1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Cảm nhận về chí làm trai trong

7 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 18,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cảm nhận về chí làm trai trong “Lưu biệt khi xuất dương” “Con người viết văn, con người làm thơ trong Phan Bội Châu nhất trí với con người chính trị Ngòi bút Phan Bội Châu sáng ngời chủ nghĩa yêu nước[.]

Trang 1

Cảm nhận về chí làm trai trong “Lưu biệt khi xuất dương”

“Con người viết văn, con người làm thơ trong Phan Bội Châu nhất trí với con người chính trị Ngòi bút Phan Bội Châu sáng ngời chủ nghĩa yêu nước, lí tưởng anh hùng” Phan Bội Châu là người đầu tiên nuôi ý tưởng đi tìm con đường cứu nước mới, cả cuộc đời văn chương của ông chính là cả cuộc đời cách mạng sáng ngời “Nhân sinh trăm năm như một giọt nước vương nơi mi mắt, nhẹ như lông hồng lại nặng như thái sơn” Một kiếp người, ta có thể chọn một cuộc sống không phải lo nghĩ vì ai nhưng khi tận mắt chứng kiến cảnh đất nước lầm than thì làm sao ta có thể yên lòng Phan Bội Châu đã lựa chọn đi đến Nhật Bản để tìm ra con đường cứu nước, ông không thể nhìn và để bản thân mình trở thành

nô lệ Bằng giọng thơ tâm huyết có sức lay động mạnh mẽ, “Lưu biệt khi xuất dương” đã khắc họa rõ nét chí làm trai và vẻ đẹp hào hùng của nhà chí sĩ cách mạng những năm đầu thế kỉ XX

Phan Bội Châu (1867-1940), quê ở huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, xuất thân trong một gia đình Nho học, từ nhỏ ông đã thể hiện tài năng hơn và học vấn hơn người Sau khi trưởng thành, với tinh thần yêu nước lòng tự tôn dân tộc sâu sắc,

ý thức được việc nước mất nhà tan Phan Bội Châu đã hăng hái tham gia vào các phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp Tuy nhiên do tính chất nhỏ lẻ và chưa có đường lối đúng đắn nên hầu hết các cuộc khởi nghĩa theo kiểu cũ đều thất bại, lúc này đây Phan Bội Châu người đầu tiên đã nung nấu trong mình ý tưởng cứu nước theo con đường tư sản - con đường mà Nhật Bản đã đi rất thành công, từ đó thành lập ra hội Duy Tân, phát động phong trào Đông Du, cử thanh niên ưu tú sang nước bạn học tập

Ngoài vai trò là một danh sĩ với nhiều hoạt động cách mạng sôi nổi thì Phan Bội Châu còn được biết đến là một nhà văn, nhà thơ lớn trong nửa đầu thế kỷ 20, đóng góp một phần không nhỏ vào nền văn học của nước nhà Có thể nói rằng Phan Bội Châu được xem là người ươm những mầm mống đầu tiên cho nền văn học mang khuynh hướng trữ tình chính trị của Việt Nam lúc bấy giờ Bài thơ

“Lưu biệt khi xuất dương” là một trong những tác phẩm tiêu biểu cho tinh thần nhiệt huyết, tráng chí rộng lớn và cao đẹp của người chí sĩ yêu nước, trước buổi lên đường sang nước bạn học tập, với niềm hy vọng, niềm tin mãnh liệt về một tương lai tươi sáng của đất nước

Trang 2

“Lưu biệt khi xuất dương" được Phan Bội Châu sáng tác vào năm 1905, trước khi lên đường sang Nhật để từ giã bạn bè đồng chí, bài thơ vừa mang ý nghĩa cổ

vũ, động viên tinh thần người ra đi, cũng vừa thôi thúc, củng cố niềm tin và tinh thần của những người ở lại về một tương lai tốt đẹp của dân tộc, với con đường cứu nước mới mẻ, nhiều hứa hẹn, mặc dù Phan Bội Châu mới chỉ bắt đầu những bước đi đầu tiên Hình tượng người chí sĩ yêu nước hiện lên trước tiên là ở quan điểm của danh sĩ về chí làm trai trong thời đại mới, trong hoàn cảnh đất nước có nhiều biến động, thù trong giặc ngoài

