ĐỊA LÝ KINH TẾ ĐIỀU KIỆN KINH TẾ 1 TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU KIỆN, TIỀM NĂNG VÀ NGUỒN LỰC KINH TẾ VĨNH PHÚC Vĩnh Phúc là một tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, cửa ngõ của Thủ đô, là cầu nối giữa các[.]
Trang 1ĐIỀU KIỆN KINH TẾ
1 TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU KIỆN, TIỀM NĂNG VÀ NGUỒN LỰC KINH TẾ VĨNH PHÚC
Vĩnh Phúc là một tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, cửa ngõ củaThủ đô, là cầu nối giữa các tỉnh phía tây bắc với Hà Nội và đồng bằng châu thổsông Hồng, do vậy tỉnh có vai trò rất quan trọng trong hiến lược phát triển kinh tếkhu vực và quốc gia Sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, vừa có ảnh hưởng lớntới sự phát triển của khu vực phía bắc, vừa chịu tác động bởi sự phát triển chungcủa cả nước, nhất là khu vực phía bắc (đặc biệt là các tỉnh nằm dọc Quốc lộ 2) cũngnhư của đồng bằng sông Hồng Sự phát triển của tỉnh còn chịu ảnh hưởng lớn vàtrực tiếp của nhiều dự án, chương trình phát triển quốc tế và khu vực, trong đó cóviệc xây dựng và phát triển tuyến hành lang kinh tế xuyên Á Côn Minh - Lào Cai -
Hà Nội - Quảng Ninh.Địa hình Vĩnh Phúc được chia thành ba dạng cơ bản: miềnnúi; trung du; đồng bằng Vùng miền núi nằm ở phía bắc, tiếp giáp khu vực miềnnúi của hai tỉnh Tuyên Quang và Thái Nguyên, trong đó có hai dãy núi quan trọng
là Tam Đảo và Sáng Sơn, được đánh giá là mức độ đa dạng sinh học rất cao, cótiềm năng lớn về phát triển và khai thác tài nguyên rừng phục vụ các ngành lâmnghiệp, chế biến gỗ - lâm sản và du lịch, nghỉ mát Vùng đồng bằng Vĩnh Phúcnằm ở phía nam tỉnh thuộc các huyện Vĩnh Tường, Yên Lạc, Vĩnh Yên và một số
xã của huyện Bình Xuyên, Tam Dương Năm 2012, tổng diện tích đất sản xuấtnông nghiệp là 49.689,01 ha, Như vậy, vùng đồng bằng Vĩnh Phúc có tiềm năng đểphát triển nền nông nghiệp thâm canh năng suất cao
Giữa vùng miền núi và đồng bằng là vùng trung du với địa hình đồi gò xen
kẽ từ đông sang tây Tổng diện tích khu vực này là 24,9 nghìn hecta, trong đó đấtnông nghiệp chiếm 14 nghìn hecta Đây là vùng có quỹ đất đai dồi dào, đặc biệt làđất đồi, thích hợp trồng cây công nghiệp, cây ăn quả, hoa màu và chăn nuôi gia súc,gia cầm có quy mô công nghiệp, trang trại Vì vậy, vùng này có điều kiện thuận lợi
để chuyển đổi cơ cấu trồng trọt và chăn nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa Mặtkhác, vùng đồi ở trung du Vĩnh Phúc có những đặc điểm địa chất khá thuận lợi choviệc xây dựng các công trình công nghiệp và cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ phát
