1. Trang chủ
  2. » Tất cả

NGỮ VĂN 11-Đề cương ôn tập-2021

16 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 124 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thơ mới là tiếng nói của cái tôi cá nhân trước tạo vật và cuộc đời, thoát khỏi hệ thống qui ước có tính phi ngã, phát hiện nhiều điều mới lạ về thiên nhiên và lòng người…Thơ ca cách mạng

Trang 1

CHUYÊN ĐỀ 2 : VHVN TỪ ĐẦU THẾ KỈ XX ĐẾN CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945

I ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA VHVN TỪ ĐẦU THẾ KỈ XX ĐẾN CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945

1 Nền văn học được hiện đại hóa

2 Nhịp độ phát triển nhanh chóng

3 Sự phân hóa phức tạp thành nhiều xu hướng văn học

a Bộ phận văn học phát triển hợp pháp

Tiêu biểu là phong trào Thơ mới, nhóm Tự lực văn đoàn và văn học Hiện thực phê phán

b Bộ phận văn học phát triển bất hợp pháp và nửa hợp pháp

Là tiếng nói của các chiến sĩ và quần chúng nhân dân tham gia cách mạng

Tiêu biểu như Phan Bội Châu, Hồ Chí Minh, Tố Hữu…

II THÀNH TỰU CỦA VHVN TỪ ĐẦU THẾ KỈ XX ĐẾN CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945.

1 Về nội dung tư tưởng

VHVN tiếp tục phát huy 3 truyền thống tư tưởng lớn trên tinh thần dân chủ, mang đến cho văn học những nội dung mới: lòng yêu nước gắn liền với tinh thần quốc tế vô sản, chủ nghĩa nhân đạo gắn với sự thức tỉnh của ý thức cá nhân, chủ nghĩa anh hùng gắn với lí tưởng cộng sản

2 Về hình thức thể loại và ngôn ngữ văn học

- Tiểu thuyết và truyện ngắn phát triển mạnh nhất Văn xuôi quốc ngữ dần được hiện đại hóa, tiểu thuyết hiện đại chú trọng xây dựng tính cách nhân vật, đi sâu vào nội tâm nhân vật, sử dụng bút pháp tả thực…

- Phóng sự ra đời gây chú ý

- Bút kí, tùy bút cũng phát triển mạnh

- Kịch nói cũng là một thành tựu đáng kể

- Thơ ca nổi bật với nhiều tập thơ đặc sắc Thơ mới là tiếng nói của cái tôi cá nhân trước tạo vật và cuộc đời, thoát khỏi hệ thống qui ước có tính phi ngã, phát hiện nhiều điều mới lạ về thiên nhiên và lòng người…Thơ ca cách mạng như một thứ vũ khí sắc bén để chiến đấu chống kẻ thù và truyền bá

tư tưởng yêu nước…

Trang 2

HAI ĐỨA TRẺ Thạch Lam.

ITác giả:

1 Cuộc đời (1910-1942)

- Tên khai sinh Nguyễn Tường Vinh, sau đổi là Nguyễn Tường Lân

- Sinh ở HN trong một gia đình công chức gốc quan lại, có truyền thống văn chương Là thành viên của nhóm TLVĐ, vừa làm báo vừa viết văn

- Là người đôn hậu, tinh tế, quan niệm văn chương lành mạnh, tiến bộ; có biệt tài về truyện ngắn

2 Sự nghiệp sáng tác:

- Sáng tác nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, tiểu luận, tùy bút…

- Đặc điểm truyện ngắn TL : truyện không có cốt truyện, chù yếu khai thác thế giới nội tâm nhân vật; mỗi truyện như một bài thơ trữ tình; giọng văn điềm đạm, chứa đựng nhiều tình cảm, sự nhạy cảm của tác giả trước biến thái của cảnh vật và lòng người; văn TL trong sáng, giản dị, thâm trầm, sâu sắc

- Các tác phẩm chính: SGK

II Tác phẩm Hai đứa trẻ.

1 Hoàn cảnh sáng tác

- Bối cảnh phố huyện nghèo ở Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám/1945

- In trong tập Nắng trong vườn-1938.

