1. Trang chủ
  2. » Tất cả

script with cm(1)(1) (1)

13 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 101,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MNC TNCCơ cấu tổ chức Gồm công ty mẹ và các công ty con nằm ở các nước khác trong đó công ty mẹ được đặt tại nước sở tại Công ty mẹ đặt tại nước khác Hình thức tài sản Do các quốc gia tự

Trang 1

A.Tổng quan sự hình thành, phát triển và hoạt động của MNC trên thế giới.

I Khái niệm và quá trình phát triển của công ty đa quốc gia:

1 Khái niệm:

Công ty đa quốc gia, thường viết tắt là MNC (từ các chữ Multinational corporation) hoặc MNE (từ các chữ Multinational enterprises), là khái niệm để chỉ các công ty sản xuất hay cung cấp dịch vụ ở ít nhất hai quốc gia Các công ty đa quốc gia lớn có ngân sách và doanh thu vượt cả ngân sách của nhiều quốc gia và

có thể có ảnh hưởng lớn đến các mối quan hệ quốc tế và các nền kinh tế của các quốc gia

SỰ KHÁC NHAU GIỮA MNC VÀ TNC

Khái niệm về công ty xuyên quốc gia (TNC):

Các chuyên gia UNCTAD( United Nations Conference on Trade and Develpoment) định nghĩa TNCs – Transnational Corporations như sau:

TNCs là các công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc vô hạn, có cơ cấu tổ chức gồm công ty mẹ và hệ thống công ty chi nhánh ở nước ngoài, theo nguyên tắc công ty mẹ sẽ kiểm soát tài sản của các công ty chi nhánh thông qua góp vốn cổ phần Điều kiện để được kiếm soát tài sản là số vốn cổ phần 10% hay hơn, ở một

số nước thì 10% là mức tối ưu được sử dụng, tuy nhiên như ở Vương quốc Anh chẳng hạn thì mức hơn 20% được áp dụng cho đến năm 1997 Công ty chi nhánh

là một công ty hoặc phi công ty trong đó nhà đẩu tư là người thuộc nền kinh tế khác, sở hữu một số vốn cổ phần cho phép trong sự quản lý của doanh nghiệp đó

Số lượng cổ phần cho phép ở một công ty hoặc phi công ty là 10% cổ phần

Từ đó ta có thể phân biệt giữa MNC và TNC theo một số tiêu chí sau:

Trang 2

MNC TNC

Cơ cấu tổ

chức

Gồm công ty mẹ và các công ty con nằm ở các nước khác trong

đó công ty mẹ được đặt tại nước

sở tại

Công ty mẹ đặt tại nước khác

Hình thức tài

sản

Do các quốc gia tự túc và toàn quyền

Có quan hệ phụ thuộc chặt chẽ với nhau

• Tuy nhiên nhìn nhân dưới góc độ tổ chức sản xuất, công ty đa quốc gia (MNC - multinational corporation) được định nghĩa là chủ thể của quá trình sản xuất mang tính quốc tế, khi quá trình này có thể diễn ra ở một nước, nhưng lại do một công ty có trụ sở ở nước khác kiểm soát Theo cách hiểu đó, công ty đa quốc gia được hợp nhất với khái niệm công ty xuyên quốc gia (TNC - transnational corporation) Chính vì thế mà người ta thường gộp 2 khái niệm về TNC và MNC

là một

• Theo Wikipedia:

- Một MNC hoặc TNC là một công ty mở rộng ra nhiều quốc gia, những công ty này thường rất lớn Những công ty này có văn phòng hoặc nhà máy tại nhiều quốc gia khác nhau Các công ty này thường có một văn phòng điều hành tập trung, tại đó chúng phối hợp hoạt động quản lý toàn cầu (năm 2004)

- Một MNC hoặc MNE hoặc TNC là một công ty hay doanh nghiệp quản lý việc sản xuất hay cung cấp dịch vụ tại ít nhất hai quốc gia (năm 2010)

2 Quá trình ra đời và phát triển công ty đa quốc gia:

Công ty đa quốc gia (MNC) gắn liền với sự ra đời và phát triển của sản xuất lớn TBCN Trong thời kỳ đầu cạnh tranh tự do của CNTB, chính mục đích lợi nhuận, sự phát triển sản xuất và sự cạnh tranh quyết liệt đã thúc đẩy việc tăng cường khai thác và mở rộng hoạt động kinh doanh sang nước khác Trên cơ sở đó, các tổ chức kinh doanh quốc tế bắt đầu được hình thành và phát triển

Trong thời kỳ chủ nghĩa đế quốc, quá trình tích tụ tư bản, tập trung sản xuất, sự kết hợp giữa giới tài chính và giới công thương đã dẫn đến sự ra đời của hàng loạt các tập đoàn sản xuất-kinh doanh lớn theo xu hướng độc quyền trên thị

Trang 3

trường trong nước lẫn ngoài nước nên càng làm tăng tính quốc tế của các công ty này

Sau Chiến tranh Thế giới II, nhu cầu tăng cường quan hệ kinh tế quốc tế và

sự hợp tác chính trị giữa các nước TBCN đã tạo điều kiện cho sự phát triển tiếp tục của các MNC, đặc biệt trong thế giới tư bản Nhiều MNC ra đời và phát triển mạnh mẽ không chỉ ở sự nắm giữ các lĩnh vực kinh tế trọng yếu, năng lực tài chính và khoa học kỹ thuật,… mà còn ở sự mở rộng hoạt động kinh doanh ra khắp thế giới tư bản Vai trò của MNC trong QHQT cũng vì thế mà đã tăng lên qua sự đóng góp rất lớn vào việc tăng trưởng các dòng đầu tư nước ngoài, thúc đẩy thương mại xuyên quốc gia và mở rộng phân công lao động quốc tế

Sau Chiến tranh Lạnh, MNC đã có sự phát triển chóng mặt với số lượng các MNC tăng gần gấp đôi, từ khoảng 37.000 đầu thập kỷ 1990 lên gần 70.000 vào năm 2004 Đồng thời, mức độ quốc tế hoá của chúng cũng phát triển chưa từng thấy với số lượng chi nhánh nước ngoài tăng gần bốn lần, từ 170.000 đầu thập kỷ 1990 lên gần 690.000 vào năm 2004 Một điểm khác cũng đáng chú ý, MNC không còn là độc quyền của các nước phát triển hàng đầu mà đã xuất hiện

cả trong các nền kinh tế đang phát triển hoặc mới nổi nhưng quy mô còn nhỏ

Trong những năm gần đây, thế và lực của MNC tiếp tục phát triển với xu hướng sáp nhập và thu nhận để hình thành các tập đoàn lớn, nhất là trong những lĩnh vực kinh tế quan trọng như truyền thông, ngân hàng-tài chính, giao thông vận tải Tất cả những điều này đang làm tăng vai trò của MNC đối với quốc gia và QHQT

II Cấu trúc và đặc trưng của công ty đa quốc gia:

1 Cấu trúc công ty đa quốc gia:

* Các công ty đa quốc gia có thể xếp vào ba nhóm lớn theo phương thức sản xuất

- Công ty đa quốc gia “theo chiều ngang” sản xuất các sản phẩm cùng loại hoặc tương tự ở các quốc gia khác nhau (ví dụ:McDonalds, Honda, Nestlé, Sony,

Toshiba, Dell, Samsung, Viettel, Unilever)

Trang 4

- Công ty đa quốc gia “theo chiều dọc” có các cơ sở sản xuất ở một số nước nào

đó, sản xuất ra sản phẩm là đầu vào cho sản xuất của nó ở một số nước khác (ví dụ: Adidas, airbus, Toyota,)

- Công ty đa quốc gia “đa chiều” có các cơ sở sản xuất ở các nước khác nhau mà chúng hợp tác theo cả chiều ngang và chiều dọc (ví dụ: Microsoft, intel…)

* Bên cạnh đó, hiện nay, cấu trúc của một MNC còn được chia thành:

- Công ty mẹ (Parent corporation)

- Công ty con nước ngoài (Foreign Affiliates) gồm:

+ Công ty con (Subsidiaries)

+ Công ty liên kết (Associate enterprise)