Trang 2triển kinh tế Một phần khá lớn diện tích này phân bố gần các trục đường giaothông và các cơ sở hạ tầng đã có sẵn Với vị trí địa lý gần Thủ đô Hà Nội, vùngtrung du Vĩnh Phúc có lợi thế lớn trong thu hút đầu tư để phát triển công nghiệp.Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội củaVĩnh Phúc khi Hà Nội đã và đang thực hiện chủ trương chuyển dần các cơ sở sảnxuất công nghiệp cùng một số trường đại học ra khỏi nội thành; tạo điều kiện đểhình thành trung tâm đào tạo đại học, dạy nghề ngay tại Vĩnh Phúc.Về thủy văn,trên địa bàn Vĩnh Phúc, hệ thống sông suối khá đa dạng, trong đó lớn nhất là sôngHồng và sông Lô Sông Lô ở phía tây với chiều dài 34 km chảy qua địa bàn tỉnh,trở thành ranh giới tự nhiên giữa Vĩnh Phúc và Phú Thọ Sông Hồng có chiều dài
30 km là ranh giới tự nhiên giữa Vĩnh Phúc và Hà Nội Ngoài ra, trên địa phậnVĩnh Phúc còn có nhiều sông ngòi nhỏ bắt nguồn từ dãy núi Tam Đảo, chảy xuốngvùng đồng bằng như sông Đáy, sông Cà Lồ
Vĩnh Phúc còn có nhiều đầm, hồ lớn được hình thành bởi kiến tạo địa chấthoặc do yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội sau này như đầm Vạc, đầm Rượu, đầmĐông Mật, đầm Kiên Cương, đầm Rưng, hồ Đại Lải, hồ Xạ Hương, hồ Vân Trục Những công trình này có ý nghĩa rất quan trọng đối với tỉnh trong việc điều tiếtnguồn nước, điều hòa khí hậu, phát triển các ngành sản xuất, dịch vụ, du lịch Vềkhí hậu, chế độ gió mùa và sự thay đổi khí hậu trong năm đã tạo điều kiện cho VĩnhPhúc thâm canh, tăng vụ, đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp, tăng hệ số sử dụng đấtnông nghiệp Mặt khác cũng gây ra không ít khó khăn như úng lụt, khô hạn, sươngmuối, lốc xoáy, mưa đá, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống.Nguồn tài nguyênkhoáng sản của Vĩnh Phúc không phong phú Trên địa bàn tỉnh có một số loạikhoáng sản, trong đó có những loại khoáng sản quý hiếm như thiếc, vàng sakhoáng quy mô nhỏ, phân tán, trữ lượng thấp, không thuận lợi cho đầu tư khai tháccông nghiệp Khoáng sản có trữ lượng đáng kể nhất là vật liệu xây dựng như đá xâydựng, đá granite (khoảng 50 triệu mét khối), cao lanh, cát sỏi và đất sét
Do có địa hình miền núi và gò đồi với diện tích lớn, nhất là Vườn Quốc giaTam Đảo, nên tài nguyên rừng của Vĩnh Phúc tương đối đa dạng Đây là điều kiệnthuận lợi để phát triển lâm nghiệp và du lịch Ngoài khu vực Tam Đảo, với tàinguyên du lịch rất đa dạng và phong phú, Vĩnh Phúc còn có tiềm năng để phát triển
Trang 3hầu hết các loại hình du lịch Nhiều điểm du lịch của tỉnh đã nằm trong quy hoạch
du lịch tổng thể của cả vùng Bắc Bộ Tỉnh còn có thể kết nối với các tỉnh lân cậnhình thành các tuyến, tour du lịch phong phú và hấp dẫn Trong xu thế đô thị hóa vàphát triển Hà Nội thành một “siêu đô thị”, nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí của dân cư đôthị lân cận Vĩnh Phúc đang tăng cao và ngày càng đa dạng về loại hình, chất lượng,giá cả Tiềm năng to lớn của Vĩnh Phúc về phát triển du lịch sinh thái, phát triểncác khu nghỉ dưỡng cuối tuần, khu vui chơi đang được hiện thực hóa dần từngbước
So với các địa phương khác, Vĩnh Phúc là tỉnh có dân số vào loại trung bình.Năm 2012, toàn tỉnh có 1.020,597 triệu người sinh sống, trong đó người Kinhchiếm trên 97%, người Sán Dìu chiếm 2,5%; dân cư thuộc các thành phần dân tộckhác có số lượng ít, chủ yếu đến Vĩnh Phúc do quá trình chuyển cư và hôn nhân