2 Nhan đề:

- Nhan đề Hai đứa trẻ vừa giới thiệu được hai nhân vật trung tâm của tác phẩm, đó là Liên và An,

vừa thể hiện được không gian truyện đầy êm dịu, đẫm chất thơ, gợi dậy cảm xúc đồng điệu nơi người đọc qua cái nhìn trẻ thơ

- Nhan đề nhấn mạnh vào thế giới trong ngần mà những đứa trẻ sở hữu, gợi nhắc mỗi chúng ta về

những gì tinh khôi nhất mà mỗi người chúng ta đều từng có? Có lẽ cũng chính vì thế mà Hai đứa

trẻ đem lại cảm giác đồng điệu nơi người đọc, khi ôm ấp một cuộc hành trình trở về những gì trong

trẻo nhất của mỗi người

- Nhan đề Hai đứa trẻ đem lại giá trị nhất định cho tác phẩm:

+ Giá trị nội dung: Góp phần thể hiện nội dung chủ đạo của tác phẩm, đó là tấm lòng thương cảm sâu xa của Thạch Lam đối với những kiếp sống tối tăm, mòn mỏi và thái độ nâng niu, trân trọng của ông đối với những tâm hồn trẻ thơ nơi phố huyện

+ Giá trị nghệ thuật: Nhan đề góp phần khẳng định ngòi bút giàu tâm tình, bình dị mà gợi cảm của Thạch Lam

3 Giá trị nội dung:

- Giá trị hiện thực: tái hiện bức tranh phố huyện với cảnh ngày tàn, chợ tàn, những kiếp người tàn qua cảm nhận của hai đứa trẻ

- Giá trị nhân đạo:

+ Thể hiện niềm cảm thương chân thành của TL đối với những kiếp sống nghèo khổ, chìm khuất trong mòn mỏi tăm tối, quẩn quanh nơi phố huyện trước Cách mạng tháng Tám

+ Trân trọng những mơ ước nhỏ bé, bình dị mà tha thiết của họ

4 Giá trị nghệ thuật

- Cốt truyện đơn giản, đặc biệt là những dòng tâm trạng trôi chảy, những xúc cảm mong manh, mơ

hồ trong tâm hồn nhân vật

- Bút pháp tương phản đối lập

- Miêu tả sinh động những biến đổi tinh tế của cảnh vật và tâm trạng con người

- Ngôn ngữ, hình ảnh giàu ý nghĩa tượng trưng

- Giọng điệu thủ thỉ thấm đượm chất thơ,chất trữ tình sâu lắng

Trang 3

CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ Nguyễn Tuân.

ITác giả

1 Cuộc đời: (1910 – 1987)

- Người Hà Nội, xuất thân trong gia đình nhà nho khi Hán học đã tàn

- Là nghệ sĩ tài hoa, uyên bác, có cá tính độc đáo

- Viết văn, làm báo, phục vụ kháng chiến

- Có vị trí quan trọng, đóng góp không nhỏ đối với VHVN hiện đại

2 Sự nghiệp sáng tác

- Sáng tác nhiều thể loại, đặc biệt thành công ở thể loại truyện ngắn và tùy bút

 Là nhà văn lớn, có phong cách riêng, suốt đời đi tìm cái đẹp

IITác phẩm: Chữ người tử tù.

1 Hoàn cảnh sáng tác

- Bối cảnh xã hội Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám/1945

- Trích trong tập Vang bóng một thời – 1940.

2.Nhan đề: Chữ người tử tù.

- Gợi nhắc một thú chơi tao nhã: nghệ thuật thư pháp

- Chứa đựng một sự tương phản đối lập: chữ - gợi cái đẹp, cái tài hoa, cái thiện còn tử tù – gợi cái

xấu xa, tội lỗi

- Song điểm nhấn mạnh ở đây không phải là người tử tù mà là chữ của người tử tù Hướng đến điều

quan trọng của nghệ thuật thư pháp không phải chỉ ở bề mặt hình thức chữ viết mà là thế giới tinh thần ẩn sâu vào bên trong Người viết chữ đẹp phải là người có nhân cách phẩm chất tốt đẹp, có tâm hồn thanh sạch, biết cảm nhận, thưởng thức và tái tạo cái đẹp Vậy nhan đề đã gợi sự tò mò của

người đọc trong tìm hiểu nhân vật chính và tìm hiểu tác phẩm.- Nói chữ người tử tù là muốn nói tới

vẻ đẹp của tài năng và tâm hồn người tử tù Đó là nhân tố trung gian gắn kết những người tri kỷ với nhau

3.Giá trị nội dung:

- Ngợi ca những con người tài hoa, khí phách, thiên lương

- Bộc lộ quan niệm về cái đẹp và niềm tin mãnh liệt vào sự bất diệt của cái đẹp : cái đẹp phải toàn diện (cái đẹp phải gắn liền với cái thiện, chữ tài phải gắn với chữ tâm, chữ dũng); cái đẹp luôn bất

tử

- Gửi gắm tấm lòng yêu nước thầm kín

4 Giá trị nghệ thuật

- Nghệ thuật kể chuyện giàu kịch tính

- Nghệ thuật tạo tình huống truyện độc đáo, đặc sắc, xây dựng tính cách, tâm lý nhân vật sâu sắc, tài dựng cảnh, tạo không khí cổ xưa

- Sử dụng thánh công thủ pháp tương phản, đối lập (cảnh, nhân vật)

- Ngôn ngữ góc cạnh, giàu hình ảnh, có tính tạo hình, vừa cổ kính vừa hiện đại Sử dụng từ Hán Việt tạo màu sắc lịch sử cổ kính, bi tráng, hình ảnh có giá trị biểu tượng cao (ánh sáng, bóng tối)

Trang 4

HẠNH PHÚC CỦA MỘT TANG GIA

(trích Số đỏ)

Vũ Trọng Phụng.

I.Tác giả Vũ Trọng Phụng

1.Cuộc đời (1912 – 1939)

- Quê quán: Hưng Yên nhưng sinh ra, sống nhiều ở Hà Nội

- Là nhà văn hiện thực xuất sắc trước Cách mạng

- Cuộc sống chật vật bấp bênh, mất sớm vì bệnh lao

2 Sự nghiệp sáng tác

- Là cây bút có sức sáng tạo dồi dào, khối lượng tác phẩm đồ sộ, chủ yếu ở thể phóng sự, tiểu thuyết…

* Các tác phẩm tiêu biểu: SGK

- Nội dung: Toát lên niềm căm phẫn đối với XH đen tối thối nát đương thời

II Đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia (trích Số đỏ)

1.Hoàn cảnh sáng tác

- Bối cảnh xã hội Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám/1945

- Trích trong chương XV của tiểu thuyết Số đỏ - một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của VHVN, có thể làm vinh dự cho mọi nền văn học (Nguyễn Khải)

2.Nhan đề: Do nhà biên soạn sách đặt

- Nhan đề lạ, dùng nghệ thuật đối lập: tang gia: nỗi buồn, sự mất mát khi gia đình có người chết, là bất hạnh nhưng lại là hạnh phúc: sự thỏa mãn vì đạt được điều mình mong muốn.

- Ý nghĩa:

+ Kích thích trí tò mò ở người đọc

+ Phản ánh đúng sự thật của một tình huống thật trớ trêu: cái chết của một người làm nhiều người hạnh phúc

=> Nhan đề đã chứa đựng mâu thuẫn trào phúng, hàm chứa tiếng cười chua chát, phản ánh một sự

thật mỉa mai, hài hước và tàn nhẫn

3.Giá trị nội dung:

- Bộ mặt thật, bản chất giả dối, lố lăng và đồi bại của XH “ thượng lưu” ở thành thị những năm trước CMT8

- Thái độ phê phán mạnh mẽ của tác giả đối với xã hội đương thời khoác áo “Âu hóa”, “văn minh” cùng nỗi xót xa kín đáo của tác giả trước sự băng hoại đạo đức con người

4.Giá trị nghệ thuật: Nghệ thuật trào phúng bậc thầy

- Tạo dựng tình huống mâu thuẫn cơ bản, từ đó mở ra các tình huống khác

- Xây dựng những chi tết đối lập gay gắt cùng tồn tại trong một con người, sự vật, sự việc

- Xây dựng những bức chân dung biếm hoạ sắc sảo

- Sử dụng một cách tài tình thủ pháp cường điệu, nói ngược, nói mỉa…

- Cách miêu tả biến hóa linh hoạt và sắc sảo đến từng chi tiết, đúng nét riêng của từng nhân vật

- Sự vận dụng tài tình về ngôn ngữ, giọng điệu trào phúng, lột tả được bộ mặt thật của xã hội trưởng giả, Âu hoá văn minh rởm

Trang 5

CHÍ PHÈO Nam Cao

ITác giả Nam Cao

1.1 Vài nét về tiểu sử và con người

a Tiểu sử (1917-1951): Tên khai sinh Trần Hữu Tri, sinh ra trong một gia đình nông dân tại làng Đại Hoàng, tổng Cao Đài, tỉnh Hà Nam Cuộc đời luôn phấn đấu vươn lên không ngừng: nhà giáo, nhà văn, nhà cách mạng, hoạt động văn hóa phục vụ kháng chiến…

b.Con người: có ba đặc điểm chi phối sâu sắc đến sáng tác

-Bề ngoài vụng về, ít nói, có vẻ lạnh lùng nhưng đời sống nội tâm thì luôn sôi sục, diễn ra cuộc xung đột giữa lòng nhân đạo và thói ích kỉ, giữa tinh thần dũng cảm và thái độ hèn nhát, giữa tính chân thực và sự giả dối, giữa khát vọng tinh thần cao cả và dục vọng thấp hèn

