1. Trang chủ
  2. » Tất cả

BCCD6 Danh gia kha nang an moi.PDF

33 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Khả Năng Ăn Mới
Trường học Trường Đại Học Nông Lâm
Chuyên ngành Nông Nghiệp
Thể loại báo cáo
Năm xuất bản 2010
Thành phố Quảng Ninh
Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 275 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, song song với việc tạo các giống cây kháng sâu bệnh thì biện pháp sinh học ngày càng phát triển mạnh mẽ và được sử dụng như một biện pháp quan trọng, cốt lõi trong phòng trừ sâu

Trang 1

PHẦN I: MỞ ĐẦU

Quảng Ninh là tỉnh miền núi phía Đông Bắc với địa hình nhiều đồi núi và đồng bằng ven biển nên có tiềm năng phát triển cây lâm nghiệp, cây ăn quả và cây công nghiệp ngắn ngày Quy hoạch phát triển rừng trồng của tỉnh 433.366 ha, đến năm

2010 diện tích có rừng là 270.829 ha trong đó rừng trồng 163.029,7 ha, tập trung vào một số loại cây trồng chính: Thông, keo, bạch đàn, rừng ngập mặn…Cây ăn quả chủ yếu là vải, nhãn, cam quýt, na, dứa, cây công nghiệp: chè, mía, tương, lạc…

Đã từ lâu na được nhập vào nước ta và được trồng khắp cả nước chỉ trừ một vài vùng có nhiệt độ xuống quá thấp về mùa đông Cây na là một trong những loại cây trồng nằm trong định hướng phát triển của tỉnh Quảng Ninh, na được trồng tập trung chủ yếu tại Đông Triều Cả huyện hiện có hơn 815 ha cây na dai, trong đó có hơn 200 ha trồng tập trung theo chương trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ năm 1994-1995 tại 3 xã: Việt Dân, Tân Việt và An Sinh thuộc huyện Đông Triều, ngoài

ra còn một số diện tích nhỏ phân bố rải rác ở một số xã thuộc thị xã Quảng Yên, Hoành Bồ Sản lượng na năm 2010 ở Đông Triều là 8.046 tấn na quả, đây là một nguồn thu rất lớn từ kinh tế vườn đồi mà không phải địa phương nào của huyện Đông Triều cũng có được

Trong những năm gần đây, ngành nông nghiệp của tỉnh chuyển dần theo hướng sản xuất hàng hóa, đa dạng hóa sản phẩm đặc biệt là các loại cây ăn quả đặc sản, việc nông dân tìm kiếm một loại cây trồng có hiệu quả kinh tế cao, phù hợp với đất đai, khí hậu của địa phương như cây na là rất có ý nghĩa

Để giữ vững năng suất, người ta sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật, chủ yếu là các loại thuốc hóa học (có tác dụng ngăn ngừa, gây chết và làm giảm ảnh hưởng

do dịch hại gây ra đối với cây trồng)

Trước những thay đổi của tình hình thời tiết và do trình độ hiểu biết của người dân còn hạn chế, việc lạm dụng thuốc hóa học ngày một gia tăng làm ảnh

Trang 2

hưởng tới năng suất và chất lượng na, diễn biến sâu bệnh hại trên cây ăn quả nói chung và trên cây na nói riêng cũng trở nên phức tạp

Qua kết quả điều tra tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trên cây na tại huyện Đông Triều năm 2010 cho thấy trên cây na có nhiều đối tượng gây hại, chủ yếu là: Rệp sáp, nhện đỏ, bọ trĩ, bệnh thán thư, bệnh sương mai, bệnh vàng lá – thối gốc

Nhìn chung nông dân ở các xã điều tra đều cho biết số lần phun thuốc BVTV trên na là rất cao:

- Rệp sáp phun từ 2,74-5,19 lần/năm, trong đó xã An Sinh có số lần phun thấp nhất (2,74 lần/năm), xã Tân Việt có số lần phun nhiều nhất (5,19 lần/năm)

- Nhện đỏ phun từ 3,64-5,52 lần/năm Trong đó xã An Sinh có số lần phun trừ nhện đỏ thấp nhất (3,64 lần/năm)

- Bọ trĩ phun từ 4,67-5,10 lần/năm Xã Việt Dân có số lần phun trừ bọ trĩ thấp nhất (4,67 lần) Xã Tân Việt và An Sinh có số lần phun tương đương nhau đạt 5,10 và 5,09 lần/năm

- Bệnh thán thư phun từ 3,37-5,12 lần/năm Xã Việt Dân có số lần phun trừ bệnh thán thư thấp nhất

- Bệnh sương mai phun từ 2,51-4,50 lần/năm Xã An Sinh có số lần phun trừ bệnh sương mai thấp nhất

