1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Phân tích những biện pháp cải cách ở chính quyền địa phương thời vua Lê Thánh Tông và vua Minh Mệnh (BÀI TẬP NHÓM MÔN LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC PHÁP LUẬT VIỆT NAM)

15 90 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích những biện pháp cải cách ở chính quyền địa phương thời vua Lê Thánh Tông và vua Minh Mệnh
Tác giả Trần Thị Thư Anh
Người hướng dẫn TS. Phạm Thị Thu Hiền
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Lịch sử Nhà nước và Pháp luật Việt Nam
Thể loại Bài tập nhóm môn
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 390,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Untitled BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI BÀI TẬP NHÓM MÔN LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC PHÁP LUẬT VIỆT NAM HỌ VÀ TÊN Trần Thị Thư Anh NHÓM 1 LỚP 4737A ĐỀ BÀI Phân tích những biện pháp cải cách ở chính quyề.

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

BÀI TẬP NHÓM MÔN: LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC & PHÁP LUẬT

VIỆT NAM

HỌ VÀ TÊN: Trần Thị Thư Anh

NHÓM: 1

LỚP: 4737A

ĐỀ BÀI: Phân tích những biện pháp cải cách ở chính quyền địa phương thời vua Lê Thánh Tông và vua Minh Mệnh

Giảng viên giảng dạy: TS Phạm Thị Thu Hiền

Trang 2

MỤC LỤC

Lời nói đầu……… 3 Khái niệm, nguyên nhân cải cách, sơ lược về vua Lê Thánh Tông và vua Minh Mệnh……… 4 Những biện pháp cải cách ở chính quyền địa phương thời vua Lê Thánh Tông……… 6 Những biện pháp cải cách ở chính quyền địa phương thời vua Minh

Mệnh……… 9 Hiệu quả của những biện pháp cải cách ở chính quyền địa phương thời vua

Lê Thánh Tông và vua Minh Mệnh………12 Kết luận……… 14 Danh mục tài liệu tham khảo……… 15

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Nhiều năm trở lại đây, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nước ta tiến hành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhằm sớm đưa nước

ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, có nền kinh tế phát triển cao và bền vững… Để đạt được mục tiêu ấy, chúng ta cần phát triển và hoàn thiện từng bộ phận trong bộ máy nhà nước, đầu tiên là chính quyền địa phương – nền móng cho việc hoàn thành sự nghiệp đất nước

Không chỉ cần tiếp thu, học hỏi những đổi mới đến từ các nước bạn láng giềng,

mà chúng ta còn cần phải kế thừa được những tinh hoa, những kinh nghiệm mà ông cha ta đã xây dựng nên trong thời đại lịch sử phong kiến nghìn năm

Trong lịch sử phong kiến Việt Nam, vua Lê Thánh Tông đã tiến hành hàng loạt công cuộc cải cách và giai đoạn trị vì của vua Lê Thánh Tông được coi là thịnh trị nhất không chỉ ở thời Lê sơ mà còn có vị trí nổi bật về xây dựng đất nước và phục hưng dân tộc trong lịch sử các vương triều phong kiến Việt Nam Người đã đưa ra những cải cách để trị vì đất nước bên cạnh đó còn có vua Minh Mệnh

Và để làm rõ hơn về công cuộc cải cách của hai vị vua trong lịch sử phong kiến Việt Nam, em đã chọn đề tài: Phân tích những biện pháp cải cách ở chính quyền địa phương thời vua Lê Thánh Tông và vua Minh Mệnh

Trang 4

KHÁI NIỆM, NGUYÊN NHÂN CẢI CÁCH SƠ LƯỢC VỀ VUA

LÊ THÁNH TÔNG VÀ VUA MINH MỆNH

1 Khái niệm:

Cải cách là một biện pháp được thực hiện để giải quyết những đòi hỏi của thực tiễn với mục tiêu rõ ràng, chương trình cụ thể Cải cách còn có thể hiểu là sự sửa đổi, điều chỉnh lớn đói với các cấu trúc chính trị, văn hóa của xã hội để đạt được mục tiêu tốt hơn

Chính quyền địa phương là một tổ chức hành chính có tư cách pháp nhân được hiến pháp và pháp luật công nhận sự tồn tại vì mục đích quản lý một khu vực nằm trong một quốc gia Các cán bộ chính quyền địa phương là người dân thuộc địa phương đó Chính quyền địa phương có trách nhiệm cung ứng, giải đáp, hỗ trợ cho nhân dân trong địa phương của mình

2 Nguyên nhân cải cách:

Muốn thay đổi bộ máy hành chính nhà nước bởi những hạn chế yếu kém và bất cập và có nguy cơ dẫn đến sự lộng quyền, nội chiến

