1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN văn THẠC sĩ) tiểu thuyết lịch sử của hồ thủy giang

97 54 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiểu Thuyết Lịch Sử Của Hồ Thủy Giang
Tác giả Dương Thị Hiệu
Người hướng dẫn PGS.TS. Cao Thị Hảo
Trường học Đại học Thái Nguyên
Chuyên ngành Ngôn ngữ, văn học và văn hóa Việt Nam
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số cây bút tiêu biểu của tiểu thuyết Thái Nguyên như: Vi Hồng, Ma Trường Nguyên, Phan Thái, Hồ Thủy Giang… Tuy viết không nhiều tiểu thuyết nhưng tác giả Hồ Thuỷ Giang đã tìm được ti

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

-

DƯƠNG THỊ HIỆU

TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ CỦA HỒ THUỶ GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN - 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

-

DƯƠNG THỊ HIỆU

TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ CỦA HỒ THUỶ GIANG

Ngành: Văn học Việt Nam

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận của khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Dương Thị Hiệu

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn

là PGS.TS Cao Thị Hảo - người đã tận tình hướng dẫn, động viên, tạo điều kiện tốt nhất cho em trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, quý thầy cô giáo Khoa Ngữ văn, đặc biệt là các thầy cô đã nhiệt tình giảng dạy khóa 26 chuyên ngành Văn học Việt Nam, các cán bộ Phòng Đào tạo trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập, nghiên cứu tại trường

Tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới Nhà văn Hồ Thuỷ Giang đã cung cấp tư liệu cho chúng tôi trong quá trình thực hiện luận văn và những người thân, đồng nghiệp, bạn bè đã động viên, quan tâm, chia sẻ và tạo mọi điều kiện giúp tôi hoàn thành tốt khóa học này

Thái Nguyên tháng 6 năm 2020

Tác giả luận văn

Dương Thị Hiệu

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

4 Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu 7

5 Phương pháp nghiên cứu 8

6 Đóng góp của luận văn 9

7 Bố cục luận văn 9

NỘI DUNG 10

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ CỦA HỒ THỦY GIANG 10

1.1 Một số vấn đề lí luận về tiểu thuyết và tiểu thuyết lịch sử 10

1.1.1 Khái niệm về tiểu thuyết và tiểu thuyết lịch sử 10

1.1.2 Những đặc trưng cơ bản của tiểu thuyết lịch sử 12

1.2 Hồ Thủy Giang trong dòng chảy văn học Thái Nguyên 16

1.2.1 Khái quát văn học địa phương Thái Nguyên 16

1.2.2 Nhà văn Hồ Thủy Giang 23

1.2.3 Vị trí của Hồ Thuỷ Giang trong dòng chảy văn học Thái Nguyên 25

Tiểu kết chương 1 28

Chương 2: MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG TRONG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ CỦA HỒ THỦY GIANG 29

2.1 Cảm hứng lịch sử in đậm dấu ấn thời đại 29

Trang 6

2.1.2 Cảm hứng bi hùng về những mất mát đau thương 32

2.2 Những con người anh hùng của một thời đại lịch sử 36

2.2.1 Những con người đại diện cho vẻ đẹp của cộng đồng 36

2.2.2 Những vị anh hùng quyết đoán và quả cảm 41

2.2.3 Những người con sẵn sàng hi sinh, xả thân vì quê hương, đất nước 51

Tiểu kết chương 2 58

Chương 3: MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ CỦA HỒ THỦY GIANG 59

3.1 Cốt truyện mang màu sắc lịch sử 59

3.1.1 Cốt truyện mang màu sắc huyền sử về nhân vật anh hùng 59

3.1.2 Cốt truyện tái hiện sự kiện lịch sử của địa phương 62

3.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 71

3.2.1 Nghệ thuật miêu tả ngoại hình, hành động 71

3.2.2 Nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật 75

3.3 Ngôn ngữ nghệ thuật 78

3.3.1 Ngôn ngữ mang dấu ấn lịch sử 78

3.3.2 Ngôn ngữ mang dấu ấn đời thường 81

Tiểu kết chương 3 84

KẾT LUẬN 85

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 86 TÀI LIỆU THAM KHẢO 87

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thái Nguyên là một tỉnh thuộc vùng núi phía Bắc Việt Nam, là mảnh đất

có bề dày lịch sử và truyền thống lâu đời, nơi đây đã ghi lại nhiều dấu ấn lịch

sử của dân tộc Việt Nam nói chung và địa phương Thái Nguyên nói riêng Thành tựu về lịch sử và con người vùng đất Thái Nguyên khá phong phú và đa dạng nhưng lại chưa có nhiều công trình nghiên cứu quan tâm, nhất là về tiểu thuyết lịch sử ở Thái Nguyên

Tiểu thuyết lịch sử là một thể loại quan trọng trong sự cách tân của nền văn học đương đại thời kì đổi mới với những thành tựu phong phú, đa dạng và sâu sắc Nằm trong dòng chảy nói chung của tiểu thuyết Việt Nam đương đại, tiểu thuyết lịch sử Thái Nguyên cũng có sự vận động, phát triển theo một quy luật chung, hướng đến sự đổi mới cả nội dung và hình thức thể hiện

Mặc dù chưa có được số lượng tác giả đông đảo, chưa nhiều tác phẩm được đánh giá cao như truyện ngắn, nhưng tiểu thuyết Thái Nguyên cũng bắt đầu có những thành tựu Một số cây bút tiêu biểu của tiểu thuyết Thái Nguyên như: Vi Hồng, Ma Trường Nguyên, Phan Thái, Hồ Thủy Giang… Tuy viết không nhiều tiểu thuyết nhưng tác giả Hồ Thuỷ Giang đã tìm được tiếng nói riêng của mình khi cho ra đời những tiểu thuyết lịch sử Đó là những tác phẩm gắn liền với dấu ấn và con người Thái Nguyên một thời Tiểu thuyết của ông đã góp phần quan trọng làm sáng tỏ lịch sử địa phương Thái Nguyên Chân dung

và khuôn diện những người con anh hùng của vùng đất xứ Thái Hồ Thuỷ

Giang đã xuất bản 5 tiểu thuyết: Tiếng súng bên sông Cầu, Những người mở đường, Tể tướng Lưu Nhân Chú, Thái Nguyên 1917 và Con đường cát bụi (trong đó có 4 tiểu thuyết viết về lịch sử, tuy nhiên Tiếng súng bên sông Cầu sau được sửa lại và lấy tên Thái Nguyên 1917) Ông cũng đã đạt 2 giải thưởng

về tiểu thuyết vào năm 2013 và 2015 do Hội nhà văn và Bộ công an, Bộ giao

Trang 8

diện về nội dung và nghệ thuật của tiểu thuyết lịch sử Hồ Thủy Giang là việc làm cần thiết để góp phần làm sáng tỏ đóng góp của tác giả cho văn học địa phương Thái Nguyên nói riêng và tiểu thuyết lịch sử Việt Nam nói chung

Những năm gần đây, chương trình văn học địa phương đã bước đầu được quan tâm đưa vào một số tiết ở chương trình cấp THCS Tuy nhiên chưa được

chú trọng giảng dạy Trong chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể năm

2018, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có đổi mới sâu sắc toàn bộ chương trình phổ

thông Trong đó, thời lượng dành cho chương trình địa phương được chú trọng

cả về thời lượng (số tiết nhiều hơn) và chương trình (chương trình mang tính

mở, linh hoạt) Rõ ràng, công cuộc đổi mới giáo dục của Việt Nam hiện nay đã

và đang rất quan tâm đến văn học địa phương Do đó nghiên cứu văn học địa phương từ sáng tác của một tác giả tiêu biểu về đề tài lịch sử sẽ góp phần khẳng định giá trị văn học địa phương Thái Nguyên và là nguồn tư liệu hữu ích cho phần Văn học địa phương Thái Nguyên vốn đang thiếu tư liệu nghiên cứu và học tập

Từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Tiểu thuyết lịch sử của

Hồ Thuỷ Giang’’ làm luận văn thạc sĩ với mong muốn được góp sức mình vào

việc gìn giữ những giá trị lịch sử văn hóa, văn học ở địa phương Thái Nguyên Đây cũng là cơ hội để một giáo viên dạy văn học ở trường phổ thông như tôi tích lũy kiến thức về lịch sử văn hóa dân tộc Việt Nam nói chung và lịch sử văn hóa vùng đất Thái Nguyên nói riêng phục vụ cho công việc nghiên cứu, giảng dạy và truyền thụ cho học sinh của mình tình yêu và niềm tự hào về quê hương Thái Nguyên

2 Lịch sử vấn đề

Nhà văn Hồ Thủy Giang viết nhiều thể loại như: thơ, tiểu thuyết, truyện ngắn, phê bình văn học, kịch bản phim truyện truyền hình Có thể nói, ông thành công nhất với thể loại truyện ngắn khi ra mắt 13 tập truyện, được đánh giá cao qua các giải thưởng Với tiểu thuyết, chỉ trong 3 năm (2015, 2016,

Trang 9

2017), Hồ Thủy Giang đã xuất bản liền 5 cuốn, trong đó có 2 tác phẩm được 3 giải thưởng của Trung ương Qua những sáng tác của Hồ Thuỷ Giang, một số nhà nghiên cứu đã khẳng định những đóng góp cơ bản của ông cho văn học Thái Nguyên

Về tiểu thuyết của Hồ Thủy Giang, đã có một số tác giả quan tâm nghiên cứu Chúng ta có thể điểm qua các bài nghiên cứu, đánh giá như sau:

Trong đánh giá chung về tiểu thuyết Thái Nguyên, tác giả Nguyễn Huy

Quát trong bài viết Bước đầu nhận diện và đánh giá văn học Thái Nguyên

với đề tài lịch sử [30] đã nhận định: “Nhà văn Thái Nguyên viết về đề tài lịch

sử đến nay chỉ đếm trên đầu ngón tay: Hồ Thuỷ Giang có 3 truyện, Ma Trường Nguyên có 2 truyện, Ngọc Thị Kẹo, Phan Thái, mỗi người 1 truyện” [30, tr.9]

Qua nhận định này, có thể thấy tác giả đã khẳng định vị trí rất quan trọng của

Hồ Thuỷ Giang ở mảng đề tài về lịch sử trong văn học Thái Nguyên

Tác giả Phạm Văn Vũ trong bài Kiến giải lịch sử trong tiểu thuyết Tể

tướng Lưu Nhân Chú đăng trên báo văn nghệ Thái Nguyên (năm 2016) cho

rằng, trong đời sống văn học đương đại, việc tìm ra con đường của tiểu thuyết đang ngày càng trở thành một vấn đề quan thiết Giữa rất nhiều những hướng

đi, tiểu thuyết lịch sử là một con đường hứa hẹn nhiều triển vọng Một số nhà văn đã dành trọn tâm huyết và rất thành công trong hướng đi này, tiêu biểu như Hoàng Quốc Hải, Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Quang Thân, Uông Triều v.v

Với Tể tướng Lưu Nhân Chú, Hồ Thủy Giang là nhà văn Thái Nguyên tiên

phong lựa chọn khai thác thế giới đầy ẩn mật này Tác giả đánh giá sức hấp dẫn

của tiểu thuyết này là: “chất điện ảnh khá rõ trong kết cấu, kĩ thuật kể, cách

dựng cảnh”[47]

Về tiểu thuyết Những người mở đường, đã có hội thảo tổ chức tại Thái Nguyên, tác giả Thanh Tâm đã có bài viết giới thiệu về Hội thảo tiểu thuyết