- Bệnh vàng lá thối gốc được xử lý từ 0,54-2,15 lần/năm Xã Việt Dân có số lần xử lý cao nhất đạt 2,15 lần/năm

Phần lớn nông dân được điều tra không nhớ tên thuốc bảo vệ thực vật, số lần phun nhiều (phun không đúng thuốc, đúng lúc, đúng cách, đúng nồng độ và liều lượng quy định), kết hợp các thuốc trừ sâu và trừ bệnh chưa đúng đã gây ô nhiễm môi trường sống của nông dân trên địa bàn làm tăng chi phí sản xuất, ảnh hưởng đến chất lượng quả na và hiệu quả phòng trừ các đối tượng dịch hại

Trang 3

Để duy trì một nền nông nghiệp bền vững không gây ô nhiễm môi trường thì việc xây dựng và áp dụng các biện pháp đấu tranh sinh học dựa trên những hiểu biết về sinh thái học là một hướng đi đúng đắn để bảo vệ cây trồng Sử dụng biện pháp sinh học hiệu quả bền vững và lâu dài, mở rộng dần Tác nhân sinh học phát huy hiệu quả ngay cả khi dịch hại ở mật độ thấp Hơn nữa biện pháp sinh học áp dụng thành công sẽ có hiệu quả kinh tế cao hơn các biện pháp khác (California:1923-1959 lợi do biện pháp sinh học là 115 tr.$, chi phí 43 tr.$, gấp 26 lần so với biện pháp dùng thuốc hóa học) Biện pháp sinh học an toàn, không gây độc hại đối với người và động vật máu nóng, phòng chống được loài dịch hại kháng thuốc hóa học Sử dụng biện pháp sinh học không để lại dư lượng trong nông sản như thuốc hóa học bảo vệ thực vật, không gây ô nhiễm môi trường, không làm phá

vỡ khu hệ thiên địch

So sánh Biện pháp sinh học và biện pháp hoá học

Các tiêu chí so sánh Biện pháp hoá học Biện pháp sinh học

Thử ban đầu (ingredients) > 1 000 000 2 000

Giá thành phát triển 160 triệu USD 2 triệu USD

(Giáo trình biện pháp sinh sinh học trong bảo vệ thực vật, Đại học Nông nghiệp Hà Nội)

Trong sản xuất nông nghiệp hiện nay với hàng loạt các yếu tố thường xuyên thay đổi trong quá trình canh tác từ khi gieo trồng đến khi thu hoạch, việc gia tăng

Trang 4

đầu vào (giống, phân hóa học, thuốc trừ dịch hại, ) đã và đang làm giảm sự đa dạng sinh học dẫn đến mất cân bằng sinh học Hệ quả là nhiều loài thiên địch giảm

số lượng nghiêm trọng, không thể khống chế được dịch hại và do đó dịch hại bùng phát với số lượng quá mức, gây thiệt hại ngày một nhiều đối với cây trồng

Vì vậy, song song với việc tạo các giống cây kháng sâu bệnh thì biện pháp sinh học ngày càng phát triển mạnh mẽ và được sử dụng như một biện pháp quan trọng, cốt lõi trong phòng trừ sâu bệnh hại

Từ những vấn đề trên, trong khuôn khổ thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một

số biện pháp kỹ thuật tác động làm tăng năng suất, chất lượng quả và phòng trừ dịch hại tổng hợp trên cây Na”, chúng tôi nghiên cứu chuyên đề: “Đánh giá khả năng ăn mồi và ký sinh của thiên địch trên cây Na tại huyện Đông Triều”

Trang 5

PHẦN II ĐẶC ĐIỂM, HÌNH THÁI CỦA MỘT SỐ THIÊN ĐỊCH ĂN MỒI VÀ

KÝ SINH SÂU HẠI TRÊN CÂY NA

2.1 Tổng quan về thiên địch trên cây trồng

2.1.1 Thiên địch và ưu điểm của biện pháp sử dụng thiên địch trong phòng trừ dịch hại trên cây trồng

Trong tự nhiên, thiên địch đóng một vai trò rất quan trọng trong việc hạn chế

số lượng của nhiều loài sâu hại Thiên địch là đối tượng sinh vật được xem là biện pháp sinh học trong quản lý dịch hại Đặc biệt phổ biến là nhóm bắt mồi ăn thịt và nhóm ký sinh, tùy theo từng nhóm khác nhau mà cơ chế gây hại cũng khác nhau

Trên thế giới và Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về sử dụng thiên địch trong phòng trừ sâu bệnh hại cây trồng nói chung và cây na nói riêng Việc sử dụng thiên địch trong phòng trừ dịch hại trên cây na có những ưu điểm sau:

- Giảm thiểu một cách rõ rệt việc sử dụng thuốc Bảo vệ thực vật của nông dân trên cây na

