ĐÁNH GIÁ CHUNG Sau quá trình thực hiện kế hoạch kinh tế tập thể 5 năm giai đoạn 2011 -2015, kinh tế tập thể huyện Quảng Ninh đã đạt được những thành tựu đáng kể trong tăng trưởng và phát
Trang 1UỶ BAN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẢNG NINH
Số: /KH - UBND
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Quảng Ninh, ngày tháng 7 năm 2015
KẾ HOẠCH
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TẬP THỂ NĂM 2017
PHẦN THỨ NHẤT ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ TẬP THỂ NĂM 2015
I ĐÁNH GIÁ CHUNG
Sau quá trình thực hiện kế hoạch kinh tế tập thể 5 năm giai đoạn 2011
-2015, kinh tế tập thể huyện Quảng Ninh đã đạt được những thành tựu đáng kể trong tăng trưởng và phát triển; việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế và phát triển các ngành, lĩnh vực; nhiều công trình và các dự án quan trọng trên địa bàn được triển khai; kinh tế tập thể của huyện tiếp tục phát triển và tương đối vững chắc, tiềm năng một số ngành, lĩnh vực địa phương đã được chú trọng đầu tư khai thác; môi trường, chính sách ưu đãi, thu hút nguồn lực được cải thiện đáng kể
Năm 2015 là năm kết thúc nhiệm vụ kế hoạch giai đoạn 5 năm giai đoạn
2011 – 2015; và bước đầu thực hiện kế hoạch giai đoạn 2016-2020 Cùng với toàn tỉnh, huyện Quảng Ninh phấn đấu thực hiện sự nghiệp phát triển kinh tế
-xã hội trong điều kiện tình hình kinh tế thế giới và khu vực có nhiều khó khăn
và thách thức Do vậy, việc triển khai lập Kế hoạch phát triển kinh tế tập thể giai đoạn 2016 -2020 là hết sức cần thiết và cấp bách, nhằm đánh giá những hạn chế, lợi thế của kinh tế tập thể huyện để có giải pháp, chính sách và đặt bước đi thích hợp cho việc sử dụng có hiệu quả của mọi nguồn lực của huyện trong giai đoạn
5 năm tới
1 Về hợp tác xã, tổ hợp tác
Năm 2015 cùng với phát triển kinh tế-xã hội, tình hình kinh tế tập thể cũng phát triển ổn định Các HTX hoạt động trên cơ sở tuân thủ theo Luật Hợp tác xã năm 2012 và Điều lệ của HTX đề ra; các Tổ hợp tác hoạt động tuân thủ
sự chỉ đạo của địa phương làm ăn có hiệu quả
Ước thực hiện đến cuối năm 2015 huyện Quảng Ninh có có 54 Hợp tác xã (Hợp tác xã nông - lâm - ngư nghiệp: 27 HTX; Hợp tác xã công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp: 16 HTX; Hợp tác xã xây dựng: 2 HTX; Hợp tác xã tín dụng: 4 HTX; Hợp tác xã thương mại: 1 HTX; Hợp tác xã vận tải: 1 HTX; Hợp tác xã khác: 3 HTX) 24 Tổ hợp tác chủ yếu là Tổ hợp tác nông - lâm - ngư nghiệp
Trang 2Về hoạt động sản xuất kinh doanh, trong năm 2015, do tình hình suy thoái kinh tế toàn cầu nói chung và Việt Nam nói riêng, nên tình hình sản xuất kinh doanh của các HTX và THT còn gặp nhiều khó khăn, doanh thu bình quân của HTX ước đạt 600 triệu đồng, đạt 100 % kế hoạch năm 2015 Trong khi đó, doanh thu bình quân của THT ước đạt 480 triệu đồng, đạt 102,13 % kế hoạch năm 2015, tăng 4,34% so với năm 2014
Mặc dù, tình hình kinh tế không ổn định và còn gặp nhiều khó khăn nhưng lợi nhuận bình quân đem lại từ các hoạt động của HTX đạt mức 55 triệu đồng/HTX, đạt 100% kế hoạch, tăng 10% so với cùng kỳ năm 2014 Đối với THT, lợi nhuận bình quân năm 2015 là 45 triệu đồng/THT, đạt 107,14% kế hoạch, tăng 12,5 % so với năm 2014
