Tiêu điểm + Tình hình ngành dệt may Việt Nam năm 2018 + CPTPP và ngành dệt may may mặc Việt Nam + Triển vọng ngành công nghiệp thời trang toàn cầu năm 2019 Báo cáo Ngành dệt may Ngày 21/02/2019 LOẠI G[.]
Trang 2Tiêu điểm:
+ Tình hình ngành dệt may Việt Nam năm 2018
+ CPTPP và ngành dệt may - may mặc Việt Nam
+ Triển vọng ngành công nghiệp thời trang toàn cầu năm 2019
Báo cáo Ngành dệt may
THỊ TRƯỜNG COTTON THẾ GIỚI NĂM 2018 TOP 5 NHÀ NHẬP KHẨU COTTON
TOP 5 NHÀ XUẤT KHẨU COTTON
Trang 3CẬP NHẬT THỊ TRƯỜNG BÔNG THẾ GIỚI
Theo báo cáo tháng này của Bộ Nông Nghiệp Hoa Kỳ (USDA),
sản lượng và lượng tiêu thụ dự kiến đều được điều chỉnh giảm
Sản lượng giảm 645.000 kiện (từ 119,4 xuống 118,7 triệu kiện)
và lượng tiêu thụ giảm 1,3 triệu kiện (từ 126,9 xuống 125,6 triệu
kiện) Do lượng tiêu thụ giảm mạnh hơn sản lượng, tồn kho cuối
kỳ dự kiến tăng (tăng 583.000 triệu kiện, từ 72,6 lên 73,2 triệu
kiện)
Ở phạm vi quốc gia, sản lượng dự kiến được điều chỉnh mạnh
nhất ở Pakistan (giảm 600.000 kiện, từ 8,0 xuống 7,4 triệu
kiện), Trung Quốc (giảm 500.000 kiện, từ 27,5 xuống 27,0 triệu
kiện), Ấn Độ (giảm 500.000 kiện, từ 28,0 xuống 27,5 triệu kiện),
Thổ Nhĩ Kỳ (giảm 200.000 kiện, từ 4,5 xuống 4,3 triệu kiện), và
Turkmenistan (giảm 200.000 kiện, từ 1,2 xuống 1,0 triệu kiện)
Bên cạnh đó, sản lượng cũng tăng ở Brazil (tăng 1,0 triệu kiện,
từ 10,0 lên 11,0 triệu kiện), Mỹ (tăng 180.000 kiện, từ 18,4 lên
18,6 triệu kiện), và Bờ Biển Ngà (tăng 125.000 kiện, từ 725.000
lên 850.000 kiện)
Lượng tiêu thụ toàn cầu giảm là do các chỉ tiêu dự kiến của
hoạt động kinh tế toàn cầu trong năm 2019 được điều chỉnh
giảm Đáng chú ý là Quỹ Tiền Tệ Thế Giới (IMF) đã giảm dự báo
tăng trưởng GDP toàn cầu trong cả hai năm 2018 và 2019 từ
3,9% (vào tháng 04) xuống 3,7% (vào tháng 10) Những biến
động xoay quanh tình hình căng thẳng thương mại giữa hai nền
kinh tế lớn nhất thế giới cũng là một yếu tố ảnh hưởng quan
trọng Ở phạm vi quốc gia, lượng tiêu thụ được điều chỉnh mạnh nhất ở Trung Quốc (giảm 1,0 triệu kiện, từ 42,5 xuống 41,5 triệu kiện), Pakistan (giảm 200.000 kiện, từ 10,8 xuống 10,6 triệu kiện), Thổ Nhĩ Kỳ (giảm 100.000 kiện, từ 7,1 xuống 7,0 triệu kiện), và Uzbekistan (giảm 100.000 kiện, từ 2,8 xuống 2,7 triệu kiện)
Trang 4CẬP NHẬT THỊ TRƯỜNG BÔNG THẾ GIỚI
Trong khi vẫn còn một vài tháng nữa thì các chỉ số ước lượng dự kiến cho vụ 2019/20 mới được công