- Không có dư lượng thuốc Bảo vệ thực vật trên nông sản

- Không có ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng cây non, phần non của cây, giai đoạn ra hoa tạo quả như khi phun thuốc Bảo vệ thực vật ở các giai đoạn này

- Phóng thích thiên địch tốn ít thời gian hơn phun thuốc và dễ chịu hơn

- Việc phóng thích thiên địch được tiến hành ngay sau khi trồng, người nông dân có thể kiểm tra sự thành công của biện pháp này và chỉ cần một vài lần kiểm tra sau đó nhưng đối với biện pháp hóa học cần sự kiểm tra thường xuyên trong suốt vụ

- Đối với một số loài được hình thành tính kháng thuốc thì biện pháp hóa học

là rất khó khăn

Trang 6

- Đối với ruộng phòng trừ sinh học, có thể thu hoạch sản phẩm vào bất kỳ thời gian nào nếu thấy giá có lợi nhất, trong khi biện pháp hóa học cần phải chờ đợi cho hết thời gian cách ly

- Khi có được thiên địch sẽ đảm bảo sự thành công của biện pháp sinh học

- Ít gây hại đến thực phẩm, nước và môi trường

- Góp phần tạo nên nền sản xuất thực phẩm bền vững

- Bảo vệ và phát triển đa dạng sinh học

Theo quan điểm của Darwin (1859): “Mỗi một sinh vật, trong đời nó (có thể sinh ra một lượng trứng hay một lượng hạt nhất định) không thể tránh khỏi sự bị tiêu diệt ở vào một giai đoạn phát triển nào đó, hoặc ở vào một thời điểm nào đó trong năm, nếu không thì với khả năng sinh sản theo cấp số nhân của loài sẽ tạo nên số lượng con cháu của chúng mỗi ngày một đông; đông tới mức không một nơi nào trên thế giới có thể nuôi chung và chứa được tất cả con cháu của chúng Như vậy, sinh vật có khả năng sinh sản ra lượng con cháu nhiều hơn số con cháu sống sót Phải xảy ra cuộc đấu tranh giữa các cá thể trong cùng loài, giữa các cá thể khác loài với nhau hoặc với điều kiện môi trường bất lợi Không có ngoại lệ ”

Còn theo quan điểm của Spencer: “Mỗi loài thực vật hoặc động vật đều không ngừng trải qua những biến đổi nhịp nhàng về số lượng: khi đầy đủ thức ăn

và vắng thiên địch thì nó tăng số lượng cao hơn số lượng trung bình của loài và khi thức ăn thiếu thốn, thiên địch phong phú thì nó giảm xuống dưới mực trung bình”

Trong tập đoàn kẻ thù tự nhiên (natural enemies) yếu tố côn trùng tuy đơn giản nhưng rất quan trọng trong việc ngăn chặn số lượng chủng quần các loài sâu hại cây trồng

2.1.2 Các nhóm thiên địch trên cây trồng

Thiên địch của sâu hại xếp thành 3 nhóm:

Trang 7

Loài bắt mồi là những loài động vật như côn trùng, nhện tự đi tìm kiếm, săn bắt những sâu hại (sâu hại được gọi là con mồi) làm thức ăn Con mồi thường

bị giết chết ngay Để hoàn thành sự phát triển, mỗi cá thể bắt mồi phải cần tiêu diệt

nhiều con mồi

Các loài bắt mồi có hai kiểu ăn mồi:

- Nhai nghiền con mồi nhờ miệng nhai (chuồn chuồn, bọ rùa, nhện lớn bắt mồi )

- Hút dinh dưỡng từ con mồi nhờ miệng chích hút (bọ xít, ấu trùng Neuroptera )

- Bắt mồi ở cả pha trưởng thành và pha ấu trùng (bọ rùa, bọ xít ăn sâu, nhện lớn bắt mồi )

- Bắt mồi ở pha ấu trùng (ruồi ăn rệp Syrphidae, Chamaemyiidae, )

- Bắt mồi ở pha trưởng thành (Ch.carnea, Formicidae, Dryinidae, Staphylinidae)

Theo phân loại có các nhóm bắt mồi sau:

- Côn trùng bắt mồi: thuộc 189 họ của 16 bộ côn trùng

+ Cả bộ sống kiểu bắt mồi: bọ ngựa, chuồn chuồn, cánh mạch

+ Cả họ sống kiểu bắt mồi: Reduviidae, Asilidae, Anthocoridae

+ Quan trọng là bộ cánh nửa, cánh cứng, cánh mạch, hai cánh

Trang 8

- Động vật có xương sống bắt mồi

+ Cá họ Poeciliidae, Cryprinodontidae tấn công ấu trùng muỗi

+ Lưỡng thể: họ ếch Ranidae, nhái Hylidae, cóc Bufonidae Cóc Bufo marinus trừ sùng trắng hại mía ở Martinique