“Những người mở đường” của Hồ Thủy Giang đăng trên báo Văn nghệ Thái

Nguyên ngày 8/6/2017 Hội thảo này được tổ chức nhân dịp kỉ niệm ngày thành

Trang 10

lập lực lượng Thanh niên xung phong Việt Nam (15/7/1950) và 25 năm ngày

60 chiến sỹ thanh niên xung phong Đại đội 915, thuộc Đội 91 Thanh niên xung phong tỉnh Thái Nguyên hy sinh anh dũng khi đang làm nhiệm vụ tại ga Lưu

Xá, thành phố Thái Nguyên (24/12/1972 - 24/12/2017) Ở Hội thảo, có nhiều tác giả là các nhà văn, nhà nghiên cứu phê bình, nhà làm phim, bạn đọc đã đưa

ra những phân tích, luận giải, đánh giá tiểu thuyết Những người mở đường từ

nhiều góc nhìn và cách tiếp cận khác nhau

Có thể nhận thấy, nhìn chung các tham luận đều bày tỏ sự trân trọng đối với thành công về nội dung và nghệ thuật của cuốn tiểu thuyết này

Ngày 28/8/2019, Hội thảo Văn học Thái Nguyên với đề tài lịch sử đã

được Chi Hội Lí luận phê bình văn học và Hội văn học Nghệ thuật Thái Nguyên tổ chức tại tỉnh Trong hội thảo, một số vấn đề về tiểu thuyết lịch sử đã được đặt ra và thảo luận Tiểu thuyết lịch sử của Hồ Thuỷ Giang cũng được quan tâm đánh giá về các phương diện như đề tài, khuynh hướng, đặc điểm thể loại, thế giới nghệ thuật…, đáng chú ý có tham luận của các nhà nghiên cứu

như Nguyễn Đức Hạnh, Cao Thị Hồng (Tiểu thuyết Những người mở đường của Hồ Thủy Giang nhìn từ đặc điểm thể loại) Phạm Văn Vũ (Tiểu thuyết và vấn đề diễn giải lịch sử), nhà văn Phan Thái… Các tác giả đã tập trung đi sâu

vào cắt nghĩa, diễn giải những giá trị nổi bật như cách phản ánh hiện thực, cách nhìn nhận lịch sử và con người v.v , đồng thời cũng thẳng thắn nêu lên những băn khoăn, tiếc nuối muốn trao đổi thêm về một số điểm còn chưa thành công của tác phẩm, như tính luận đề, kiểu kết thúc v.v… Tác giả Cao Thị Hồng đánh giá thành công của Những người mở đường qua bối cảnh thời đại mà tác giả tái

hiện: “Những trang viết phục dựng hiện thực chiến tranh là những trang viết cuốn hút và mang đến cho người đọc nhiều cảm xúc” [30, tr.27]

Một số tác giả đã nhìn nhận thành công của tiểu thuyết Hồ Thuỷ Giang ở phương diện tính điện ảnh Các tham luận đã các tham luận đã xoay quanh vấn

đề này như: tham luận của Trần Hinh, Vi Phương, đạo diễn Đặng Tiến Sơn

Trang 11

Chẳng hạn như bài viết Khuynh hướng tiểu thuyết - điện ảnh trong tiểu thuyết lịch sử của nhà văn Hồ Thủy Giang của Vi Phương đã khẳng định: “Viết theo khuynh hướng tiểu thuyết - điện ảnh, cả về mặt hình thức và nội dung, tiểu thuyết lịch sử của Hồ Thuỷ Giang đã có sự gần gũi với những chuyển động của

một bộ phim, khiến bạn đọc như đang được xem một bộ phim trên giấy” (tác

giả nhấn mạnh) [30, tr.72] Đây cũng là một đánh giá đáng trân trọng đối với tiểu thuyết của Hồ Thuỷ Giang

Đánh giá về những đóng góp của nhà văn Hồ Thuỷ Giang về đề tài lịch

sử, nhà nghiên cứu Trần Thị Việt Trung cho rằng: “Đọc những tác phẩm do Hồ Thuỷ Giang sáng tác, người đọc cảm nhận rất rõ thái độ tôn trọng lịch sử, lòng

tự hào về con người và mảnh đất thiêng vùng trung du miền núi này; cũng như

sự sáng tạo không biết mệt mỏi của một nhà văn cả cuộc đời gắn bó máu thịt với Thái Nguyên với biết bao vui, buồn, bao suy tư, trăn trở, bao nỗi đau đáu…

về vai trò, trách nhiệm của một công dân Thái Nguyên, của một nhà văn Thái Nguyên” [30, tr.77] Tác giả đã đánh giá cao những đóng góp của Hồ Thuỷ

Giang cho văn học Thái Nguyên Tuy nhiên, với khuôn khổ của một bài tham luận hội thảo nên tác giả cũng chưa đi sâu phân tích ở những tiểu thuyết cụ thể Đây là những gợi dẫn quan trọng để chúng tôi đi sâu khảo sát và chỉ ra đóng góp của tiểu thuyết lịch sử Hồ Thuỷ Giang

Với tiểu thuyết Thái Nguyên 1917, Hồ Thuỷ Giang đã tái tạo được phần

nào cuộc khởi nghĩa ở Thái Nguyên đầu thế kỷ XX với những nhà yêu nước tiêu biểu như Đội Cấn, Lương Ngọc Quyến Dưới hình thức tiểu thuyết, nhà văn đã gợi nhắc lại những hình ảnh quả cảm, lẫm liệt và bi tráng về tinh thần chống giặc ngoại xâm của nhân dân các dân tộc Thái Nguyên nói riêng và nhân dân cả nước nói chung trong thời kì đầu của công cuộc chống Pháp xâm lược

Và khi viết Thái Nguyên 1917 Hồ Thuỷ Giang đã luôn hướng tới sự trung

thành, khách quan khi chú ý tới các yếu tố lịch sử Song song với đó, tác giả cũng khảo sát, tìm hiểu các nhân chứng, vật chứng của cuộc khởi nghĩa còn ít

Trang 12

nhiều để lại dấu tích ở nhiều địa phương khác Tuy nhiên, vì là thể loại tiểu thuyết nên yếu tố hư cấu là điều hết sức cần thiết Bên cạnh đó tác giả với một ước muốn truyền lại cho độc giả, đặc biệt là học sinh, sinh viên những hình ảnh, những sự kiện lịch sử đã lui vào quá khứ tròn một thế kỉ nhưng vẫn luôn tươi mới trong tinh thần yêu nước chống giặc ngoại xâm của mỗi người dân nước Việt

Ngoài ra, một số luận văn nghiên cứu liên quan đến tiểu thuyết Hồ Thuỷ

Giang có thể kể đến: Đặc điểm tiểu thuyết Hồ Thuỷ Giang (2017) của Thân Thị

Mai Linh Lan [20 a] đề cập đến một số đặc điểm cơ bản trong tiểu thuyết nói chung của Hồ Thuỷ Giang Tác giả cũng chưa đi sâu phân tích cụ thể về tiểu thuyết lịch sử với những đóng góp tiêu biểu của Hồ Thuỷ Giang; Luận văn

Nhân vật nữ trong văn xuôi của Hồ Thuỷ Giang (2017) của Nguyễn Thị

Tài[46] đề cập đến hệ thống nhân vật nữ trong các sáng tác của Hồ Thuỷ Giang Nhìn chung, các luận văn này đã nghiên cứu tiểu thuyết Hồ Thuỷ Giang

ở một số phương diện về nội dung và nghệ thuật nhưng chưa nghiên cứu cụ thể vào mảng tiểu thuyết lịch sử của nhà văn này Đây là cơ sở để chúng tôi đi sâu

và đánh giá những đóng góp và hạn chế của nhà văn Hồ Thuỷ Giang ở thể loại tiểu thuyết lịch sử

Như vậy, qua việc tìm hiểu tình hình nghiên cứu về tiểu thuyết Hồ Thủy Giang nói riêng và tiểu thuyết lịch sử của các nhà văn Thái Nguyên nói chung, chúng tôi nhận thấy, tiểu thuyết Hồ Thủy Giang đã bước đầu thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu Nhưng các bài viết chủ yếu chỉ đánh giá riêng về nội dung hoặc nghệ thuật của từng cuốn tiểu thuyết (hầu hết trong các buổi giới thiệu sách, trong hội thảo ) hoặc đánh giá tiểu thuyết Hồ Thuỷ Giang trong những nhận định chung về tiểu thuyết lịch sử Thái Nguyên Hiện chưa có công trình nào đi sâu khảo sát, đánh giá một cách toàn diện về tiểu thuyết lịch sử của

Hồ Thủy Giang Tuy nhiên, những gợi ý từ các bài viết trên sẽ là tiền đề để tác giả nghiên cứu và thực hiện đề tài này tham khảo, tìm hiểu và đưa ra cái nhìn

Trang 13

toàn diện về những thành công và hạn chế của tiểu thuyết lịch sử Hồ Thủy

Giang trong dòng chảy của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Thực hiện luận văn này, chúng tôi chú ý đến đối tượng nghiên cứu là tiểu thuyết của Hồ Thuỷ Giang Trong đó, chúng tôi quan tâm cụ thể đến các phương diện về nội dung và nghệ thuật trong các tiểu thuyết lịch sử của nhà

văn Hồ Thủy Giang

4 Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu

4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

Thực hiện luận văn này, chúng tôi phải hoàn thành các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:

Trước hết, chúng tôi đi sâu tìm hiểu các vấn đề lí luận chung về tiểu thuyết và khái quát về văn học Thái Nguyên Đồng thời giới thiệu về tác giả Hồ Thuỷ Giang trong dòng chảy văn học địa phương Thái Nguyên

Chúng tôi tập trung nghiên cứu, phân tích các phương diện về nội dung như các vấn đề về cảm hứng và hình ảnh con người trong tiểu thuyết lịch sử Hồ Thủy Giang

Trang 14

Một số vấn đề về phương diện nghệ thuật như cốt truyện, nghệ thuật xây dựng nhân vật, ngôn ngữ nghệ thuật cũng được chúng tôi đi sâu tìm hiểu, đánh giá để chỉ ra đóng góp trong tiểu thuyết lịch sử Hồ Thủy Giang

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chính sau:

5.1 Phương pháp phân tích, tổng hợp: Đây được xác định là phương pháp chủ đạo của đề tài Trên cơ sở phân tích các tiểu thuyết của Hồ Thuỷ Giang, chúng tôi sẽ tổng hợp để chỉ ra những đặc điểm nổi bật về phương diện nội dung và nghệ thuật khi tìm hiểu tiểu thuyết lịch sử của Hồ Thuỷ Giang

5.2 Phương pháp nghiên cứu thi pháp học: vận dụng lí thuyết thi pháp học để nghiên cứu cốt truyện, nghệ thuật xây dựng nhân vật, ngôn ngữ nghệ thuật… trong tiểu thuyết của Hồ Thuỷ Giang

5.3 Phương pháp khảo sát - thống kê: Chúng tôi sử dụng phương pháp khảo sát - thống kê để chỉ ra những yếu tố lặp lại và được nhấn mạnh trong tiểu thuyết của nhà văn

5.4 Phương pháp nghiên cứu, phân tích tác phẩm theo đặc trưng thể loại: luận văn sử dụng phương pháp này để đi sâu phân tích nét riêng trong tiểu thuyết lịch sử của Hồ Thuỷ Giang

5.5 Phương pháp lịch sử: Phương pháp này được sử dụng trong luận văn

để đảm bảo tính liên tục về thời gian của các sự kiện; quá trình sáng tác về đề

Trang 15

tài lịch sử của tác giả và làm sáng tỏ các mối liên hệ của đề tài với các yếu tố liên quan

5.6 Phương pháp liên ngành: Phương pháp này được sử dụng khi kết hợp nghiên cứu giữa văn học, lịch sử, văn hoá… làm sáng rõ hơn các nội dung chính của luận văn

6 Đóng góp của luận văn

Đề tài được hoàn thành là tài liệu tham khảo bổ ích cho việc giảng dạy phần văn học địa phương ở các trường phổ thông trên địa bàn tỉnh cũng như những người quan tâm đến văn học địa phương Thái Nguyên