2 Về thành viên, lao động của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, tổ hợp tác.
Số lượng thành viên của Hợp tác xã năm 2015 ước 7.858 người, trong đó
có 40 thành viên mới gia nhập và không có thành viên xin rút khỏi HTX, so với năm 2014 tăng 5 người, đạt 133,33% so với kế hoạch
Về THT, số lượng thành viên năm 2015 là 216 người, trong đó có 24 thành viên mới gia nhâp, không có thành viên xin rút khỏi THT, so với năm
2014 tăng 24 người, đạt 100% so với kế hoạch
Tổng số lao động làm việc thường xuyên trong hợp tác xã ước đạt 850 người trong đó 100% là thành viên HTX, so với năm 2014 tăng 50 người tương đương tăng 6,25% số lao động Đối với tổ hợp tác tổng số lao động thường xuyên là 216 người, trong đó 100% là thành viên THT
Thu nhập bình quân của lao động làm việc thường xuyên trong hợp tác xã
là 30 triệu đồng/năm, tăng 25% so với năm 2013
3 Về trình độ cán bộ quản lý hợp tác xã, tổ hợp tác
Tổng số cán bộ quản lý hợp tác xã là 150 người tăng 9,5% so với năm 2014
Tổng số cán bộ quản lý hợp tác xã, tổ hợp tác đạt trình độ sơ cấp, trung cấp là 80 người; so với năm 2014 tăng 5,3%
Tổng số cán bộ quản lý hợp tác xã, tổ hợp tác đạt trình độ cao đẳng, đại học là 5 người; tăng 25% so với năm 2014
II ĐÁNH GIÁ THEO LĨNH VỰC
1 Lĩnh vực Nông-Lâm-Ngư nghiệp:
Lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, thủy sản có 46 cơ sở sản xuất và làm dịch vụ; trong đó 27 HTX DV nông nghiệp làm dịch vụ cho hộ thành viên, 19 THT
Đối với các HTX DV nông nghiệp không phát triển thêm về số lượng, mà
ổn định với 27 HTX từ năm 2010 đến nay Ngành nghề chủ yếu làm 3-5 khâu
Trang 3dịch vụ cho hộ thành viên như dịch vụ thủy nông tưới tiêu, bảo vệ sản xuất, bảo
vệ thực vật, dịch vụ làm đất, cung ứng vật tư nông nghiệp, chuyển giao KHKT Doanh thu hoạt động của các HTX chủ yếu thu từ 3-5 khâu dịch vụ nói trên; đồng thời phụ thuộc vào đơn giá dịch vụ do Đại hội thành viên quy định trên tổng diện tích canh tác của hộ thành viên; doanh thu bình quân trong năm của một HTX 600 triệu đồng Lợi nhuận trung bình của một HTX 55 triệu đồng; thu nhập trung bình của lao động làm việc thường xuyên 35 triệu đồng
Lĩnh vực sản xuất chăn nuôi: 2 HTX chăn nuôi đều mới thành lập và hoạt động từ 2-3 năm Ngành nghề chủ yếu phát triển sản xuất chăn nuôi gia súc, gia cầm và làm dịch vụ chăn nuôi như cung cấp con giống, thức ăn chăn nuôi Tổng
số thành viên 20 người Lao động làm việc thường xuyên trong các HTX hầu hết các thành viên đều có việc làm, đạt tỷ lệ 100%; trong đó lao động trực tiếp 5 người, lao động gián tiếp 15 người Doanh thu chính của các HTX là thu từ sản phẩm chăn nuôi, thịt, trứng và bán con giống; ngoài ra HTX còn thu các khoản dịch vụ khác như: cung ứng thức ăn chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản; doanh thu bình quân trong năm của một HTX 600 triệu đồng Lợi nhuận trung bình của một HTX 70 triệu đồng; thu nhập trung bình của mỗi thành viên trong năm 40 triệu đồng
2 Lĩnh vực Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp:
Lĩnh vực sản xuất ngành nghề tiểu thủ công nghiệp ước có 16 HTX sản xuất kinh doanh với nhiều ngành nghề khác nhau
Lĩnh vực sản xuất, gia công Mộc: Tổng số thành viên của các HTX 94 người; hầu hết các thành viên đều có việc làm, đạt tỷ lệ 100%; trong đó lao động trực tiếp 72 người, lao động gián tiếp 22 người