Muốn phát triển nền kinh tế lạc hậu và thay đổi đời sống nhân dân Thêm vào đó

bộ máy nhà nước được hiệu quả hơn, quan lại có trình độ cao, yêu nước thương dân và thấm nhuần tư tưởng Nho giáo, Thuyết an dân, nhà nước hùng mạnh từ trung ương đến địa phương và lực lượng quân đội hùng mạnh

Vì vậy hạn chế được nguy cơ và thế lực của những lực lượng phong kiến địa phương, ngăn ngừa sự phân quyền cát cứ, tăng cường quyền lực của trung ương,

sự lãnh đạo, quản lí ở địa phương, từ đó có hiệu lực và hiệu quả hơn

3 Sơ lược về vua Lê Thánh Tông và vua Minh Mệnh:

a Vua Lê Thánh Tông:

Lê Thánh Tông (1442 – 1497), tên là Tư Thành, hiệu Thiên Nam động chủ, con thứ tư của Lê Thái Tông Lê Thánh Tông lên làm vua năm 1460, là vị hoàng đế thứ năm của nhà Hậu Lê trong lịch sử Việt Nam, hai lần đổi niên hiệu: Quang Thuận (1460 – 1469) và Hồng Đức (1470 – 1497) Trong gần 40 năm làm vua,

Trang 5

ông đã đưa triều Lê phát triển tới đỉnh cao về mọi mặt: chính trị, xã hội, kinh tế, quốc phòng, văn hóa

b Vua Minh Mệnh:

Vua Minh Mệnh hay là Minh Mạng (1791 – 1841), tên là Nguyễn Phúc Đảm, còn gọi là Nguyễn Phúc Kiều, là vị vua thứ nhì của nhà Nguyễn, trị vì từ năm

1820 đến năm 1841, là hoàng tử thứ tư của vua Gia Long Năm 1816, ông được phong làm Hoàng Thái tử Tháng Giêng năm Canh Thìn (1820) ông lên ngôi, lấy niên hiệu là Minh Mạng Từ nhỏ Minh Mạng đã có tư chất thông minh, hiếu học, năng động và quyết đoán, là người tinh thông Nho học; là người đã có nhiều cải cách tiến bộ trong suốt thời kỳ trị vì đất nước

Trang 6

NHỮNG BIỆN PHÁP CẢI CÁCH Ở CHÍNH QUYỀN ĐỊA

PHƯƠNG THỜI VUA LÊ THÁNH TÔNG

1 Nguyên nhân, mục đích:

Đặt ra mục tiêu giải quyết khủng hoảng thiết chế chính trị diễn ra từ cuối đời Trần với yêu cầu thay thế thiết chế chính trị phong kiến quý tộc Phật giáo bằng thiết chế chính trị phong kiến quan liêu Nho giáo, Lê Thánh Tông đã bãi bỏ một

số chức quan đại thần vốn có công nhưng không có học thức, thay vào đó bằng các văn quan được tuyển chọn thông qua thi cử nhằm hạn chế chia bè, kéo cánh trong triều đình, hạn chế sự thao túng quyền lực của các công thần Ông trực tiếp quản lý các bộ phận nhằm hạn chế sự cồng kềnh, quan liêu của bộ máy hành chính

2 Những biện pháp cải cách chính quyền địa phương thời vua Lê Thánh Tông:

a Đạo:

Thứ nhất, Lê Thánh Tông đã chia cả nước thành nhiều đạo nhỏ nhằm hạn chế

tiềm lực và thế lực của những lực lượng phong kiến địa phương, ngăn ngừa sự cát cứ, chính quyền cấp đạo quản lí địa phương có hiệu lực và hiệu quả hơn,

đồng thời, ông cũng không để quyền hành ở đạo tập trung vào tay một người mà

được tản ra cho ba cơ quan (được gọi là tam ti).

Từ năm 1471, tam ti được hình thành và bao gồm: Thừa ti, Đô ti và Hiến ti

- Thừa ti phụ trách hành chính, tài chính, dân sự Đứng đầu Thừa ti là Thừa ti

chính sứ với Hàm tòng tam phẩm, chức Phó Thừa ti sứ Hàm tong tứ phẩm

- Đô ti trong coi việc quẩn, đứng đầu là Đô tổng binh sứ Hàm chánh tứ phẩm,

Phó tong binh Hàm tong tứ phẩm

- Hiến ti có chức năng xét xử và giám sát hai ti trên, giám sát mọi công việc

trong đạo để tâu lên triều đình Đứng đầu Hiến ti là Hiến sát Hàm chánh lục phẩm và Hiến sát Phó Hàm chánh thất phẩm