bố, nhưng một số chiều hướng phát triển đã dần định hình Cũng như những năm gần đây, giá bông vẫn cao hơn các nông sản cạnh tranh khác Điều này có nghĩa là diện tích gieo trồng bông, và khả năng là sản lượng bông, sẽ tăng Trong vụ 2018/19, tình hình thời tiết không thuận lợi trên toàn thế giới chứng minh rằng một mình yếu tố diện tích không quyết định được sản lượng Thời tiết vẫn sẽ là yếu tố bất ổn rất lớn Tuy nhiên, tình hình thời tiết bất lợi trong vụ mùa hiện tại đã có chiều hướng giảm Tình hình hạn hán ở khu vực trọng điểm Tây Texas của Mỹ đã được giải quyết bởi những cơn mưa lớn trong những tháng gần đây Chỉ việc độ ẩm phù hợp đã trở lại khu vực Tây Texas có thể sẽ làm sản lượng tăng vài triệu kiện trong vụ mùa tiếp theo So với vụ 2018/19, tình hình gieo trồng vụ mùa mới ở Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan và Úc
có thể được cải thiện đáng kể
Một yếu tố đáng cân nhắc ở vụ 2019/20 là tốc độ tăng trưởng kinh tế đang chậm lại, điều này có thể dẫn đến lượng tiêu thụ bông giảm sút Ước lượng mới nhất của IMF là tốc độ phát triển kinh tế toàn cầu sẽ không thay đổi so với tốc độ phát triển trong những năm gần đây Việc IMF điều chỉnh tốc độ tăng trưởng GDP toàn cầu đã thay đổi hoàn toàn ước lượng tăng trưởng kinh tế trước đây và thay vào đó là ước lượng phát triển kinh tế ổn định hơn (ước lượng tốc độ tăng trưởng năm 2017 là 3,7%, tốc độ tăng trưởng dự kiến cho 2018, 2019 và 2020 cũng ở mức 3,7%) Mặc dù những ước lượng trước đây ít lạc quan, nhưng tốc độ phát triển 3,7% đã là tốc độ phát triển nhanh nhất kể từ năm 2011 Sự kết hợp giữa sản lượng tăng
và lượng tiêu thụ giảm trong vụ mùa tiếp theo có thể sẽ làm giảm thâm hụt sản lượng so với vụ 2018/19 (thâm hụt 6,9 triệu kiện, khoảng 5% lượng tiêu thụ) Điều này sẽ có ảnh hưởng mạnh đến lượng tồn kho toàn cầu, một yếu tố có tác động đến giá bông Trong bốn năm gần đây, lượng hàng tồn kho toàn cầu đã giảm dần Xu hướng này chịu ảnh hưởng mạnh từ tình hình tồn kho ở Trung Quốc
Như vậy, những yếu tố quan trọng nhất tác động đến giá bông vụ 2019/20 sẽ xoay quanh những vấn đề
về thương mại, đặc biệt là các sự kiện khi Trung Quốc bắt đầu tăng hạn mức nhập khẩu một cách nhanh chóng và diễn biến của tranh chấp thương mại Mỹ - Trung Cho đến thời điểm hiện tại, nguồn cung tăng ngoài Trung Quốc không tạo áp lực giảm giá bông đáng kể Điều này có thể là do thị trường đã tiên đoán được khả năng Trung Quốc sẽ tăng hạn mức nhập khẩu Nếu nhập khẩu của Trung Quốc không tăng như
dự kiến, việc tồn kho tiếp tục tăng ở các quốc gia xuất khẩu sẽ tạo áp lực giảm giá bông Nếu nhập khẩu của Trung Quốc tăng bằng với mức cần thiết để ổn định tồn kho, có nghĩa là bằng với lượng thâm hụt sản lượng nội địa (14,5 triệu kiện trong vụ 2017/18), giá bông sẽ có xu hướng tăng
Trang 5TÌNH HÌNH NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM THÁNG 01/2019
Nguồn: Vietdata.vn
Trang 6TÌNH HÌNH NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM NĂM 2018