Sản phẩm đầu ra là mặt hàng nội thất dân dụng như tủ, bàn ghế, sa lông các loại; ngoài ra nhận gia công khuông ngoại, cửa sổ, cửa đi của khách hàng, một số cơ sở sản xuất các mặt hàng mỹ nghệ xuất khẩu
Lĩnh vực chế biến thủy sản: có 2 cơ sở sản xuất, ngành nghề chủ yếu là thu mua và chế biến nước mắm, ruốc quết, ruốc khô, cá khô, sơ chế mực khô xuất khẩu Tổng số thành viên 20 người; trong đó HTX chế biến thủy sản Xuân Hồng có 11 người và HTX chế biến thủy sản Tân Hải có 9 người Lao động có việc làm thường xuyên trong các HTX, đạt tỷ lệ 100%; trong đó lao động trực tiếp 14 người, lao động gián tiếp 6 người Doanh thu bình quân trong năm của một HTX 400 triệu đồng; lợi nhuận trung bình của một HTX 25 triệu đồng; thu nhập trung bình của mỗi thành viên trong năm 22 triệu đồng
Lĩnh vực sản xuất khác: có 4 cơ sở sản xuất là chế biến rượu, sản xuất vật liệu xây dựng, sản xuất chế biến khoai gieo và sản xuất gia công chổi đót có tổng số thành viên 40 người, bình quân một HTX 10 thành viên Tổng số lao
Trang 4động 40 người, đạt tỷ lệ 100%; trong đó lao động trực tiếp 29 người, lao động gián tiếp 11 người Doanh thu bình quân trong năm của một HTX 400 triệu đồng; lợi nhuận trung bình của một HTX 35 triệu đồng; thu nhập trung bình của mỗi thành viên trong năm 25 triệu đồng
3 Lĩnh vực xây dựng-điện, nước:
Lĩnh vực xây dựng-điện nước có 2 HTX làm dịch vụ với 2 ngành nghề khác nhau; trong đó 1 HTX xây dựng và 1 HTX dịch vụ điện, nước Tổng số thành viên 21 người, bình quân một HTX 10 người; thành viên đều có việc làm thường xuyên trong các HTX
Lĩnh vực dịch vụ Điện đã được bàn giao cho lưới điện hạ áp nông thôn sang ngành điện quản lý Việc bàn giao giữa HTX sang điện lực Quảng Ninh quản lý vận hành và bán điện trực tiếp cho người sử dụng
4 Lĩnh vực thương mại và vận tải:
Đối với lĩnh vực này có 2 HTX với tổng số thành viên 46 người, nhưng số thành viên làm việc thường xuyên ít chỉ có 30 người, số còn lại tham gia đóng góp cổ phần để hưởng lãi/lợi nhuận hoạt động của HTX
Lĩnh vực thương mại: một cơ sở hoạt động là HTX Thương mại và dịch
vụ Võ Ninh, kinh doanh dịch vụ thương mại từ năm 1999 đến nay Tổng số thành viên của HTX giảm dần từ 48 người năm 1999 xuống còn 36 người năm
2012 Doanh thu trong năm 430 triệu đồng; lợi nhuận 28 triệu đồng; thu nhập trung bình của mỗi thành viên lao động thường xuyên trong năm 25 triệu đồng
Lĩnh vực vận tải: một cơ sở hoạt động là HTX Vận tải hành khách Hiền Ninh, chuyên vận tải hành khách đường bộ; tuyến vận tải từ các xã vùng đồng bằng lên xã miền núi Trường Sơn trong huyện, hoạt động từ năm từ năm 2006 đến nay Tổng số thành viên 10 người; doanh thu trong năm 840 triệu đồng; lợi nhuận 40 triệu đồng; thu nhập trung bình của mỗi thành viên lao động thường xuyên trong năm 30 triệu đồng
5 Lĩnh vực tín dụng:
Mạng lưới tổ chức tín dụng đã tập trung triển khai thực hiện chính sách tiền
tệ theo tinh thần Nghị quyết 11/NQ-CP của Chính phủ, đảm bảo yêu cầu, mục tiêu điều hành và kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng theo quy định Kiểm soát công tác huy động vốn theo cơ chế lãi suất nhà nước quy định; tập trung ưu tiên vốn tín dụng phục vụ cho sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế Hoạt động các HTX tín dụng đã thực hiện huy động vốn theo cơ chế lãi suất nhà nước quy định; tập trung ưu tiên vốn cho vay sản xuất kinh doanh, nhất là nông nghiệp, nông thôn, xoá đói giảm nghèo…