Đa số dân cư Vĩnh Phúc sống ở nông thôn Tỷ lệ dân cư đô thị của Vĩnh Phúc tăng
từ 12,97% năm 2001 lên 23,02% năm 2011 Mật độ dân số hiện chưa phải là loạicao nhất nước (năm 2011 là 821 người/km), nhưng có xu hướng tăng nhanh, có thểtạo ra sức ép lớn đối với cơ sở hạ tầng Lực lượng lao động của tỉnh năm 2012 là626.010 ngàn người, chiếm hơn 70% dân số Về chất lượng lao động, tỷ lệ lao độngqua đào tạo năm 2007 là 36,4% và năm 2011 là 54%, tăng 3,8% so với năm 2010
Với vị trí địa lý và thủy văn thuận lợi, hệ thống giao thông của Vĩnh Phúcphát triển khá sớm - cả đường bộ lẫn đường thủy Ngay từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế
kỷ XX, nhằm mục đích khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong tỉnh vàcác vùng lân cận, thực dân Pháp đã triển khai xây dựng hệ thống giao thông vận tảibao gồm cả đường bộ, đường sắt và đường hàng không Hiện nay, Quốc lộ 2 (HàNội - Hà Giang) có trên 50 km chạy qua địa phận Vĩnh Phúc, song song với đườngsắt Hà Nội - Lào Cai (cũng chạy qua Vĩnh Phúc); Quốc lộ 2B từ Vĩnh Yên đi khunghỉ mát Tam Đảo; Quốc lộ 2C từ Vĩnh Yên qua Tam Dương, Lập Thạch đi TuyênQuang Đây là những tuyến đường bộ mang tầm chiến lược đối với sự phát triểnkinh tế - xã hội miền Bắc nói chung Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh còn có tuyến đườngxuyên Á Hà Nội Lào Cai chạy qua, đó là điều kiện rất thuận lợi để phát triển kinh
tế Các tuyến đường tỉnh lộ đã được đầu tư nâng cấp phục vụ cho việc giao lưu pháttriển kinh tế - xã hội của các huyện trong tỉnh Hệ thống giao thông đường thủy
Trang 4cũng được chú ý và khá phát triển, nhất là hệ thống sông Hồng, sông Lô VĩnhPhúc còn gần sân bay quốc tế Nội Bài, rất thuận lợi cho giao lưu phát triển kinh tếtrong nước và quốc tế.
Bên cạnh những thuận lợi rất căn bản, sự phát triển kinh tế của Vĩnh Phúccũng gặp nhiều khó khăn và hạn chế Một trong những khó khăn lớn nhất là nềnkinh tế chủ yếu dựa vào kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.Tuy số lao động đượcđào tạo nghề của Vĩnh Phúc chiếm tỷ trọng ngày càng cao nhưng về căn bản, khảnăng đáp ứng nhu cầu của các cơ sở sử dụng vẫn còn hạn chế, đặc biệt là trong kỹnăng thực hành và khả năng thích ứng với công nghệ, kỹ thuật, các mô hình tổ chứcsản xuất tiên tiến, hiện đại
Trong những năm gần đây, hệ thống cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hệ thống giaothông và cơ sở hạ tầng thông tin liên lạc, đã được đầu tư xây dựng và nâng cấp từnhiều nguồn Do vậy, năng lực của hệ thống này đã được cải thiện, song so với nhucầu phát triển trong tương lai vẫn còn nhiều hạn chế, chưa đồng bộ, cần tiếp tụcđược đầu tư, nâng cấp