+ Bò sát Reptilia: có ý nghĩa với biện pháp sinh học là Lacertidae (thằn lằn tiêu diệt côn trùng), Anguidae (tiêu diệt ốc sên), Colubridae (tiêu diệt gậm nhấm)

+ Chim Aves: bộ chim sẻ (họ chim mổ ruồi Muscicapidae, gõ kiến Picariae, nhạn Hirundinidae, vàng anh Oriolidae ), bọ cú vọ Striges

+ Lớp thú Mammalia: chuột chù, chuột dúi, nhím

Nói tới loài bắt mồi là nói tới quan hệ bắt mồi/vật mồi Đây là một dạng quan

hệ qua lại, trong đó một loài (gọi là loài bắt mồi) săn bắt một loài khác (gọi là con mồi hay vật mồi) để làm thức ăn và thường dẫn tới cái chết của vật mồi trong một thời gian ngắn

Loài bắt mồi trong BVTV cũng có những nét riêng biệt Đó là chúng không chỉ có phụ miệng nhai, mà có cả phụ miệng chích hút Loài bắt mồi trong bảo vệ thực vật là những động vật như côn trùng, nhện…có các đặc điểm sau: Phải tự tìm kiếm, săn bắt con mồi để làm thức ăn; Gây ra cái chết cho con mồi trong một thời gian ngắn (con mồi thường bị giết chết ngay); Để hoàn thành phát dục, mỗi cá thể bắt mồi cần phải tiêu diệt nhiều con mồi Các loài côn trùng bắt mồi có hai kiểu ăn mồi là: nhai nghiền con mồi nhờ kiểu miệng nhai (như chuồn chuồn, bọ ngựa, bọ rùa, nhện lớn,…) và hút dịch dinh dưỡng từ con mồi nhờ kiểu miệng chích hút (như bọ xít, ấu trùng bọ mắt vàng,…)

Theo sự thích nghi của các pha phát dục với kiểu sống bắt mồi, Phạm Văn Lầm (1994, 1995) đã phân biệt tất cả các loài côn trùng bắt mồi thành những nhóm sau:

Trang 9

- Nhóm 1: gồm các loài có kiểu sống bắt mồi ở cả pha trưởng thành và pha

ấu trùng Nhóm này gồm rất nhiều loài như bọ rùa, bọ xít ăn sâu, nhện lớn bắt mồi, nhện nhỏ bắt mồi,…

- Nhóm 2: gồm các loài có kiểu sống bắt mồi chỉ ở pha ấu trùng, như họ ruồi

ăn rệp muội Syrphidae, họ ruồi bạc Chamaemyiidae

- Nhóm 3: gồm các loài có kiểu sống bắt mồi chỉ khi ở pha trưởng thành Nhóm này có số lượng loài không nhiều

*/ Những côn trùng bắt mồi đã được nghiên cứu sử dụng để trừ sâu hại

Côn trùng bắt mồi có trong khoảng 189 họ thuộc 16 bộ côn trùng Có bộ côn trùng với tất cả các loài trong bộ đều sống kiểu bắt mồi như bộ bọ ngựa, chuồn chuồn, cánh mạch Một số họ có tất cả các loài trong họ đều là loài bắt mồi như họ Reduviidae, Asilidae, Anthocoridae,… Tuy nhiên, quan trọng và có nghĩa trong phát triển biện pháp ĐTSH là các loài bắt mồi thuộc bộ cánh nửa, cánh cứng, cánh mạch, hai cánh

Thành phần nhóm ăn mồi trên vườn na rất phong phú, bao gồm cả động vật không xương sống hoặc có xương sống Trong nhóm động vật không xương sống

ăn mồi, có thể kể đến một số nhóm (loài) côn trùng phổ biến như nhóm bọ rùa (Coccinellidae), ruồi ăn rệp (Syrphidae), bọ chân chạy (Carabidae), bọ xít bắt mồi (Reduviidae), ruồi ăn mồi (Asilidae), bọ ngựa (Mantidae), ong (Vespidae), kiến

vàng (Oecophylla smaragdina), chuồn chuồn (Odonata) và nhiều loại nhện

2.1.2.2 Nhóm ký sinh

Côn trùng ký sinh có ở > 80 họ của 5 bộ côn trùng, có ý nghĩa thực tiễn trong phát triển biện pháp sinh học Ký sinh được dùng để chỉ các loài côn trùng (hoặc chân đốt khác) ký sinh trên sâu hại Hiện tượng ký sinh là một dạng quan hệ qua lại giữa các sinh vật rất phức tạp và đặc trưng Hiện tượng côn trùng ký sinh sâu hại rất phổ biến trong tự nhiên Đây là một dạng quan hệ qua lại lợi một chiều, trong đó