Trang 5Trên đại bàn huyện có 4 HTX tín dụng, lợi nhuận trong năm khoảng 500 triệu đồng Thu nhập bình quân mỗi thành viên lao động thường xuyên trong năm 40 triệu đồng
III NHỮNG THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN VÀ NGUYÊN NHÂN
1 Thuận lợi
Các tổ hợp tác đã giúp kinh tế hộ khắc phục được một số hạn chế, yếu kém về vốn, công nghệ kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất và phát huy được vai trò của tập thể, giúp các hộ thành viên sử dụng có hiệu quả hơn về đất đai, nguồn nguyên liệu tại chỗ, lao động, vật tư và tiếp nhận thông tin, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh, mở mang ngành nghề, tạo việc làm và thu nhập cho bộ phận lao động nông nghiệp; góp phần chuyển dịch cơ cấu sản xuất,
cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn
Trong năm 2015 các HTX tiếp tục được củng cố và chú trọng chấn chỉnh nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất - kinh doanh từng bước khắc phục những tồn tại thiếu sót trong tổ chức và hoạt động, hoàn chỉnh phương án sản xuất kinh doanh, kết hợp dịch vụ với kinh doanh tổng hợp Các HTX mới thành lập đảm bảo đầy đủ các quy định theo Luật HTX, huy động được nguồn lực, đa dạng hóa ngành nghề, chủ động góp vốn đầu tư, đổi mới công nghệ, nhà xưởng thiết bị sản xuất, mở rộng quy mô tạo thêm sản phẩm mới, liên kết với các thành phần kinh tế, công ty, doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh để phát triển sản xuất kinh doanh đem lại hiệu quả cho HTX, thành viên, giải quyết việc làm cho người lao động Bên cạnh sự năng nổ của cán bộ quản lý, sự đồng tình, đoàn kết cao của thành viên, cũng cần có sự quan tâm, hỗ trợ của các cấp các ngành và của các doanh nghiệp; nhất là các doanh nghiệp trực tiếp là đối tác làm ăn với hợp tác xã
2 Khó khăn
Việc triển khai quán triệt Nghị quyết và Chương trình hành động đối với KTTT chỉ tập trung trong tổ chức Đảng, cán bộ đảng viên Các đối tượng tuyên truyền chủ yếu mới đến được cán bộ các đoàn thể ở cơ sở, số đông quần chúng nhân dân chưa được hiểu sâu về KTTT Việc phối hợp giữa các cấp, các ngành, phương tiện, thông tin đại chúng, tài liệu trong công tác tuyên truyền còn hạn chế
Tổ hợp tác: hầu hết sản xuất theo mô hình thuần nông, khả năng sản xuất hàng hóa không đồng đều và còn nhiều khó khăn trong tổ chức sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm
Trang 6Do tiếp tục chịu ảnh hưởng khủng hoảng kinh tế nên kết quả sản xuất kinh doanh của các HTX đạt thấp, một số HTX hoạt động với tính chất cầm chừng để tìm thị trường, số HTX ngưng hoạt động còn cao so với kế hoạch đề ra, một số HTX chưa tuân thủ các quy định của Luật HTX, việc huy động nguồn vốn trong nội bộ thành viên còn hạn chế, những khó khăn về nội tại của HTX chậm được khắc phục
3 Nguyên nhân hạn chế
Công tác quản lý Nhà nước về KTTT tuy đã được sắp xếp, nhưng cán bộ làm tham mưu cho lãnh đạo sở, ngành và cấp ủy, chính quyền các cấp chủ yếu làm kiêm nhiệm, chắp vá nên khó phát huy hiệu quả Mặt khác, các ngành các cấp chưa thể chế hóa Nghị quyết về KTTT của Đảng bằng các đề án, kế hoạch công tác của ngành và địa phương
Nhận thức của một bộ phận cán bộ các ngành và địa phương nhất là cán
bộ lãnh đạo cơ sở chưa thấy được vai trò, vị trí của kinh tế tập thể, nên chưa có
sự quan tâm đúng mức