Bài thơ đã thể hiện rất sinh động tư thế, ý nghĩ của Phan Bội Châu trong buổi xuất dương tìm đường cứu nước Hai câu đề nói rõ nhận thức của nhà thơ về chí làm trai - một nhận thức làm cơ sở cho mọi hành động:

“Làm trai phải lạ ở trên đời

Há để càn khôn tự chuyển dời”

Cái chí làm trai mà nhà thơ nói đến trong bài thơ trước hết là “phải lạ ở trên đời” Đó là một lí tưởng sống, một khát vọng lớn lao Thời phong kiến, chí làm trai tức là phải tề quốc, trị gia bình thiên hạ Người con trai phải có sự nghiệp, công danh, giúp dân giúp nước Nhưng với Phan Bội Châu, ông lại muốn “làm trai phải lạ ở trên đời” Cái “lạ” ở đây tức là ông muốn đấng nam nhi phải làm được những việc lớn lao, phi thường, phải chủ động xoay chuyển trời đất,

không để cho trời đất tự chuyển vần

Như vậy đọc cả hai câu thơ thì ý thơ về chí làm trai tựu chung lại ở một chữ

“lạ”, còn những chữ khác chỉ nhằm bổ nghĩa cho cái “lạ” ấy Phan Bội Châu quan niệm rằng, đã là nam nhi, sức dài vai rộng, thì sống ở trên đời phải có những hoài bão, lý tưởng cao đẹp, vượt lên những cái tầm thường như cơm, áo, gạo, tiền, có bản lĩnh mưu đồ việc lớn, làm những cái mà không ai dám làm, với lòng kiên định và niềm tin vững chắc Đặc biệt người nam nhi phải tự đưa bản thân mình ra khỏi chốn yên bình, hạn hẹp, “ao tù nước đọng”, phải vượt qua được những mối lo ngại được, mất mà vươn mình ra biển lớn, mưu đồ những việc phi thường hiển hách cho xứng với hai chữ nam nhi Mà như Xuân Diệu từng có một câu thơ rất hay:

Trang 3

“Thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt

Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm”

Thì ở đây, người nam nhi cũng vậy, cuộc đời ngắn ngủi, ít nhất phải có một lần được vụt sáng, vĩ đại, còn nếu cam chịu cuộc đời bình lặng, đằng đẵng thì quả là uổng phí:

“Đã mang tiếng ở trong trời đất

Phải có danh gì với núi sông”

(Nguyễn Công Trứ)

Để củng cố và bổ sung cho quan điểm chí làm trai của mình Phan Bội Châu đã làm rõ ý bằng câu thơ tiếp “Há để càn khôn tự chuyển dời” Rằng nam nhi chí tại bốn phương, phải nắm giữ và làm chủ vận mệnh của mình, chớ để mặc trời đất, tạo hóa kiến sinh, buông trôi vận mệnh như chiếc lá xuôi theo dòng nước không biết sẽ lạc lõng về đâu Phải là bậc hào kiệt trên đời này thì mới có những quan điểm mang tầm vóc như vậy Nội lực mạnh mẽ phi thường Con người muốn tham gia vào sự vận động của vũ trụ Nhận thức về mối quan hệ giữa con người và vũ trụ, về sự tác động của con người đối với vũ trụ như vậy là một suy nghĩ rất tích cực, cũng rất cách mạng Câu thơ làm thức dậy nội lực của mỗi con người để họ tham gia cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội Ý thơ chính là sự khích lệ của Phan Bội Châu dành cho những thanh niên trẻ tuổi, phải dám đặt ngang tầm vóc của bản thân với trời đất, với tạo hóa, giành lấy thế chủ động quyết định vận mệnh của mình, thậm chí là thay đổi càn khôn bằng một khẩu khí vô cùng mạnh