Từ khi tách tỉnh (1997) tới nay, tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh song chủyếu là dựa vào vốn đầu tư và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, đây là một trongcác yếu tố tăng trưởng không bền vững của kinh tế Vĩnh Phúc Trên đây là nhữnghạn chế, bất cập cơ bản của tỉnh khi bước vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đạihóa, và việc khắc phục những hạn chế này vẫn là thách thức lớn đối với Vĩnh Phúctrong thời gian tới
2 KINH TẾ TRUYỀN THỐNG TRƯỚC NĂM 1945
Trước năm 1945, Vĩnh Phúc là tỉnh có truyền thống sản xuất nông nghiệp.Những kết quả nghiên cứu khoa học mới nhất đã khẳng định, vùng đồi núi và thunglũng trung du Vĩnh Phúc nằm trong khu vực thuần dưỡng và phổ biến cây lúa nướcOyza Japonica Từ thung lũng trung du, cùng với quá trình chinh phục vùng đồngbằng trung tâm châu thổ, cư dân Việt đã đưa cây lúa và kỹ thuật canh tác lên mộttrình độ khá cao Những biện pháp thâm canh truyền thống đã được cư dân áp dụngtrong nền kinh tế nông nghiệp định canh, định cư qua nhiều thế hệ
Trang 5Cùng với cây lúa, trong môi trường địa lý tự nhiên đa dạng, dân cư VĩnhPhúc đã sớm du nhập và canh tác các loại hoa màu và cây ăn quả phục vụ nhu cầucủa đời sống.Bên cạnh đó, thời gian nông nhàn đã tạo điều kiện để hình thành vàphát triển nhiều nghề thủ công, từ đơn giản đến tay nghề cao Nhiều sản phẩm thủcông như gốm, dệt, rèn đã đáp ứng được nhu cầu đời sống của người nông dântrong điều kiện kinh tế tự cung, tự cấp Một số nghề và làng nghề vẫn tiếp tục đượcduy trì và phát triển cho tới nay như gốm Hương Canh, mộc Thổ Chu (Bích Chungày nay), rèn Lý Nhân
Cùng với sự phát triển của nông nghiệp và thủ công nghiệp, hệ thống chợ đểtrao đổi buôn bán đã được hình thành, trước hết là chợ làng, chợ quê mà nổi tiếng
là làng thương mại Thổ Tang Trong thời thuộc Pháp, nhằm thực hiện chính sách vơvét tài nguyên, bóc lột thuộc địa, trên địa bàn Vĩnh Yên và Phúc Yên (cũ), thực dânPháp đã tiến hành chiếm đoạt đất đai, vơ vét lúa gạo Theo thống kê của Công sứVĩnh Yên, trong 5 năm từ 1934 đến 1938, Vĩnh Yên sản xuất được 32.369 tấn thóc,
204 tấn ngô
Địa chí Phúc Yên năm 1932 ghi lại: Phúc Yên là tỉnh nghèo, sản xuất lúa làchính, hằng năm cày cấy chừng 40.000 ha, thu hoạch trung bình 40.000 tấn gạo,hằng năm xuất cảng cho Hoa kiều 253 tấn Không chỉ vơ vét thóc gạo, trong thời
kỳ này, thực dân Pháp còn ra sức chiếm đoạt ruộng đất của nhân dân ta để lập đồnđiền Ở Vĩnh Yên, theo báo cáo năm 1933, toàn tỉnh có 21 đồn điền của ngườiPháp, với 1.863 ha Ngoài ra, một số người Pháp cũng chiếm hữu một diện tíchruộng đất khá lớn để phát canh thu tô, nhằm bóc lột nguồn nhân công rẻ mạt, manglại nguồn lợi kinh tế trực tiếp
Theo tài liệu thống kê của Pháp, năm 1930, tại hai tỉnh Vĩnh Yên và PhúcYên, diện tích cấy lúa là 44.856 mẫu, thu hoạch được 74.374 tấn thóc, đóng thuếđiền 398.267,78 đồng.Thời kỳ này, ngoài một số công trình thủy lợi nhỏ, Phúc Yênhầu như không có cơ sở công nghiệp và xây dựng Trong khoảng thời gian từ 1914đến 1922, người Pháp đã cho xây dựng hệ thống kênh máng, cống, đập, trong đó cóđập Liễn Sơn và cống phân lũ 12 cửa thuộc sông Cà Lồ Những công trình thủy lợi