Trang 10

loài được lợi (loài ký sinh) sử dụng loài sinh vật khác (vật chủ) làm thức ăn và nơi

ở cho một phận nào đó trong chu kỳ vòng đời của nó

Ký sinh trong bảo vệ thực vật là một dạng đặc biệt của hiện tượng ký sinh, thông thường vật ký sinh sử dụng hết hoàn toàn các mô của cơ thể vật chủ, và vật

ký sinh thường gây chết vật chủ ngay sau khi chùng hoàn thành phát dục Loài ký sinh trong bảo vệ thực vật có các đặc điểm sau: Trưởng thành cái của loài ký sinh tìm vật chủ để đẻ trứng, ấu trùng ký sinh không tự tìm vật chủ; trong quá trình phát dục, mỗi một cá thể ký sinh thường chỉ liên quan đến một cá thể vật chủ; hầu hết các côn trùng ký sinh sâu hại có biến thái hoàn toàn, chỉ pha ấu trùng của chúng có kiểu sống ký sinh, còn khi ở pha trưởng thành thì chúng sống tự do Côn trùng ký sinh trong BVTV rất đa dạng

Theo vị trí sinh sống của các ký sinh ở bên trong hay bên ngoài cơ thể vật chủ

mà phân biệt ký sinh trong và ký sinh ngoài Ký sinh trong hay nội ký sinh gồm các loài ký sinh mà quá trình phát triển của chúng xảy ra ở bên trong cơ thể vật chủ như các loài ong đen kén trắng Apanteles, Cotessia, các ong ký sinh nhộng,…

Ký sinh ngoài (hay ngoại ký sinh) gồm các ký sinh mà quá trình phát triển của chúng xảy ra ở trên bề mặt cơ thể vật chủ như các loài ong Bracon ký sinh trên sâu non côn trùng cánh vảy, ong kiến Dryinidae ký sinh trên lưng rầy nâu, rầy lưng trắng…

Mỗi một loài côn trùng ký sinh, thông thường chỉ liên quan tới một pha phát dục nào đó của vật chủ Theo mối quan hệ của loài côn trùng ký sinh với pha phát dục của sâu hại mà phân biệt thành các nhóm ký sinh như ký sinh trứng, ký sinh sâu non (ký sinh ấu trùng), ký sinh nhộng và ký sinh trưởng thành Ký sinh trứng là các ký sinh mà cá thể trưởng thành cái của chúng đẻ trứng vào trong trứng sâu hại Các pha phát dục trước trưởng thành của loài ký sinh đều xảy ra ở bên trong trứng sâu hại Trưởng thành của ký sinh vũ hóa và chui ra ngoài từ trứng của sâu hại Các loài ký sinh thường gặp trong các họ Trischogrammatidae, Mymaridae, Scelionidae,… Ký sinh sâu non (hay ký sinh ấu trùng) là những ký sinh mà cá thể

Trang 11

trưởng thành cái đẻ trứng của nó lên pha sâu non (hay pha ấu trùng) của vật chủ và

ký sinh hoàn thành phát dục khi vật chủ ở pha sâu non (hay pha ấu trùng) Ký sinh sâu non có thể gặp trong các họ Ichneumonidae, Braconidae, Elasmidae,… Ký sinh nhộng là các ký sinh mà cá thể trưởng thành cái của chúng đẻ trứng lên pha nhộng của sâu hại, ký sinh hoàn thành phát dục khi vật chủ ở pha nhộng Một số ký sinh nhộng thuộc các họ Ichneumonidae, Tachinidae,…Ký sinh trưởng thành là những loài ký sinh mà cá thể trưởng thành cái của chúng đẻ trứng lên pha trưởng thành của sâu hại và ký sinh hoàn thành phát dục khi sâu hại ở pha trưởng thành Những

ký sinh trưởng thành không nhiều, điển hình là ong thuộc giống Dinocampus (Braconidae) và họ Drynidae

Theo số lượng cá thể của một loài ký sinh và số lượng loài ký sinh hoàn thành phát dục trong một cá thể vật chủ mà phân biệt ký sinh đơn, ký sinh tập thể,

đa ký sinh và ký sinh đa phôi Ký sinh đơn là khi chỉ có một cá thể ký sinh hoàn thành phát dục được trong một cá thể vật chủ (như ong kén đèn lồng, ong kén trắng đơn) Một số ký sinh đơn như: Apanteles cypris, Bracon hispae, Charops bicolor, Cotessia plutellae,…Ký sinh tập thể là khi có nhiều cá thể ký sinh của cùng một loài hoàn thành phát dục trong một cá thể vật chủ, nhưng chúng thuộc các loài ký sinh khác nhau Hiện tượng này hiếm gặp ở ngoài tự nhiên Ký sinh đa phôi khi sự phát triển ký sinh từ một trứng ban đầu