-Giàu ân tình đối với những người nghèo khổ bị áp bức và khinh miệt trong xã hội cũ

-Luôn suy tư về bản thân, cuộc sống, đồng loại, đề ra những khái quát triêt lí sâu sắc đầy tâm huyết 1.2 Sự nghiệp văn học

a Quan điểm về nghệ thuật

- Trước CMT8:

+Nghệ thuật phải bám sát cuộc đời, gắn bó với đời sống của nhân dân lao động Nhà văn phải có đôi mắt của tình thương Tác phẩm văn chương có giá trị phải chứa đựng nội dung nhân đạo sâu sắc .+Viết văn là một hoạt động đòi hỏi phải khám phá, tìm tòi,sáng tạo

+Lao động nghệ thuật là một hoạt động nghiêm túc, công phu, người cầm bút phải có lương tâm và trách nhiệm

- Sau CMT8:

+Nhà văn nhìn người lao động không chỉ bằng con mắt tình thương mà còn bằng con mắt cảm phục ngợi ca

+ Nhà văn phải gắn bó, phục vụ cuộc kháng chiến của dân tộc “Sống đã rồi hãy viết”

b.Các đề tài chính

- Trước cách mạng tập trung hai đề tài chính

+ Người tri thức nghèo.

+ Người nông dân nghèo.

=> Dù ở đề tài nào các sáng tác cũng luôn chứa đựng nội dung triết lí có khả năng khái quát thành

những quy luật chung của đời sống Ông luôn day dứt đớn đau trước tình trạng con người bị xói mòn về nhân phẩm, bị huỷ diệt về nhân tính

- Sau cách mạng T8/1945: viết về cuộc sống, con người kháng chiến.

c Phong cách nghệ thuật:

+Có biệt tài phân tích và diễn tả tâm lí nhân vật, tạo được nhiều đoạn đối thoại và độc thoại nội tâm rất chân thật, sinh động

+Thường viết về cái nhỏ nhặt, bình thường nhưng có sức khái quát lớn và đặt ra những vấn đề xã hội lớn lao, nêu những triết lí nhân sinh sâu sắc

+Giọng văn tỉnh táo sắc lạnh mà nặng trĩu suy tư, buồn thương chua chát mà đằm thắm yêu thương Ngôn từ sống động, tinh tế mà giản dị, gần gũi

II Tác phẩm Chí Phèo.

1 Hoàn cảnh sáng tác: viết 1941, thuộc đề tài người nông dân nghèo trước CM

2 Nhan đề: đã trải qua 3 lần đổi tên

+ Cái lò gạch cũ : là tên gọi đầu tiên của truyện, do nhà văn Nam Cao đặt, phản ánh thân phận của

một người nông dân ngay từ khi ra đời đã không được hưởng quyền sống của con người, là sự kết cấu vòng của truyện, một chi tiết nghệ thuật đầy ám ảnh, thể hiện sự quẩn quanh, bế tắc không lối thoát của kiếp người nông dân bị bần cùng hóa, lưu manh hóa

+ Đôi lứa xứng đôi: Tên do Nhà xuất bản Đời Mới (Hà Nội) tự ý đổi khi in thành sách lần đầu, năm

1941, phù hợp không khí văn chương lãng mạn đương thời, mục đích lôi cuốn người đọc

+ Chí Phèo: Tên được nhà văn Nam Cao đổi lại khi in trong tập Luống cày 1946, khái quát được

toàn bộ tấn bi kịch bị tha hóa của người nông dân nghèo trước CM 8/1945, góp phần nổi bật giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm

Trang 6

3 Giá trị nội dung:

- Giá trị hiện thực: Phản ánh tình trạng một bộ phận nông dân bị tha hóa, mâu thuẫn giữa nông dân

và địa chủ, giữa các thế lực ác bá ở địa phương, kết án đanh thép xã hội tàn bạo tàn phá cả thể xác tâm hồn người lao động