Công trình là tư liệu tham khảo giúp lãnh đạo tỉnh tiếp tục quan tâm, động viên và có những chính sách khuyến khích hơn nữa để văn học địa phương, trong đó có tiểu thuyết lịch sử Thái Nguyên tiếp tục phát triển hơn nữa

7 Bố cục luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, danh mục Tài liệu tham khảo, Phụ lục, phần Nội dung của luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Một số vấn đề lí luận và hành trình sáng tác tiểu thuyết lịch

sử của Hồ Thủy Giang

Chương 2: Một số phương diện về nội dung trong tiểu thuyết lịch sử của

Hồ Thủy Giang

Chương 3: Một số phương diện nghệ thuật trong tiểu thuyết lịch sử của

Hồ Thủy Giang

Trang 16

NỘI DUNG

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC

TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ CỦA HỒ THỦY GIANG

1.1 Một số vấn đề lí luận về tiểu thuyết và tiểu thuyết lịch sử

1.1.1 Khái niệm về tiểu thuyết và tiểu thuyết lịch sử

Trong một số giáo trình về lí luận văn học, tiểu thuyết được hiểu là hình thức tự sự cỡ lớn phổ biến trong thời cận đại và hiện đại Với những giới hạn rộng rãi trong hình thức trần thuật, tiểu thuyết có thể chứa đựng lịch sử của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục đạo đức xã hội, miêu tả cụ thể các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng Tuy nhiên, tiểu thuyết luôn gắn với đặc điểm thể loại, đó là sự hư cấu Các tác giả đã hư cấu thông qua chất liệu hiện thực để xây dựng lên nhân vật, hoàn cảnh, sự việc nhằm phản ánh bức tranh xã hội rộng lớn và những vấn đề về cuộc sống con người

Như vậy, đặc trưng lớn nhất của tiểu thuyết chính là khả năng phản ánh toàn vẹn và sinh động đời sống theo hướng tiếp xúc gần gũi nhất với hiện thực

Là một thể loại lớn tiêu biểu cho phương thức tự sự, tiểu thuyết có khả năng bao quát về chiều rộng của không gian cũng như chiều dài của thời gian, cho phép nhà văn mở rộng tối đa tầm vóc của hiện thực trong tác phẩm

Tiểu thuyết lịch sử là một tiểu loại của tiểu thuyết nhằm phản ánh nội dung, đề tài mang tính lịch sử Tuy nhiên, hiện nay trên thế giới có nhiều cách quan niệm khác nhau về tiểu thuyết lịch sử, cách viết truyện lịch sử

Tiểu thuyết lịch sử được các nhà nghiên cứu người Pháp là Dorothy

Brevvster và Jonh Breell nhận định như sau: “Những chuyện đó chỉ là những tiểu thuyết về quá khứ, và chỉ vì nhân nhượng mà tên gọi tiểu thuyết lịch sử Gọi theo tên hiệu này hay tên hiệu khác tùy thuộc vào các nhà phê bình định

Trang 17

nghĩa, đọc và ưa thích (hay chán ghét) chúng Vì khi thích một cuốn truyện nào thì nhà phê bình thường đưa nó vào một loại văn học có danh” [dẫn theo 29, tr.211]

Như vậy theo quan niệm này thì tiểu thuyết lịch sử trước hết là tiểu thuyết viết

về quá khứ của một dân tộc, một quốc gia nào đó Đây cũng là yếu tố cơ bản tạo nên tính lịch sử của tiểu thuyết

Theo Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn

Khắc Phi chủ biên) thì thể loại lịch sử hay tiểu thuyết lịch sử được quan niệm

là: “Các tác phẩm viết về đề tài lịch sử có chứa đựng các nhân vật và chi tiết

hư cấu, tuy nhiên nhân vật chính và sự kiện chính được sáng tạo trên các sử liệu xác thực trong lịch sử, tôn trọng lời ăn tiếng nói, phong tục tập quán phù hợp với giai đoạn lịch sử ấy Tác phẩm văn học lịch sử thường mượn chuyện đời xưa nói chuyện đời nay, tiếp thu những bài học quá khứ, bày tỏ sự đồng cảm với những con người và thời đại đã qua, song không vì thế mà hiện đại hóa người xưa, phá vỡ tính chân thực lịch sử của thể loại này” [13, tr.255]

Quan niệm này cũng cho chúng ta thấy, các tác giả coi trọng yếu tố lịch sử trong sáng tác, chú trọng việc không “phá vỡ tính chân thực lịch sử” của thể loại

Trên thực tế, chúng ta có thể bắt gặp hai xu hướng chính quan niệm về tiểu thuyết lịch sử như sau:

Thứ nhất, các ý kiến cho rằng tiểu thuyết lịch sử phải tôn trọng sự kiện lịch sử và từ chất liệu của lịch sử, tác phẩm được hư cấu, xây dựng và sáng tạo lên

Thứ hai, các tác giả cho rằng tiểu thuyết lịch sử là những sáng tác không coi trọng sự kiện lịch sử Với những tác giả theo xu hướng này thì lịch sử chỉ là cái cớ để viết tiểu thuyết mà thôi Tính chất hư cấu và các tư liệu ngoại sử được khai thác và sử dụng triệt để

Như vậy, có thể xếp hầu hết các tác phẩm tiểu thuyết lịch sử cổ điển của Trung Quốc vào trường hợp thứ nhất, cho dù tỉ lệ sự thật lịch sử và tỉ lệ hư cấu

có màu sắc đậm nhạt khác nhau (Ví như tác phẩm tiểu thuyết lịch sử Tam quốc

Trang 18

diễn nghĩa của tác giả La Quán Trung theo tỉ lệ bảy thực ba hư như chính tác giả đã tuyên bố; còn tác phẩm Thủy hử của Ngô Thừa Ân thì phần hư nhiều hơn, có lẽ là ba thực bảy hư.) Điển hình cho trường phái tiểu thuyết lịch sử thứ hai đã nói ở trên là nhà văn Pháp Alexandre Dumas với các tác phẩm Ba chàng ngự lâm pháo thủ, Hoàng hậu Margo… Chính tác giả Dumas đã từng thừa nhận:“Lịch sử là cái đinh, ở đó tôi treo móc những bức tranh của tôi”

Ngoài các quan niệm trên, còn một lối viết khác mang hơi hướng của lịch sử Đó là lối viết dựa vào các sự kiện lịch sử nhưng làm nó biến dạng hẳn

so với tư liệu gốc Theo xu hướng này là các tiểu thuyết dã sử, tiểu thuyết kiếm hiệp,… Rõ ràng, những tiểu thuyết kiểu loại này đã mang một màu sắc khác, hơi hướng khác

Với quan điểm như nhà văn Dumas và các nhà viết truyện kiếm hiệp, chúng ta thấy có thể không xếp tác phẩm của họ vào loại tiểu thuyết lịch sử, vì cái gọi là lịch sử ở trong đó không đáng tin cậy, với những người ít hiểu biết thì

thứ lịch sử đó thậm chí còn làm nguy hại đến nhận thức của họ Những sáng tác

này có thể gọi là tiểu thuyết mang màu sắc lịch sử

Như vậy, chỉ nên coi những sáng tác tôn trọng sự thật lịch sử là tiểu thuyết lịch sử đích thực bởi ở đó nhà văn tái tạo lịch sử và hư cấu nghệ thuật luôn ở trong giới hạn cho phép Đây cũng là cơ sở để chúng tôi khảo sát tiểu thuyết lịch sử của Hồ Thuỷ Giang Hầu hết các sáng tác của Hồ Thuỷ Giang đều bám sát các yếu tố lịch sử, tôn trọng các dấu mốc và sự kiện lịch sử, yếu tố

hư cấu có sử dụng nhưng chỉ tô đậm thêm cho các chi tiết lịch sử Các yếu tố dã

sử cũng được sử dụng nhưng vẫn luôn hướng tới trân trọng các sự kiện lịch sử

1.1.2 Những đặc trưng cơ bản của tiểu thuyết lịch sử

Tiểu thuyết lịch sử là các tác phẩm mang đặc trưng của thể loại tiểu thuyết nhưng lấy sự kiện lịch sử làm đề tài, làm cảm hứng sáng tạo nghệ thuật

Ở đó, tác giả dựa vào những sự kiện trong quá khứ, hư cấu, tưởng tượng thêm

để sáng tạo tác phẩm gây hứng thú cho người đọc Nhưng tiểu thuyết lịch sử

Trang 19

tuy mượn đề tài và lấy cảm hứng từ lịch sử nhưng không hề né tránh, xa vời

thực tại, thời thế Đúng như Bexlinxki đã khẳng định:“Chúng ta hỏi và chúng

ta chất vấn những cái đã qua để chúng ta giải thích cho hiện tại và chỉ ra tương lai của chúng ta” Tuy lấy những sự kiện, những nhân vật lịch sử nhưng

các tác giả không chỉ trình bày trong cái tư thế lịch sử ấy mà còn cho người đọc biết về nhiều mặt khác của đời sống con người, thậm chí cả những mặt sinh hoạt mang tính đời tư của nhân vật

Từ đặc trưng của tiểu thuyết nên quan niệm về tiểu thuyết lịch sử cũng rất đa dạng, linh hoạt, mỗi quan niệm thường nhấn mạnh vào một đặc điểm nào

đó của thể loại Có thể đưa ra một số quan niệm tiêu biểu sau:

Về cốt truyện, tiểu thuyết lịch sử thường mang cốt truyện được xây dựng

từ các chi tiết lịch sử Các yếu tố về thời gian, bối cảnh được xây dựng dựa trên các tư liệu lịch sử Điều này khiến cho tác phẩm mang cốt truyện lịch sử thể hiện đúng được hồn cốt của nó Tuy nhiên, tiểu thuyết lịch sử không phải là những cuốn biên niên sử khô cứng, mà ở đó bạn đọc còn bắt gặp một thế giới nhiều màu sắc, sinh động Một trong những yếu tố hấp dẫn trong cốt truyện lịch

sử chính là những tình tiết ngoại sử được chêm xen để làm sáng rõ hơn những khía cạnh còn nhiều khuất lấp của lịch sử Từ đây tạo ra những câu hỏi mở về lịch sử khiến bạn đọc thấy hấp dẫn và thú vị Các tác giả hiện đại đã khai thác khá thành công xu hướng này, chúng ta có thể kể tới Nguyễn Xuân Khánh với một loạt tiểu thuyết lịch sử của mình Chính vì thế mà cho đến nay quan niệm

về tiểu thuyết lịch sử vẫn chưa thống nhất Người ta vẫn tranh luận về các vấn đề: sự thực lịch sử và hư cấu; độ lùi quá khứ ở mức độ nào?; quá khứ còn đọng lại trong kí ức người đương thời hay kí ức chỉ còn đọng lại trong huyền thoại, truyền thuyết…Song mỗi quan điểm dù nhấn mạnh ở khía cạnh nào của thể loại nhưng tựu chung lại vẫn đề cập đến sự kiện lịch sử và yếu tố hư cấu Đây cũng

là những hạt nhân cốt lõi trong cốt truyện của tiểu thuyết lịch sử

Trang 20

Về nhân vật của tiểu thuyết lịch sử, chủ yếu là những nguyên mẫu từ các

nhân vật có trong lịch sử Theo Lucacs, nhà tiểu thuyết lịch sử của Hungari,

khẳng định: “Nhiệm vụ của tiểu thuyết lịch sử là chứng minh sự tồn tại của một hoàn cảnh và nhân vật lịch sử bằng công cụ nghệ thuật” [29] Đó có thể là người anh hùng của dân tộc như: Lý Thường Kiệt của trong Việt Nam Lí Thường Kiệt (Phạm Minh Kiên); nữ anh hùng Triệu Thị Trinh trong Bà Triệu (Hàn Thế Dũng); Hoàng Hoa Thám trong Lịch sử Đề Thám (Ngô Tất Tố)…

Cũng có thể là những nhân vật còn nhiều tranh cãi về chính diện và phản diện

và được nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau, có công, có tội như: Mạc Đăng

Dung trong tiểu thuyết Mạc Đăng Dung (Lưu Văn Khuê); hay vua Hồ Quý Ly trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly (Nguyễn Xuân Khánh)… Nhiều nhân vật phản

diện hay những thời kỳ lịch sử của dân tộc cũng được tái hiện trong các truyện

lịch sử (Hoàng Lê nhất thống chí - Ngô Gia Văn Phái; Trùng Quang tâm sử - Phan Bội Châu; Vua Quang Trung - Phan Trần Chúc; Vua Hàm Nghi với việc kinh thành thất thủ - Ngô Tất Tố… Yếu tố đời tư, có tính hiện đại đã được một

số tác giả đưa vào tiểu thuyết lịch sử Đây được coi là quá trình “giải thiêng” các nhân vật lịch sử khi đưa yếu tố đời tư, thậm chí là tầm thường, dung tục khi miêu tả, xây dựng nhân vật Đây không hẳn là hạn chế, mà là một cái nhìn đa chiều, nhiều quan điểm đã được sử dụng để xây dựng nhân vật lịch sử Từ đây các nhân vật lịch sử trở nên hấp dẫn, huyền bí thậm chí là được “nâng tầm” khác trước Tuy nhiên, cũng có không ít tác phẩm đã tạo nên sự phản cảm của bạn đọc khi xử lý yếu tố đời tư nhân vật mang tính thô tục, xa rời hiện thực hoặc ảo hoá nhiều

Về ngôn ngữ, các sáng tác về lịch sử thường sử dụng ngôn ngữ mang

màu sắc trang trọng thậm chí là chuẩn mực và có màu sắc thời đại Tuy nhiên, tiểu thuyết lịch sử ngoài ngôn ngữ trang trọng, các tác giả còn sử dụng ngôn ngữ linh hoạt, đa dạng, không còn dập khuôn theo khuôn mẫu thời đại hay tính chất trang trọng Nhiều tác giả đã sử dụng ngôn ngữ mang màu sắc đời thường

Trang 21

khi miêu tả các nhân vật anh hùng Điều này tạo nên tính bình dân, gần gũi của các nhân vật lịch sử

Ngoài ra còn các yếu tố bối cảnh, sự kiện, tình tiết ngoại sử… cũng khá quan trọng để tạo nên màu sắc lịch sử trong các sáng tác về lịch sử Nhà nghiên

cứu Phan Cự Đệ cho rằng: “Trong quá trình sáng tác, các nhà tiểu thuyết lịch

sử vừa phải tôn trọng các sự kiện lịch sử, vừa phải phát huy cao độ của hư cấu, sáng tạo của nghệ thuật”[47, tr.164] Quan niệm này đã nhấn mạnh mối quan hệ giữa sự thực lịch sử và hư cấu nghệ thuật trong các tác phẩm tiểu thuyết lịch sử

Chính những sự kiện lịch sử và hư cấu nghệ thuật mà các tác giả sáng tạo ra sẽ mang đến những góc nhìn mới mẻ về những hiện tượng lịch sử trong quá khứ

Như vậy, có thể khái quát: Tiểu thuyết lịch sử là loại hình tiểu thuyết lấy

đề tài lịch sử làm nội dung chính để phản ánh Đối tượng phản ánh là nhân vật,

sự kiện, thời kỳ, hay tiến trình lịch sử Đó có thể là quá khứ xa xôi hay một thời

kì lịch sử đặc biệt Nó đòi hỏi người viết vừa phải có kiến thức uyên thâm, tỉ mỉ của một nhà sử học, lại vừa có khả năng sáng tạo văn học Ta có thể kể đến

những cuốn tiểu thuyết lịch sử Việt Nam tiêu biểu như: Hoàng Lê nhất thống chí (Ngô Gia Văn Phái); Trùng quang tâm sử (Phan Bội Châu); Vua Hàm Nghi, Vua Quang Trung (Phan Trần Chúc); Vua Hàm Nghi với việc kinh thành thất thủ, Lịch sử Đề Thám (Ngô Tất Tố); Việt Nam Lí Thường Kiệt (Phạm Minh Kiên); Rồng đá chuyển mình, Chuyện tình Dương Vân Nga (Hoài Anh); Ai lên phố Cát (Lan Khai); Bà Triệu (Hàn Thế Dũng); Mạc Đăng Dung (Lưu Văn Khuê); Hồ Quý Ly (Nguyễn Xuân Khánh); Tướng quân Nguyễn Chích (Hà Ân); Tể tướng Lưu Nhân Chú (Hồ Thủy Giang)…Qua đây, ta có thể thấy được

trong nền văn học nước nhà thể loại tiểu thuyết lịch sử luôn có những nền tảng vững chắc, là mảnh đất hấp dẫn đối với nhiều nhà văn và có được những thành tựu đáng kể

Trang 22

1.2 Hồ Thủy Giang trong dòng chảy văn học Thái Nguyên

1.2.1 Khái quát văn học địa phương Thái Nguyên

* Giai đoạn 1945-1975

Cách mạng tháng Tám thành công, tiếp đó là cuộc kháng chiến chống Pháp đã mở ra cho Việt Bắc một thời kì văn học mới (giai đoạn lịch sử này, Thái Nguyên là một thành tố không thể tách rời vùng Việt Bắc Vì vậy tìm hiểu văn học Thái Nguyên không thể không đặt trong văn học Việt Bắc, trong đó có các tác giả Cao Bằng và Bắc Kạn) Trong kháng chiến 9 năm, Thái Nguyên cũng như nhiều tỉnh thuộc An Toàn Khu đã trở thành cái nôi của văn chương cách mạng, văn học kháng chiến Năm 1949, cơ quan Hội Văn nghệ Việt Nam đóng tại Làng Chòi thuộc Yên Giã, xã Mỹ Yên, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên Những nhà thơ, nhà văn như Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Huy Tưởng, Xuân Diệu, Huy Cận… đều đã có thời gian sinh sống và hoạt động ở đây

Thời kỳ này, đồng thời với các nhà văn đàn anh từ khắp miền đất nước tụ

về, sự xuất hiện của các cây bút là người dân tộc ít người, quê gốc tại Việt Bắc như Bàn Tài Đoàn, Nông Quốc Chấn, Nông Minh Châu, Nông Viết Toại… cùng những tác phẩm viết bằng tiếng Tày, Nùng, Dao đã góp phần làm cho văn học kháng chiến của đất nước trở nên đa dạng, đa diện, đa sắc Và có thể nói, những tác giả là người dân tộc ít người vừa nêu trên cũng chính là những tên tuổi đầu tiên làm nên nền văn học Việt Bắc và văn học Thái Nguyên sau này

Năm 1957, Hội Văn nghệ Việt Bắc được thành lập tại thị xã Thái Nguyên (lúc này là thủ phủ khu tự trị Việt Bắc) như một cuộc hội tụ lớn của văn nghệ sĩ 6 tỉnh Thái Nguyên, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn

Từ đây, nền văn học thành văn của các dân tộc Việt Bắc, trong đó có Thái Nguyên, có điều kiện phát triển mạnh mẽ Những tác phẩm quan trọng

như Muối của Cụ Hồ, Xuân về trên núi của nhà thơ người Dao Bàn Tài Đoàn; Tiếng ca người Việt Bắc của nhà thơ dân tộc Tày Nông Quốc Chấn; Ché

Trang 23

thẳng, Đoạn đường ngoặt của nhà văn Nông Viết Toại đều ra đời trong giai

đoạn này

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã đưa văn học sang một thời kì mới Toàn Đảng, toàn dân tập trung vào hai nhiệm vụ chính là chống giặc ngoại xâm và xây dựng kiến thiết đất nước Văn học Thái Nguyên tiếp tục phát triển trong hoàn cảnh chung của đất nước Chủ đề "tất cả cho tiền tuyến đánh thắng giặc Mỹ xâm lược" là chủ đề trọng yếu của văn học lúc bấy giờ đã được các cây bút khai thác triệt để Một điều đáng nói là chính trong những năm tháng đầy cam go và ác liệt ấy, đội ngũ sáng tác ở Thái Nguyên đã phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng Kế tiếp những tên tuổi đã được khẳng định trong kháng chiến chống Pháp, ngay từ những năm đầu của thập niên 60 (thế kỷ XX) hàng loạt các cây bút mới như Lê Minh, Xuân Cang, Vi Hồng (văn học), Bế Sĩ Uông, Nông Ích Đạt, Bế Dôn (kịch)…đã dần dần hiện diện trên văn đàn cả nước cũng như ở Thái Nguyên Những tác phẩm của các tác giả trong những

năm tháng này đều mang hơi thở nóng hổi của thời đại: Trận địa giữa ruộng bậc thang (Nông Minh Châu); Suối gang, Lên cao (Xuân Cang); Người chia ánh sáng (Vi Hồng); Suối Lê Nin (Trần Văn Loa); Gái Quan Lang (Lê Thoa)…

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào giai đoạn quyết liệt nhất, cũng lại là lúc đội ngũ sáng tác văn học của Thái Nguyên lớn mạnh, trưởng thành và khẳng định được những đóng góp của mình Điều này được thể hiện qua các giải thưởng văn học lớn ở Trung ương Tiêu biểu như: nhà văn

Xuân Cang (Những vẻ đẹp khác nhau, tặng thưởng Hội Nhà văn 1968); Vi Hồng (Cọn nước Eng Nhàn, Báo Văn nghệ - Hội Nhà văn 1971); Hồ Thủy Giang (Cô Bánh Xích, Báo Văn nghệ - Hội Nhà văn 1971)…cùng sự xuất hiện

khá rầm rộ những tên tuổi mới như Ma Trường Nguyên, Trần Văn Loa, Hoàng Minh Tường, Trịnh Thanh Sơn, Chu Hồng Hải, Nguyễn Đức Thiện, Khánh Điểm, Ba Luận…đã làm nên một diện mạo văn học Thái Nguyên trên văn đàn

cả nước

Trang 24

* Giai đoạn sau 1975 đến nay

Bước sang thời kỳ thống nhất đất nước (1975), đội ngũ văn học Thái Nguyên vẫn tiếp tục thế mạnh của mình Nhiều nhà văn đã hướng ngòi bút vào hiện thực mới của xã hội Những chủ đề về cuộc sống hòa bình, thống nhất, tình cảm Bắc Nam cùng những biến cố của thời cuộc đã dần dần đi vào văn học Một số tác giả Thái Nguyên đã trưởng thành và được khẳng định qua các tập sách riêng gây được sự chú ý của dư luận Tiêu biểu nhất là hai tiểu

thuyết Đất bằng và Vãi Đàng của nhà văn Vi Hồng, (Nhà xuất bản Hội Nhà

văn - năm 1980), đã được đánh giá như một hiện tượng tiểu thuyết Việt Nam của thập kỷ 80 (thế kỷ XX) Viết về sự vươn lên làm chủ cuộc sống mới của con người miền núi khi giác ngộ cách mạng; phản ánh sự đổi đời của người phụ

nữ miền núi

Năm 1987, sự ra đời của Hội văn học nghệ thuật tỉnh đã như một bước ngoặt lớn đối với văn học Thái Nguyên Sự xuất hiện hàng loạt các cây bút ở các lứa tuổi, các thể loại với nhiều bút pháp khác nhau đã làm cho "kho tàng văn chương" Thái Nguyên giàu có lên một cách đáng mừng Những tác giả văn xuôi nối nhau, đại diện cho nhiều thế hệ cầm bút như: Hà Đức Toàn, Nguyễn Bình Phương, Lê Thế Thành, Nguyễn Cao Thâm, Nguyễn Minh Sơn, Đỗ Dũng, Nguyễn Văn, Ngọc Thị Kẹo, Thanh Hằng, Hoàng Luận…Những cây bút thơ theo năm tháng lại phát triển không ngừng như: Thế Chính, Trần Thị Vân Trung, Võ Sa Hà, Nguyễn Thúy Quỳnh, Nguyễn Đức Hạnh, Hữu Tiệp, Hiền Mặc Chất, Nguyễn Long, Ba Luận, Minh Hằng, Nguyễn Anh Đào, Vũ Đình Toàn, Triệu Doanh, Mai Thắng…Đó là những tên tuổi trưởng thành trong thời

kì Hội Văn học Nghệ thuật Thái Nguyên được thành lập

Thế kỉ XXI, cùng sự chuyển mình của đất nước, văn học Thái Nguyên đã

có những bước tiến mới Một lớp tác giả đã xuất hiện từ cuối thể kỷ trước đang được dần dần khẳng định ở đầu thế kỉ này như: Phạm Đức, Bùi Thị Như Lan,