Theo mối quan hệ đối với vật chủ và giữa các loài ký sinh với nhau, có thể phân biệt các ký sinh thành những nhóm ký sinh bậc 1, ký sinh bậc 2, ký sinh bậc 3

2.1.2.3 Nhóm vi sinh vật gây bệnh cho côn trùng

a Vi khuẩn

Vi khuẩn gây bệnh côn trùng: cuối thế kỷ 20 đã mô tả hơn 100 loài vi khuẩn gây bệnh côn trùng

Vi khuẩn gây bệnh côn trùng gồm:

- Vi khuẩn không hình thành bào tử, ký sinh không bắt buộc

Trang 12

- Vi khuẩn hình thành bào tử, ký sinh không bắt buộc

- Vi khuẩn hình thành bào tử, ký sinh bắt buộc

- Vi khuẩn hình thành bào tử, tinh thể độc tố ký sinh bắt buộc

*/ Cơ chế tác động của Bào tử

- Các độc tố của Bào tử

Ngoại độc tố alpha, ngoại độc tố beta, ngoại độc tố gama, nội độc tố delta, độc

tố không bền vững, độc tố tan trong nước và độc tố đối với động vật có vú

- Cơ chế tác động của Bào tử

+ Tác động tổng hợp: tác động đường ruột; xâm nhập vào đường ruột theo thức ăn; nơi phá huỷ của Bào tử là ruột giữa Tinh thể nội độc tố delta do men tiêu hóa tác động độc tố tác động lên màng bao chất dinh dưỡng và biểu mô ruột giữa trương mủn tế bào hình trụ, tế bào hình chén bị tổn thương vết nứt vỡ

ra ion lọt từ ruột sang máu liệt nhiễm trùng máu do vi khuẩn phát triển chết

+ Tác động gây ngán: xảy ra ở một số chủng

b Virus gây bệnh côn trùng

Đến thập niên 1980, mô tả hơn 700 bệnh virus từ hơn 800 loài côn trùng Trong tự nhiên, côn trùng thường bị nhiễm hỗn hợp từ 2 loài virus trở lên (sâu cắn gié bị NPV&GV), có loài bị tới 9 loài virus Tác động giữa chúng là đồng tác động, tác động độc lập, tác động gây nhiễu

Cơ chế gây bệnh: Virus gây bệnh côn trùng xâm nhập vào đường ruột theo thức ăn Tại ruột dưới tác động của dịch tiêu hóa, thể vùi bị hoà tan sau đó giải phóng virion, qua biểu mô ruột giữa đến dịch máu, đến tế bào và cuối cùng sinh sản

và gây bệnh

c Nấm gây bệnh cho côn trùng

Trang 13

Nấm xâm nhập qua lớp vỏ cơ thể Bào tử nấm bám trên cơ thể, đủ ẩm độ, bào tử mọc mầm xâm nhiễm vào trong cơ thể côn trùng qua lớp cutin (hoạt động của men)

- Xâm nhiễm và phát triển của nấm gây bệnh cho côn trùng trong cơ thể vật chủ là quá trình phức tạp, gồm 3 giai đoạn:

+ Giai đoạn xâm nhập: bào tử mọc mầm đến xâm nhập vào trong xoang cơ thể + Giai đoạn phát triển của nấm trong cơ thể côn trùng gây chết côn trùng: giai đoạn sống ký sinh của nấm tạo thành nhiều sợi nấm ngắn phân tán khắp cơ thể theo dịch máu gây chết vật chủ

+ Giai đoạn phát triển của nấm sau vật chủ chết: giai đoạn hoại sinh, hình thành bào tử, conidi, mọc ra ngoài cơ thể vật chủ

- Có thể chuyên tính hẹp, hoặc chuyên tính rộng

- Nấm côn trùng thuộc tất cả các nhóm nấm: nấm bậc thấp Phycomycetes, nấm túi Ascomycetes, nấm đảm Basidiomycetes và nấm bất toàn Deuteromycetes

d Nguyên sinh động vật

- Gần 1.200 loài/28.000 loài nguyên sinh động vật có quan hệ với côn trùng, tác động yếu, ít có khả năng phát triển chế phẩm sinh học tác động nhanh

- Bộ trùng bào tử nhỏ Microsporidia có ý nghĩa với biện pháp sinh học hơn

cả, biết >200 loài côn trùng bị bệnh do trùng bt nhỏ với khoảng 200 loài trùng bào

tử nhỏ, ký sinh nhiều nhóm côn trùng (chưa thấy ở côn trùng chích hút)

e Tuyến trùng ký sinh côn trùng

Ít nhất có 1 000 loài côn trùng là ký chủ của tuyến trùng

Tuyến trùng ký sinh côn trùng có 3 nhóm:

- Hội sinh sống trong ống tiêu hóa của côn trùng

- Bán ký sinh: thế hệ ký sinh xen kẽ thế hệ không ký sinh

Trang 14

- Ký sinh bắt buộc: ký sinh bắt buộc không gây chết vật chủ & ký sinh bắt buộc gây chết vật chủ

Tuyến trùng bán ký sinh giống Steinernema, Neoaplectana, Heterorhabditis (Steinernematidae) với cùng vi khuẩn đồng hành là Achromobacter được phát triển chế phẩm sinh học trừ một số sâu hại

e Rickettsia gây bệnh côn trùng

Gần như virus về kích thước, thành tế bào giống vi khuẩn điển hình

Ở côn trùng chỉ ký sinh trong dịch tế bào

Giống Enterella, Rickettsiella có ý nghĩa trong biện pháp sinh học

2.2 Đặc điểm sinh học của một số thiên địch chính trên cây na ở huyện Đông Triều:

2.2.1 Bọ đuôi kìm

Tên khoa học: Euborellia annulipes Lucas

Loài: Chelisoches morio

Giống: Euborellia

Họ: Forficuloidea thuộc tổng họ Forficuloidea

Bộ: Dermaptera

Bọ đuôi kìm thuộc bộ cánh da (Dermaptera) có phần phụ miệng kiểu nghiền,

mắt kép phát triển, chân bò Cuối bụng có phần đuôi dạng kìm rất khoẻ dùng để tự

vệ, tấn công kẻ thù hoặc giúp việc gập cánh Đôi cánh trước ngắn, kitin hoá cánh

da, đôi cánh sau mỏng trong suốt

Con cái: Cơ thể thon, dài, màu đen bóng Chiều dài cơ thể từ 16,5-19 mm (không kể phần đuôi kìm) trung bình 17,4 mm, chiều ngang 3,01mm Cuối bụng có đôi kìm dài từ 4-5mm, có gai nhỏ ở phía bên trong của kìm và đối xứng hai bên

Trang 15

Con đực: Nhìn chung con đực có màu sắc và hình thái giống với con cái Tuy nhiên kìm của con đực cong nhiều hơn và có ngạnh to ở mặt trong của kìm Kìm của con đực có 2 dạng: dạng kìm ngắn dài 2,8-3,0 mm và dạng kìm dài dài 4,0-5,0 mm Kích thước của con đực thường nhỏ hơn con cái

2.2.2 Bọ rùa Cryptolaemus montrouzieri

Cả ấu trùng và trưởng thành của bọ rùa Cryptolaemus montrouzieri tấn công

tất cả các giai đoạn của rệp sáp Trưởng thành bọ rùa đầu có màu nâu và đuôi có màu da cam, cơ thể dài 4 mm Bên ngoài cơ thể ấu trùng bao phủ một lớp lông phấn trắng, giống trên cơ thể rệp sáp Trưởng thành bay nhanh và xa để tìm kiến thức ăn

Vòng đời của bọ rùa trung bình từ 31 - 45 ngày (31 ngày ở nhiệt độ 270C, 45 ngày ở nhiệt độ 21 0C Con cái đẻ 3-5 quả trứng/ngày, chúng có thể đẻ 200-300 quả trứng trong 40 ngày

2.2.3 Bọ rùa 6 vệt đen (Menochilus sexmaculatus Fab.)

Thành trùng đực, cái lúc mới vũ hoá có màu vàng nhạt sau chuyển sang màu

đỏ cam, kích thước con cái (5,08 ± 0,23mm x 4,12 ± 0,19mm) lớn hơn con đực (4,11 ± 0,29mm x 3,49 ± 0,34mm) Vòng đời bọ rùa M.sexmaculatus trải qua 4

giai đoạn: trứng (2,6 ± 0,4 ngày), ấu trùng (4,9 ± 0,8 ngày) qua 4 tuổi, nhộng (2,9

± 0,8 ngày) và thành trùng (3,3 ± 0,8 ngày) Thời gian hoàn thành vòng đời là 13,7

± 1,5 ngày, tỷ lệ hoàn thành vòng đời của bọ rùa M.sexmaculatus rất cao 75,58 %

2.2.4 Bọ rùa 4 chấm (Scymnus frontalis quadrimaculatus Herbst)

Thành trùng đực, cái lúc mới vũ hoá có màu xám đen sau chuyển sang màu đen, kích thước con cái (2,28 ± 0,29mm x 1,15 ± 0,19mm) lớn hơn con đực (1,69