Trang 6này chủ yếu phục vụ các đồn điền, để các chủ người Pháp khai thác triệt để hơnnhững nguồn lợi ở khu vực
Có thể nói, trong khuôn khổ của nền sản xuất tự cung tự cấp, kinh tế truyềnthống ở Vĩnh Phúc trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, về cơ bản vẫn là nềnkinh tế tiền công nghiệp, chậm phát triển, nông nghiệp đóng vai trò chủ đạo Thủcông nghiệp đã hình thành ở một số địa phương nhưng quy mô nhỏ và trình độ kỹthuật - công nghệ lạc hậu, sản xuất và tiêu dùng tại chỗ là chính
3 KINH TẾ VĨNH PHÚC TRONG CUỘC KHÁNH CHIẾN CHỐNG PHÁP (1945 - 1954)
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Vĩnh Phúc (lúc đó bao gồm haitỉnh Vĩnh Yên và Phúc Yên) cùng cả nước tiến hành xây dựng chính quyền mới Đểgiải quyết nạn đói trước mắt, từng bước ổn định đời sống nhân dân, cùng với việcthực hiện khẩu hiệu “Nhường cơm sẻ áo” theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ ChíMinh, chính quyền địa phương đã phát động phong trào tăng gia sản xuất trongnhân dân, thực hiện khẩu hiệu “Không một tấc đất bỏ hoang”, tập trung sản xuấtcác loại hoa màu ngắn ngày Nhờ đó, chỉ trong một thời gian ngắn, hoạt động sảnxuất đã thu được những kết quả khả quan: những cánh đồng bị nước lụt tàn phácùng một phần đồi núi hoang vu đã được phục hồi và đưa vào sản xuất; hàng vạnmẫu hoa màu ngắn ngày được thu hoạch đã có tác dụng thiết thực trong việc giảiquyết nạn đói của nhân dân
Để từng bước ổn định sản xuất, chính quyền địa phương đã huy động hàngnghìn nhân công đắp các đoạn đê vỡ, sửa chữa hệ thống mương máng, phục vụ tíchcực cho việc phục hồi sản xuất Chính quyền dân chủ nhân dân còn nhanh chóngxóa bỏ các loại thuế vô lý, thực hiện giảm tô, phân cấp công điền, công thổ cho dâncày nghèo, góp phần quan trọng để phục hồi sản xuất nông nghiệp, ngăn chặn nạnđói, ổn định đời sống nhân dân và củng cố chính quyền cách mạng Trong thời kỳkháng chiến chống Pháp, từ tháng 12 - 1946 đến tháng 6 - 1949, Vĩnh Phúc thuộcvùng tự do nên chính quyền các cấp đã vận động nhân dân đẩy mạnh tăng gia sảnxuất nhằm bồi dưỡng sức dân, kháng chiến lâu dài Hàng vạn mẫu đất hoang, đồitrọc đã được nhân dân khai phá để trồng sắn, ngô, khoai; ruộng đất tại các đồn điền
Trang 7vắng chủ đã được đưa vào sản xuất nông nghiệp Tại Phúc Yên, chính quyền cáchmạng đã thành lập 22 tập đoàn sản xuất, cấp 100.000 mẫu công điền, công thổ chonhân dân Phong trào sản xuất còn có sự tham gia của lực lượng vũ trang địaphương Chính quyền tại Vĩnh Yên, Phúc Yên đã thành lập Ban Khuyến nông cáccấp, hỗ trợ giống, vốn và hướng dẫn nhân dân phát triển sản xuất Ngoài ra, tỉnhcòn thành lập các trại sản xuất giống lúa và một số giống cây trồng khác, cung cấpcho nhân dân để phát triển sản xuất Riêng Vĩnh Yên đã có ba trại lúa giống ở PhúVinh, Tích Sơn (Tam Dương) và Lăng Sơn (Lập Thạch).
Trong thời gian này, để hỗ trợ và thúc đẩy sản xuất ở địa phương, tỉnh cònthành lập chi nhánh tín dụng ở Vĩnh Yên và Phúc Yên Từ năm 1948, hoạt động tíndụng đã phát triển tổ chức xuống cấp huyện và cho dân vay 830.490 đồng cùnghàng trăm trâu bò cày kéo Song song với việc động viên, khuyến khích, các cấpchính quyền kháng chiến cũng đã trực tiếp tổ chức xây dựng, phát triển cơ sở hạtầng phục vụ sản xuất và đời sống của nhân dân địa phương Năm 1948, tỉnh VĩnhYên đã tiến hành xây dựng 16 công trình tiểu thủy nông và tu bổ hệ thống nônggiang Liễn Sơn, cung cấp nước cho 18.461 mẫu lúa
Sản xuất nông nghiệp ở Vĩnh Phúc trong thời kỳ này đã có những bước pháttriển đáng kể Năm 1947, tỉnh Vĩnh Yên gieo trồng 43.229 ha lúa mùa, thu hoạchđược 48.660 tấn thóc; 21.561 ha lúa chiêm, thu hoạch được 24.660 tấn thóc Năm
1948, cả diện tích và sản lượng lúa hai vụ đều tăng Vì thế, ngoài việc đảm bảophục vụ nhu cầu của nhân dân, hoàn thành nghĩa vụ đối với Nhà nước, Vĩnh Phúccòn cung cấp 4.000 tấn gạo cho chiến khu Việt Bắc Năm 1949, Phúc Yên đã ủng
hộ 3 vạn hũ gạo kháng chiến Từ ngày 20 - 6 - 1949 đến ngày 2 - 9 - 1949, nhândân Phúc Yên đã bán cho
Nhà nước trên 416 tấn thóc, trên 71 tấn gạo và các loại hoa màu khác, gópphần phục vụ kháng chiến và được Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư khen vào dịpQuốc khánh 2 - 9 - 1949 Đầu năm 1950, hai tỉnh Vĩnh Yên và Phúc Yên được hợpnhất thành tỉnh Vĩnh Phúc, cùng với việc tiến hành kháng chiến, các hoạt động kinh
tế vẫn được triển khai; các tầng lớp nhân dân tiếp tục đẩy mạnh phong trào tăng giasản xuất, các ngành thực hiện chủ trương tự cung tự cấp Tỉnh đã hỗ trợ giống,
Trang 8nông cụ, trâu bò cho nông dân vùng tạm chiếm; củng cố hệ thống đê đập, nônggiang tại các vùng ven sông Đáy, sông Lô.
Thực hiện chủ trương của Chính phủ về việc tạm cấp ruộng đất của thực dânPháp và việt gian vắng chủ cho nông dân, tháng 6 - 1951, tỉnh đã tạm chia 277 hađất canh tác cho 2.088 hộ nông dân thuộc 13 đồn điền trên địa bàn VĩnhPhúc.Trong những năm 1951 - 1952, hưởng ứng phong trào sản xuất và tiết kiệm,nhân dân Vĩnh Phúc đã ký giao ước thi đua, giúp đỡ, tương trợ lẫn nhau trong côngviệc khai hoang, phục hóa đất đai, làm thủy lợi và sản xuất nông nghiệp Phongtrào đổi công phát triển mạnh, đã có 86 tổ đổi công và 2.260 tổ sản xuất được thànhlập
Từ giữa năm 1951, Vĩnh Phúc lại dần bị chiếm đóng, thực dân Pháp lập vànhđai trắng từ Lập Thạch đến Đa Phúc và tăng cường các hoạt động quân sự trên địabàn, dẫn đến hậu quả là một diện tích đất nông nghiệp khá lớn bị bỏ trắng, nghề thủcông ở vùng tạm chiếm bị ảnh hưởng bất lợi, lưu thông hàng hóa bị cản trở nặng
nề
Trước tình hình đó, chính quyền địa phương đã chỉ đạo nhân dân lấn vànhđai, trở về quê cũ, tiến hành sản xuất, đấu tranh với địch Dù địch thường xuyên mởcác chiến dịch bình định và càn quét ở vùng này, nhưng nhờ nỗ lực của nhân dân vàchính quyền địa phương, sản xuất vẫn được duy trì Trong ba năm (1951 - 1953),nhân dân đã đóng góp cho Nhà nước hàng vạn tấn thóc thuế nông nghiệp Các hoạtđộng thủ công tuy gặp rất nhiều khó khăn nhưng cũng đã tự cung cấp được nhiềunhu yếu phẩm và tư liệu sản xuất đơn giản, thiết yếu, trong đó đã sản xuất đượctrên 2 vạn lưỡi cày cung cấp cho nông dân