Trang 25

Dương Thu Hằng, Trần Quang Toàn, Tô Sơn, Phan Thái, Bùi Nhật Lai, Phạm Ngọc Chuẩn, Thu Huyền, Phan Thức, Xuân Nùng, Nguyễn Kiến Thọ, Trần Xuân Tuyết, Nguyễn Hữu Bài, Nguyễn Thịnh, Hồ Triệu Sơn, Ngọ Quang Tôn, Phạm Quý…

Hàng chục đầu sách riêng được xuất bản hàng năm của các tác giả Thái Nguyên, dù chất lượng không đồng đều nhưng cũng đã minh chứng cho những bước phát triển không ngừng của văn chương toàn tỉnh

Giai đoạn văn học này, có một điều đáng nói là trong khi văn xuôi Thái Nguyên chỉ phát triển một cách bình lặng thì thơ lại có những bước tiến vượt bậc mà có lẽ Thái Nguyên chưa bao giờ đạt được Ba tập thơ của Nguyễn Thúy

Quỳnh (Mưa mùa đông), Võ Sa Hà (Cánh chim về núi), Minh Thắng (Rét

ngọt) được giải của Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam

trong các năm 2004 và 2006; Ba giải thưởng thơ của hai tờ báo lớn: Văn nghệ Quân đội, Báo Văn nghệ trao cho ba tác giả: Nguyễn Thúy Quỳnh, Lưu Thị

Bạch Liễu và Võ Sa Hà đã đưa vị thế thơ của Thái Nguyên lên một tầm cao mới, hoà vào với dòng chảy của văn học cả nước

Song song với thơ và văn xuôi nhưng công tác nghiên cứu, lí luận, phê bình ở Thái Nguyên cũng có những khởi sắc nhất định Ngoài các công trình nghiên cứu của các tác giả như: Lâm Tiến, Vũ Châu Quán, Vũ Đình Toàn… đội ngũ viết phê bình, lí luận văn học ở Thái Nguyên đã ngày càng được mở rộng với các tác giả như: Vũ Anh Tuấn, Phạm Mạnh Hùng, Nguyễn Huy Quát, Trần Thị Việt Trung, Nguyễn Đức Hạnh, Cao Thị Hảo, Cao Thị Hồng… Khu vực văn học dân tộc và miền núi đã trở thành thế mạnh trong phản ánh, khám phá của các tác giả này Từ những nghiên cứu của họ, văn học dân tộc thiểu số

và miền núi đã được định giá và khám phá khẳng định vị thế của mình trong dòng chảy văn học Việt Nam Qua đó thể hiện bước phát triển của lí luận phê bình văn học dân tộc thiểu số nói chung và lí luận phê bình về văn học dân tộc

và miền núi nói riêng

Trang 26

* Về thể loại tiểu thuyết trong văn học Thái Nguyên

Về mảng tiểu thuyết, một thể tài ví như xương sống của một nền văn học, với Thái Nguyên nếu trước đây thành tựu chưa nhiều thì 5 năm trở lại đây

đã có nhiều thành tựu được ghi nhận Hoàng Luận, Phạm Đức, Phan Thái, Hồ Thủy Giang là những người đi tiên phong trong phong trào viết tiểu thuyết ở Thái Nguyên vào thập kỉ thứ 2 của thế kỉ XXI Chỉ trong vòng năm, sáu năm (2011- 2016)

Hồ Thủy Giang xuất bản tới 5 cuốn (Tiếng súng bên sông Cầu, Con đường cát bụi, Những người mở đường, Tể tướng Lưu Nhân Chú, Thái Nguyên

- 1917); Hoàng Luận đã xuất bản 4 cuốn tiểu thuyết (Làng một người, Cây không lá, Nắng tím, Đất ống); Phan Thái 3 cuốn (Cơm áo chợ đời, Sóng bên ngày nắng, Đèn giời); Phạm Đức 2 cuốn (Bão rừng, Giông gió làng chè)…

Về nội dung, tiểu thuyết Thái Nguyên từ khi đổi mới đến nay chủ yếu khai thác hai nguồn cảm hứng về lịch sử và thế sự, đời tư hướng đến các đề tài:

nông thôn, miền núi, công nghiệp, đô thị hóa…

Nhà văn Ma Trường Nguyên là cây bút gạo cội của nền văn xuôi nói chung cũng như tiểu thuyết Thái Nguyên nói riêng Giai đoạn 1991 - 2016, ông

đã cho ra đời 9 tiểu thuyết, đều là về đề tài miền núi: Mũi tên ám khói (1991); Gió hoang (1992); Tình xứ mây (1993); Trăng yêu (1993); Bến đời (1995);

Rễ người dài (1996); Mùa hoa hải đường (1998); Phượng Hoàng núi (2012); Ông Ké thượng cấp (2016) Trong đó có tác phẩm Rễ người dài đoạt

giải thưởng của Uỷ ban toàn quốc liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt

Nam, Mũi tên ám khói và Mùa hoa hải đường đoạt giải B Giải thưởng Văn

học Nghệ thuật tỉnh 5 năm Trong sáng tác của Ma Trường Nguyên, ta nhận ra

đề tài ông quan tâm nhất chính là về mảnh đất vùng cao Con người, cuộc sống

và thiên nhiên nơi ấy đã được nhà văn miêu tả một cách sinh động, chân thực với tất cả tấm lòng yêu mến và gắn bó Với mạch nguồn cảm hứng về hiện thực

và văn hóa, cảm hứng nhân đạo hướng về con người, cảm hứng trữ tình về

Trang 27

thiên nhiên miền núi, nhà văn đã đặt niềm tin vào công cuộc đổi mới, vào phẩm giá con người vùng cao Ta cũng tìm thấy nhiều nét phong tục độc đáo của các dân tộc trong sáng tác của ông

Đại diện cho các tác giả viết về đề tài nông thôn miền núi phải kể đến nhà văn Hoàng Luận Cả đời ông cặm cụi tìm cảm hứng sáng tác ở chính mảnh đất Định Hóa nơi mình sinh sống Đến nay ông đã xuất bản 7 tiểu thuyết, chủ yếu xoay quanh những câu chuyện về quê hương mình Tiểu thuyết của ông miêu tả sự vận động, đổi thay đầy phức tạp và chứa đựng cả những mâu thuẫn phát sinh trong bối cảnh nông thôn đang phát triển hôm nay Điều ông trăn trở

là làm sao để đổi mới nhưng vẫn giữ được cái trong trẻo của tình người, tình quê Cũng viết về đề tài nông thôn nhưng khác với Hoàng Luận, tác giả Phạm

Đức ở Giông gió làng chè và Phan Thái Đèn giời lại miêu tả sự phát triển,

đổi thay nhanh chóng ở mỗi làng quê đi liền với sự tha hóa, xuống cấp đạo đức của những con người vì tiền tài, danh vọng mà bất chấp tất cả

Về các đề tài công nghiệp, nông thôn, khoáng sản, rừng, lịch sử thời kì phong kiến, thời kì chống Pháp, chống Mỹ, các tác giả Nguyễn Văn, Đỗ Dũng, Quản Văn Tại, Lê Hoàng… lần lượt cho ra đời nhiều tiểu thuyết phản ánh hiện thực cuộc sống sinh động

Quan tâm và thể hiện sự tác động của mặt trái cơ chế thị trường vào đời

sống, tâm hồn con người, nhà văn Phan Thái đã có các tiểu thuyết Cơm áo chợ đời, Sóng bên ngày nắng và Đèn giời Ở cả ba tiểu thuyết, ông đều đi sâu khai

thác số phận con người gắn với sự phát triển của công ty, doanh nghiệp sau cổ phần hóa hay những làng quê thay đổi khi dự án phát triển khu công nghiệp về

Hồ Thủy Giang sáng tác truyện ngắn là chủ yếu, ngoài ra còn viết nhiều kịch bản phim truyện điện ảnh và được đánh giá cao Giai đoạn 2015 - 2017,

Hồ Thủy Giang đã tạo được dấu ấn của mình trong làng văn với 5 cuốn tiểu thuyết trình làng, trong đó 2 tác phẩm đã đoạt 3 thưởng của Trung ương Ông cũng là người luôn trăn trở trước sự phát triển của xã hội dân chủ khi đồng tiền

Trang 28

lên ngôi, biến con người trở thành nô lệ, một là nạn nhân của hoàn cảnh, hai là

tha hóa về đạo đức theo bản năng Điều ấy thể hiện rõ nét trong tiểu thuyết Con đường cát bụi

Đánh giá chung về tiểu thuyết Thái Nguyên có thể thấy, 5 năm trở lại đây, một số tác giả như Hồ Thủy Giang, Phan Thái bắt đầu tìm đến sân chơi tiểu thuyết, có những tìm tòi hướng đến sự cách tân về nghệ thuật và đạt được những thành công bước đầu Sự đổi mới của hai nhà văn thể hiện ở quan điểm mới khi nhìn nhận về con người cá nhân, số phận con người trong xã hội phát triển; ở việc sử dụng thành thạo ngôn ngữ và các sắc thái giọng điệu nghệ thuật phong phú Hai nhà văn đã từng bước xây dựng các nhân vật đa điểm nhìn thể hiện tư duy sắc sảo, những quan điểm, triết lý sâu sắc trước cuộc đời, con người Tuy nhiên, sự cách tân về nghệ thuật của Hồ Thủy Giang và Phan Thái

về cơ bản vẫn nằm trong khuôn khổ của thể loại truyền thống

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, văn học Thái Nguyên vẫn còn một số hạn chế nhất định Đó là trong cách viết, các tác giả vẫn khá trung thành với truyền thống Không chỉ Hồ Thủy Giang và Phan Thái, hầu hết các nhà văn Thái Nguyên viết tiểu thuyết vẫn trung thành theo kiểu truyền thống, thể hiện ở việc sử dụng cốt truyện và cách tổ chức sự kiện đơn giản, một chiều, cũng như xây dựng những nhân vật mang tính chất loại hình và việc sáng tác kịch bản ở Thái Nguyên cũng còn nhiều hạn chế Từ những năm 90 của thế kỉ trước đến nay, với một số ít vở kịch nói, chèo của Nguyễn Đức Trạo và Mông Đông Vũ được dàn dựng trên sân khấu và truyền hình trung ương, còn hầu như rơi vào im lặng

Hơn một nửa thế kỉ đối với tiến trình văn học của một địa phương không phải là quá dài Chắc chắn văn học không thể phản ánh đầy đủ và sâu sắc trên mọi bình diện cuộc sống Việc giới thiệu, đánh giá văn học hiện đại Thái Nguyên cũng chỉ có thể như những phác thảo, nhằm mục đích giới thiệu, tạo ra một cái nhìn tổng quan ban đầu Nhưng chúng ta cũng có thể khẳng định thành