± 0,22mm x 1,01 ± 0,11mm) Vòng đời bọ rùa Scymnus frontalis quadrimaculatus Herbst trải qua 4 giai đoạn: trứng (2,1 ± 0,7 ngày), ấu trùng (4,4 ± 0,6 ngày) qua 4 tuổi, nhộng (2,3 ± 0,7 ngày) và thành trùng (3,3 ± 0,8 ngày) Thời gian hoàn thành

Trang 16

vòng đời là 12,0 ± 1,1 ngày, tỷ lệ hoàn thành vòng đời của bọ rùa Scymnus frontalis quadrimaculatus Herbst rất cao 71,54 %

2.2.5 Sâu ăn rệp sáp (Eublemma amabilis Moore)

Theo Vũ Thị Nga, Nguyễn Thị Chắt (2004) về “Kết quả bước đầu nghiên

cứu về sâu ăn rệp sáp Eublemma amabilis Moore (Lep.: Noctuidae)”, trưởng thành Eublemma amabilis Moore là một loài ngài nhỏ Trưởng thành cái có dài thân trung

bình là 6,1 - 6,5 mm và sải cánh là 14,8 -15,6 mm Khi đậu, cánh xếp thành hình mái nhà Toàn cơ thể có màu nâu tối Râu đầu dạng lông cứng Trên cánh trước có đường zích zắc màu trắng xuất phát từ mép sau của cánh chạy xiên về mép trước, sau đó lượn sóng về phía đỉnh cánh trước Một hàng đốm nâu đen ở rìa gốc cánh

trước và cánh sau

Trứng có hình bánh xe, tròn dẹt và hơi lõm ở mặt trên với đường kính 0,39 mm Trứng được đẻ đơn lẻ rải rác ở trên cành, quả nơi gần thức ăn Trứng mới

0,38-đẻ màu vàng nhạt, sau chuyển sang màu vàng đậm, trước nở có màu đen

Khi nuôi sâu ăn rệp sáp (Eublemma amabilis Moore) trong điều kiện phòng

thí nghiệm có nhiệt độ khoảng 27,5 - 28,2 0C và 83,8 - 85,6% với thức ăn là rệp sáp, sâu ăn rệp sáp có vòng đời biến động từ 45,4 - 50,7 ngày; trưởng thành có tuổi thọ trung bình 7,3 - 8,9 ngày, sâu có thời gian tiền nhộng khá dài, gần 1/3 thời gian phát dục của pha ấu trùng (5,5 - 6,5 ngày) Trưởng thành cái có khả năng đẻ trứng không cao, một cá thể trưởng thành cái đẻ trung bình được 95,1-111,3 trứng Ấu trùng của sâu ăn rệp sáp có thể tấn công nhiều loài rệp sáp Trong 24 giờ, một ấu

trùng tuổi cuối cùng trung bình có thể ăn được 11,9 cá thể rệp sáp loài Planococcus lilacilus hoặc 7,4 cá thể rệp sáp loài Dysmicoccus brevipes

2.2.6 Ruồi ăn rầy (Syphidae)

Chủ yếu tấn công trên rầy mềm và một số loại sâu nhỏ, đôi khi cũng tấn công trên cả bù lạch Chỉ có ấu trùng là ăn mồi, thành trùng sinh sống trên phấn hoa

Ngày đăng: 12/04/2022, 23:58

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Khả năng ăn rệp sáp của BĐK trưởng thành - BCCD6 Danh gia kha nang an moi.PDF
Bảng 1 Khả năng ăn rệp sáp của BĐK trưởng thành (Trang 24)
Bảng 2: Khả năng ăn nhện đỏ của nhện bắt mồi Số lượng - BCCD6 Danh gia kha nang an moi.PDF
Bảng 2 Khả năng ăn nhện đỏ của nhện bắt mồi Số lượng (Trang 25)
Bảng 3: Khả năng ăn rệp sáp của bọ rùa 6 vệt đen Số lượng - BCCD6 Danh gia kha nang an moi.PDF
Bảng 3 Khả năng ăn rệp sáp của bọ rùa 6 vệt đen Số lượng (Trang 26)
c. Khả năng ăn mồi của bọ rùa - BCCD6 Danh gia kha nang an moi.PDF
c. Khả năng ăn mồi của bọ rùa (Trang 26)
Bảng 4: Khả năng ký sinh của ong ký sinh trên sâu ăn lá na tại huyện Đông Triều. - BCCD6 Danh gia kha nang an moi.PDF
Bảng 4 Khả năng ký sinh của ong ký sinh trên sâu ăn lá na tại huyện Đông Triều (Trang 28)
Bảng 5: Hiệu lực của nấm Metarhizium anisopliae trừ rệp sáp trong điều kiện phòng thí nghiệm - BCCD6 Danh gia kha nang an moi.PDF
Bảng 5 Hiệu lực của nấm Metarhizium anisopliae trừ rệp sáp trong điều kiện phòng thí nghiệm (Trang 29)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN