐNd cho nên nếu có sai lầm thì là do HĐND sai
- Nội dung kì họp là chủ tịch HĐND sắp xếp nên chủ tịch HĐND có thể không sắp xếp cho mình phải trả lời chất vấn
BT1: Trong 2 nhận định sau, nhận định nào đúng/sai, giải thích:
- HĐND chỉ có quyền chất vấn những chức danh do HĐND bầu ra
→ Sai, HĐND không bầu chánh án TAND với viện trưởng VKSND nhưng HĐND vẫn
Sự khác nhau giữa thường trực HĐND với UBTVQH:
• UBTVQH là 1 cơ quan NN theo đúng nghĩa, có đầy đủ thẩm quyền mang tính quyền lực, có khả năng đơn phương ra những quyết định bắt những cơ quan khác thi hành,
xử lí sai phạm 1 cách độc lập, được quyền phê chuẩn
• Còn thường trực HĐND không là cơ quan NN theo đúng nghĩa, không có thẩm quyền mang tính quyền lực, không có khả năng đơn phương ra những quyết định mang tính cưỡng chế thi hành đối với những cơ quan khác, chỉ là cơ quan tham mưu,
tư vấn nội tại cho HĐND (HĐND mới ra văn bản)
→ Ở địa phương thì HĐND phê chuẩn NQ giải tán, còn ở TW thì UBTVQH phê
Trang 73 Cơ cấu tổ chức của HĐND các cấp:
a HĐND cấp tỉnh:
- Số lượng đại biểu: từ 50 – 85 đại biểu (tùy vào dân số tỉnh) → riêng HĐND TP.HCM và TP Hà Nội thì không quá 95 đại biểu
- HĐND sẽ thành lập ra thường trực HĐND cấp tỉnh: được coi là cơ quan
thường trực hoạt động thường xuyên, thay mặt HĐND cấp tỉnh Bao gồm: Chủ tịch HĐND cấp tỉnh, các phó chủ tịch HĐND cấp tỉnh (2 phó chủ tịch theo
Luật 2015 Nhưng đến luật 2019 quy định nếu ở tỉnh nào Chủ tịch HĐND hoạt động chuyên trách thì tỉnh đó sẽ có 1 phó chủ tịch HĐND, còn nếu ở tỉnh nào Chủ tịch HĐND hoạt động kiêm nhiệm thì tỉnh đó sẽ có 2 phó chủ tịch
HĐND), ủy viên thường trực là trưởng các ban của HĐND
*Lưu ý: theo luật năm 2015 thì thường trực HĐND cấp tỉnh còn có thêm chức danh chánh văn phòng HĐND cấp tỉnh Nhưng đến luật 2019 thì không đề cập, quy định đến chức danh này nữa vì Đảng và NN ta hiện nay đang có chủ trương nhập 3 văn phòng: Đoàn đại biểu QH, VP HĐND cấp tỉnh và VP UBND cấp tỉnh lại làm 1 Tuy nghiên, chủ trương này hiện nay vẫn chưa có quyết định cuối cùng → các nhà làm luật bỏ ngỏ chỗ này
- Các ban của HĐND cấp tỉnh: lập ra từ 3 – 4 ban:
+ Ở vùng đô thị (HĐND của 5 TP thuộc TW) lập ra 4 ban: ban pháp chế,
ban kinh tế ngân sách, ban văn hóa xã hội, ban đô thị (ban mới theo luật năm 2015)
+ Ở vùng nông thôn lập từ 3 – 4 ban: ban pháp chế, ban kinh tế ngân sách,
ban văn hóa xã hội, riêng tỉnh nào có nhiều đồng bào dân tộc ít người sinh sống thì HĐND tỉnh đó lập thêm ban dân tộc
b HĐND cấp huyện:
- Số lượng đại biểu: từ 30 – 45 đại biểu
- Lập ra thường trực HĐND cấp huyện: 1 chủ tịch HĐND, 1 phó chủ tịch HĐND (theo luật 2015 thì có 2 phó chủ tịch HĐND cấp huyện nhưng đến luật năm 2019 thì giảm còn 1 phó chủ tịch), 2 – 3 ủy viên là trưởng các ban của
HĐND cấp huyện
- HĐND cấp huyện lập từ 2 – 3 ban: ban pháp chế, ban kinh tế xã hội, huyện
nào có nhiều dân tộc ít người sinh sống thì lập thêm ban dân tộc
c HĐND cấp xã:
- Số lượng đại biểu ở các xã, thị trấn: 15 – 30 đại biểu, còn ở các phường: 21 – 30 đại biểu