mẽ, tự tin và táo bạo Con người tuy nhỏ bé nhưng chính ý chí, tư thế hào hùng

đã khiến tầm vóc con người có thể sánh ngang tầm vũ trụ

Nếu như Nguyễn Công Trứ có “Chí làm trai nam bắc đông tây/ Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể”, thì Phan Bội Châu lại muốn thay đổi càn khôn, không chịu khuất phục sự sắp đặt trong trời đất Vần xoay vũ trụ theo ý chí mình, bước qua khỏi ranh giới an toàn, đi tìm một chân trời mới Nhà chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu mang đến quan niệm về chí làm trai trong thời đại mới, tạo ra một ý tưởng

Trang 4

thật lớn lao, mạnh mẽ Đó cũng là lời khẳng định sức mạnh của con người giữa

vũ trụ bao la

Thực ra chí làm trai chẳng phải đến bây giờ mới được Phan Bội Châu khẳng định Trước đó, trong thơ trung đại, ta vẫn thấy Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Công Trứ nhắc đến Nhưng điều đó không có nghĩa là ở bài thơ của Phan Bội Châu, lý tưởng nhân sinh kia đã mất đi sự mới lạ, thôi thúc Nó chính là điều nung nấu bao năm của tác giả bây giờ được nói ra, trước hết như lời tự vấn, tự nhủ, tự mình nâng cao tinh thần mình:

“Trong khoảng trăm năm cần có tớ

Sau này muôn thuở há không ai?”

Sau hai câu đề quan niệm chung về chí nam nhi, thì đến hai câu thực, Phan Bội Châu tiếp tục đưa ra quan điểm về vai trò và trách nhiệm của đấng nam nhi trước thời cuộc, đó là phận sự với đất nước, đặc biệt là trong giai đoạn đất nước

có nhiều biến động thì người nam nhi lại càng phải đứng ra thể hiện rõ ràng vai trò, chí khí của mình phụng sự cho Tổ quốc Hình tượng người chí sĩ hiện lên với khoảng thời gian dài: “trăm năm”, một là để chỉ đời người, sau là chỉ một thế kỷ nhiều biến động của đất nước Người chí sĩ nhận thức rõ ràng và nhấn mạnh trách nhiệm của bản thân, phải đứng lên đấu tranh cho lý tưởng, trở thành người có trọng trách vai trò to lớn, phục hưng đất nước Làm sao cho xứng với

sự sắp đặt của tạo hóa, vận mệnh đã đem đến cho ta một kỷ nguyên đầy chông gai, thì thân là nam nhi phải xác định được rằng đất nước đang cần ta và bản thân ta chính là rường cột nước nhà

Nhà thơ chuyển chữ “ta” thành chữ “tớ” Từ “tớ” phản ánh được cái hăm hở, lạc quan, trẻ trung Hai câu thơ trên dường như có chút ngông nghênh tự phụ nhưng thực ra là sự bộc lộ sâu sắc về cái tôi cá nhân tích cực Cái tôi này chẳng những khẳng định trách nhiệm đối với hiện tại, với vận mệnh hôm nay của đất nước

mà còn khẳng định nghĩa vụ với lịch sử Đó là tư thế của người có chí khí lớn, muốn vươn tới những đỉnh cao của lịch sử “Giữa cuộc sống tối tăm của đất nước lúc đó, có được một ý thức về cái “tôi” như thể, quả là cứng cỏi, là đẹp vô cùng, cũng như có được một ý thức lưu danh thiên cổ bằng sự cứu nước quả là cần thiết, là cao cả vô cùng” (Nguyễn Đình Chú)