Năm 2018 được coi là một năm đại thành công với ngành dệt may của Việt Nam Trong năm vừa qua, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may đạt hơn 36 tỷ USD, đạt mức tăng trưởng trên 16% Vị trí của ngành dệt may Việt Nam đã khẳng định được vị thế của mình trên thị trường quốc tế khi đã chính thức vượt lên trên Bangladesh để trở thành nước xuất khẩu hàng dệt may và may mặc đứng thứ 3 trên toàn cầu, chỉ sau Trung Quốc và đứng ngay sát sau Ấn Độ với kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may năm 2018 của
Ấn Độ là 36.4 tỷ USD Ngoài ra, kim ngạch nhập khẩu trong năm vừa rồi cũng đạt 21.8 tỷ USD, chủ yếu
là nguyên phụ liệu phục vụ cho hoạt động sản xuất may mặc So với tổng kim ngạch xuất khẩu trong năm qua, ngành dệt may và may mặc đứng vị trí thứ hai chỉ sau mặt hàng điện thoại và linh kiện điện tử, chiếm 15% kim ngạch xuất khẩu của cả nước Từ thời điểm gia nhập WTO, mở cửa thị trường, đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu, ngành dệt may và may mặc nước ta đã có bước phát triển vượt bậc với tốc
độ tăng trưởng hằng năm cao Tuy được coi là một năm có kết quả vượt mong đợi, tuy nhiên, nhìn vào mặt khách quan và chủ quan, ngành dệt may và may mặc nước ta vẫn còn gặp nhiều khó khăn Trong bối cảnh kinh tế, lợi thế dành cho các doanh nghiệp sản xuất và xuất nhập khẩu trong năm qua gần như không có, khi CPTPP và EVFTA là hai hiệp định sẽ mang lại lợi thế rất lớn về thuế quan cho ngành này nhưng lại chưa có hiệu lực Cũng trong năm 2018 vừa qua, Việt Nam đón nhận rất nhiều thành công từ những thương vụ đầu tư và phát triển công nghệ kỹ thuật – khoa học trong sản xuất và xuất khẩu hàng dệt, may Nhiều thương hiệu nước ngoài mua cổ phần tại các công ty Việt Nam để củng cố vị thế của
họ tại thị trường nội địa Công ty Nhật Bản Uniqlo đã mua 35% cổ phần của Elise và sẽ mở cửa hàng đầu tiên tại Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2019 tới đây Cửa hàng Uniqlo tại Việt Nam sẽ được vận hành thông qua liên doanh giữa Fast Retailing và Tập đoàn Mitsubishi Việt Nam cũng là nhà cung cấp hàng may mặc lớn thứ hai cho Hàn Quốc sau Trung Quốc, chiếm 32.67% thị phần Tập đoàn Hàn Quốc Hyosung vào tháng 9 năm vừa rồi cũng đã nhận được giấy chứng nhận đăng ký đầu tư từ Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để xây dựng nhà máy polypropylen và kho xăng dầu hóa lỏng Hàng dệt may
và nguyên phụ liệu cũng được phát triển và đầu tư dây chuyền hóa phục vụ nhu cầu nội địa, với các dự
án như Công ty cổ phần dệt may Việt Minh Bảo Minh (vào tháng 10 đã khánh thành một nhà máy dệt tại khu công nghiệp Bảo Minh, tỉnh Nam Định) Được xây dựng với khoản đầu tư hơn 73 triệu USD, đơn