Trang 8- Lập ra thường trực HĐND cấp xã: 1 chủ tịch HĐND, 1 phó chủ tịch HĐND và
ủy viên là trưởng các ban của HĐND cấp xã
- HĐND cấp xã lập ra 2 ban: ban pháp chế và ban kinh tế xã hội
*Lưu ý: Theo luật năm 2015 thì thường trực HĐND cấp xã chỉ gồm 1 chủ
tịch và 1 phó chủ tịch HĐND Đến luật 2019 thì quy định thêm 2 trưởng ban là thành viên của thường trực HĐND cấp xã
Lưu ý: trong các chức danh của thường trực HĐND thì chỉ có phó chủ tịch HĐND bắt buộc phải hoạt động chuyên trách, còn chủ tịch HĐND có thể kiêm
chức và ủy viên là trưởng các ban cũng có thể kiêm chức (theo quy định hiện nay thì trưởng ban của HĐND cấp tỉnh và cấp huyện thì có thể chuyên trách và cũng có thể kiêm chức, trong khi đó phó trưởng ban bắt buộc phải chuyên trách Còn trưởng ban
và phó ban của HĐND cấp xã thì đều hoạt động kiêm nhiệm)
Tại sao Chủ tịch HĐND có thể kiêm chức?
Ở nước ta hiện nay tại 1 số địa phương có tình trạng cơ cấu cán bộ như sau: bí thư cấp ủy Đảng cấp nào thì sẽ đồng thời là Chủ tịch HĐND cấp đó VD: bí thư tỉnh ủy Long
An làm chủ tịch HĐND tỉnh Long An,… → không phải tất cả 63 tỉnh thành mà chỉ có ở 1 số địa phương Chỉ có 2 địa phương sau đây không có kiêm chức là TP.HCM và HN, bởi bí thư thành ủy của 2 địa phương này có rất nhiều công việc
→ Ý nghĩa của việc kiêm chức:
- Tăng cường được sự lãnh đạo của Đảng đối với NN
- Tinh giản được cán bộ
- Tăng cường được tiếng nói, vị thế của chủ tịch HĐND và làm cho chức danh
này thực quyền hơn, bớt hình thức
Vì sao Ủy viên là trưởng các ban HĐND có thể kiêm chức?
Vì: Đảng và NN ta hiện nay đang có chủ trương sáp nhập 1 số cơ quan của Đảng với 1 số cơ quan của HĐND và cho phép trưởng 1 số ban của Đảng kiêm luôn trưởng các ban của HĐND
VD:
Trang 9III/ UỶ BAN NHÂN DÂN CÁC CẤP:
1 Vị trí, tính chất pháp lý: (Đ114 HP2013): Quy định UBND có 2 tính chất:
a UBND là cơ quan chấp hành của HĐND cùng cấp: vì 3 lý do
- UBND cấp nào là do HĐND cùng cấp bầu ra, cụ thể là:
o Chủ tịch ủy ban do HĐND cùng cấp bầu ra trong số các đại biểu HĐND theo sự giới thiệu của chủ tịch HĐND cùng cấp
o Các phó chủ tịch và ủy viên ủy ban cũng do HĐND cùng cấp bầu nhưng không nhất thiết là đại biểu HĐND theo sự giới thiệu của chủ tịch UBND cùng cấp
- UBND phải chấp hành những đường lối, chủ trương trong các nghị quyết của HĐND cùng cấp, cụ thể là:
o UBND phải ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành các nghị quyết của HĐND vào thực tế cuộc sống
o UBND phải họp bàn để tìm ra những biện pháp hữu hiệu để thi hành đường lối chủ trương của HĐND trong thực tế cuộc sống
- UBND phải báo cáo công tác và chịu trách nhiệm trước HĐND cùng cấp, cụ thể là:
o Đại biểu HĐND có quyền chất vấn, xét báo cáo công tác, bỏ, lấy phiếu tín nhiệm đối với các thành viên của UBND cùng cấp
o HĐND có quyền bãi bỏ những văn bản trái pháp luật của UBND và chủ tịch UBND cùng cấp
o HĐND có quyền miễn nhiệm, bãi nhiệm đối với các thành viên của UBND cùng cấp
b UBND là cơ quan hành chính NN ở địa phương:
- UBND được lập ra để quản lí, vì vậy UBND được xếp vào hệ thống những cơ quan
có chức năng quản lí và được coi là cầu nối, mắt xích trong hệ thống hành chính →
để đảm bảo sự thống nhất trong hệ thống hành chính (trên bảo dưới nghe) thì: + UBND cấp nào do HĐND cấp đó bầu ra nhưng kết quả bầu chủ tịch, phó chủ tịch UBND phải được chủ tịch UBND cấp trên trực tiếp phê chuẩn
+ UBND vừa phải chấp hành những nghị quyết của HĐND cùng cấp vừa phải chấp hành những mệnh lệnh, chỉ đạo của chủ tịch UBND cấp trên trực tiếp
+ UBND vừa phải báo cáo công tác và chịu trách nhiệm trước HĐND cùng cấp, vừa báo cáo công tác và chịu trách nhiệm trước chủ tịch UBND cấp trên trực tiếp, cụ thể là:
o Chủ tịch UBND cấp trên trực tiếp có quyền tạm giao quyền chủ tịch UBND cấp dưới lúc HĐND cấp dưới không họp (điểm mới của luật năm 2015)
Trang 10o Chủ tịch UBND cấp trên trực tiếp có quyền điều động, đình chỉ công tác, cho thôi làm nhiệm vụ, cách chức đối với chủ tịch và phó chủ tịch UBND cấp dưới trực tiếp (thủ tướng cũng có quyền tương tự đối với chủ tịch và phó chủ tịch UBND cấp tỉnh)
o Chủ tịch UBND cấp trên trực tiếp có quyền đình chỉ thi hành hoặc bãi
bỏ những văn bản trái pháp luật của UBND và chủ tịch UBND cấp dưới trực tiếp (thủ tướng cũng có quyền tương tự đối với UBND cấp tỉnh)
o Chủ tịch UBND cấp trên trực tiếp còn có quyền phê chuẩn việc miễn nhiệm, bãi nhiệm đối với chủ tịch và phó chủ tịch UBND cấp dưới trực tiếp
→ Phân tích điều 114 HP2013 có thể rút ra kết luận: UBND là cơ quan được tổ chức
theo nguyên tắc song trùng trực thuộc (trực thuộc 2 chiều): UBND vừa lệ thuộc vào
HĐND cùng cấp theo chiều ngang , vừa lệ thuộc vào UBND cấp trên trực tiếp theo chiều dọc.
*Lý do: Nếu chỉ trói buộc UBND vào 1 chiều nào đó thôi sẽ dẫn đến những bất cập
nhất định, cụ thể là:
- Nếu chỉ trói buộc UBND vào HĐND cùng cấp sẽ làm hệ thống hành chính không thông suốt, trên nói dưới không nghe, không quản lí được
- Nếu chỉ trói buộc UBND vào cơ quan hành chính cấp trên sẽ làm HĐND trở nên hình thức, vô nghĩa, trái với nguyên lí “NN của nhân dân”
→ Trước những bất cập như vậy, các nhà làm luật đã quyết định trói buộc UBND vào cùng 1 lúc cả 2 chiều với lập luận rằng: “50% thuộc về HĐND cùng cấp, 50% thuộc về UBND cấp trên trực tiếp” Tuy nhiên, việc trói buộc UBND vào 1 lúc cả 2 cơ quan với những lập luận như trên thật ra chỉ là 1 giải pháp tình thế nửa vời, dung hòa không triệt để Là nguyên nhân dẫn đến hàng loạt bất cập trong quá trình tổ chức và hoạt động của UBND trong thực tế và làm cho các nhà làm luật cũng cảm thấy lúng túng, khó xử, không biết đặt ra quy định gì để
giải quyết những “bất cập” xảy ra.
+ Bất cập thứ 1: đến trước năm 2015, các nhà làm luật cũng chưa đặt ra được những quy định nào để xử lí những tình huống nếu chủ tịch UBND cấp trên trực tiếp không phê chuẩn kết quả bầu UBND của HĐND cấp dưới
trực tiếp thì sẽ giải quyết tình huống này như thế nào Đến luật tổ chức chính quyền địa phương 2015 đã rất nỗ lực, cố gắng để đặt ra quy dịnh để