Trang 5

Ngoài ra người chí sĩ còn hiện lên không chỉ là sự tự nhận thức mà còn hiện lên với tầm nhìn xa trông rộng, lo nghĩ cho mai sau, cho con đường cứu quốc bằng việc lay động thức tỉnh thế hệ thanh niên tiếp nối, cổ vũ họ bằng chính tráng chí,

lý tưởng của một nhà cách mạng tiên tiến Câu hỏi “Sau này muôn thuở há không ai?”, là hỏi tất cả thế hệ thanh Việt Nam bấy giờ và các thế hệ mai sau, kéo những con người đang chìm trong vũng lầy của sự bế tắc ra khỏi cảnh bất lực trước thời cuộc Đồng thời khích lệ tinh thần yêu nước, lý tưởng sống, tráng chí tung hoành bốn bể cho xứng với phận nam nhi, hướng họ đến một nhận thức mới, một niềm tin niềm hy vọng mới, khơi dậy trong tâm hồn họ sự tự tin, quyết đoán của bậc đại trượng phu Tác giả không hướng về riêng quá khứ mà còn là hiện tại, tương lai Đó cũng chính là bài học dành cho thế hệ trẻ của đất nước, luôn phải có cái tôi mạnh mẽ, dám hi sinh vì dân tộc

Nếu như trước đây cổng Trạng sân Trình là niềm khát khao, niềm tự hào của rất nhiều người; đặc biệt là đối với nam nhi, đó là con đường gây dựng sự nghiệp thì giờ đây Phan Bội Châu chỉ còn biết thở dài:

“Non sông đã chết sống thêm nhục

Hiền thánh còn đâu học cũng hoài”

Ở hai câu luận, chí làm trai của bậc chí sĩ lại hiện lên với những nhận thức về số phận đất nước, dân tộc và cả nền Nho học vốn tùng huy hoàng nhưng nay chỉ còn là quá khứ Phan Bội Châu viết “Non sông đã chết”, cái chết ở đây là cái chết của chủ quyền dân tộc, đất nước bị giày xéo bởi lũ giặc ngang tàn Trong khi ấy những kẻ vốn được coi là đầu não là xương sống, kinh mạch của một đất nước lại hèn nhát, sợ hãi, chỉ biết lo đến cái vinh hoa phú quý phù phiếm của bản thân mà quên đi vận mệnh dân tộc, chấp nhận sống đê hèn, nhục nhã dưới kiếp thuộc địa, để con dân phải lầm lũi thở than Một đất nước mất quyền tự chủ, một dân tộc không có người lãnh đạo có phải đã “chết” rồi hay không, chẳng khác nào một cái vỏ rỗng tuếch, những giá trị truyền thống, văn hóa của dân tộc đã bị đàn áp dưới chế độ thực dân

Cũng giống như chí làm trai của Phạm Ngũ Lão, “Lưu biệt khi xuất dương” cũng thể hiện rõ quan niệm trung quân ái quốc Khi đất nước vẫn đang còn phải

Trang 6

chịu sự chèn ép, bóc lột và mất tự do thì kẻ nam nhi cũng cảm thấy nhục nhã với chính mình Trách nhiệm của họ đối với đất nước vẫn chưa hoàn thành, họ sống cũng như không, giống như những kẻ tầm thường, vô dụng Sách vở của thánh hiền cũng chẳng rửa được vết nhơ nô lệ Việc mất nước chính là nỗi nhục nhã của cả một dân tộc, đặc biệt là trong tư tưởng truyền thống thì đối với mỗi một kẻ đọc sách thánh hiền, một đấng nam nhi, nỗi nhục ấy còn đau đớn và dằn vặt hơn gấp bội lần Nhất là đối với một danh sĩ xuất thân Nho học, nhận được

sự giáo dục truyền thống từ thuở còn tấm bé, việc phủ nhận và ý thức rõ ràng về một nền Nho học lỗi thời, lạc hậu, không còn phù hợp trong bối cảnh thời đại mới chính là nỗi đau đớn khó có thể chấp nhận