Cũng trong năm 1953, nhằm tích cực bồi dưỡng sức dân, đẩy mạnh khángchiến, chính quyền cách mạng ở Vĩnh Phúc tiếp tục phát triển công tác giảm tô,giảm tức, tạm chia, tạm cấp ruộng đất cho nông dân ở vùng tự do, mở đường chosản xuất phát triển, tích cực góp phần đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi Nhândân Vĩnh Phúc đã đóng góp sức người, sức của đáng kể cho chiến dịch Biên giới vàchiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954
Trang 94.KINH TẾ VĨNH PHÚC GIAI ĐOẠN 1954-2011
4.1.Từ năm 1954 đến năm 1975
Từ năm 1954 đến năm 1975 Từ cuối năm 1954, cùng với việc khắc phục hậuquả chiến tranh, tỉnh Vĩnh Phúc tích cực khôi phục kinh tế, tập trung phục hồi vàphát triển sản xuất nông nghiệp, đồng thời chú trọng phát triển công - thươngnghiệp Từ tháng 10 đến cuối tháng 12 - 1954, nhân dân các huyện Lập Thạch,Vĩnh Tường, Yên Lạc, Yên Lãng, Bình Xuyên đã góp gần 7 vạn ngày công để tu bổ
hệ thống nông giang Liễn Sơn và nhanh chóng đưa vào sử dụng, cung cấp nướctưới cho 21.500 ha lúa của 6 huyện trong tỉnh
Song song với quá trình trên, công tác khai hoang phục hóa cũng được đẩymạnh Trong những năm chiến tranh, toàn tỉnh có 47.222 mẫu ruộng bị bỏ hoang,nhưng chỉ trong vòng một năm, tính đến tháng 7 - 1955, trên địa bàn tỉnh đã có hơn70% diện tích hoang hóa được khôi phục Cùng với việc phát triển sản xuất, ngay
từ tháng 10 - 1955, ngành thương nghiệp đã có bước phát triển mới và góp phầntích cực ổn định đời sống nhân dân Hệ thống hợp tác xã mua bán được xây dựng ởnhiều xã và từ năm 1959, nhiều hợp tác xã tín dụng cũng được thành lập
Song song với quá trình phục hồi kinh tế, Vĩnh Phúc đã tiến hành thực hiệncải tạo xã hội chủ nghĩa đối với công - thương nghiệp, đặc biệt là sau thắng lợi củacải cách ruộng đất Ra đời từ trong kháng chiến, khi hòa bình lập lại, phong tràođổi công ở Vĩnh Phúc tiếp tục phát triển mạnh, trở thành tiền đề quan trọng hàngđầu để xây dựng phong trào hợp tác hóa nông nghiệp Năm 1954, toàn tỉnh đã có3.564 tổ đổi công và năm 1956, tăng lên 13.923 tổ Trên cơ sở đó, việc xây dựnghợp tác xã nông nghiệp được triển khai rộng rãi trên quy mô toàn tỉnh Cuối năm
1960, kết thúc kế hoạch ba năm cải tạo xã hội chủ nghĩa, tỉnh đã thành lập được1.350 hợp tác xã, tập hợp 107.944 hộ nông dân, tương đương 92,68% tổng số hộnông dân của tỉnh Số ruộng đất thuộc các hợp tác xã nông nghiệp là 2.000.335mẫu (chiếm 81,21% diện tích đất nông nghiệp của tỉnh), số trâu bò đưa vào hợp tác
xã là 68.921 con (chiếm 83,4% tổng đàn trâu bò trên địa bàn) Thực hiện chínhsách thí điểm hình thành các hợp tác xã bậc cao, năm 1960, toàn tỉnh đã chuyển đổi
Trang 10và thành lập 32 hợp tác xã bậc cao Tính đến năm 1960, công cuộc hợp tác hóanông nghiệp, về cơ bản đã hoàn thành trên địa bàn Vĩnh Phúc.