vị này bao gồm các cơ sở dệt vải, nhuộm và hoàn thiện xưởng, một nhà kho, một trung tâm điện và văn phòng
Trang 7TÌNH HÌNH NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM NĂM 2018
Vấn đề về việc các nhà sản xuất của nước ta chưa phát triển công nghệ để sản xuất đủ nguyên liệu và vải để phục vụ hoạt động gia công may mặc hiện nay không phải là mối lo ngại duy nhất Chi phí logistics còn cao chính là một trong những trở ngại lớn của dệt may nước ta trong năm 2019 và những năm sắp tới đây Hiệp định thương mại tự do CPTPP đã có hiệu lực vào ngày 14 tháng 1 vừa qua dấy lên lo ngại do các chuyên gia cảnh báo rằng chi phí logistics cho xuất khẩu còn cao khiến các doanh nghiệp Việt Nam khó cạnh tranh với các quốc gia khác Hiện này chi phí logistics của Việt Nam cao hơn 6% so với Thái Lan, 7%
so với Trung Quốc, cao hơn 12% so với Malaysia và gấp ba lần so với Singapore Để thu hút các nhà đầu
tư nước ngoài vào thị trường dệt may và may mặc Việt Nam, những nhân tố như logistics cần được chú trọng hơn nữa để tạo thêm sức hút và năng lực cạnh tranh mạnh mẽ hơn
Năm 2019 sẽ là một năm đầy thách thức đối với ngành dệt may của Việt Nam vì ngành công nghiệp này cần phải tạo nên được những bước đột phá lớn để có thể đảm nhận vai trò mới trong chuỗi giá trị toàn cầu, trong đó quan trọng nhất là chuyển từ nền sản xuất gia công đơn giản (CMT) sang các công đoạn sản xuất mang lại nhiều giá trị thặng dư hơn như sản xuất thiết kế ban đầu (ODM) và chế độ nhà sản xuất thương hiệu gốc (OBM) Đây chính là vấn đề cốt lõi mà dệt may Việt Nam phải tạo được bước đột phá trong những năm tới đây với niềm tin về khả năng hoàn toàn có thể làm được, khi rõ ràng chúng ta đã vượt qua Bangladesh để trở thành nước xuất khẩu hàng dệt may thứ 3 toàn cầu Với mục tiêu xuất khẩu đạt 40 tỷ USD trong năm 2019 này, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam hoàn toàn có thể thực hiện được Dựa trên các số liệu được công bố, mức thặng dư thương mại trong năm nay có thể đạt mức 20 tỷ USD và tạo nguồn thu nhập ổn định cho hơn 2.5 triệu người lao động
Trang 8CPTPP VÀ NGÀNH DỆT MAY - MAY MẶC CỦA VIỆT NAM
Kỳ 1: CPTPP mang đến cho dệt may Việt Nam cơ hội ít hay nhiều?
CPTPP – Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương đã có hiệu lực tại Việt Nam từ ngày 14/01/2019 vừa qua Hiệp định thương mại tự do (FTA) này đã có ảnh hưởng lớn đến chính sách và định hướng phát triển của các ngành công thương nghiệp và dịch vụ từ khi bắt đầu được đề xuất đàm phán dưới tên gọi Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) Về cơ bản, CPTPP giữ nguyên các nội dung của TPP ban đầu, tuy nhiên đã cho phép các nước thành viên còn lại tạm hoãn đến 20 nhóm nghĩa vụ để bảo đảm sự cân bằng trong bối cảnh kinh tế mới giữa các nước tham gia khi không còn Hoa
Kỳ Đây được coi là một hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, có tiêu chuẩn cao và toàn diện, cũng như minh bạch hóa và đưa ra cơ chế giải quyết tranh chấp có tính ràng buộc và chặt chẽ Về phương diện mở cửa thị trường, CPTPP xóa bỏ gần như toàn bộ các loại thuế nhập khẩu theo lộ trình, tự do hóa dịch vụ
và đầu tư trên cơ sở tuân thủ pháp luật của từng nước thành viên tham gia
Trang 9CPTPP VÀ NGÀNH DỆT MAY - MAY MẶC CỦA VIỆT NAM
Lần đầu tiên, dệt may trở thành một nội dung được đàm phán và thảo luận riêng biệt, tách biệt hẳn với nội dung về thương mại hàng hóa, khác với các hiệp định thương mại tự do trước đây mà Việt Nam là thành viên Trong nội dung này, cam kết chính từ Chính phủ Việt Nam đó là chấp nhận quy tắc “Từ sợi trở đi” và được áp dụng các biện pháp linh hoạt khi nguồn cung bị thiếu hụt Dệt may là một trong số
ít những ngành được đánh giá là sẽ giúp Việt Nam tạo nên mức tăng GDP ấn tượng trong những năm tới đây, khi cơ hội mở rộng hoạt động xuất khẩu và tăng giá trị ngành là điều tất yếu mà mỗi quốc gia tham gia FTA đều hướng tới Không chỉ CPTPP mà EVFTA hay RCEP cũng sẽ mang lại những cơ hội lớn như mở rộng thêm cơ hội tiếp cận thị trường, đẩy mạnh tăng trưởng xuất nhập khẩu, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế và tạo thế chủ động khi cơ chế bảo hộ thương mại đang gia tăng mạnh mẽ Đối với CPTPP, Việt Nam gần như được “ấn định” sẽ là quốc gia dẫn đầu trong lĩnh vực dệt may và may mặc, có ảnh hưởng sâu rộng không chỉ đối với các quốc gia trong khối CPTPP mà còn các quốc gia và vùng lãnh thổ khác, do FTA này vẫn có những điều khoản mở cho Hoa Kỳ quay trở lại bàn đàm phán và các quốc gia khác đủ điều kiện muốn tham gia Theo các chuyên gia đến từ Hiệp hội Dệt may Việt Nam, CPTPP sẽ giúp Việt Nam đẩy mạnh tăng trưởng cũng như thay đổi cơ cấu thị trường xuất khẩu theo hướng cân bằng hơn, khi dòng thuế suất bằng 0%, giúp ngành dệt may Việt Nam mở rộng thị phần tại một số nước đang có thuế suất cao như Canada, New Zealand, Australia
Những thị trường nào sẽ là điểm đến chủ lực của hàng dệt may – may mặc Việt Nam tới đây?
Hiện nay, khu vực liên minh châu Âu, Hoa Kỳ, Hàn Quốc và Nhật Bản là những thị trường xuất khẩu lớn của hàng dệt may nước ta và cũng sẽ tiếp tục là những thị trường chủ lực khi CPTPP có hiệu lực Tuy nhiên, khi CPTPP có hiệu lực, hàng dệt may Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội hơn trong khu vực 11 nước CPTPP, đặc biệt là những quốc gia Việt Nam chưa từng có thỏa thuận thương mại như Peru và Chile
Vậy các doanh nghiệp tại Việt Nam có hay không có khả năng để đón đầu cơ hội lớn từ CPTPP?