Chính bởi sự phân lập quyền hành ở địa phương như vậy, Lê Thánh Tông đã ngăn ngừa được khuynh hướng cát cứ và tăng cường quyền lực của trung ương

Trang 7

Thứ hai, ông tổ chức giám sát chặt chẽ ở cấp đạo bằng việc đặt 6 ti ngự sử tại

các đạo ở Ngự sử đài nơi triều đình Mỗi ti ngự sử đài giám sát hai hoặc ba đạo

Ti ngự sử không phải là cơ quan địa phương mà là cơ quan của ngự sử đài trung ương Đứng đầu ti ngự sử là chức quan giám sát ngự sử mang Hàm chánh thất phẩm

Riêng Trung Đô phủ (phủ Phụng Thiên), quan đứng đầu phủ là Phủ doãn mang Hàm chánh ngũ phẩm, chức phó là Thiếu doãn với Hàm chánh lục phẩm Như vậy, tuy phủ Trung Đô là đơn vị hành chính trung ương tương đương cấp đạo nhưng có hình thức tổ chức chính quyền khác hẳn cấp đạo Quan lại thời Lê Thánh Tông chỉ được tại chức đến năm 65 tuổi, bãi bỏ luật cha truyền con nối cho các công thần, điều này cũng góp phần hạn chế quyền hành của các đại thần, tránh tình trạng cát cứ

b Xã:

Không chỉ điều chỉnh lại bộ máy ở Đạo, Lê Thánh Tông còn phân định lại các

làng xã Ông chia địa phương thành ba loại xã, gồm đại xã có từ 500 hộ trở lên, trung xã có từ 300 hộ trở lên và tiểu xã có trên dưới 100 hộ Các xã không phải

cố định bất biến mà có sự tách lập xã cũ, xã mới nhằm đảm bảo sự hài hòa giữa làng và nước, có thể kiểm soát nhưng vẫn tôn trọng sự tự trị của làng xã

Ngoài ra, Lê Thánh Tông còn bãi bỏ các xã quan và đổi là xã trưởng do dân bầu

ra Trong hệ thống xã trưởng gồm có các chức nhỏ xã chính, xã sử và xã tư Các

xã trưởng được bầu theo các tiêu chuẩn do nhà vua đặt ra: nam giới từ 30 tuổi trở lên, biết chữ, có hạnh kiểm tốt, là con em nhà hiền lành,… Ông cũng không cho phép anh em thân thích có hai người cùng làm xã trưởng nhằm loại bỏ tệ nạn đồng đảng, bè cánh và thải loại những xã trưởng gian tham, già lão ốm yếu hoặc những người kém năng lực, không thể kham nổi công việc

Bằng việc thay đổi hệ thống chính quyền ở xã, vua Lê Thánh Tông đã hạn chế được tối đa chính quyền tự trị của làng xã, góp phần củng cố nền quân chủ quan liêu chuyên chế do ông đứng đầu

Trang 8

3 Ý nghĩa của những biện pháp cải cách chính quyền địa phương thời vua

Lê Thánh Tông:

Những biện pháp cải cách chính quyền địa phương thời vua Lê Thánh Tông được coi là những biện pháp tân tiến, hiện đại, thay đổi được rõ rệt sự thối nát,

lạc hậu từ chính quyền địa phương cũ Ông đã thanh lọc một số chức quan, cơ

quan và các cấp chính quyền trung gian nhằm bãi bỏ đi những thừa thãi, không

cần thiết và yêu cầu các cơ quan nhà nước kiểm tra, giám sát lẫn nhau để hạn

chế sự lạm quyền và nâng cao trách nhiệm Ngoài ra, để giúp cho người dân

được bảo đảm quyền lợi thì Lê Thánh Tông không để quyền lực tập trung quá

nhiều vào một cơ quan, mà được tản ra nhằm loại bỏ sự tiềm quyền trong tiềm

thức và hành động của quan liêu chính quyền địa phương

Trang 9

NHỮNG BIỆN PHÁP CẢI CÁCH Ở CHÍNH QUYỀN ĐỊA

PHƯƠNG THỜI VUA MINH MỆNH

1 Nguyên nhân, mục đích:

Nhận thấy nền kinh tế còn lạc hậu, kém phát triển, quan tham còn nhiều, đời sống của nhân dân trở nên khổ cực trăm đường Trong khi đó, cơ chế hành chính bộc lộ nhiều thiếu sót như còn nhiều tầng, phân cấp hành chính, vẫn giữ cơ chế: dưới trung ương là các cấp thành, trấn, doanh Bắc thành và Gia Định thành cho hai vị Tổng trấn đứng đầu, quyền hạn rất lớn Dẫn tới tình trạng lạm quyền, lộng quyền và có nguy cơ tiêm vị Cần có đội ngũ quan lại có trình độ cao, yêu nước, thương dân, thấm nhuần tư tưởng nho giáo và thuyết “an dân” Nhu cầu phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan nhà nước, để hoạt động bộ máy nhà nước hiệu quả hơn

Trước những khó khăn đó, vua Minh Mệnh đã tiến hành cuộc cải cách bộ máy nhà nước trên quy mô lớn nhằm hạn chế nguy cơ và thế lực của những lực lượng phong kiến địa phương, ngăn ngừa sự phân quyền cát cứ, tăng cường quyền lực của trung ương Mặt khác là tăng sự lãnh đạo, quản lí ở địa phương nhằm củng

cố quyền lực và giải quyết những khó khăn chồng chất của đất nước

2 Những biện pháp cải cách ở chính quyền địa phương thời vua Minh Mệnh:

Vua Minh Mệnh đã đặt ra một số quy chế về tổ chức và nguyên tắc quản lí làng

xã Tổ chức xã gồm có: Cơ quan quyết nghị và cơ quan chấp hành.

Cơ quan quyết nghị là hội đồng kì mục (gồm Hội đồng kì hào và Hội đồng làng).

Bất kì công việc chung nào của xã đều được đưa ra bàn bạc trước hội đồng Hội đồng kì mục thường họp vào mùng một và ngày rằm hàng tháng để bàn việc làng như: thu thuế, tuyến lính,…

Người có quyền cao nhất trong hội đồng là Tiên chỉ có quyền hòa giải các việc

hộ và xét các tội phạm nhỏ về hình… các chế tài chủ yếu là: phạt tiền, đòn roi,

Trang 10

Tiêu chuẩn tham gia vào Hội đồng kì mục là các thân hào có danh tiếng trong xã.

Họ là những người đã đỗ đạt trong các kì khoa cử: tú tài, cử nhân, tiến sĩ, đã từng làm việc quan trọng hoặc đang làm quan Cũng có thể là những người có phẩm hàm do vua ban, những người có tài sản hoặc là những bậc cao niên uy tín trong làng Các tiêu chuẩn khác còn phụ thuộc vào hương ước, khoán ước của từng làng xã

Hội đồng kì mục không phải do dân bầu, không giới hạn về số lượng hoặc nhiệm kì; không chịu trách nhiệm trước cơ quan hành chính nhà nước mà chỉ chịu trách nhiệm trước cư dân bản xã Tuy nhiên, đa số thành viên của hội đồng đều là những người có phẩm hàm do vua ban hành hoặc xuất thân từ khoa mục, quan trường Do đó, triều đình có thể áp dụng kỉ luật, kiểm soát bằng chế tài thu hồi bằng sắc hay phẩm tước Khi họ trở thành bạch đinh thì đương nhiên không đủ tiêu chuẩn tham gia Hội đồng kì mục

Về cơ quan chấp hành, gồm có Lí trưởng, Phó lí và Trương tuần.

Tất cả các xã đều có một viên Lí trưởng Lí trưởng được làng xã đặt lên theo nguyên tắc dân chủ Tuy nhiên, người ứng cử chức vụ này phải là người “vật lực cán”, nghĩa là phải có một số tài sản nhất định và phải có đức tính siêng năng cần mẫn Lí trưởng phải là người trên 30 tuổi, không có quan hệ ruột thịt hoặc thông qua với các viên cai, phó tổng nếu là người cùng làng, phải có một số tài sản nhất định và có những phẩm chất cần thiết, được dân chúng bầu lên trong nhiệm

kì 3 năm Nếu muốn dự bầu Lí trưởng thì phải được viên cai tổng sở tại giới thiệu, quan Tri phủ, Tri huyện xét trình lên quan đứng đầu cấp tỉnh bằng văn bằng và mộc triện

Lí trưởng là một trong những nhân viên hành chính của nhà nước ở cấp xã, thôn Nhiệm vụ của họ là thi hành mệnh lệnh chính quyền cấp trên, chịu trách nhiệm mọi công việc trong xã Là người trực tiếp quản lí sổ định, sổ điền

Phó lí thì do dân bầu nhiệm kì 3 năm như Lí trưởng, là người giúp việc cho Lí trưởng Phó lí cũng là một trong những nhân viên hành chính chủ yếu của nhà nước ở cấp xã thôn, quản lí mọi mặt của xã thôn

Còn về chức danh Trương tuần thì do Hội đồng kì mục chỉ định, chuyên phụ trách công việc tuần phòng trong xã

Trang 11

Trong cơ quan hành chính địa phương, vua Minh Mệnh không chỉ đưa ra 3 chức quan làm nhiệm vụ quản lí địa phương chính, mà ông còn lập thêm chức danh Tuần đinh, là lực lượng an ninh trong xã đặt dưới sự điều hành của Trương tuần Tuần đinh thường được lựa chọn trong số các tráng đinh khỏe mạnh nhất làng

Họ có một số tài sản để có thể bồi thường nếu canh phòng sơ suất để xảy ra các

vụ trộm cắp

3 Ý nghĩa của những biện pháp cải cách ở chính quyền địa phương thời vua Minh Mệnh:

Những cải cách hành chính ở cấp xã của Minh Mệnh đã tập trung quyền tối thượng vào tay nhà vua và có nhiều tiến bộ hơn Bộ máy hành chính trở nên gọn nhẹ hơn, các quan chức trong hệ thống trở nên gọn nhẹ, gắn kết và hoạt động hiệu quả hơn Các quan chức trong hệ thống quan lí có chức năng và nhiệm vụ rõ ràng, vai trò cá nhân quan chức được đặc biệt đề cao và hạn chế sự lạm quyền

Vì vậy năng lực cá nhân đã được phát huy tối đa Cuộc cải cách của vua Minh Mệnh nhìn chung vẫn còn có những hạn chế nhất định, nhưng đây được coi là một trong những cuộc cải cách thành công nhất trong lịch sử Việt Nam Cuộc cải cách đã đem lại sự phát triển cho đất nước, đem lại cho người dân cuộc sống ấm

no, hạnh phúc

Trang 12

HIỆU QUẢ CỦA NHỮNG BIỆN PHÁP CẢI CÁCH Ở CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG THỜI VUA LÊ THÁNH TÔNG VÀ VUA

MINH MỆNH

Thứ nhất, về ưu điểm, thông qua những biện pháp cải tổ đối với chính quyền địa phương, Lê Thánh Tông không chỉ tăng cường hiệu lực của chính quyền cấp cơ

sở mà quan trọng hơn là tìm cách can thiệp sâu vào làng xã nhằm tăng cường sự chi phối của triều đình và hạn chế tối đa tính tự trị của làng xã, qua đó góp phần củng cố nền quân chủ chuyên chế Nhìn chung, thông qua cải cách, Lê Thánh Tông đã tạo được hệ thống hành chính thống nhất trong phạm vi cả nước Hệ thống khá gọn gàng với chức trách phân minh, bảo đảm sự chỉ đạo và tập trung quyền lực của trung ương Đây là mô hình tiên tiến nhất của chế độ quân chủ phong kiến đương thời, trong đó, trung ương và địa phương gắn liền nhau, quyền lực được bảo đảm từ trên xuống dưới

Giống với cải cách của vua Lê Thánh Tông, bộ máy chính quyền địa phương thời Minh Mệnh đã bảo đảm được nguyên tắc tập trung quyền tối thượng vào tay nhà vua Tuy nhiên, cải cách hành chính địa phương của Minh Mệnh có những tiến bộ hơn: Bộ máy hành chính trở nên gọn nhẹ hơn; gắn kết và hoạt động hiệu quả hơn; các quan chức trong hệ thống quản lý hành chính có chức năng và nhiệm vụ rõ ràng, vai trò cá nhân quan chức được đặc biệt đề cao Vì vậy năng lực cá nhân đã được phát huy tối đa Đây là sự tiến bộ mà cải cách dưới thời vua

Lê Thánh Tông chưa thực hiện được

Có thể nói rằng, trong lịch sử hình thành và phát triển nhà nước quân chủ đến sau cải cách Minh Mệnh hoàn thiện và đạt đến đỉnh cao

Mặc dù đạt được nhiều thành tựu, song cuộc cải cách của Lê Thánh Tông và Minh Mệnh đều gặp phải những hạn chế

Đầu tiên, ở cải cách của Lê Thánh Tông, chính sách cải cách hành chính cấp xã của Lê Thánh Tông trên thực tế đã không triệt tiêu được “sự tha hóa quyền lực” của bộ máy quản lý địa phương dẫn đến tình trạng hào nhũng nhiễu, tạo vấn đề nhức nhối trong xã hội Mặt khác, do nhà nước trung ương không còn nắm được

bộ máy quản lý địa phương như trước nữa nên những biện pháp quản lý không phát huy tác dụng và hiệu quả

Ngày đăng: 27/01/2023, 09:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w