Trang 29

công bước đầu của của văn học Thái Nguyên Đến nay văn học Thái Nguyên

có thể hòa nhập vào tiến trình văn học Việt Nam đương đại

1.2.2 Nhà văn Hồ Thủy Giang

1.2.2.1 Tiểu sử và con người

Hồ Thủy Giang sinh ngày 20/06/1947 tại quận Kiến An, thành phố Hải Phòng Năm 1960, ông theo gia đình lên Thái Nguyên định cư Hiện, ông sống

ở tổ 16, phường Trưng Vương, thành phố Thái Nguyên Gần cả đời ông sống ở Thái Nguyên nên ông coi đây như quê hương thứ hai của mình Ông là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hội viên Hội Văn học nghệ thuật các Dân tộc thiểu số Việt Nam Ông nguyên là Chủ tịch Hội đồng Nghệ thuật - Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên

Ngay từ nhỏ, ông đã yêu thích đọc và sáng tác văn chương Năm 19 tuổi,

thơ của ông đã được in Năm 21 tuổi ông đã có truyện ngắn đầu tay Ngàn làm máy in trên tạp chí Văn nghệ Việt Bắc Sau đó Hồ Thủy Giang viết tiếp một

loạt tác phẩm về đề tài công nghiệp hóa nông thôn và nhận được giải thưởng

của Báo Văn nghệ - Hội nhà văn Việt Nam năm 1971 với tác phẩm Cô bánh xích Giai đoạn 1969-1980, Hồ Thủy Giang là giáo viên dạy văn ở Trường

THCS Đại Từ Trong 11 năm vừa dạy học, vừa sáng tác, ông đã tự học hết chương trình Đại học

Năm 1980, Hồ Thủy Giang chuyển về công tác ở Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Thái Nguyên Từ đó ông thực sự dành nhiều thời gian, tâm huyết cho sáng tác văn chương và đoạt nhiều giải thưởng của Trung ương và địa phương Năm

1983, Hồ Thủy Giang làm Phó phòng Xuất bản Sở Văn hóa Bắc Thái Năm

1987 ông chuyển sang làm Ủy viên Thường vụ Thường trực Hội Văn học nghệ thuật Bắc Thái Năm 1992 đến nay Hồ Thủy Giang giữ chức vụ Phó chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên, Chủ tịch Hội đồng Nghệ thuật - Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên

Trang 30

Với niềm đam mê văn chương mãnh liệt, từ khi cầm bút sáng tác đến nay, Hồ Thủy Giang đã cho ra mắt độc giả 15 tập truyện ngắn, 2 tập thơ, 5 tiểu thuyết, 3 cuốn phê bình văn học và 4 kịch bản phim truyền hình Hơn 40 năm cầm bút, Hồ Thủy Giang vinh dự được nhận trên hai mươi giải thưởng của Trung ương và địa phương ở các thể loại thơ, truyện ngắn tiểu thuyết, kịch bản phim truyện điện ảnh

1.2.2.2 Sự nghiệp sáng tác

Với bốn mươi năm cầm bút, Hồ Thủy Giang được nhận hơn hai mươi giải thưởng của trung ương và địa phương Sau đây là một số giải thưởng tiêu biểu:

Giải thưởng báo văn nghệ - Hội nhà văn Việt Nam năm1971

Giải thưởng báo Giáo viên Nhân dân năm 1976

Giải thưởng Tạp chí Văn nghệ Quân đội năm 1981, 1990

Giải thưởng Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam năm 1997

Giải thưởng Hội Văn học Nghệ thuật các Dân tộc Thiểu số Việt Nam năm 2002, 2004, 2008, 2009

Giải thưởng truyện ngắn Tạp chí Tài hoa trẻ năm 2001

Giải thưởng kịch bản phim truyện của Bộ văn hóa năm 2007

Giải thưởng liên hoan phim truyện truyền hình toàn quốc năm 2010.v.v

Hồ Thủy Giang là người ham học hỏi, có niềm đam mê mãnh liệt với văn chương Đến nay tác giả cho ra mắt độc giả 15 tập truyện ngắn, hai tập thơ,

5 tiểu thuyết, hai cuốn phê bình văn học và bốn kịch bản phim truyền hình Các

tác phẩm tiêu biểu như: Bạn cùng lớp (truyện vừa) năm 1981; Cô bánh xích (tập truyện ngắn) năm 1985; Có một cô gái trong đời (tập truyện ngắn) năm 1987; Con tàu đến muộn (tập truyện ngắn) năm 1989; Bông hoa cô đơn (tập truyện ngắn) năm 1990; Biệt li (tiểu thuyết) năm 1994 (tái bản năm

2006 với nhan đề Những phương trời lá rụng); Ảo ảnh (tập truyện ngắn)

năm 1997…

Trang 31

Trong văn chương, ông là người sớm nổi danh, đặc biệt với truyện ngắn,

chẳng hạn như các truyện ngắn (Cô Bánh Xích, Lúc ấy biển hoàng hôn,

Cuồng phong, Người đẹp thường nhiều bí ẩn, Không phải là ảo ảnh…) 5 tập

truyện thiếu nhi (Bạn cùng lớp, Chuyện cái chỏm đầu, Cây đỗ dại khờ…) 3

tập Phê bình văn học và 2 tập thơ

Hồ Thủy Giang luôn nhận mình bén duyên muộn với tiểu thuyết song chỉ chưa đầy 4 năm (2011 - 2016), ông đã tạo được dấu ấn trong dòng văn học địa

phương cũng như của nước nhà với 5 cuốn tiểu thuyết trình làng (Tiếng súng

bên sông Cầu, Con đường cát bụi, Tể tướng Lưu Nhân Chú, Thái Nguyên -

1917, Những người mở đường), trong đó 2 tác phẩm đoạt giải 3 giải thưởng

của Trung ương

1.2.3 Vị trí của Hồ Thuỷ Giang trong dòng chảy văn học Thái Nguyên

Sớm thành công với văn xuôi, nhất là truyện ngắn, Hồ Thuỷ Giang đã khẳng định được vị trí của mình trong dòng văn học Thái Nguyên Ông được coi là một trong những cây bút đầu tiên có nhiều đóng góp cho sự hình thành và phát triển của văn học Thái Nguyên Nhà văn Hồ Thủy Giang chuyển từ nghề giáo viên sang công tác tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Nguyên

từ năm 1980 Từ đó, ông dành nhiều thời gian với niềm đam mê sáng tác văn chương của mình Trong suốt chặng đường sáng tác thơ ca, ông đã cho ra mắt độc giả tổng số 30 cuốn sách gồm: 4 kịch bản phim truyện; 15 tập truyện ngắn;

5 tiểu thuyết, 5 tập truyện thiếu nhi, còn lại là các tập thơ và tập phê bình văn

học Trong đó những tác phẩm nổi bật có thể kể đến các tiểu thuyết như: Tể

tướng Lưu Nhân Chú, Con đường cát bụi,…Những đóng góp không mệt mỏi

ấy đã được ghi nhận bởi trên 25 giải thưởng từ cấp Trung ương đến địa phương

ở các thể loại Đặc biệt về đề tài tiểu thuyết lịch sử, Hồ Thuỷ Giang đã có sự nỗ lực không ngừng để chuyển thể từ kịch bản phim truyền hình do ông viết thành

hai cuốn tiểu thuyết: Tể tướng Lưu Nhân Chú (từ tác phẩm điện ảnh cùng tên)

và Thái Nguyên - 1917 (từ bộ phim Dưới cờ phục quốc)

Trang 32

Viết về tiểu thuyết lịch sử ở Thái Nguyên chúng ta có thể kể đến các tác giả như Phan Thức, Ngọc Thị Kẹo, Ma Trường Nguyên… với những sáng tác

như Thượng thư Đỗ Cận, Ông Ké thượng cấp hay Nhật kí cô văn thư

Trong tiểu thuyết Thượng thư Đỗ Cận nhà văn Phan Thức đã viết về

người anh hùng Đỗ Cận với hành trình gian nan khi “tầm sư học đạo”, sau đỗ đạt, ra làm quan với những phẩm chất hiếu học, quyết tâm vượt khó, sống có tình có nghĩa Ông đã trở thành một vị quan thanh liêm, biết lo lắng cho cuộc sống của nhân dân, luôn giúp đỡ cho đời sống của những người nghèo khổ

Với Ông Ké thượng cấp, Ma Trường Nguyên đã tái hiện lịch sử về quá

trình hoạt động cách mạng của chủ tịch Hồ Chí Minh, trong thời kì Người ở chiến khu Việt Bắc, từ những năm người ở Pắc Bó - Cao Bằng đến những năm lãnh đạo toàn dân kháng chiến chống Pháp thắng lợi ở chiến khu Việt Bắc (Tuyên Quang, Định Hóa - Thái Nguyên) Tác giả đã khắc họa sinh động hình ảnh Bác Hồ trong lòng người dân vừa gần gũi lại thân thương như “ông Ké” của bản làng Với các chiến sĩ, Bác lại là một người lãnh đạo cao cả, vĩ đại như một thiên tài cách mạng Những năm thắng chiến khu Việt Bắc cũng được tạo dựng không khí đầy hào hùng trong tác phẩm này

Ở Nhật kí cô văn thư, tác giả Ngọc Thị Kẹo đã đề cập đến một hiện thực

lịch sử của những năm chống Mĩ ở Thái Nguyên Qua lời kể của cô văn thư với những dòng nhật kí đẫm nước mắt, bạn đọc xót xa trước sự ra đi mất mát của những người đồng đội Đó là sự kiện lịch sử về đêm Nô en định mệnh 24/12/1972 khi Mỹ ném bom B52 tại ga Lưu Xá, thành phố Thái Nguyên khiến

59 đội viên của đại đội 915 và đại đội phó là Nguyễn Thế Cường đã hy sinh khi đang bốc xếp hàng hóa để chuyển vào chiến trường miền Nam Những đau thương mất mát của một thời kì lịch sử của dân tộc đã được tái hiện thật cụ thể, sinh động

Cũng chung mạch viết về lịch sử này, Hồ Thuỷ Giang được đánh giá là

“người viết tiểu thuyết lịch sử có số lượng nhiều và thành công hơn cả” [22, tr.9]

Trang 33

Với ba tiểu thuyết: Tể tướng Lưu Nhân Chú (2018), Thái Nguyên 1917 (2017) và Những người mở đường (2016), Hồ Thuỷ Giang đã khẳng định vị

trí quan trọng của mình khi viết về đề tài lịch sử ở Thái Nguyên

Tác phẩm Tể tướng Lưu Nhân Chú viết về người anh hùng Lưu Nhân

Chú - người con của mảnh đất Thái Nguyên trong công cuộc chống giặc Minh xâm lược ở nước ta thế kỷ XIV - XV Cùng tụ nghĩa với Lê Lợi - người anh hùng áo vải ở Lam Sơn để làm nên những chiến thắng oai hùng, Lưu Nhân Chú

đã được khắc hoạ với những phẩm chất tốt đẹp, võ công phi thường Xuất thân

là một chàng trai nông thôn miền núi, với lòng yêu quê hương sâu sắc, ông đã trở thành một trong những vị tướng tài tham gia vào nghĩa quân Lam Sơn cùng chủ tướng Lê Lợi đánh tan quân giặc, giành lại tự do cho dân tộc Tiểu thuyết