Nội lực các HTX về vốn, cơ sở vật chất, trình độ quản lý còn hạn chế, thiếu định hướng trong hoạt động sản xuất kinh doanh
Một số chính sách hỗ trợ HTX của huyện tuy có quan tâm, nhưng do năng lực, trình độ cán bộ quản lý HTX còn yếu, việc lập phương án sản xuất kinh doanh và tài sản bảo đảm vay vốn ở một số HTX chưa đáp ứng yêu cầu, nên các HTX đủ điều kiện tiếp cận nguồn vốn hỗ trợ còn thấp
IV KẾT QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VÀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ TẬP THỂ
1 Kết quả triển khai Luật và các văn bản hướng dẫn
Luật Hợp tác xã năm 2012 có hiệu lực từ ngày 01/7/2013, ngày 21/11/2013 Chính phủ ban hành Nghị định 193/2013/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều của Luật Hợp tác xã và ngày 26/5/2014 Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành Thông tư số 03/2014/TT-BKHĐT Hướng dẫn về đăng ký hợp tác xã và chế độ báo cáo tình hình hoạt động của hợp tác xã
Trong thực tế, hoạt động của hợp tác xã diễn ra rất đa dạng, phong phú trên nhiều lĩnh vực khác nhau đòi hỏi phải có sự quản lý và hướng dẫn theo đúng quy định của pháp luật Thời gian qua Ủy ban nhân dân huyện và Liên minh HTX đã triển khai các nội dung cơ bản về Luật HTX, Nghị định và Thông
tư về HTX cụ thể:
Tổ chức tuyên truyền, quán triệt Luật Hợp tác xã năm 2012, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật của Chính Phủ, Bộ, ngành Trung ương và các chủ trương, chính sách của huyện về phát triển kinh tế tập thể đến các đối tượng là cán bộ các ngành, đoàn thể, các xã, thị trấn, hợp tác xã;
Trang 7Việc tuyên truyền được triển khai tại các hội nghị, hội thảo, tọa đàm và bằng các hình thức phù hợp (thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, tổ chức cuộc thi tìm hiểu Luật Hợp tác xã, phát hành tài liệu và các hình thức khác)
2 Kết quả triển khai chính sách hỗ trợ, ưu đãi hợp tác xã
HTX có dự án, phương án đầu tư khả thi được ngân hàng chấp thuận cho vay tạo điều kiện làm ăn và phát triển sản xuất kinh doanh
Thực hiện Nghị định số 88/2005/NĐ-CP ngày 11/7/2005 của Chính phủ
về một số chính sách hỗ trợ, khuyến khích phát triển hợp tác xã cụ thể như sau:
2.1 Về chính sách hỗ trợ, khuyến khích thành lập hợp tác xã.
Thực hiện nghị quyết hàng năm về chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội hàng năm như: Hỗ trợ cơ sở phá triển ngành nghề mới, hợp tác xã mới: 20 triệu đồng/cơ sở (theo hướng dẫn của phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện)
2.2 Về chính sách bồi dưỡng, đào tạo cán bộ hợp tác xã.
Kết hợp với Liên minh HTX tỉnh tập huấn về kỹ năng lãnh đạo cho cán bộ chủ chốt HTX, tạo điều kiện để các HTX nắm bắt Luật HTX năm 2012 thông qua các lớp tập huấn
2.3 Về chính sách đất đai.
Thực hiện giao đất cho 22 HTX, với diện tích là 4400m2 Các hoạt động
hỗ trợ thuê đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hợp tác xã không triển khai
2.4 Về chính sách thuế.
Trong giai đoan 2011 – 2015, có tổng cộng 138 HTX được ưu đãi thuế, với tổng số tiền thuế được giảm ưu đãi là 69 triệu đồng
2.5 Về Quỹ hổ trợ phát triển hợp tác xã
2.6 Về chính sách tín dụng
Có 5 hợp tác xã được nhận ưu đãi trong hoạt động vay vốn, với số tiền lên tới 600 triệu đồng
2.7 Về hỗ trợ hợp tác xã đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất, đời sống của cộng đồng thành viên và tham gia các chương trình phát triển kinh
tế xã hội.
Tổng số 20 HTX được hỗ trợ phát triển kinh tế hạ tầng với tổng nguồn vố là 7.000 triệu đồng
Trang 8I MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN KINH TẾ TẬP THỂ NĂM 2015
1 Dự báo những thuận lợi, khó khăn
a Những thuận lợi
Sau khi Luật HTX năm 2012 có hiệu lực, Chính phủ sẽ ban hành Nghị định để thi hành và các Bộ, ngành sẽ có thông tư hướng dẫn để tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể
- Các chính sách khuyến khích phát triển KTTT theo Nghị định của Chính phủ sẽ được các Bộ, ngành thể chế hóa và hướng dẫn thực hiện; đồng thời Nhà nước ban hành một số chính sách mới sẽ là cơ sở pháp lý, là động lực tạo điều kiện cho KTTT phát triển
Việc triển khai quán triệt và tổ chức chỉ đạo thực hiện Nghị quyết của Đảng, Chương trình hành động của Tỉnh ủy và nhất là việc ban hành một số chính sách hỗ trợ của Ủy ban nhân dân tỉnh sẽ đem lại hiệu quả thiết thực đối với HTX
Tuy còn nhiều khó khăn nhưng vai trò, vị trí của KTTT ngày càng được khẳng định thông qua việc đóng góp vào sự phát triển kinh tế xã hội địa phương; thúc đẩy kinh tế hộ phát triển; giải quyết việc làm và thu nhập cho người lao động, đặc biệt là trong nông nghiệp, nông thôn
Bộ máy quản lý HTX từ huyện đến cơ sở được củng cố; trình độ cán bộ quản lý HTX ngày được nâng cao Tình hình kinh tế hợp tác và HTX phát triển
ổn định là cơ sở quan trọng để thực hiện nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế tập thể năm 2015
b Những khó khăn
Năng lực nội tại của kinh tế tập thể còn hạn chế, nhất là vốn, cơ sở vật chất
kỹ thuật phục vụ cho sản xuất kinh doanh, dịch vụ còn thiếu và yếu, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển Quy mô sản xuất còn nhỏ lẽ, sức cạnh tranh của kinh tế hợp tác, HTX so với thành phần kinh tế khác còn thấp; hiệu quả sản xuất kinh doanh chưa cao, lợi ích đem lại cho thành viên và người lao động chưa nhiều
Hợp tác xã còn yếu về nhiều mặt: quy mô nhỏ, cơ sở vật chất kỹ thuật nghèo nàn, trình độ công nghệ lạc hậu, thiếu vốn, thiếu thông tin thị trường, trình độ quản lý còn yếu kém…cùng với giá cả thị trường biến động khó lường
đã ảnh hưởng đến sự phát triển sản xuất, kinh doanh của hợp tác xã
Việc tổ chức hướng dẫn, triển khai các văn bản, chính sách của Nhà nước
về kinh tế tập thể của các cơ quan quản lý nhà nước chưa được thường xuyên
Bộ máy quản lý HTX trình độ còn thấp, năng lực điều hành sản xuất hạn chế
2 Một số mục tiêu cụ thể
Các mục tiêu cụ thể về phát triển kinh tế tập thể như sau:
Trang 9Đối với HTX: Tổng số hợp tác xã là 56, gồm 8147 thành viên Doanh thu bình quân của HTX đạt 600 triệu đồng, thu nhập bình quân của người lao động trong hợp tác xã đạt 35 triệu đồng, số lượng bộ HTX đạt trình độ sơ cấp, trung cấp là 80 người, cao đẳng đại học là 5 người
Đối với THT: phấn đấu thành lập thêm 3 THT, nâng tổng số THT lên 30 THT, gồm 241 thành viên Doanh thu bình quân của THT đạt 500 triệu đồng
Nơi nhận:
- Sở Kế hoạch & ĐT;
- TVHU; TTHĐND(để b/c);
- CT, các PCT UBND huyện;
- Phòng TC-KH, NN-PTNT, KT-HT;
- Lưu VT-VP.
TM.UỶ BAN NHÂN DÂN KT.CHỦ TỊCH PHÓ CHỦ TỊCH
Phan Công Khánh