Câu trả lời hiển nhiên là có Đối với một hiệp định bao trùm quy mô 13.5% GDP toàn cầu và ảnh hưởng tới không chỉ 500 triệu dân tại 10 quốc gia thành viên thì Việt Nam rõ ràng có rất nhiều cơ hội để nắm bắt các ưu đãi mà CPTPP mang lại, đặc biệt là các doanh nghiệp dệt may và may mặc Nhưng để đón đầu được cơ hội lớn này, chúng ta phải giải quyết được bài toán lớn nhất mà các doanh nghiệp nước ta chưa thể gỡ giải: đó là bài toán về vải
Trang 10CPTPP VÀ NGÀNH DỆT MAY - MAY MẶC CỦA VIỆT NAM
Mặc dù ngành dệt may của nước ta khẳng định vị trí thứ ba trên thế giới về kim ngạch xuất khẩu với 36.1
tỷ đô la trong năm 2018, nhưng chúng ta phải nhập khẩu khoảng 80% nguyên liệu để sản xuất, theo ông Trương Văn Cẩm, Phó chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS) cho biết Sự phụ thuộc nặng
nề vào nguyên liệu nhập khẩu là một vấn đề nghiêm trọng đối với ngành công nghiệp này Nước ta hiện phải nhập khẩu tới 99% bông, 70% sợi (trên 2.2 triệu tấn/ năm) và 80% vải Thiếu sót vô cùng lớn khi chỉ
có 10% vải được nhập khẩu từ Nhật Bản và các quốc gia là một phần của CPTPP Không chỉ về vấn đề nguyên phụ liệu, công nghệ kỹ thuật vẫn chưa được áp dụng tối ưu, khi phương thức gia công vẫn chiếm
ưu thế (khoảng 65%) Trình độ lao động dệt may vẫn còn thấp, khi lao động phổ thông chiếm 75.9%, trình độ cao đẳng đại học chỉ chiếm chưa đến 7% Nhận biết được những vướng mắc mà chúng ta đang gặp phải chính là cách để tìm thấy những cơ hội và khả năng để thay đổi, phát triển ngành dệt may và may mặc tốt hơn trong tương lai
Hiện nay, các doanh nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh, khu vực chiếm một phần ba kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của cả nước, đang chuẩn bị tận dụng các cơ hội để tăng xuất khẩu sang các thị trường mới như Canada, Peru và Mexico Nhiều doanh nghiệp trong số này đang tích cực thúc đẩy thực hiện đào tạo nguồn nhân lực và thay đổi công nghệ, máy móc để có được lợi thế từ CPTPP ngoài việc tự nhận thức được các vấn đề như tuân thủ môi trường, chất lượng và nguồn gốc sản phẩm khi chưa đảm bảo được nguồn cung vải và nguyên phụ liệu để sản xuất Các khu vực khác như tỉnh Vĩnh Phúc cũng đang hỗ trợ các doanh nghiệp dệt may, đồng thời tạo môi trường kinh doanh tốt nhất cho các doanh nghiệp địa phương phát triển mà không gặp bất kỳ trở ngại hay khó khăn nào từ những chỉ đạo và chính sách của địa phương Công ty Cổ phần Dệt may Đông Nam, một công ty con của Tập đoàn Dệt may Quốc gia Việt Nam (Vinatex), gần đây đã bắt đầu xây dựng nhà máy sợi đầu tiên ở khu vực phía tây nam tỉnh Bạc Liêu Tọa lạc tại Khu công nghiệp Trà Kha ở thành phố Bạc Liêu, nhà máy có tổng vốn đầu tư hơn 21.56 triệu USD và dự kiến sẽ hoàn thành trong vòng hai năm Giai đoạn đầu tiên của nhà máy sẽ sản xuất 3,500 tấn sợi mỗi năm khi đi vào hoạt động vào cuối năm 2019, và nâng lên 4,500 tấn trong những năm tới Chủ tịch Vinatex Trần Quang Nghi cho biết nhà máy sẽ được trang bị các thiết bị hiện đại từ Châu Âu, Nhật Bản và Ấn Độ, và nhà máy này được kỳ vọng sẽ trở thành một trong những đơn vị cung cấp sợi và vải phục vụ cho hoạt động sản xuất hàng may mặc, hàng gia công nhằm đáp ứng quy tắc xuất xứ nghiêm ngặt được đặt ra trong CPTPP
(Kỳ 2: Quy tắc xuất xứ - điểm nghẽn và là một trong những mấu chốt gia tăng giá trị ngành dệt may – may mặc Việt Nam trên thị trường quốc tế)
Trang 11Những thành viên tham gia vào ngành công nghiệp thời trang toàn cầu sẽ đối mặt với nhiều sự đổi thay trong năm 2019 khi nhiều yếu tố truyền thống đã thay đổi và nhường chỗ cho những mô hình kinh doanh mới Chúng ta sẽ cùng điểm qua những điểm mới cũng như triển vọng của ngành này trong năm 2019 này Theo dự báo, tăng trưởng của ngành kinh doanh thời trang sẽ đạt mức tăng trưởng 3.5 - 4.5% trong năm 2019, thấp hơn một chút so với mức hơn 4% của năm 2018 Sự lạc quan là điều
có thể nhìn thấy của các doanh nghiệp thời trang ở Bắc Mỹ đặc biệt là các phân khúc cao cấp và sang trọng
TRIỂN VỌNG CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP THỜI TRANG TOÀN CẦU NĂM 2019
Trang 12TRIỂN VỌNG CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP THỜI TRANG TOÀN CẦU NĂM 2019
Ấn Độ
Quốc gia Nam Á này ngày càng chứng tỏ vị thế mới đối với ngành thời trang song hành với sự phát triển nhanh chóng của tầng lớp trung lưu và sự gia tăng trong năng lực sản xuất Điều này kết hợp với nền tảng kinh tế mạnh mẽ và hiểu biết về công nghệ ngày càng tăng khiến Ấn Độ trở nên quan trọng với các thương hiệu quốc tế tại thị trường châu Á Có thể năm 2019 Ấn Độ sẽ trở thành một thị trường cạnh tranh khốc liệt của các nhãn hàng thời trang Đất nước này được dự báo sẽ giữ tốc độ tăng trưởng 8%/năm trong giai đoạn 2018 - 2022
Tầng lớp trung lưu tại Ấn Độ cũng đang gia tăng với tốc độ 19,4% trong năm ngoái, vượt xa so với Trung Quốc, Mexico và Brazil Kết quả này hứa hẹn đưa
Ấn Độ từ một trung tâm gia công quan trọng để trở thành một trong những thị trường tiêu thụ hấp dẫn trên toàn cầu Các dự báo trước đó cho thấy, quy mô thị trường may mặc Ấn Độ sẽ đạt giá trị 59,3 tỷ USD vào năm 2022, lớn thứ 6 thế giới và có thể so sánh với Vương quốc Anh (65 tỷ USD), Đức (63.1 tỷ USD) Lượng người có thu nhập trên 9.500 USD/năm vào năm 2025 dự kiến sẽ tăng gấp 3 so với thời điểm hiện tại Khảo sát cho thấy hơn 300 thương hiệu thời trang quốc tế dự kiến sẽ mở cửa hàng tại Ấn Độ trong năm nay và phần lớn đang hướng tới tầng lớp lao động ‘‘gold collar’’ - những ông chủ hay các chuyên gia được trả lương cao với mong muốn có các trang phục hợp thời trang
Tuy nhiên Ấn Độ vẫn là một thị trường khó để chinh phục khi nhiều thách thức đi kèm với cơ hội kinh doanh Các doanh nghiệp dệt may đa phần chưa được tổ chức tốt trong khi thị phần bán lẻ tại thị trường này chỉ đạt mức thấp khoảng 35% trong năm 2016 trước khi dự kiến tăng lên mức 45% vào năm 2025 - một tốc độ tăng trưởng được đánh giá vẫn còn khiêm tốn Để thúc đẩy lĩnh vực bán lẻ phát triển, nhiều nhãn hàng may mặc đã phải khuyến khích và tận dụng sự gia tăng về khả năng nắm bắt công nghệ của người tiêu dùng Mười năm trước, công nghệ chỉ dành cho số ít, chỉ với vài triệu điện thoại thông minh ở đất nước 1,2 tỷ dân và 45 triệu thuê bao internet Nhưng hiện tại đã có 460 triệu người sử dụng điện thoại thông minh vào năm 2018 và dự kiến tăng gấp đôi khoảng 900 triệu người vào năm 2021 Điều này sẽ giúp các doanh nghiệp may mặc, thời trang tiếp cận với các khách hàng của mình dễ dàng hơn