Mở đầu doạn thơ, Huy Cận vẽ ra trước mắt người đọc hình ảnh một dòng sông dòng sông mênh mang rộng lớn với nỗi sầu trăm ngả: Sóng gọn tràng giang buồn điệp điệp Con thuyền xuôi mái mước
Trang 1TRÀNG GIANG
Đề bài: Phân tích hai khổ thơ đầu bài Tràng Giang Từ đó làm rõ tình người, tình đời lòng yêu nước thầm kín thiết tha Huy Cận
-Bài làm:
Nhà văn Tô Hoài đã từng viết: Thơ ca bắt rễ từ lòng người, nở hoa từ từ ngữ Mỗi chữ phải là hạt ngọc buông xuống trang bản thảo Hạt ngọc mới nhất của mình tìm được do phong cách riêng của mình mà có” Ý kiến của Tô Hoài bàn
về phong cách riêng của tác giả Nhà thơ Huy Cận đã tạo nên phong cách riêng của mình Huy Cận đã đóng góp vào thơ ca một mối sầu nhân thế, một cái tôi cô đơn, buồn bã trước dòng đời Với sự pha trộn giữa cổ điển và hiện đại, ông gửi gắm nỗi niềm ấy trong nhiều bài thơ, trong số đó phải kể đến
“Tràng giang” Bài thơ được trích từ tập Lửa Thiêng”, lấy cảm xúc được khơi gợi chủ yếu từ cảnh sông Hồng mênh mang sóng nước
Đoạn thơ thuộc hai khổ đầu của bài thơ, đoạn thơ miêu tả hình ảnh dòng sông tràng giang mênh mang, vắng vẻ và tâm trạng cô đơn, bơ vơ, bế tắc của nhà thơ Qua đó, người đọc cảm nhận rõ tình người, tình đời và lòng yêu nước thầm kín mà thiết tha của Huy Cận đã góp phần làm nên sắc thái rất riêng, rất Huy Cận
Tổng: Huy Cận tên khai sinh là Cù Huy Cận quê ở tỉnh Hà Tĩnh Huy Cận tích cực hoạt động trong mặt trận Việt Minh Trước CM tháng 8, thơ ông mang nỗi sầu về kiếp người và ca ngợi vẻ đẹp tạo vật với các tác phẩm như Vũ Trụ Ca, Kinh cầu tự Sau cách mạng tháng Tám, ông trở nên lạc quan được khơi
nguồn từ cuộc sống chiến đấu và xây dựng đất nước người dân lao động với các tác phẩm như Bài thơ cuộc đời, đất nở hóa Huy Cận là một trong những tác giả xuất sắc của phong trào Thơ mới Vẻ đẹp thiên nhiên nỗi sầu nhân thế là một nét thơ tiêu biểu được thể hiện rõ nét qua bài thơ Tràng Giang Bài thơ tiêu biểu được sáng tác trước CM tháng 8 trích từ tập thơ “Lửa thiêng” sáng tác khi Huy Cận cùng Tố Hữu ngắm cảnh ở bến sông Chèm Bài thơ lấy cảm hứng từ cảnh trời rộng lớn mênh mông bác ngát mang nỗi u hoài nên như thế bài thơ mang đậm chất cổ điển vừa đượm chất hiện đại Mang sự thích thú cho người đọc
Bài thơ có nhan đề là Tràng giang có nghĩa là sông dài, cũng là sông lớn Nhan đề bài thơ là một cách nói chệch đầy sáng tạo của Huy Cận Nhan đề bài thơ gợi không khí cổ kính, thể hiện vẻ đẹp hiện đại trong thơ của Huy Cận, gợi vẻ đẹp khái quát về những dòng sông của quê hương Bài thơ còn gây ấn tượng với người đọc bởi câu thơ đề từ “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” Câu thơ đề từ thể hiện vẻ đẹp đầy sức quyến rũ của dòng sông,
Trang 2của thiên nhiên vì nó vừa quen thuộc, cổ điển lại vừa ẩn chứa một vẻ đẹp hiện đại và thể hiện tâm trạng của tác giả Huy Cận đó là nỗi buồn bã, u sầu,
cô đơn, lạc lõng và nỗi nhớ da diết trước thiên nhiên và trước cuộc đời
Mở đầu doạn thơ, Huy Cận vẽ ra trước mắt người đọc hình ảnh một dòng sông dòng sông mênh mang rộng lớn với nỗi sầu trăm ngả:
Sóng gọn tràng giang buồn điệp điệp Con thuyền xuôi mái mước song song, Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;
Củi một cành khô lạc mấy dòng
Hình ảnh thiên nhiên đầu tiên xuất hiện trên dòng tràng giang đó là hình ảnh con sóng:
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp Con sóng được Huy Cận miêu tả là con sóng gọn Từ gợn mà Huy Cận sử dụng giúp ta hình dung được sự chuyển động nhẹ của những con sóng nước trên dòng sông rộng lớn Hình ảnh con sóng gọn trên dòng tràng giang ấy gợi chúng ta liên tưởng đến hình ảnh con sóng biếc hơi gợn tí trong bài Câu cá mùa thu của Nguyễn Khuyến:
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí
Huy Cận đã sử dụng một ngữ liệu quen thuộc trong thơ cổ đó là hình ảnh con sóng Hình ảnh con sóng xuất hiện trên dòng tràng giang trong thơ Huy Cận thể hiện về đẹp cổ điển Không chỉ miêu tả những chuyển động nhẹ nhàng của con sóng mà Huy Cận còn miêu tả tâm trạng của con sóng đó là tâm trạng buồn buồn điệp điệp Bằng nghệ thuật nhân hóa kết hợp với từ láy điệp điệp, Huy Cận đã gợi tả hình ảnh những con sóng gợn lên hết lớp này đến lớp khác, những con sóng chuyển động nhẹ nhàng triền miên vô tận tựa như nỗi buồn da diết của một con người cô đơn Hiện lên trên dòng tràng giang là hình ảnh con thuyền nhỏ bé lênh đênh gợi cho tác giả nỗi buồn về thân phận của những kiếp người bé nhỏ trong xã hội cũ:
Con thuyền xuôi mái nước song song Thuyền về nước lại sầu trăm ngả Cũng giống như hình ảnh con sóng, hình ảnh con thuyền là một hình ảnh quen thuộc trong thơ ca Người đọc còn nhớ hình ảnh Một chiếc thuyền câu
bé tẻo teo (Câu cá mùa thu- Nguyễn Khuyến) Trên dòng sông miên man những con sóng điệp điệp ấy là một con thuyền xuôi mái, lững lờ trôi song
Trang 3song cũng dòng nước Từ láy song song cũng giống như từ láy điệp điệp trong câu thơ đầu mang màu sắc cổ điển của Đường thi Tuy nhiên từ láy đó lại gợi sự chia li của thuyền và nước
Câu thơ gợi nỗi buồn thấm thía cho người đọc bởi nỗi sầu trăm ngả của dòng nước Dòng nước tràng giang mang nỗi sầu trăm ngả qua lối nhân hóa của Huy Cận gợi người đọc liên tưởng đến câu thơ Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ (Nguyễn Du)? Nhìn hình ảnh con thuyền nhỏ nhoi lênh đênh trên dòng tràng giang mênh mông, nhà thơ liên tưởng đến những kiếp người bé nhỏ sống lênh đênh trong cõi đời
Kết thúc khổ thơ đầu là một hình ảnh nhỏ bé yếu ớt nhưng lại gây nỗi ám ảnh sâu sắc trong tâm hồn Huy Cận đó là hình ảnh một cành củi khô trôi nổi :
Củi một cành khô lạc mấy dòng
Nếu những hình ảnh con sóng, con thuyền là những hình ảnh thể hiện vẻ đẹp
cổ điển trong bài Tràng giang thì hình ảnh cành củi khô lại là một hình ảnh thơ rất mới, rất hiện đại Hình ảnh cành củi khô gợi sự khô héo, cạn kiệt nhựa sống Huy Cận đã khéo dùng phép đảo ngữ kết hợp với nghệ thuật đối giữa củi một cành đối với mấy dòng nước để thể hiện lạc lõng của cành củi khô trong dòng sông bao la Có lẽ cũng giống như hình ảnh con thuyền, cành củi khô cũng là hình ảnh ẩn dụ cho những kiếp người bé nhỏ trong xã hội đương thời Không gian tràng giang không chỉ buồn mà còn rất vắng vẻ Sự vắng vẻ của không gian dược tác giả phản ánh qua một số hình ảnh thiên nhiên quen thuộc đó là cồn cát nhỏ, lơ thơ, đó là nắng, là bầu trời và dòng sông: Lơ thơ cổn nhỏ gió đìu hiu, Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều Nắng xuống, trời lên
sâu chót vót;
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu Hai từ láy thuần Việt là từ lơ thơ và đìu hìu được tác giả sắp xếp ở đầu và cuối trên cùng một dòng thơ đã tái hiện quang cảnh vắng lặng Từ láy lơ thơ gợi
sự ít ỏi, bé nhỏ của những cồn cát nổi trên mặt sông Còn từ láy đìu hiu lại gợi sự quạnh quẽ Sự hiện diện của những cồn cát có mà dường như không
có khiến cảnh vật càng thêm buồn vắng như cảnh vật trong Chinh phụ ngâm:
Non Kì quạnh quẽ trăng treo Bến Phì gió thổi đìu hìu mấy gò
(Đặng Trần Côn) Trong không gian vắng lặng đó, bất giả nhà thơ nghe thấy âm thanh của con người từ ngôi làng bên kia sông vọng lại:
Đâu tiếng làng xa văn chợ chiều
Trang 4Câu thơ có thể hiểu là câu hỏi tiếng làng xa từ đâu, ở đâu và câu thơ cũng có thể hiểu là một sự phủ định hoàn toàn đâu có tiếng làng xa Dù hiểu thế nào chăng nữa thì âm thanh tiếng làng xa là âm thanh của sự sống của con
người Âm thanh ấy quá nhỏ bé và yếu ớt nên âm thanh ấy gợi cho tác giả một nỗi buồn vô hạn Điều đáng buồn hơn có lẽ bởi âm thanh đó là âm thanh
từ buổi chợ chiều đã văn nên càng não nề âm thanh tiếng làng xa trong buổi chợ chiều đã vãn trong thơ Huy Cận lại rất mơ hồ Bởi vậy âm thanh đó có dường như không có nên xung quanh nhân vật trữ tình chi là một không gian vắng lặng, quạnh quẽ nao lòng Và trước mắt Huy Cận là một hình ảnh thiên nhiên kì vĩ nhưng choáng ngợp nỗi buồn bởi sự vắng vẻ:
Nắng xuống, trời lên sâu chót vớt, Sông dài, trời rộng, bến cô liêu
Trong câu thơ trên Huy Cận đã sử dụng nghệ thuật đối lập giữa nắng xuống đối với trời lên Câu thơ đã tái hiện sự chuyển động nhịp nhàng của thiên nhiên Khi ánh nắng chiều chiếu xuống dòng sông cũng là lúc bầu trời chuyển động lên cao và dòng sông như dài hơn, rộng hơn Trước mắt Huy Cận là một không gian thiên nhiên kì vĩ, choáng ngợp Người đọc dễ dàng nhận thấy cái mới của thơ mới trong thơ Huy Cận qua cách tác giả dùng từ sâu chót vót chứ không phải cao chót vót Bởi lẽ từ cao là từ chỉ độ cao của bầu trời còn từ sâu gợi cho ta mối liên tưởng đến hình ảnh vòm trời phản chiếu vào lòng sông tạo nên một không gian vừa cao, vừa sâu và vừa rộng Với nghệ thuật liệt kê, tác giả đã tái hiện những hình ảnh thiên nhiên đó là hình ảnh sông dài, trời rộng, bến cô lieu Hình ảnh sông dài, trời rộng gợi ra trước mắt nhà thơ vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên nhưng hình ảnh bến có lieu lại gợi sự buồn vắng của cảnh vật Trước khung cảnh sông nước bầu trời và bờ bến tràng giang con người thật bé nhỏ và bất chợt cảm nhận được noi buồn sâu thắm trong tâm hồn
LĐ 3: Nhận xét làm rõ tình người, tình đời và lòng yêu nước thầm kín mà thiết tha của Huy Cận Trước hết, người đọc cảm nhận được tình người của nhà thơ
đó chính là tình yêu thiên nhiên Huy Cận cảm nhận được cái hồn của cảnh vật tràng giang Ông cảm nhận được nỗi sầu trăm ngả của dòng nước, ông cảm nhận được sự lạc lõng của con thuyền và cảnh củi bé nhỏ Không chỉ cảm nhận được tình người, người đọc còn cảm nhận được tình đời của Huy Cận Lòng yêu nước thầm kín mà thiết tha đó chính là tình yêu thiên nhiên, tình yêu con người, sự đồng cảm với những kiếp người bé nhỏ trong xã hội
cũ Lòng yêu nước thầm kín mà thiết tha chính là tâm trạng cô đơn của nhà thơ trước cảnh nước mất nhà tan Tinh người, tình đời và lòng yêu nước thầm kín mà thiết tha của Huy Cận chính là vẻ đẹp tâm hồn của ông nói riêng và của những nhà thơ mới nói chung
Trang 5KẾT BÀI: Đoạn thơ miêu tả hình ảnh dòng sông mênh mang, rộng lớn nhưng vắng vẻ, đượm buồn Đoạn thơ đã góp phần hoàn thiện bức tranh thiên nhiên tràng giang, gợi được những ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả mỗi khi đọc bài thơ Tràng giang Thơ ca chân chính phải là nguồn thức ăn tinh thần, nuôi tâm hồn phát triển Thật vậy, chính tình người, tình đời và lòng yêu nước thầm kín mà thiết tha của Huy Cận là nguồn thức ăn tinh thần, muôi tâm hồn
ta phát triển
Đề bài: Phân tích hai khổ thơ tiếp theo của bài Tràng Giang
-Bài làm:
Hai đoạn thơ thuộc hai khổ cuối của bài thơ, đoạn thơ miêu tả hình ảnh dòng sông tràng giang mênh mang, vắng vẻ và tâm trạng nhớ quê hương của nhà thơ khi bóng chiều buông Qua đó, người đọc cảm nhận rõ tình người, tình đời
và lòng yêu nước thầm kín mà thiết tha của Huy Cận đã góp phần làm nên sắc thái rất riêng, rất Huy Cận
Tổng
Mở đầu đoạn trích, nhà thơ tập trung miêu tả khung cảnh dòng sông vắng vẻ bởi dòng sông ấy không có một cây cầu, không một con đò để nối hai bờ vui:
Bèo dạt về đâu, hàng nổi hàng;
Mênh mông không một chuyển đò ngang
Không cầu gọợi chút niềm thân mật, Lặng lễ bờ xanh tiếp bãi vàng
Hiện lên trong câu thơ của Huy Cận không chỉ có một hay hai cánh bèo, mà
là rất nhiều cánh bèo hàng nối hàng Nhưng những cánh bèo nối nhau đó không biết trôi về đâu Hình ảnh cánh bèo trôi nổi vô định trên dòng tràng giang trong thơ Hụy Cận gợi cho người đọc liên tưởng đến hình ảnh những bông hoa bé nhỏ về phương trời vô định trong thơ của Nguyễn Du:
Buồn trong con nước mới sa
Hoa trôi man mác biết là về đâu
(Truyện Kiều)
Hình ảnh những cánh bèo hàng nối hàng gợi những cảm xúc xa xôi trong lòng Huy Cận Nhà thơ sống trong cảnh mất nước, nô lệ nên đã cảm nhận được cả thế hệ thanh niên lúc đó cũng như mình đang vật vờ, lênh đênh trôi dạt, bị cuộc đời cuốn đi nhưng không biết đi về đâu Trước mắt tác giả vẫn là
Trang 6cảnh dòng sông quạnh quẽ không một chuyển đò, không một cây cầu để nối
bờ vui:
Mênh mông không một chuyển đò ngang Không cầu gợi chút niềm thân mật
Tác giả sử dụng cấu trúc phủ định không không để khẳng định hoàn toàn
sự vắng vẻ đến quạnh quẽ Trước mắt nhà thơ giờ đây chi là một khoảng có một thiên nhiên mênh mông, mênh mông vì không có một cây cầu, không có một con đỏ ngang Cây cầu hay chuyến đỏ ngang chính là hai hình ảnh thiên nhiên mới lạ xuất hiện trong Tràng giang Hai hình ảnh đó thể hiện một cảm xúc mới mê của một nhà thơ mói đó chính là sự khát khao giao cảm với đời Những tính từ chi màu sắc xanh, vàng gợi tả hình ảnh thiên nhiên đẹp, thơ mộng nhưng đượm buồn bởi sự vắng vẻ của bờ bãi tràng giang Không gian tràng giang vắng vẻ quạnh quẽ bởi tâm thế buồn bã, cô đơn của Huy Cận Ấn tượng của người đọc về khổ thơ trên đó chính là cảm giác cô đơn của nhà thơ trước bến bờ sông tràng giang im lim trải dài như tới vô tận, không có hình bóng, dấu vết và hơi ấm của con người
Kết thúc bài thơ là một bức tranh thiên nhiên rực rỡ và kì vĩ đó là cảnh hoàng hôn trên sông và nỗi nhớ nhà của tác giả:
Lớp lớp máy cao đùn núi bạc, Chim nghiêng cảnh nhỏ: bóng chiều sa
Lòng quê dợn dợn vời con nước, Không khỏi hoàng hôn cũng nhớ nhà
Hiện lên trước mắt người đọc là cảnh một buổi chiều hoàng hôn trên sông nước tràng giang được vẽ với những nét về chấm phá rất cổ điển đó là những hình ảnh mây và cánh chim Hình ảnh đầu tiên hiện lên trong buổi hoàng hôn
ấy là hình ảnh lớp lớp mây cao Từ láy lớp lớp chỉ số nhiều đã khiển người đọc tưởng tượng ra hình ảnh một ngọn núi mây trắng khổng lồ màu bạc như một ngọn núi bạc
Huy Cận đã vận dụng rất tài tình động từ dùn, khiến mây như chuyển động,
có nội lực từ bên trong, từng lớp từng lớp mây cứ dùn ra mãi Từ đùn trong thơ Huy Cận được khơi nguồn cảm hứng từ một tứ thơ Đường cổ của Đỗ Phủ: Mặt đất mây đìm cửa ải xa Nhưng hình ảnh máy đùn cửa ải xa trong thơ Đỗ Phủ lại mang vẻ dữ dội của thiên nhiên Trung Quốc thời kì loạn lạc còn hình ảnh mây đùm núi bạc trong Tràng giang lột tả được vẻ đẹp kì vĩ của thiên nhiên Việt Nam vào buổi trời chiều
Trang 7Tạo nên vẻ đẹp cổ điển của bài thơ không chỉ có hình ảnh đám mây mà còn
có hình ảnh ánh chim nhỏ đang chao liệng giữa bầu trời rộng lớn Huy Cận đã
sử dụng mô típ lấy cánh chim để gợi buổi chiều trong thơ xưa để miêu tả hình ảnh hoàng hôn trên sông Vẻ đẹp cổ điển ấy được kết hợp với dấu hai chấm rất hiện đại trong câu thơ tạo một câu thơ hay Dấu hai chấm này gợi mối quan hệ giữa chim và bóng chiều Chim nghiêng cánh nhỏ kéo bóng chiều, cùng sa xuống mặt tràng giang, hay chính bóng chiều sa, đè nặng lên cánh chim nhỏ làm nghiêng đi Nhà thơ Lưu Trọng Lư đã viết Một câu thơ hay
là một câu thơ có sức gợi Câu thơ Chim nghiêng cánh nhỏ: bòng chiều sa không chi gợi không gian rộng lớn của bầu trời mà còn gợi được thời gian tựa như câu thơ của Hồ Chí Minh: Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ (Chiều tối)
Vẻ đẹp cổ điển của đoạn thơ không chỉ thể hiện qua những hình ảnh mô típ
mà thể hiện ở kết cấu của khổ thơ tựa như một bài thơ tứ tuyệt Nếu hai câu đầu tả cảnh thiên nhiên thì hai câu cuối tả tình- tả nỗi nhớ nhà da diết của Huy Cận:
Lòng quê dợn dợn vời con nước, Không khỏi hoàng hôn cũng nhớ nhà
Từ láy dợn dợn diễn tả chuyển động uốn lên uốn xuống nhẹ nhàng không dứt của mặt nước khi bị dao động Hình ảnh dợn dợn vời con nước vừa diễn tả sóng lan ra vừa gợi nỗi buồn miên man, nỗi nhớ da diết cho thi nhân Đó là nỗi nhớ của người xa quê chạnh lòng nhớ tới quê hương xứ sở:
Không khỏi hoàng hôn cũng nhớ nhà Thôi Hiệu nhà thơ đời Đường khi xa quê, đứng trên lầu Hoàng Hạc nhìn sương khói trên dòng Trường giang ngỡ như khói lam chiều và nhà thơ dấy lên nỗi nhớ nhà Nỗi nhớ nhà của Thôi Hiệu phải có sự tác động của ngoại ảnh đến tâm cảnh, Huy Cận không cần yếu tố ngoại cảnh không khỏi hoàng hôn gợi
về một bếp lửa có người thân đang quây quần cũng nhớ nhà tha thiết Có nghĩa là, nỗi nhớ quê hương của Huy Cận còn mãnh liệt và sâu sắc, cao độ hơn thành một tình cảm thường trực Đây là tâm trạng rất hiện thực và điển hình của người dân yêu nước sống trong cảnh mất nước khi đứng trên quê hương mình mà vẫn nhớ quê hương mình Đó chính là tình yêu nước kín đáo
mà sâu sắc của Huy Cận
KẾT BÀI: Đoạn thơ miêu tả hình ảnh sông nước Tràng Giang mênh mang, vắng vẻĐoạn thơ thể hiện nỗi nhớ nhà của HC khi nhìn bóng chiều sa trên sông, gợi được những ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả mỗi khi đọc bài thơ Tràng giang Thơ ca chân chính phải là nguồn thức ăn tinh thần, nuôi tâm hồn phát triển Thật vậy, chính tình người, tình đời và lòng yêu nước thầm kín
mà thiết tha của Huy Cận là nguồn thức ăn tinh thần, muôi tâm hồn ta phát triển