+ Chi nhánh (Branches)

2 Đặc trưng của công ty đa quốc gia:

- Cổ đông đến từ khắp nơi trên thế giới

- Liên quan đến nơi đặt trụ sở chính và nơi kinh doanh

- Các công ty con phải chịu ảnh hưởng của môi trường quốc tế và sở tại

VD: việc phân phối phần mềm của Microsoft ở các nước đang phát triển như

Trung Quốc và 1 số nước châu Á dễ rơi vào trường hợp hàng giả và bị crack bản quyền

- Các công ty con có chung nguồn tài trợ (tài sản, nhãn hiệu hàng hóa và nhân lực)

VD: Tập đoàn Metro Cash & Carry đứng hàng thứ 5 trên thế giới về bán buôn dự

kiến đầu tư nhiều trung tâm bán buôn ở VN.Với nguồn vốn lớn và thương hiệu nổi tiếng, họ dễ dàng chiếm lĩnh thị trường

- Các công ty con có chung chiến lược

VD: Mỗi đơn vị Toyota tập trung vào sản xuất 1 vài linh kiện hiệu quả nhất.vd: vỏ

xe ô tô có thể sản xuất bởi Toyota motor Malaysia,lốp xe được cung cấp bởi Toyota motor thailan… tuân theo cùng 1 tiêu chuẩn quốc tế của tập đoàn Toyota.Và những thiết bị này được xuất khẩu đến các công ty con khác để rồi

Trang 5

được ghép gộp lại thành sản phẩm của dòng xe Toyota bán đi trên khắp thị trường thế giới

III Các hình thức biểu hiện

Thông qua cách thức đầu tư của các MNC mà FDI sẽ có 2 hình thức biểu hiện chính:

1 - Đầu tư mới: Greenfield investment có nghĩa là việc mở rộng cơ sở hiện có hoặc đầu tư trực tiếp tại các cơ sở mới (trong một khu vực nơi không có cơ sở vật chất trước) Tên đến từ ý tưởng xây dựng một cơ sở đúng nguyên văn trên một lĩnh vực "xanh", chẳng hạn như đất nông nghiệp hoặc một khu rừng Theo thời gian, thuật ngữ này đã trở thành ẩn dụ hơn

Đầu tư mới là mục tiêu chính của nỗ lực quảng cáo của nước chủ nhà, để tạo ra năng lực sản xuất mới và việc làm, chuyển giao công nghệ và bí quyết, và có thể dẫn đến mối liên kết với thị trường toàn cầu Tuy nhiên, nó thường xuyên thực hiện điều này bằng cách lấn át công nghiệp địa phương, các công ty đa quốc gia có thể sản xuất hàng hóa với giá rẻ hơn (vì công nghệ tiên tiến và quy trình hiệu quả)

và sử dụng tài nguyên (trung cấp hàng hóa, lao động, vv) Một nhược điểm của Greenfield đầu tư là lợi nhuận từ sản xuất không trả lại vào nền kinh tế địa phương, thay vào đó là cho nền kinh tế của đa quốc gia Điều này trái ngược với các ngành công nghiệp địa phương có lợi nhuận chảy ngược lại vào nền kinh tế trong nước để thúc đẩy tăng trưởng Đầu tư mới được cung cấp như một thay thế cho một loại đầu tư, ví dụ như sáp nhập và mua lại, liên doanh, hoặc các thỏa thuận cấp phép

2 - Mua lại và sáp nhập (M&A): Mua lại và sáp nhập là hình thức FDI trong

đó hai hay nhiều doanh nghiệp có vốn FDI đang hoạt động sáp nhập vào nhau hoặc một doanh nghiệp này (có thể đang hoạt động ở nước nhận đầu tư hay ở nước ngoài) mua lại một doanh nghiệp có vốn FDI ở nước nhận đầu tư Hình thức này không nhất thiết dẫn tới tăng khối lượng đầu tư vào

Trang 6

B Phân tích ưu nhược điểm của hình thức đầu tư mới của các MNCs trên toàn thế giới