“Hiền thánh còn đâu học cũng hoài” - câu thơ nguyên tác trực cảm mãnh liệt hơn “Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si”, (Hiền thánh đã vắng thì có đọc sách cũng ngu thôi) Viết như vậy thì đúng như cụ Huỳnh Thúc Kháng nói “đầy mặt giấy mưa tuôn sấm nổ” Không nên hiểu là cụ Phan phủ định sách của thánh hiền, mà nên hiểu cụ Phan đã hành cái đạo của thánh hiền một cách sáng suốt, cái sáng suốt của một nhà cách mạng Ta có thể nhận thấy rằng dẫu rằng có xót

xa, nhưng người chí sĩ không hề nản chí, mà giọng thơ rất mạnh mẽ, quyết liệt sẵn sàng từ bỏ những thứ không còn giá trị để tiến tới một chân trời mới với tư thế hiên ngang mạnh mẽ, tâm hồn tự do và phóng khoáng:

“Muốn vượt bể Đông theo cánh gió

Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi”

Những hình ảnh lớn lao, kì vĩ “Bể Đông”, “cánh gió”, “muôn trùng sóng bạc” như tạo cho Phan Bội Châu một tư thế như bay lên, vượt lên trên gông cùm, xiềng xích nô lệ để tìm tới chân trời giải phóng Hình ảnh người chí sĩ hiện lên với cảnh người vượt biển đi thực hiện lý tưởng cao đẹp của mình, cống hiến và phụng sự cho Tổ quốc với một tầm vóc vĩ đại, sánh ngang trời đất Không gian rộng lớn, khoáng đạt được gợi ra từ những hình ảnh miêu tả vẻ đẹp hùng tráng của thiên nhiên từ “bể Đông” đến “muôn trùng sóng bạc”, điều ấy thể hiện những khát vọng hành động mạnh mẽ của người chí sĩ yêu nước Từng đợt sóng vừa thể hiện tráng chí sục sôi trong trái tim yêu nước, vừa thể hiện những khó khăn trùng trùng phía trước, ngoài ra cụm từ “tiễn ra khơi” còn thể hiện sự ủng

hộ của thiên nhiên với quyết định và lý tưởng đúng đắn của người anh hùng dân tộc Người chí sĩ yêu nước đứng trước thiên nhiên rộng lớn, đứng trước thời cuộc đầy biến động, vẫn giữ cho mình tráng chí ngất trời, phong thái tự tin, kiêu

Trang 7

hãnh ra đi tìm con đường mới cho Tổ quốc và dân tộc, đó thực sự là một hình ảnh đẹp đẽ vô cùng

Lời thơ kết của bài thơ với hai câu tuyệt đẹp, đầy cảm hứng lãng mạn Con đại bàng đã tung cánh bay ra biển khơi, bay vào thời đại “Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi” Bằng thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, bằng chữ Hán, với giọng thơ trang nghiêm hào hùng mạnh mẽ, lôi cuốn đã toát lên một chí lớn phi

thường không cam tâm làm nô lệ, quyết đi tìm đường cứu nước Đó không còn

là lời nói mà đã biến thành hành động vượt bể Đông của ông Bài thơ là một khúc anh hùng ca kêu gọi lên đường cứu nước mang giá trị khích lệ động viên, tuyên truyền cách mạng không chỉ đối với thế hệ thanh niên ở giai đoạn đó mà còn là lời nhắn nhủ chung đối với thanh niên các thế hệ sau

Chí làm trai của Phan Bội Châu không chỉ có ý nghĩa trong thời điểm ấy mà đến thế kỉ XXI hay mãi mãi về sau, đó là bài học, là tấm gương cho lớp lớp thế hệ

về tinh thần dân tộc, ý thức trách nhiệm; biết đương đầu với khó khăn, thử thách; loại bỏ cái tôi cá nhân để hoàn thành nghĩa vụ với Tổ quốc

Ngày đăng: 17/04/2022, 15:33

w