-Giá trị nhân đạo:Cảm thương sâu sắc trước cảnh người nông dân cố cùng bị lăng nhục, phát hiện, miêu tả phẩm chất tốt đẹp của người nông dân ngay khi họ bị vùi dập mất cả nhân hình , nhân tính,

và niềm tin vào bản chất lương thiện của con người

4.Nghệ thuật

- Xây dựng nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình

- Miêu tả tâm lí nhân vật sắc sảo

- Kết cấu tác phẩm mới mẻ, tưởng như tự do nhưng lại rất chặt chẽ logic

-Cốt truyện và các tình tiết hấp dẫn, biến hóa giàu kịch tính

- Ngôn ngữ sống động, vừa điêu luyện lại vừa gần gũi tự nhiên, giọng điệu đan xen biến hóa, trần thuật linh hoạt

Trang 7

VĨNH BIỆT CỬU TRÙNG ĐÀI

(trích Vũ Như Tô)

Nguyễn Huy Tưởng.

I Tác giả

1 Cuộc đời: Nguyễn Huy Tưởng (1912 - 1960)

- Xuất thân trong gia đình nhà nho ở tỉnh Bắc Ninh

- Tham gia CM trên lĩnh vực văn hóa, văn nghệ

- Là nhà văn có thiên hướng khai thác đề tài lịch sử, có đóng góp quan trọng ở thể loại tiểu thuyết và kịch, đặc biệt là kịch lịch sử

2 Sự nghiệp sáng tác:

- Gồm nhiều thể loại: Kịch, kịch bản phim, tiểu thuyết, kí

- Văn phong vừa giản dị, trong sáng, vừa đôn hậu, thâm trầm, sâu sắc

II Đoạn trích: Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài.

1 Hoàn cảnh sáng tác: được sáng tạo từ sự kiện lịch sử có thật xảy ra ở Thăng Long vào khoảng năm 1516-1517 Vở kịch viết xong vào mùa hè năm 1941, ban đầu có ba hồi, sau đó viết tiếp thành

5 hồi

2 Nhan đề:

- Vĩnh biệt: chia lìa, biến mất vĩnh viễn

- Cửu Trùng Đài:

+ Là một công trình kiến trúc tuyệt tác được xây bằng tài hoa tuyệt đỉnh và tâm huyết của Vũ Như

Tô Với VNT thì Cửu Trùng Đài là phần tâm hồn, là sinh mệnh CTĐ còn được xây dựng bằng khát vọng cao đẹp, lý tưởng đẹp, tình tri kỉ

+ Nhưng Cửu Trùng Đài còn là hiện thân cho cái đẹp xa hoa, đi ngược lại với lợi ích của người lao động

+ Do đó Cửu Trùng Đài là hiện thân cho số phận mong manh của cái đẹp

 Nhan đề Vĩnh biệt CTĐ có nghĩa là chia lìa với một biểu tượng của quyền lực, nơi ăn chơi của

vua; chia lìa với mộng lớn của VNT; với niềm kiêu hãnh của nước nhà của ĐT, với món nợ mồ hôi

xương máu của nhân dân và nó đặt ra nhiều suy nghĩ cho người đọc, cho văn nghệ sĩ đương thời 3.Giá trị nội dung

- Tác giả đặt ra những vấn đề sâu sắc, có ý nghĩa muôn thuở về cái đẹp, về mối quan hệ giữa người nghệ sĩ và nhân dân

- Niềm cảm thông, trân trọng những người nghệ sĩ tài năng, giàu khát vọng nhưng chịu số phận đau thương

4 Giá trị nghệ thuật.

- Khai thác sáng tạo nguồn sử liệu phù hợp với yêu cầu của kịch

- Ngôn ngữ kịch điêu luyện, có tính tổng hợp cao, nhịp điệu lời thoại nhanh

- Tính cách nhân vật được bộc lộ rõ nét qua ngôn ngữ và hành động

- Các lớp kịch được chuyển hóa linh hoạt, tự nhiên liền mạch dẫn dắt và đẩy xung đột kịch đến cao trào

Trang 8

VỘI VÀNG Xuân Diệu

I Tác giả Xuân Diệu

1.Cuộc đời

1.1 Tiểu sử:

-Xuân Diệu (1916 - 1985) tên khai sinh Ngô Xuân Diệu, quê nội ở làng Trảo Nha, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh, lớn lên ở quê mẹ Bình Định - Quy Nhơn Sau khi đỗ tú tài, ông đi dạy học tư, làm viên chức ở Mĩ Tho Sau đó ra Hà Nội tham gia cách mạng, hăng say hoạt động trong lĩnh vực văn hoá nghệ thuật

-Năm 1996, Xuân Diệu được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật

1.2 Con người

-Là một trí thức Tây học, Xuân Diệu chịu ảnh hưởng rất đậm tư tưởng, văn hoá phương Tây (chủ yếu là văn hoá Pháp), đồng thời cũng thừa hưởng văn hoá phương Đông, văn hoá Hán học từ cha của mình

-Xuân Diệu sống trong thời đại lịch sử có nhiều biến cố dữ dội, bản thân lại sống xa mẹ từ nhỏ nên ông luôn khao khát tình thương

2.Sự nghiệp văn học

-Xuân Diệu là một tài năng đa dạng Ông sáng tác thơ, văn xuôi, viết phê bình, nghiên cứu, dịch thuật, nhưng nổi bật nhất vẫn là thơ

-Hành trình sáng tác của Xuân Diệu chia làm hai giai đoạn:

+Trước CM8:

 Là một trong những nhà thơ của phong trào Thơ mới và là "nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới" (Hoài Thanh)

 Xuân Diệu đã đem đến cho thơ ca đương thời một sức sống mới, một nguồn cảm xúc mới, thể hiện một quan niệm sống mới mẻ cùng những cách tân nghệ thuật độc đáo Thơ ông bộc lộ những cảm xúc yêu đời, yêu cuộc sống, niềm khát khao giao cảm và khẳng định cái tôi cá nhân

 Thơ Xuan Diệu thể hiện một quan điểm thẩm mĩ mới mẻ: khi miêu tả thiên nhiên và cuộc sống, ông lấy vẻ đẹp của con người làm chuẩn mực

 Về nghệ thuật, đóng góp của Xuân Diệu cho thơ ca đương thời là ở cách nhìn và cảm thụ thế giới Điều đó đã giúp Xuân Diệu sáng tạo một thế giới nghệ thuật đầy xuân sắc và tình tứ trong đó chuẩn mực của cái đẹp không phải là thiên nhiên mà là con người - con người ở giữa tuổi trẻ và tình yêu

 Tác phẩm chính: Thơ thơ (1938), Gửi hương cho gió (1945), Phấn thông vàng (tập truyện ngắn-1939)

+Sau CM8:

 Cái tôi cá nhân hoà với cái ta của cả dân tộc tạo nên những vần thơ sôi nổi

 Thơ ông giàu chất hiện thực và tính thời sự; cảm xúc rộng mở, hướng về Tổ quốc, nhân dân, về Đảng, về Bác, xây dựng đất nước với niềm lạc quan tin tưởng

 Tác phẩm chính: Ngọn quốc kì (1945), Riêng chung (1960)

-Xuân Diệu là cây bút có sức sáng tạo mãnh liệt, bền bĩ, có nhiều đóng góp cho sự phát triển của Văn học Việt Nam hiện đại Ông xứng đáng với danh hiệu là một nhà thơ lớn, một nghệ sĩ lớn, một nhà văn hoá lớn của dân tộc

II Tác phẩm Vội Vàng

1 Xuất xứ: In trong tập Thơ thơ (1938), tập thơ đầu tay khẳng định vị trí của Xuân Diệu _ nhà thơ

"mới nhất trong các nhà thơ mới" (Hoài Thanh)

2.Nội dung trọng tâm

a.13 câu đầu: Tình yêu cuộc sống đắm say, mãnh liệt

-4 câu: Mở đầu là một khổ thơ ngũ ngôn với giọng thơ rắn rỏi cùng điệp ngữ, điệp cấu trúc câu "Tôi muốn", thi nhân đã bộc lộ một ước muốn táo bạo, mạnh liệt, kì lạ và phi lí: đoạt quyền của tạo hoá

để giữ mãi vẻ đẹp, hương sắc của thiên nhiên, của cuộc sống, của tuổi xuân Chính từ ước muốn

Trang 9

này, người đọc cảm nhận được tình yêu cuộc sống mãnh liệt của một hồn thơ nhạy cảm, lãng mạn, bồng bột, yêu đời và đắm say

-7 câu:

+Thi nhân phát hiện và say sưa ca ngợi một thiên đường ngay trên mặt đất với bao nguồn hạnh phúc

kì thú:" Của ong bướm này đây tuần tháng mật - Này đây hoa của đồng nội xanh rì - Này đây lá của cành tơ phơ phất - Của yến anh này đây khúc tình si" Đó là một bức tranh thiên nhiên đẹp, tràn trề sức sống, tràn ngập xuân sắc, xuân tình được miêu tẩ bằng những hình ảnh vừa quen thuộc, gần gũi, vừa mơn mởn, trinh nguyên, tươi mát, quyến rũ, tình từ Xuân Diệu đã thổi vào đấy một tình yêu rạo rực, đắm say, ngây ngất và thi nhân như muốn hoà tan vào đấy để mà tận hưởng, chiểm lĩnh

+Nhà thơ bộc lộ một quan điểm thẩm mĩ mới về cái đẹp qua cách so sánh táo bạo, độc đáo, có sự chuyển đổi cảm giác: Tháng giêng ngon như một cặp môi gần" Với Xuân Diệu con người là trung tâm của bức tranh thiên nhiên và vẻ đẹp của con người, nhất là người phụ nữ là chuẩn mực để đo vẻ đẹp thiên nhiên

+Từ đó, Xuân Diêu đã đưa đến một quan niệm mới mẻ tích cực về cuộc sống, về tuổi trẻ, về hạnh phúc: Trong thế giới này đẹp nhất, quyến rũ nhất là con người ở giữa tuổi trẻ và tình yêu

-2 câu: Trước vẻ đẹp của thiên nhiên, cuộc sống, Xuân Diệu bộc lộ tâm trạng sung sướng, hân hoan, yêu đời ham sống nhưng gấp gáp, vội vàng vì cảm giác tiếc nuối thời gian vẫn luôn tồn tại trong lòng nhà thơ: "Tôi sung sướng Nhưng vội vàng một nửa - Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân"

b 16 câu tiếp theo: Quan niệm mới về thời gian

-Tác giả quan niêm thời gian tuyến tính, một đi không trở lại, mỗi phút giây trôi qua là mất đi vĩnh viễn (đó là cái khác biệt trong sự cảm nhận thời gian so với người xưa của Xuân Diệu) Từ đó, tác giả bộc lộ tâm trạng băn khoăn, tiếc nuối về sự ngắn ngủi, mong manh của kiếp người trước sự trôi chảy nhanh chóng của thời gian: "Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua _ Nên băn khoăn tôi tiếc cả đất trời"

-Cảm nhận đầy bi kịch về sự sống, mỗi khoảnh khắc trôi qua là một sự mất mát, chia lìa, tàn phai, héo úa: "Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi _Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa" Vì thế, nha fthow bộc lộ tâm trạng lo âu, sợ hãi, chán chường tuyệt vọng: "Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa "

-Từ cảm thức về thời gian, Xuân Diệu đã bộc lộ sự thức tỉnh sâu sắc về cái tôi cá nhân, về sự tồn tại

có ý nghĩa của mỗi cá nhân trên cõi đời

c 10 câu cuối: Quan niệm sống "vội vàng"

-Không thể níu giữ vẻ đẹp, hương sắc của cuộc đời vậy chỉ còn cách là chạy đua với thời gian, phải sống vội vàng: "Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm"

-Với Xuân Diệu, vội vàng là chạy đua với thời gian để tận hưởng tất cả những gì đẹp đẽ nhất mà cuộc sống mang lại; phải sống mạnh mẽ, đủ đầy với từng phút giây của sự sống _"Sống toàn tâm, toàn trí, toàn hồn - Sống toàn thân và thức nhọn các giác quan" - và thể hiện sự mãnh liệt của một cái tôi đầy ham muốn Việc sử dụng phép điệp từ, những động từ, tính từ mạnh ở khổ cuối đã nói lên tình cảm đắm say, tha thiết, nồng nhiệt của nhà thơ với sự sống

* "Vội vàng" là bài thơ thể hiện rất rõ ý thức cá nhân của cái tôi trong thơ Mới; là lời giục giã sống mãnh liệt, sống hết mình, quý trọng từng giây từng phút của cuộc đời mình, nhất là những tháng năm tuổi trẻ của nhà thơ.

3.Nghệ thuật đặc sắc:

-Sự kết hợp giữa mạch cảm xúc và mạch luận lí

-Cách nhìn, cách cảm mới và những sáng tạo độc đáo về ngôn từ, hình ảnh thơ

-Giọng điệu say mê, sôi nôi, hối hả, cuồng nhiệt

TRÀNG GIANG

Trang 10

Huy Cận

I Tác giả Huy Cận

- Tên khai sinh Cù Huy Cận (1919 -2005), quê làng Ân Phú, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.

-Trước CM8: là một trong những nhà thơ xuất sắc của phong trào Thơ mới và chịu ảnh hưởng thơ Đường, thơ tượng trưng Pháp

-Sau CM8: có sự hoà nhập, hoà điệu với cuộc sống mới, con người mới

-Thơ Huy Cận hàm súc, giàu chất suy tưởng triết lí; có sự kết hợp hài hoà giữa cổ điển và hiện đại -Tác phẩm chính: "Lửa thiêng" (1940), "Trời mỗi ngày lại sáng" (1958), "Đất nở hoa" (1960)

-Năm 1996, ông được nhà nước tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật

II Tác phẩm: Vội vàng

1 Xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác

-In trong tập "Lửa thiêng" (1940), tập thơ đầu tay khẳng định vị trí của Huy Cận trong phong trào thơ Mới

-Viết vào mùa thu 1939, khi đứng ở bờ nam bến Chèm nhìn cảnh sông Hồng sóng nước mênh mang tác giả đã cảm hứng viết bài thơ này

2.Ý nghĩa nhan đề và câu đề từ

-Nhan đề: ngắn gọn, hay, giàu ý nghĩa:

+Một từ Hán Việt tạo sắc thái cổ kính, trang trọng mang đậm dấu ấn Đường thi gợi nhớ đến hình ảnh con sông Trường Giang ngàn dặm xa xôi ở Trung Quốc

+Lặp lại vần "ang" (vốn là âm mở) tạo âm hưởng ngân vang, ngân xa gợi nên hình ảnh một con sông lớn, sông dài và rộng mênh mông

-Câu đề từ: mở ra được cái cảnh, cái tình mênh mông, miên man Hai từ "bâng khuâng", "nhơ" chỉ tâm trạng, cảm xúc của cái tôi trữ tình; còn "trời rộng", "sông dài" lại gợi cảnh sông nước, mây trời bao la, vô tận

-Nhan đề kết hợp với câu đề từ: Thâu tóm khá chính xác tình và cảnh trong bài thơ: Nỗi buồn mênh mang, xa vắng trước cảnh trời rộng, sông dài

3 Nội dung trọng tâm

-Khổ 1:

+Ba câu đầu mang đậm màu sắc cổ điển, vẽ lên hình ảnh con thuyền nhỏ nhoi, lênh đênh, trôi dạt trên dòng sông rộng lớn, mênh mông gợi cảm giác buồn, cô đơn, xa vắng, chia lìa

+Câu thứ tư mang nét hiện đại với hình ảnh đời thường: cành củi khô trôi nổi gợi lên cảm nhận về thân phận của những kiếp người nhỏ bé, bơ vơ giữa dòng đời

-Khổ 2:

+Bức tranh "Tràng giang" được hoàn chỉnh thêm với những chi tiết mới: cồn nhỏ, lơ thơ, gió đìu hiu, làng xa, chợ chiều đã vãn, trời sâu chót vót, bến cô liêu nhưng không làm cho cảnh vật sống động hơn mà càng chìm sâu vào tĩnh lặng, cô đơn, hiu quạnh

+Nỗi buồn, nỗi cô đơn của con người tựa hồ như thấm sâu vào không gian ba chiều, khiến con người trở nên nhỏ bé, cô đơn trước vũ trụ bao la, khiến con người không thể không cảm thấy "lạc loài giữa cái mênh mông của đất trời, cái xa vắng của thời gian" (Hoài Thanh)

-Khổ 3:

+Tiếp tục hoàn thiện bức tranh "tràng giang" với những hình ảnh những lớp bèo nối nhau trôi dạt trên sông và những bờ xanh tiếp bãi vàng lặng lẽ Cảnh có thêm màu sắc nhưng chỉ càng gợi thêm

sự tàn tạ, héo úa thấm đẫm cái nhìn buồn của thi nhân

+Qua cái trống vắng của ngoại cảnh, nhà thơ khẳng định cái có thật trong tâm hồn mình: nỗi buồn, nỗi cô đơn vô hạn trước vũ trụ bao la, vô tận Từ đó, bộc lộ niềm khát khao giao cảm với cuộc đời, con người

-Khổ 4:

+Hai câu đầu là bức tranh phong cảnh nên thơ, hoành tráng, kì vĩ Cảnh được gợi lên bởi bút pháp

cổ điển với những hình ảnh ước lệ: mây trắng, cánh chim, bóng chiều Đồng thời cảnh mang dấu ấn tâm trạng của tác giả qua hình ảnh sáng tạo, hiện đại: cánh chim chở nặng bóng chiều

+Hai câu sau, Huy Cận trực tiếp bộc lộ tấm lòng nhớ quê hương tha thiết của mình (So sánh với hai câu thơ của Thôi Hiệu trong bài "Hoàng Hạc lâu")

Ngày đăng: 18/04/2022, 02:15

w