Đối với ngành thủ công nghiệp và thương nghiệp, tỉnh Vĩnh Phúc đẩy mạnhquá trình cải tạo theo các hình thức hợp tác, hợp doanh Cuối năm 1960, toàn tỉnh
đã đưa 14.559 thợ thủ công vào làm ăn tập thể và 5.393 hộ tiểu thương (chiếm 88%tổng số hộ tiểu thương trên địa bàn tỉnh) vào các tổ chức kinh doanh, dịch vụ
Năm 1961, Vĩnh Phúc đã tiến hành xây dựng và thực hiện kế hoạch 5 nămlần thứ nhất theo hướng xây dựng và phát triển nền kinh tế xã hội chủ nghĩa Mụctiêu và nhiệm vụ cơ bản là: hoàn thành cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các thànhphần kinh tế, xây dựng quan hệ sản xuất mới, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật đểtạo tiền đề cho công cuộc công nghiệp hóa và cải thiện đời sống nhân dân Đại hộiĐảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ II (năm 1961) đã cụ thể hóa phương hướng, nhiệm
vụ phát triển kinh tế của tỉnh trong giai đoạn mới như sau: Ra sức phát triển nôngnghiệp toàn diện, đồng thời phát triển công nghiệp địa phương và thủ công nghiệpphục vụ nông nghiệp, tăng cường thương nghiệp hợp tác xã, hoàn thành cải tạo xãhội chủ nghĩa đối với nông nghiệp, thủ công nghiệp và công thương nghiệp, đưamột số hợp tác xã đủ điều kiện lên bậc cao Theo đó, tại các huyện Lập Thạch, TamDương, Bình Xuyên, Kim Anh, Đa Phúc, quy mô hợp tác xã chỉ trên dưới 100 hộ,những nơi khác trên 200 hộ Năm 1961, tỉnh đã tiến hành củng cố, sáp nhập hợp tác
xã trong phạm vi toàn thôn Toàn tỉnh còn lại 817 hợp tác xã, đạt 95,1% Trong hainăm 1961 - 1962, sản xuất nông nghiệp tăng bình quân 7,3%/năm Tổng sản lượnglương thực quy thóc năm 1962 tăng hơn năm 1960 là 33.780 tấn
Bên cạnh đó, công tác khai hoang phục hóa vẫn được đẩy mạnh Tính đếnnăm 1965, tỉnh đã khai hoang được 19.000 mẫu, nâng diện tích đất nông nghiệp lên
4 sào/người Cùng với việc triển khai vận động cải tiến quản lý hợp tác xã, trongsản xuất nông nghiệp, năng suất, diện tích, sản lượng cây trồng đều tăng so vớinhững năm trước Năm 1963, bình quân lương thực đầu người đạt 397 kg; đàn trâu
bò cũng không ngừng tăng; việc nuôi thả cá đã được triển khai ở nhiều hợp tác xã,
số hợp tác xã chăn nuôi tập thể đã tăng từ 180 (năm 1962) lên 201 (năm 1963).Năm 1963, Vĩnh Phúc là một trong những tỉnh dẫn đầu miền Bắc về sản xuất lương