Việc sử dụng hình thức đầu tư mới của các MNCs tuy có nhiều ưu điểm nhưng bên cạnh đó cũng tồn tại nhiều nhược điểm Sau đây, chúng tôi sẽ liệt kê những ưu nhược điểm của hình thức đầu tư mới, và cũng để làm rõ và cụ thể hơn, chúng tôi sẽ phân tích những ưu nhược điểm đó qua một ví dụ điển hình đó là NESTLE

I Ưu điểm

1-Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tăng lợi nhuận siêu ngạch cho chủ đầu tư

Việc di chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài mang lại lợi nhuận cho nhà đầu tư trên nhiều khía cạnh Đó là: sự tận dụng những nguồn vốn sẵn có, dư thừa trong nước, khả năng khai thác những lợi thế của nước nhận đầu tư: lao động, tài nguyên phong phú,…là những ưu đãi của nước nhận đầu tư, cũng như tạo thuận lợi cho phân tán rủi ro

Với những nguyên nhân trên, lợi nhuận thu được của nước chủ đầu tư khi đầu

tư ra nước ngoài thường cao hơn nhiều lần so với đầu tư trong nước

Nói về lợi nhuận thì hình thức greenfield đem lại lợi nhuận cao hơn tất cả các hình thức khác, bởi nhà đầu tư sở hữu hoàn toàn công ty con đó và hiển nhiên lợi nhuận ròng được chuyển toàn bộ về công ty mẹ

2,Mở rộng thị trường, thị trường ở đây được hiểu theo nghĩa cả 2 thị trường đầu vào và đầu ra:

Mở rộng thị trường cung cấp: đầu tư quốc tế tạo nguồn nguyên vật liệu, các sản phẩm cơ bản ổn định, giá rẻ, phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng trong nước.

Việc đầu tư ra nước ngoài sẽ giúp nhà đầu tư khai thác được những yếu tố sẵn

có của nước chủ đầu tư như nguồn nguyên nhiên liệu, nguồn lao động…phục vụ cho không chỉ sản xuất tại chỗ mà còn có thể xuất khẩu trở về công ty mẹ

Ở đây thì hình thức M&A tỏ ra có hiệu quả hơn, bởi việc mua lại một công ty

đã có sẵn chính là sự tận dụng nhất tài nguyên của nước nhận đầu tư

Mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm: nhà đầu tư có thể tổ chức sản xuất ở nước ngoài và tiêu thụ sản phẩm ngay tại thị trường đó, lại tránh được những hàng rào bảo hộ.

Trang 7

Nước nhận đầu tư trở thành công xưởng sản xuất nhưng đồng thời cũng là một thị trường tiêu thụ tiềm năng bởi một khi đã đầu tư mới ra nước ngoài thì sẽ tránh được hàng rào bảo hộ cũng như hàng rào thuế quan Đặc biệt , đầu tư mới sẽ nhận được nhiều ưu đãi từ chính phủ của nước nhận đầu tư như phê duyệt các dự án khác, giảm thuế….Ngoài ra đầu tư mới ở một nước cũng là cách “đặt một bàn chân” vào khu vực mậu dịch của nước đó Do vậy thị trường sẽ ngày một mở rộng

3.Giúp bành trướng sức mạnh kinh tế ,nâng cao uy tín trên thị trường quốc tế.

Việc ngày càng có nhiều “chân rết” trên toàn thế giới gắn liền với việc quảng

bá thương hiệu ngày càng mạnh, đồng thời tăng sức mạnh kinh tế Hình thức đầu

tư mới phát huy hiệu quả do công ty con được xây dựng mới mang đúng bản chất

và mong muốn của công ty mẹ Một khi các công ty con hoạt động có hiệu quả, sẽ làm tăng uy tín, thương hiệu trên thị trường quốc tế Tuy nhiên, hình thức M&A tận dụng được sức cạnh tranh cũng như thương hiệu của công ty có sẵn, nhờ đó tăng nhanh sức mạnh kinh tế trên thị trường của mình

4.Giúp phân tán rủi ro,do tình hình kinh tế - chính trị bất ổn.

Khi công ty đầu tư nhiều công ty con ra các nước khác thì khi có bất ổn kinh tế-chính trị xảy ra, những rủi ro sẽ được chia sẻ Công ty mẹ có thể giảm sản xuất, đưa nguyên liệu về các công ty con sản xuất…Hay bất cứ sự khó khăn của công ty con nào cũng có thể được san sẻ bởi công ty mẹ hay các công ty con khác Về vấn

đề rủi ro thì greenfield có nhiều rủi ro hơn, do chi phí của việc thiết lập một công

ty mới(đôi khi là sản phẩm mới) trên một quốc gia mới Hơn thế cần phải có chiến lược kinh doanh cho thị trường mới này Chiến lược này mất nhiều thời gian do

sự cần thiết phải thành lập hoạt động mới, mạng lưới phân phối, và sự cần thiết để tìm hiểu các đối thủ cạnh tranh hoặc đối tác kinh doanh Trong khi đó, hình thức M&A hạn chế được những rủi ro trên nên ngày càng trở nên phổ biến

5 Xây dựng được các công ty con đúng ý định của nhà đầu tư:

Đây là ưu điểm vượt trội của hình thức greenfield (đầu tư mới) so với hình thức M&A (mua lại và sáp nhập) Bởi việc xây dựng một văn hoá tổ chức từ điểm khởi đầu thì dễ dàng hơn nhiều so với việc thay đổi điều đó đối với công ty con

mà qua hình thức sát nhập, và việc xây dựng một bộ máy hoạt động trong công ty con mới cũng sẽ dễ dàng hơn rất nhiều so với ở công ty chuyển nhượng

Trang 8

Đây là một ưu điểm rất quan trọng cho lĩnh vực kinh doanh quốc tế, nơi mà sự chuyển nhượng sản phẩm, năng lực , kỹ thuật và kinh nghiệm thực tế từ các hoạt động của công ty mẹ sang các công ty con là những phương thức trọng yếu của việc tạo nên giá trị

VD: Khi lincoln electric, một nhà sản xuất thiết bị hàn hồ quang của US, lần đầu tiên lấn sân sang thì trường nước ngoài vào giữa những năm 1980 bằng cách thâu tóm một công ty khác cũng trong lĩnh vực này ở châu âu Tuy nhiên, một sự thật rằng lợi thế cạnh tranh của công ty lincoln ở US dựa trên một văn hoá tổ chức mạnh mẽ và một chỉnh thế thống nhất trong mục tiêu hoạt động mà đã khuyến khích công nhân của họ làm mội thứ có thể để nâng cao năng suất lao động lincoln nhận ra một kinh nghiệm cay đắng rằng hầu như là không thể có được văn hoá trong doanh nghiệp và động lực ở những công ty sát nhập như ở công ty mẹ, điều này dẫn đến sự mất dần tác phong hoạt động , và động lực phát triển của chính họ Như một hậu quả tất yếu, công ty đã thay đổi chiến lược đầu

tư vào giữa những năm 1990 và bắt đầu gia nhập thị trường nước ngoài thông qua hình thức đầu tư mới, xây dựng hoàn toàn cơ sở sản xuất Trong khi chiến lược này tiêu tốn nhiều thời gian hơn để thực hiện, Lincoln đã nhận ra rằng đầu

tư mới có thể tạo ra những ích lợi lâu dài hơn là chiến lược mua lại các công ty khác.

6 Là người đi tiên phong sản xuất sản phẩm

Nếu như mua lại và sáp nhập chắc chắn sản phẩm đã có trên thị trường, thì

hình thức đầu tư mới có thể là đầu tư về một loại sản phẩm hoàn toàn mới Ví dụ trước năm 2003, thị trường Café Việt Nam rất nghèo nàn, Nestle đầu tư vào lĩnh vực này mà nhanh chóng trở thành “kẻ thống trị” với 60% thị phần Rõ ràng đầu

tư mới có một ưu thế mà không hình thức đầu tư nào có được

II Nhược điểm:

Bên cạnh những ưu điểm của hình thức đầu tư mới cũng tồn tại những mặt trái của nó