Thái Nguyên 1917 là cuốn tiểu thuyết lịch sử kể về cuộc khởi nghĩa Thái

Nguyên những năm đầu thế kỷ XX chống thực dân Pháp Khi thực dân Pháp áp bức bóc lột dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đội Cấn và vị quân sư tài ba Lương Ngọc Quyến cùng các anh em trong trại lính khố xanh đã lập kế hoạch để phất

cờ khởi nghĩa dành độc lập dân tộc Tuy cuối cùng cuộc khởi nghĩa thất bại nhưng lịch sử đã ghi nhận qua đó đã cho thấy được lòng dũng cảm, mưu trí của những người anh hùng xả thân vì đất nước, những dấu ấn lịch sử hào hùng của

mảnh đất và con người Thái Nguyên không dễ khuất phục trước kẻ thù Những

người mở đường là bản tráng ca của những thanh niên xung phong trong đại

đội 915 được Hồ Thuỷ Giang kể lại qua dòng hồi tưởng của những người sống sót trở về Tác phẩm đã kéo quá khứ gần hơn với hiện tại, hiện thực đa chiều được hiện ra với nhiều màu sắc khác nhau Giữa chiến tranh với hòa bình, người đã khuất và người ở lại đầy day dứt Sự xót xa khi mất đi những đồng đội đã cùng gắn bó và mảnh đất thiêng liêng nơi lưu giữ những kỉ niệm khó quên Những niềm tin về một ngày mai tươi sáng như những đốm lửa được thắp lên trên mảnh đất Thái Nguyên

Trang 34

Có thể nói, ba tiểu thuyết của Hồ Thuỷ Giang đã tái hiện những dấu ấn

lịch sử hào hùng của vùng đất Thái Nguyên từ thời trung đại (Tể tướng Lưu

Nhân Chú), cận đại (Thái Nguyên 1917) và đến hiện đại (Những người mở đường) với những người con anh hùng tiêu biểu của dân tộc Cùng với những

tiểu thuyết lịch sử của Phan Thức (Thượng thư Đỗ Cận), Ma Trường Nguyên (Ông Ké thượng cấp), Ngọc Thị Kẹo (Nhật kí cô văn thư), Hồ Thuỷ Giang đã

góp phần quan trọng tạo nên diện mạo, hình hài cho tiểu thuyết lịch sử Thái Nguyên - mảnh đất với nhiều dấu tích lịch sử quan trọng, nơi ươm mầm màu

mỡ cho những trang viết tiếp theo về đề tài lịch sử

Tiểu kết chương 1

Ở chương 1 chúng tôi đã đi sâu tìm hiểu lí luận cơ bản về tiểu thuyết lịch

sử với các đặc trưng tiêu biểu làm tiền đề cho những nghiên cứu cụ thể ở chương 2 Tiểu thuyết lịch sử có những đặc trưng riêng nhưng luôn mang chứa trong nó những dữ liệu lịch sử và yếu tố hư cấu của người nghệ sĩ Hồ Thuỷ Giang là tác giả tiêu biểu của văn học Thái Nguyên Ông có nhiều đóng góp cho sự hình thành và phát triển của văn học Thái Nguyên, trong đó phải kể đến những đóng góp tiêu biểu của những cuốn tiểu thuyết lịch sử về vùng đất và con người Thái Nguyên Đây là những trang văn đầy tự hào về đất và người Thái Nguyên Chúng ta sẽ tìm hiểu kĩ những giá trị của tiểu thuyết lịch sử Hồ Thuỷ Giang ở những chương tiếp theo

Trang 35

Chương 2 MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN VỀ NỘI DUNG TRONG TIỂU THUYẾT

LỊCH SỬ CỦA HỒ THỦY GIANG

2.1 Cảm hứng lịch sử in đậm dấu ấn thời đại

2.1.1 Tự hào, ngợi ca về những chiến thắng của dân tộc

Cũng như nhiều tiểu thuyết lịch sử của khác, các tác phẩm của Hồ Thủy Giang đã ghi lại những dấu ấn, sự kiện lịch sử của đất nước và dân tộc Đó là những hiện thực lịch sử đã từng xảy ra trong quá khứ, tác giả đã dựa vào đó để tái hiện lại trong tác phẩm của mình từ một góc nhìn riêng Ở cả ba tiểu thuyết lịch sử của ông, tuy mức độ khác nhau nhưng đều thể hiện được các sự kiện lịch sử của dân tộc ở các thời kì khác nhau từ trung đại đến cận đại và hiện đại Qua đó thể hiện cảm hứng ngợi ca, tự hào

Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh, tác giả của cuốn tiểu thuyết lịch sử nổi

tiếng Hồ Quý Ly từng cho rằng: “Tôi quan niệm, tiểu thuyết lịch sử phải tạo ra

một hiện thực làm sao để gây cho người đọc một ảo tưởng là có thật Tiểu thuyết lịch sử phải dựng lại bối cảnh không khí của thời đại.” Cũng với quan điểm ấy,

trong Tể tướng Lưu Nhân Chú, những yếu tố lịch sử cũng được nhà văn Hồ

Thủy Giang đưa vào tác phẩm nhằm dựng lại không khí thời đại dân tộc, về mảnh đất và con người Thái Nguyên thế kỷ XV để ngợi ca tinh thần yêu nước, niềm tự hào dân tộc Những dấu ấn lịch sử được tái hiện qua việc miêu tả bối

cảnh Lê Lợi làm lễ xuất quân với ngày tháng cụ thể: “Lam Sơn, năm Mậu Tuất, tháng giêng, ngày Canh Thân [ ] Ngự trên đài cao, Lê Lợi cùng quân sư Nguyễn Trãi và gần năm mươi võ tướng Lê Sát, Lê Thạch, Lê Lễ, Lê Vấn, Lê

Lý, Lê Ngân, Lưu Nhân Chú, Lưu Trung, Phạm Cuống các quan văn Lê Văn Linh, Lê Quốc Hưng đứng xếp hàng oai nghiêm Phía dưới là trùng trùng mấy nghìn binh sĩ với hàng trăm thiết kị, mấy chục đội kị mã, hàng chục thớt voi gầm vang trời đất” [11, tr.99] Một thời kì lịch sử oai nghiêm với khí thế

Trang 36

Tuy những dấu hiệu về ngày tháng này không xuất hiện nhiều trong tác phẩm nhưng khi cần khắc hoạ chi tiết các mốc son lịch sử, Hồ Thuỷ Giang đã chỉ ra rất cụ thể Chi tiết này đã nhấn mạnh dấu mốc của một thời kì lịch sử

Đặc biệt là lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc được tác giả thể hiện ở thái độ ngợi ca nhân vật Lưu Nhân Chú, một anh hùng văn võ song toàn Tiểu

thuyết Tể tướng Lưu Nhân Chú đã tái hiện được chân dung người anh hùng có

thật của vùng đất Đại Từ, Thái Nguyên - Lưu Nhân Chú Ông là một trong những công thần khai quốc thời Lê Sơ Khi Lê Lợi dấy binh khởi nghĩa ở Lam Sơn, Thanh Hoá, ông đã từ giã quê hương Đại Từ, Thái Nguyên để tham gia tụ nghĩa Lưu Nhân Chú đã tham gia nhiều trận đánh mang lại chiến thắng vang dội cho chủ tướng Lê Lợi Ông đã được phong nhiều chức tước, trong đó cao nhất là Tể tướng (1427) Ngay từ khi còn ở làng quê, Lưu Nhân Chú đã thể

hiện rõ quyết tâm chống giặc: “Người ta dám đứng lên, cớ sao mình không dám đứng lên để tự bảo vệ cho làng bản của mình Biết đâu sẽ có một ngày đội binh của Thuận Thượng và Văn Lãng lớn mạnh, rồi được thu nạp bởi một cuộc khởi nghĩa hùng mạnh nào đó trên đất Đại Việt chống lại giặc Minh” [11, tr.15]

Mặc dù cuối cùng Lưu Nhân Chú bị án oan phải chết nhưng dấu ấn lịch sử về

con người nhân ái, tài ba và yêu nước đã được lịch sử khắc ghi

Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa, ông là một trong những người đầu tiên dưới

cờ khởi nghĩa và là tướng trụ cột của khởi nghĩa Lam Sơn Suốt 10 năm nghĩa quân Lam Sơn kháng chiến (1418-1427) là một vị tướng tài ba xuất chúng, ông cùng các tướng lĩnh khác đã có mặt ở hầu hết các mặt trận, tham gia chỉ huy nhiều trận đánh quan trọng Từ cảm hứng lịch sử, gắn với quê hương nguồn cội

đó (Hồ Thủy Giang từng có nhiều năm dạy học ở Đại Từ), nhà văn đã viết cuốn tiểu thuyết để khắc họa đậm nét nhân vật Tể tướng Lưu Nhân Chú với tinh thần kính trọng, ngợi ca

Trang 37

Với Thái Nguyên 1917, Hồ Thuỷ Giang đã tái hiện sự kiện lịch sử thời

kì cận đại khi nhân dân ta chống lại ách áp bức của thực dân Pháp với hai nhân vật lịch sử: Đội Cấn và Lương Ngọc Quyến Từ tư liệu lịch sử về Trịnh Văn Cấn là viên cai đội lính khố xanh ở Thái Nguyên cầm đầu cuộc nổi dậy vào đêm 30/8/1917, Hồ Thuỷ Giang đã xây dựng thành công cuốn tiểu thuyết về thời kì lịch sử năm 1917 ở Thái Nguyên Đội Cấn cùng với gần 200 lính đã giết giám binh người Pháp, cai ngục và phá ngục giải cứu Lương Ngọc Quyến cùng hơn 200 tù nhân ở trại giam ở Thái Nguyên Mặc dù cuộc khởi nghĩa chỉ diễn

ra trong thời gian ngắn khoảng 5 tháng (từ tháng 8/1917 đến tháng 1/1918), với

số lượng không nhiều và thành phần đa dạng (gồm lính vệ binh, tù nhân, dân phu và dân địa phương) nhưng đã để lại tiếng vang lớn và cho thấy sự kiên gan, bền chí và quyết không khuất phục sự áp bức của thực dân Pháp của nhân dân

ta Linh hồn của cuộc khởi nghĩa là Đội Cấn và Lương Ngọc Quyến Hai người anh hùng đã góp sức tô đậm màu sắc lịch sử của đất và người Thái Nguyên

Ở tiểu thuyết Những người mở đường, các dấu mốc lịch sử cũng được

tái hiện trong từng trang viết Đó là những năm tháng sôi nổi, hào hùng của những thanh niên xung phong ở thời kì chống Mĩ Sự kiện lịch sử máy bay Mĩ ném bom ga Lưu Xá trong đêm Noel 24/12/1972 khiến 60 đồng chí hi sinh đã

để lại nỗi đau lớn trong lòng người ở lại Sự tàn khốc và bất ngờ của chiến tranh, của bom đạn đã huỷ diệt và chặn đứng những ước mơ và huỷ diệt những

số phận bất hạnh Tuy nhiên, dấu ấn này không được tái hiện cụ thể mà nó chỉ được gợi nhắc trong kí ức của những người ở lại Vì thế tác phẩm giống như những trang hồi kí được người trong cuộc kể lại mang nhiều chi tiết hiện thực

“Ông Thịnh làm sao quên được những năm tháng ác liệt từng xảy ra trên khu đất này Thua đau ở chiến trường miền Nam, giặc Mỹ điên cuồng phong toả cảng Hải Phòng bằng ngư lôi để chặn đường tiếp tế của miền Bắc Khu đất ga Lưu Sơn đã trở thành một “cảng nổi” tiếp nhận, tập kết hàng hoá quân sự và vận chuyển ra tiền tuyến.Vì vậy nó từng là một trong những trọng điểm ác liệt

Trang 38

máy bay Mỹ bắn phá Kho ga Lưu Sơn lúc bấy giờ là một đầu mối lớn và cũng

là túi bom của máy bay Mĩ” [10, tr.12] Mặc dù chi tiết tên gọi của ga đã được

viết chệch đi (ga Lưu Xá thành ga Lưu Sơn) nhưng sự kiện và dấu ấn lịch sử vẫn được tác giả chú trọng Những năm 1972-1973 là thời kì Mỹ đã leo thang bắn phá miền Bắc ác liệt Quân và dân miền Bắc nước ta đã chịu nhiều thiệt hại nặng nề về sức người, sức của Đặc biệt là quân đội Mỹ thường nhắm vào nơi đầu mối tiếp viện cho miền Nam nhằm chặt đứt liên lạc, viện trợ để cô lập miền Nam Sự bám trụ của các thanh niên xung phong để đảm bảo tuyến đường giao thông huyết mạch được thông suốt thật đáng ngưỡng mộ và ngợi ca

Nhìn chung, cảm hứng tự hào, ngợi ca được phản ánh trong tác phẩm khá rõ nét khi miêu tả những sự kiện, dấu ấn lịch sử của dân tộc, tài năng và chiến công của những người anh hùng trên mảnh đất Thái Nguyên Với những người thật, việc thật, Hồ Thuỷ Giang đã ghi dấu trong ba tiểu thuyết của mình những mốc son đáng nhớ của dân tộc

2.1.2 Cảm hứng bi hùng về những mất mát đau thương

Hiện thực được đề cập trong tác phẩm không chỉ là những chiến công, những ngày tháng chiến thắng hay khởi binh mà còn có cả những tội ác và sự tàn bạo của kẻ thù cũng được tái hiện khá cụ thể Những mất mát, đau thương trong chiến trận là có thật, những hi sinh về người và của là không thể phủ nhận Nhưng đó là sự hi sinh có ý nghĩa, mang tính chính nghĩa Thông qua những hiện thực đó, cảm hứng bi thương xuất hiện Tuy nhiên, trong các tiểu thuyết lịch sử, nhất là những tác phẩm chính sử, cảm hứng bi thương luôn đi cùng với sự hùng tráng tạo nên âm hưởng bi hùng khi phản ánh những mất mát đau thương

Trong tiểu thuyết Tể tướng Lưu Nhân Chú, qua lời băn khoăn của

Phạm Cuống, chúng ta hình dung được phần nào tội ác của giặc Minh: “Giặc Ngô bạo ngược, đi đến đâu cũng chém giết, cướp bóc, hãm hiếp Ngót hai năm nay, kể từ khi chúng giày xéo lên mảnh đất tổ tiên, bá tính phải sống trong

Trang 39

cảnh nước sôi lửa bỏng Nhưng người có sức vóc như chúng ta làm sao có thể ngồi yên, thưa cha” [11, tr.25] Hiện thực này cho thấy sự tàn bạo của quân

giặc khi chúng xâm lược nước ta ở thế kỷ XV Đồng thời dấy lên lòng căm thù giặc của người dân đất Việt Tuy nhiên không chỉ đau thương trước những mất mát mà ẩn trong đó, chúng ta bắt gặp sự không khuất phục và biến đau thương

thành ý chí và quyết tâm chống giặc “Chúng ta làm sao có thể ngồi yên” là câu

hỏi nhưng cũng là lời tự vấn, khẳng định rõ tấm lòng vì nước của người anh hùng Phạm Cuống

Người đọc luôn bị ám ảnh bởi tiếng sáo của Lưu Nhân Chú nhưng day dứt hơn cả khi tiếng sáo thể hiện khúc bi ai cực độ trước sự hi sinh của Slao - người con gái cùng quê chân thành và nghĩa khí, yêu thương anh hết lòng đã hi

sinh vì anh Và trước cảnh quân giặc “máu chảy thành sông, thây chất đầy nội…” tiếng sáo cất lên vào lúc đêm khuya đã nói lên tấm lòng yêu thương con

người của vị tướng quân dù đó là ta hay địch cũng một kiếp người Qua đó cho thấy tấm lòng nhân đạo, bao dung của vị tướng tài Lưu Nhân Chú

Trong tiểu thuyết Thái Nguyên 1917, tiếng gào thảm thiết vọng vào tận

rừng sâu của Đội Giá trước sự hi sinh của Luyến - người con gái anh yêu thương, cũng là mối tình đầu của anh khiến chúng ta xúc động nghẹn

ngào:“Giá đặt nhẹ Luyến xuống bãi cỏ cháy xác xơ Anh giơ tay lên trời gào lên thảm thiết:

Luyến! Luyến ơi! Luyến ơi!

Tiếng gọi của Giá vọng vào tận rừng sâu

Vầng trăng tháng 8 đỏ quạch như một quầng máu lửng lơ trên bầu trời đùng đục bóng mây” [12]

Nỗi đau tưởng như vô tận, không gì thay thế được nhưng nó biến thành hành động anh dũng Đội Giá đã trả thù cho Luyến và cho những người bạn của mình Sự hi sinh của Luyến khiến anh hụt hẫng, đau khổ đến tột cùng nhưng ý chí của những người anh hùng dám xả thân vì tổ quốc thân yêu đã giúp họ gạt

Trang 40

Trong tiểu thuyết Những người mở đường là tiếng gọi, tiếng gào thét lạc

giọng của những cô gái thanh niên xung phong khi chứng kiến 60 đồng đội của mình hi sinh không còn nguyên vẹn hình hài trước sự tàn phá của bom B52

“ Mận vừa chạy vừa bắc tay làm loa gọi to:

- Có ai C15 thanh niên xung phong ở đây không? Có ai không?

Tâm cũng gào lên trong nước mắt:

Các anh, các chị ơi, có ai còn sống không? Có ai còn sống không? Mỵ ơi…Sao ơi…

Những tiếng gọi vọng vào đêm đen ghê rợn, không một tiếng trả lời Họ vượt qua những đám cháy nhôm nhoam Những đốm lửa đỏ lòm trong đêm như những con mắt đang rỉ máu”[10]

Chiến tranh là một sự tàn phá khủng khiếp và nghiệt ngã Toàn bộ đại đội thanh niên xung phong làm nhiệm vụ vận chuyển lương thực, khí giới cho tiền tuyến phương Nam chống Mĩ ở ga Lưu Xá năm đó đã trúng bom và ra đi mãi mãi Trước hiện thực tàn khốc đó, nỗi đau của những đồng đội và người thân ở lại không gì khoả lấp Những thử thách ác liệt ấy không làm nhụt ý chí của những đồng đội khác Nỗi đau đã tôi luyện lên những con người yêu nước,

họ sẵn sàng xả thân vì độc lập tự do của tổ quốc

Đó là giây phút sinh tử khi hàng loạt trận bom trút xuống đầy cam go và thử thách:

“Tiếng máy bay gầm rít như phá vỡ bầu trời Thấy tình hình bất ổn, Cương hô to:

- Vào hầm trú ẩn ngay! Các em nhỏ vào trong để phía ngoài chúng tôi che chắn!

Mọi người vội vã chui vào cái hầm lớn hình chữ U ở cuối sân

Những chiếc bát sắt đựng cơm tung tóe trên mặt đất

Cương đứng ở của hầm quan sát Tiếng bom rít lên xen lẫn tiếng máy bay gầm

rú rợn người Những tiếng nổ lộng óc, khói mù mịt Mặt đất bị xới tung lên, chao đảo

Từ trên cao, một tiếng rít rợn người Chỉ một tích tắc ngay sau đó, căn

Ngày đăng: 12/04/2022, 20:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thị Kiều Anh (2005), Lý luận về thể loại tiểu thuyết trong nghiên cứu phê bình Văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Trường ĐH KHXH và NV, ĐH Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận về thể loại tiểu thuyết trong nghiên cứu phê bình Văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX
Tác giả: Nguyễn Thị Kiều Anh
Năm: 2005
2. Lê Huy Bắc (2001), Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại (in trong (Hợp tuyển công trình nghiên cứu), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại (in trong
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
3. Bộ môn Lí luận văn học & Văn học VN hiện đại (2015), Vi Hồng - tác phẩm và dư luận Nxb Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vi Hồng - tác phẩm và dư luận
Tác giả: Bộ môn Lí luận văn học & Văn học VN hiện đại
Nhà XB: Nxb Đại học Thái Nguyên
Năm: 2015
4. Nông Quốc Chấn (chủ biên), (2007), Tuyển tập văn học dân tộc và miền núi (2 tập), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập văn học dân tộc và miền núi
Tác giả: Nông Quốc Chấn (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
5. Trần Trí Dõi (1998), Ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam
Tác giả: Trần Trí Dõi
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1998
6. Hà Minh Đức (chủ biên) (1998), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
7. Hoàng Cẩm Giang (2016), “Sự thể hiện chất liệu lịch sử trong tiểu thuyết Việt Nam đầu thế XXI: từ đối thoại liên văn bản đến sự hoài nghi các đại tự sự”, Tạp chí Khoa học XH & NV, tập 2, số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự thể hiện chất liệu lịch sử trong tiểu thuyết Việt Nam đầu thế XXI: từ đối thoại liên văn bản đến sự hoài nghi các đại tự sự”, "Tạp chí Khoa học XH & NV
Tác giả: Hoàng Cẩm Giang
Năm: 2016
8. Hồ Thuỷ Giang (2007), Văn học Thái Nguyên, tác giả và tác phẩm, Nxb Văn hoá dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Thái Nguyên, tác giả và tác phẩm
Tác giả: Hồ Thuỷ Giang
Nhà XB: Nxb Văn hoá dân tộc
Năm: 2007
9. Hồ Thuỷ Giang (2010), Thái Nguyên - một dòng chảy văn chương, Nxb Hội Nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thái Nguyên - một dòng chảy văn chương
Tác giả: Hồ Thuỷ Giang
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2010
10. Giang (2016) Hồ Thuỷ Giang (2016), Những người mở đường, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những người mở đường
Tác giả: Giang (2016) Hồ Thuỷ Giang
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2016
11. Hồ Thuỷ Giang (2016), Tể tướng Lưu Nhân Chú, Nxb Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tể tướng Lưu Nhân Chú
Tác giả: Hồ Thuỷ Giang
Nhà XB: Nxb Đại học Thái Nguyên
Năm: 2016
12. Hồ Thuỷ Giang (2017), Thái Nguyên 1917, Nxb Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thái Nguyên 1917
Tác giả: Hồ Thuỷ Giang
Nhà XB: Nxb Đại học Thái Nguyên
Năm: 2017
13. Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi (Đồng chủ biên) (2006), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi (Đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
14. Nguyễn Đức Hạnh (chủ biên) (2016), Văn học địa phương miền núi phía Bắc, Nxb Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học địa phương miền núi phía Bắc
Tác giả: Nguyễn Đức Hạnh (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Thái Nguyên
Năm: 2016
16. Cao Thị Hảo (2018), Văn học dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại - từ một góc nhìn, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại - từ một góc nhìn
Tác giả: Cao Thị Hảo
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2018
17. Cao Thị Hảo (2019), Văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX từ góc nhìn văn hoá, Nxb ĐH Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX từ góc nhìn văn hoá
Tác giả: Cao Thị Hảo
Nhà XB: Nxb ĐH Thái Nguyên
Năm: 2019
18. Trần Hinh (2010), Khuynh hướng tiểu thuyết - điện ảnh trong văn học Pháp thế kỷ XX, Nxb ĐH Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khuynh hướng tiểu thuyết - điện ảnh trong văn học Pháp thế kỷ XX
Tác giả: Trần Hinh
Nhà XB: Nxb ĐH Quốc gia
Năm: 2010
19. Cao Thị Hồng (2017), Lý luận - phê bình văn học: một góc nhìn mới, Nxb ĐH Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận - phê bình văn học: một góc nhìn mới
Tác giả: Cao Thị Hồng
Nhà XB: Nxb ĐH Thái Nguyên
Năm: 2017
20. Ngọc Thị Kẹo (2003), Nhật kí cô văn thư, Nxb Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhật kí cô văn thư
Tác giả: Ngọc Thị Kẹo
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2003
21. Phong Lê (2001), Văn học Việt Nam hiện đại - Những chân dung tiêu biểu, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam hiện đại - Những chân dung tiêu biểu
Tác giả: Phong Lê
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w