Thứ nhất, đầu tư mới mang lại những lợi ích dài lâu xong nó lại tiêu tốn

nhiều thời gian, tiền của để đi vào hoạt động và chúng cũng mang lại rủi ro cao cho các MNCs Các MNCs khi quyết định chọn hình thức đầu tư mới

họ cần phải xây dựng mới hoàn toàn một công ty con tại nước sở tại, điều này đồng nghĩa với việc họ phải mất nhiều thời gian và lượng vốn lớn hơn cho việc xây dựng thiết kế nhà xưởng, nghiên cứu thị trường và quan trọng hơn là nguồn nhân lực cần phải được đào tạo bài bản Mức độ rủi ro cũng

Trang 9

gắn liền với doanh thu và lợi nhuận triển vọng.Như một ví dụ điển hình, gia nhập thị trường Nga vào năm 1992 qua hình thức chủ yếu là nhập khẩu thương hiệu nestcafe của hãng và mở văn phòng đại diện đầu tiên của mình tại Moscow, tập đoàn nestle tiếp tục các thương vụ mua lại và sát nhập các công ty sản xuất thực phẩm hàng đầu tại đây Sau hơn 10 năm đi vào hoạt động, Công ty Nestle Russia đã đầu tư một nhà máy sản xuất mới ở

Timashevsk vào năm 2005 với tổng số vốn là 120 USD và mất đến 18 tháng để nhà máy này đi vào hoạt động Tuy nhiên do đã tạo lập được thương hiệu sản phẩm cũng như đã có nhiều kinh nghiệm 10 năm trên lĩnh vực kinh doanh và đầu tư tại nga nên rủi ro mà Nestle có thể sẽ phải gánh chịu không đáng kể, bằng chứng là sản lượng nâng từ 12000 tấn sản phẩm nescafe năm 2006 lên 18000 tấn vào năm 2007, góp phần nâng thị phần sản phẩm từ 40% lên 50%

Thứ 2, các MNCs đầu tư mới có thể bị cản trở từ các đối thủ cạnh tranh mà

đầu tư qua hình thức sát nhập (đầu tư qua hình thức sát nhập nhanh chóng

đi vào hoạt động hơn) Do lợi thế của người đi trước, các doanh nghiệp này

đã xây dựng được thương hiệu lớn trên thị trường, điều này giới hạn triển vọng thị trường của hình thức đầu tư mới Như đã đề cập ở trên, nếu công

ty Nestle Russia không bắt đầu hoạt động đầu tư ở Nga qua hình thức M&A trước thì liệu Nestle có thể tạo được một chỗ đứng trong miếng bánh thị phần ở Nga hay không khi mà là người mới tham gia vào thị trường còn mới mẻ này vào năm 1992? Rõ ràng việc lựa chọn đúng đắn hình thức đầu

tư đã mang cho nestle thành công lớn trên thị trường Nga nói riêng và thế giới nói chung

III Phân Tích ví dụ điển hình

NESTLE là Công ty đa quốc gia (MNC) lớn nhất thế giới trong lĩnh vực thực phẩm và giải khát Được thành lập năm 1866 bởi dược sỹ Henri Nestle có trụ sở chính tại Vevey (Thụy Sỹ)-công ty mẹ, cho đến nay NESTLE trở thành tập đoàn đa quốc gia trị giá hơn 108 tỷ franc Thụy Sỹ có gần 5000 nhà máy tại 86 quốc gia tuyển dụng hơn 280 ngàn nhân viên, tiếp thị khoảng 8500 thương hiệu với 300 ngàn sản phẩm thuộc 15 dòng sản phẩm như Cà-phê, Thực phẩm trẻ em, Nước uông tinh khiết, Sô-cô-la-Bánh kẹo,…( số liệu năm 2009) Phân loại theo cấu trúc, NESTLE là công ty đa quốc gia “đa chiều” Chẳng hạn,trong hoạt động sản xuất các sản phẩm từ cà phê, NESTLE tập trung đầu tư vào Braxin, Trung Quốc, Inddooneexxia, Việt Nam vừa là nơi sản xuất thành phẩm ở nước sở tại vừa là thị trường cung cấp nguyên liệu cho nhiều chi nhánh khác trên thế giới 1.Nói về hoạt động FDI của NESTLE, trước tiên chúng tôi muốn đề cập tới Mua lại và sát nhập (M&A) của tập đoàn này với một số sự kiện tiêu biểu:

Trang 10

- Năm 1905, sát nhập với công ty sữa đặc Anglo Swiss

- Từ 1950 đến 1973, lần lượt sát nhập với Crosse & Blackwell, Findus, Libby và Stouffer’s…

- Năm 1977, mua lại Alcon Laboraties,Inc -Giai đoạn 1997-2002,Mua lại các công ty San Pellegrino,Spillegrino,Ralston Purina

- Đặc biệt, tháng 12/2005, mua lại Delta Ice Cream và tháng 1/2006 làm chủ hoàn toàn hãng Dreyer’s, trở thành nhà sản xuất kem lớn nhất thế giới năm giữ 17,5% thị phần

2.Tuy nhiên hoạt động đầu tư mới (Greenfield investment) của Tập đoàn

này cũng diễn ra khá sôi nổi

Như đã đề cập ở trên, NESTLE có nhà máy tại 86 gia trên thế giới trải khắp 5 châu lục, trong đó trọng điểm là những nước đang phát triển có nhiều tiềm năng về nguồn nguyên liệu cũng như thị trường tiêu thụ như Nga, Trung Quốc, Braxin và các nước Mỹ La ting khác, Ấn Độ và Đông Nam Á,… Chẳng hạn, tại Trung Quốc,sau 20 năm đầu tư, hiện nay NESTLE có 23 nhà máy và 2 Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển (R&D center) thuê 14000 công nhân, bên cạnh đó còn đào tạo chuyển giao công nghệ cho 4100 nông dân với mục đích mở rộng sản xuất Ở Việt Nam, người tiêu dùng đã quen với một số nhãn hiệu nổi tiếng như Nescafe, nước uống La Vie, sữa Nestle Gấu, nước tương và bột nêm Maggi hay thức uống dinh dưỡng Milo từ năm 1995 NESTLE đã mở 4 nhà máy tuyển dụng hơn 1500 công nhân đầu tư 350 triệu USD , trong đó giải ngân 270 triệu USD, riêng giai đoạn 2009-2010 là 7 triệu vào nhãn hiệu La Vie Dự kiến sẽ xây dựng nhà máy mới tại Đồng Nai và se đi vào hoạt động năm 2013 với số vốn 270 triệu USD

3.Nhận định về lợi thế của NESTLE khi đầu tư mới tại các nước thành viên

- Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tăng lợi nhuận siêu ngạch cho nhà đầu tư

- Đầu tư mới đã tạo điều kiện cho NESTLE tận dụng nguồn vốn của mình một cách có hiệu quả thông qua việc ngày càng mở rộng các thị trường đầu vào và đầu ra nhiều ưu thế: nguồn nguyên liệu dồi dào, có chất lượng tốt, nhân công giá rẻ nhưng có chất lượng và dân cư đông cho một thị trường tiêu thụ lớn… như Trung Quốc, các nước Mỹ La ting , Ấn Độ và Đông Nam Á,… Việc vận chuyển nguyên nhiên vật liệu giữa các chi nhánh ở những nước khác nhau cũng trở nên thuận tiện hơn, tận dụng thế mạnh của mỗi vùng

- Năm 2010, lợi nhuận ròng của NESTLE là 34,2 tỷ Franc trong đó nhà đầu tư ( các cổ đông thu 15,5 tỷ, chiếm 45,32%) dưới dạng lãi cổ đông(dividend) và đầu

tư mở rộng(buy-back)

-Bà Lê Thị Hoàng Yến, Giám đốc Truyền thông và Hỗ trợ Tiếp thị của Nestlé Việt

Nam chia sẻ: “Nestlé Việt Nam không chỉ là một nhà kinh doanh cafe thành công với sản phẩm NESCAFÉ dẫn đầu thị trường mà chúng tôi còn là nhà thu mua cafe hạt lớn nhất của bà con nông dân, chiếm gần 25% sản lượng của mỗi vụ thu hoạch

Ngày đăng: 18/04/2022, 00:07

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức tài sản - script with cm(1)(1) (1)
Hình th ức tài sản (Trang 2)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w