1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

GIÁO TRÌNH KINH TẾ HỌC VI MÔ

20 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 311,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kinh tế học vi mô cung cấp các kiến thức nền tảng về kinh tế, giúp cho các nhà hoạch định chính sách vĩ mô và các nhà quản trị doanh nghiệp, người tiêu dùng hiểu rõ các quy luật và xu hư

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH TRUNG TÂM ĐÀO TẠO TỪ XA VÀ QUAN HỆ DOANH NGHIỆP

- o0o -

TH.S TRỊNH THỊ HUYỀN THƯƠNG

(CHỦ BIÊN)

GIÁO TRÌNH KINH TẾ HỌC VI MÔ

VINH, NĂM 2011

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO TỪ XA VÀ QUAN HỆ DOANH NGHIỆP

- o0o -

TH.S TRỊNH THỊ HUYỀN THƯƠNG

GIÁO TRÌNH

KINH TẾ HỌC VI MÔ

GIÁO TRÌNH ĐÀO TẠO TỪ XA

VINH, NĂM 2011

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Kinh tế học vi mô là bộ phận của kinh tế học, là môn khoa học về sự lựa chọn cho các tác nhân về các vấn đề kinh tế Kinh tế học vi mô cung cấp các kiến thức nền tảng về kinh tế, giúp cho các nhà hoạch định chính sách vĩ mô và các nhà quản trị doanh nghiệp, người tiêu dùng hiểu rõ các quy luật và xu hướng phát triển kinh tế, từ

đó, có thể vận dụng lý thuyết kinh tế vào việc ra quyết định khi tham gia vào nền kinh

tế

Ngoài ra, Kinh tế học vi mô còn trang bị các kiến thức cơ bản và cơ sở cho sinh viên

về hoạt động của nền kinh tế thị trường thông qua việc phân tích các quy luật kinh tế cơ bản như: quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh,… Học phần này đề cập đến hành vi của các thành viên của một nền kinh tế đó là người tiêu dùng, doanh nghiệp và Chính phủ Đồng thời, học phần này sẽ trang bị công cụ phân tích để sinh viên nắm bắt và áp dụng cho các môn học sau này

Cuốn giáo trình Kinh tế vi mô được biên soạn dựa vào chương trình chuẩn của Bộ giáo dục và Đào tạo và dựa trên cơ sở tham khảo các giáo trình được các tác giả ở các trường Đại học kinh tế nổi tiếng trong nước và quốc tế

Cuốn giáo trình này đặc biệt đáp ứng nhu cầu đào tạo từ xa, được thiết kế theo kết cấu khoa học bao gồm lý thuyết, tóm tắt, câu hỏi ôn tập, câu hỏi đúng sai, câu hỏi trắc nghiệm, bài tập tự làm Với kết cấu trên sẽ giúp cho người học nâng cao chất lượng tự học của minh

Tập thể tác giả biên soạn cuốn giáo trình gồm:

Th.S Trịnh Thị Huyền Thương chủ biên và biên soạn các chương 1, 5, 6,7 Th.S Nguyễn Thị Hải Yến biên soạn chương 2

Th.S Nguyễn Thị Minh Phượng biên soạn chương 3 và 4

Mặc dù đã cố gắng và cận trọng trong quá trình biên soạn nhưng chắc chắn không tránh khỏi những hạn chế, khiếm khuyết Chúng tôi mong nhận được sự góp ý của các đồng nghiệp, học viên và độc giả để chỉnh lý cho lần tái bản được hoàn thiện hơn

NHÓM TÁC GIẢ

Trang 4

CHƯƠNG I

TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ HỌC

1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ HỌC

1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm kinh tế học

Kinh tế học là môn khoa học của sự lựa chọn Nó nghiên cứu cách thức các xã hội lựa chọn như thế nào để sử dụng nguồn tài nguyên khan hiếm một cách có hiệu quả và phân phối các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ cho các thành viên trong xã hội tiêu dùng cả thời hiện tại và thời tương lai

Nói cách khác, Kinh tế học là môn khoa học giúp con người hiểu về cách thức vận hành của nền kinh tế nói chung và cách thức ứng xử của từng thành viên tham gia vào nền kinh tế nói riêng

1.1.2 Ba vấn đề cơ bản của nền kinh tế

Nền kinh tế là một cơ chế phân bổ các nguồn lực khan hiếm cho các mục đích

sử dụng khác nhau Cơ chế này nhằm giải quyết ba vấn đề kinh tế cơ bản là sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai?

- Sản xuất cái gì? Đây là câu hỏi của cầu liên quan đến người tiêu dùng Điều đó có

nghĩa là dựa vào cầu của thị trường (cầu có khả năng thanh toán của hộ gia đình, doanh nghiệp, chính phủ) và điều kiện nguồn lực của doanh nghiệp mà lựa chọn và quyết định những vấn đề như: sản xuất kinh doanh loại hàng hoá dịch vụ nào, số lượng là bao nhiêu, chất lượng mẫu mã kiểu dáng như thế nào, bao giờ thì sản xuất và bán ra? trên nguyên tắc:

“thị trường cần cái gì thì doanh nghiệp sản xuất cái đó” hoặc “Chỉ sản xuất cái thị trường cần chứ không sản xuất cái mình có” Trong đó, giá cả thị trường là thông tin có ý nghĩa quyết định đến sự lựa chọn và ra quyết định đúng đắn của người sản xuất

- Sản xuất như thế nào? Đây chính là câu hỏi của cung liên quan đến người sản

xuất, nghĩa là sản xuất như thế nào để có hiệu quả cao Muốn vậy Chính phủ và doanh nghiệp cần phải lựa chọn và quyết định những vấn đề như: sản xuất kinh doanh ở đâu, giao cho ai sản xuất, sản xuất bằng những loại đầu vào nào, sử dụng công nghệ kỹ thuật nào thì phù hợp, cách thức phối hợp đầu vào, số lượng sản phẩm sản xuất là bao nhiêu Tiêu thức quan trọng nhất để đánh vấn đề này là chất lượng sản phẩm, chi phí sản xuất ra một đơn vị sản phẩm và giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường

- Sản xuất cho ai? Điều này có nghĩa là: ai sẽ được hưởng lợi từ những hàng hoá,

dịch vụ do Chính phủ và doanh nghiệp tạo ra Như vậy vấn đề kinh tế cơ bản này gắn liền hai nội dung: Xác định thị trường tiêu thụ sản phẩm, phân phối sản phẩm kết hợp với quản

lý vĩ mô để điều chỉnh lợi ích cho các thành viên trong xã hội Nội dung thứ 3 không trực tiếp tác động đến chất lượng sản phẩm và hiệu quả, nhưng lại rất quan trọng, vì qua đó mà đánh giá kết quả hoạt động của tổ chức kinh tế xã hội đó và phát hiện cầu mới ở thị trường

Trang 5

1.1.3 Cơ chế hoạt động của nền kinh tế

Để hiểu được cơ chế hoạt động của nền kinh tế chúng ta trừu tượng hoá thực tế

và xây dựng một mô hình đơn giản hoá về nền kinh tế Nền kinh tế bao gồm các bộ phận hợp thành và sự tương tác giữa chúng với nhau Nền kinh tế có hai bộ phận cơ bản sau:

- Người ra quyết định: bất cứ ai hoặc tổ chức nào ra các quyết định lựa chọn

- Cơ chế phối hợp: sự sắp xếp làm cho sự lựa chọn của các thành viên của nền kinh tế tương thích với nhau

Người ra quyết định gồm có:

+ Các hộ gia đình + Các doanh nghiệp + Chính phủ

Hộ gia đình là một nhóm người sống cùng với nhau như một đơn vị ra quyết

định Tuỳ thuộc vào thị trường mà các hộ gia đình đóng các vai khác nhau

- Trong thị trường hàng hoá hộ gia đình là người tiêu dùng Các hộ gia đình quyết định mua bao nhiêu hàng hoá mỗi loại thông qua cầu của họ biểu hiện ở mức giá

mà họ có khả năng và sẵn sàng chi trả

Sơ đồ 1.1 Mô hình nền kinh tế

Thị trường hàng hoá

Chính phủ

Thị trường yếu tố

Hàng

Tiền- chi tiêu Tiền - Doanh thu

Hàng

Thuế Thuế

Trợ cấp

Yếu

tố sản xuất

Trợ cấp

Yếu

tố sản xuất Tiền – Thu nhập Tiền – chi phí

Trang 6

- Trong thị trường các yếu tố sản xuất hộ gia đình là người chủ của các nguồn lực Họ quyết định cung cấp bao nhiêu các nguồn lực đó cho các doanh nghiệp Có ba nguồn lực cơ bản là lao động, vốn và đất đai

Doanh nghiệp là tổ chức mua hoặc thuê các yếu tố sản xuất và tổ chức kết hợp

các yếu tố đó để sản xuất và bán các loại hàng hoá và dịch vụ

Chính phủ thực hiện hai chức năng cơ bản là sản xuất các hàng hoá và dịch vụ

và phân phối lại thu nhập Thông thường các Chính phủ cung cấp hệ thống pháp luật,

hạ tầng cơ sở, an ninh quốc phòng Chính phủ giới hạn sự lựa chọn của người tiêu dùng, Chính phủ điều tiết sản xuất và phân phối lại thu nhập

1.2 Các bộ phận của kinh tế học

Tuỳ thuộc vào đối tượng và phạm vi nghiên cứu, kinh tế học bao gồm hai bộ phận cơ bản là kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô

1.2.1 Kinh tế vi mô

Kinh tế vi mô là môn khoa học nghiên cứu, phân tích và lựa chọn các vấn đề

kinh tế cơ bản của các tế bào trong nền kinh tế (doanh nghiệp, hộ gia đình) Nghiên cứu hành vi lựa chọn và ra quyết định của các tác nhân trong sản xuất, tiêu dùng nhằm tối đa hoá lợi ích kinh tế trên cơ sở vận dụng các quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường

Ví dụ: Hành vi lựa chọn của người quản lý doanh nghiệp khi quyết định số lao

động thuê mướn, số vốn vay, địa điểm kinh doanh, sản lượng sản xuất, nơi tiêu thụ sản phẩm để tối đa hoá lợi nhuận Hành vi lựa chọn của người tiêu dùng khi quyết định mua bao nhiêu sản phẩm cho phù hợp với khả năng thanh toán (thu nhập), sở thích thị hiếu nhằm tối đa hoá lợi ích khi sử dụng hàng hoá dịch vụ đó

1.2.2 Kinh tế vĩ mô

Kinh tế vĩ mô là môn khoa học nghiên cứu, phân tích và lựa chọn các vấn đề

kinh tế cơ bản của một quốc gia Nó nhấn mạnh tới sự tương tác trong nền kinh tế tổng thể Các nội dung chủ yếu: Nghiên cứu về sản lượng, tăng trưởng kinh tế, sự biến động

về giá cả và việc làm, lạm phát, cán cân thanh toán quốc tế và tỷ giá hối đoái… trong tổng thể nền kinh tế

Kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô có liên quan mật thiết với nhau vì chúng là 2 bộ phận của kinh tế học Nghiên cứu kinh tế vi mô đúng sẽ giúp cho nghiên cứu vĩ mô hoàn chỉnh Đồng thời kinh tế tổng thể phát triển lành mạnh ổn định sẽ tạo ra môi trường thuận lợi cho các hoạt động vi mô ở các doanh nghiệp

1.3 Các mô hình kinh tế

1.3.1 Mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung (kinh tế chỉ huy, mệnh lệnh)

Đặc trưng cơ bản nhất của mô hình này là việc lựa chọn, quyết định 3 vấn đề kinh tế

cơ bản đều do Chính phủ thực hiện (cơ chế mệnh lệnh áp đặt từ trên xuống)

- Ưu điểm: Quản lý tập trung thống nhất việc sử dụng nguồn lực nên đã giải

quyết được nhu cầu công cộng, xã hội và những cân đối lớn của nền kinh tế Hạn chế

Trang 7

phân hoá giàu nghèo và đảm bảo sự công bằng xã hội

- Nhược điểm: Bộ máy quản lý cồng kềnh, quan liêu và hoạt động kém hiệu

quả Tất cả những vấn đề kinh tế cơ bản đều do các cơ quan kế hoạch của Chính phủ quyết định nên chỉ cần sai sót nhỏ của các nhà kế hoạch sẽ dẫn đến sự bất ổn định cho nền kinh tế Người sản xuất và người tiêu dùng kém năng động sáng tạo bởi họ không

có quyền lựa chọn Phân phối mang tính chất bình quân không xuất phát từ nhu cầu thị trường dẫn đến tình trạng thừa thiếu hàng hoá một cách giả tạo Do vậy việc khai thác

sử dụng các nguồn lực kém hiệu quả, nền kinh tế phát triển chậm

1.3.2 Mô hình kinh tế thị trường

Đặc trưng cơ bản của mô hình này là tất cả 3 vấn đề kinh tế cơ bản đều do thị trường quyết định, có nghĩa các vấn đề kinh tế cơ bản phải giải quyết thông qua quan hệ cung – cầu, cạnh tranh trên thị trường (theo sự dẫn dắt của giá thị trường - “Bàn tay vô hình”)

- Ưu điểm: Người sản xuất và người tiêu dùng được quyền tự do lựa chọn và ra

quyết định trong sản xuất tiêu dùng nên tính năng động, chủ động sáng tạo cao Kích thích nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả quá trình sản xuất kinh doanh, công nghệ kỹ thuật thường xuyên được đổi mới Phi tập trung hoá các quyền lực trên các phương diện các quyết định cho các chủ thể sản xuất Khai thác sử dụng các nguồn lực

có hiệu quả và thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế

- Nhược điểm: Do cạnh tranh vì lợi nhuận và coi lợi nhuận là mục tiêu duy nhất

nên dẫn đến ô nhiễm môi trường (tự nhiên, kinh tế, xã hội) Phân hoá giàu nghèo và bất công xã hội ngày càng tăng Mâu thuẫn quan hệ kinh tế với quan hệ truyền thống Nhiều vấn đề xã hội hết sức nan giải nảy sinh Phát sinh nhiều rủi ro, tiêu cực

1.3.3 Mô hình kinh tế hỗn hợp

Mô hình kinh tế hỗn hợp là mô hình vừa phát huy được nhân tố khách quan (quy luật kinh tế thị trường) lại vừa coi trọng được nhân tố chủ quan (can thiệp của con người) Đó là sự kết hợp chặt chẽ giữa tác động khách quan của thị trường với vai trò của Chính phủ

Ưu điểm của mô hình này là phát huy được những ưu điểm và hạn chế đến mức thấp nhất các tồn tại của hai mô hình trên nên việc khai thác sử dụng các nguồn lực có hiệu quả hơn, nền kinh tế phát triển nhanh và ổn định Do vậy người ta cho rằng: đây

là mô hình có hiệu quả nhất và được nhiều nước trên thế giới áp dụng (trong đó có Việt Nam) Tuy nhiên, tuỳ đều kiện cụ thể của mỗi nước mà vận dụng vai trò của thị trường và chính phủ cho phù hợp

1.4 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

1.4.1 Đối tượng

Nghiên cứu hành vi lựa chọn và ra quyết định của các tác nhân trong nền kinh

tế nhằm tối đa hoá lợi ích kinh tế

1.4.2 Phương pháp nghiên cứu

Ngoài phương pháp chung như: duy vật biện chứng, duy vật lịch sử khi

Trang 8

nghiên cứu môn học kinh tế vi mô, người ta thường sử dụng một số phương pháp sau

Phương pháp mô hình hoá

Mô hình kinh tế là một cách thức mô tả thực tế đã được đơn giản hoá để hiểu và

dự đoán được mối quan hệ của các biến số Mô hình kinh tế có thể được mô tả bằng

lời, bảng số liệu, sơ đồ, đồ thị hay các phương trình toán học (Mô hình 1.1.)

Mục tiêu của mô hình kinh tế là dự báo hoặc tiên đoán kết quả khi các biến số thay đổi Mô hình kinh tế có hai nhiệm vụ quan trọng Thứ nhất, chúng giúp chúng ta hiểu nền kinh tế hoạt động như thế nào bằng cách mô tả vấn đề nghiên cứu thông qua

mô hình đơn giản, chúng ta có thể hiểu sâu hơn một vài khía cạnh quan trọng của vấn

đề Thứ hai, các mô hình giả thuyết có thể thiết lập là giá xăng dầu tăng cao trong thời gian qua đã dẫn tới hiện tượng lượng tiêu thụ xăng dầu giảm

Cần chú ý rằng mô hình kinh tế của thế giới thực không phải là thế giới thực Các mô hình thường dựa trên những giả định về hành vi của các biến số đã được làm đơn giản hoá so với thực tế Ngoài ra mô hình chỉ tập trung vào những biến số quan trọng nhất để giải thích vấn đề nghiên cứu Ví dụ về xăng dầu, trong thực tế, các biến

số có thể liên quan đến lượng tiêu thụ xăng dầu bao gồm giá cả xăng dầu, thu nhập của người tiêu dùng, giá cả hàng hoá khác hay điều kiện thời tiết, v.v Các nhà kinh tế học phải loại bỏ những biến ít có liên quan hay không có ảnh hưởng đến lượng xăng dầu Trong trường hợp đơn giản nhất, nhà kinh tế học sẽ loại bỏ sự phức tạp của thực

tế bằng cách giả định chỉ có giá của xăng dầu quyết định đến lượng tiêu thụ xăng dầu còn các yếu tố khác là không thay đổi

Phương pháp so sánh tĩnh (với giả thiết là các yếu tố khác không thay đổi)

Đối với các môn khoa học trong phòng thí nghiệm, việc thực hiện các thia nghiệm mà chỉ những biến số quan tâm được thay đổi còn các yếu tố khác được giữ nguyên có vẻ dễ dàng Tuy nhiên, đối với kinh tế học, phòng thí nghiệm là thế giới thực, là cuộc sống nên nhìn chung các nhà kinh tế học khó có thể thực hiện được những thí nghiệm hoàn hảo như trong phòng thí nghiệm, các biến số kinh tế học mà các nhà kinh tế học quan tâm như tỷ lệ thất nghiệp, chỉ số giá cả, sản lượng,… luôn thay đổi và chịu tác động của nhiều nhân tố cùng một lúc Vì thế, muốn kiểm tra giả thuyết về mối quan hệ giữa các biến số kinh tế, các nhà kinh tế thường phải sử dụng các kỹ thuật phân tích thống kê được thiết kế riêng cho trường hợp các yếu tố khác không thể cố định được

Quan hệ nhân quả

Các giả thuyết kinh tế thường mô tả mối quan hệ giữa các biến số mà sự thay đổi của biến số này là nguyên nhân khiến một hoặc các biến số khác thay đổi theo Biến chịu sự tác động được gọi là biến phụ thuộc còn biến thay đổi tác động đến các biến khác được gọi là biến độc lập Biến độc lập ảnh hưởng đến biến phụ thuộc nhưng bản thân thì chịu sự tác động của các biến số khác ngoài mô hình

2 LÝ THUYẾT LỰA CHỌN KINH TẾ

2.1 Bản chất của sự lựa chọn kinh tế

Trang 9

2.1.1 Thế nào là lý thuyết lựa chọn kinh tế

Lựa chọn kinh tế là sự quyết định con đường phát triển kinh tế phù hơp với xu hướng phát triển và các mục tiêu kinh tế chung, riêng và khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên của một tổ chức kinh tế xã hội cụ thể

Lý thuyết lựa chọn kinh tế dùng để lý giải hoặc giải thích có luận cứ khoa học cho các quyết định tối ưu của từng tác nhân kinh tế

2.1.2 Vì sao phải lựa chọn?

Có hai lý do dẫn đến phải lựa chọn đó là: Nhu cầu của con người, xã hội (ý muốn chủ quan) thì vô hạn Trong khi đó nguồn lực (Tài nguyên thiên nhiên, vốn, sức lao động, thời gian) lại có hạn, khan hiếm Nguồn lực khan hiếm cũng tuỳ thuộc vào từng quốc gia, từng tác nhân kinh tế

2.1.3 Mục tiêu của sự lựa chọn

Tuỳ thuộc vào từng tác nhân kinh tế:

+ Đối với người sản xuất kinh doanh hàng hoá dịch vụ thì mục tiêu của sự lựa chọn là tối đa hoá lợi nhuận (mục tiêu cơ bản nhất), hoặc tối đa hoá doanh thu, hoặc tăng vị thế trên thị trường, xã hội

+ Đối với người tiêu dùng: mục tiêu của sự lựa chọn là tối đa hoá lợi ích (độ thoả dụng) trong điều kiện thị trường và nguồn ngân sách hiện có

+ Đối với Chính phủ: mục tiêu lựa chọn là tối đa hoá phúc lợi công cộng

2.2 Nguyên tắc tối ưu hóa trong lựa chọn kinh tế

2.2.1 Quy luật khan hiếm

Sự lựa chọn kinh tế xuất phát từ một thự tế đó là sự khan hiếm Các quốc gia, các doanh nghiệp và các hộ gia đình đều có một số nguồn lực nhất định Các nguồn lực đó bao gồm lao động, vốn, đất đai… Việc sử dụng các nguồn lực đó làm sao phải đạt hiệu quả cao nhất để tránh sự lãng phí và tổn thất

2.2.2 Chi phí cơ hội

Chi phí cơ hội là giá trị của cơ hội tốt nhất bị bỏ qua khi thực hiện một sự lựa

chọn về kinh tế hay nói cách khác chi phí cơ hội là giá trị của cơ hội tốt nhất bị bỏ qua (hay thu nhập bị hy sinh) khi lựa chọn phương án sản xuất (hoặc tiêu dùng) này mà không lựa chọn phương án sản xuất (hoặc tiêu dùng) khác Đó là quan hệ đánh đổi giữa phương án đã sản xuất (tiêu dùng) này với phương án sản xuất (tiêu dùng) khác bị

bỏ qua Trong thực tế thường tồn tại quy luật chi phí cơ hội ngày càng tăng

- Cách xác định:

+ Bằng hiện vật: Chi phí cơ hội là những hàng hoá và dịch vụ cần thiết nhất bị

bỏ qua để thu được những hàng hoá và dịch vụ khác Chi phí cơ hội cho việc sản xuất thêm một đơn vị sản phẩm loại hàng hoá này là sự hy sinh một luợng nào đó sản phẩm loại hàng hoá kia

Ví dụ: một gia đình có 10m2 đất và quyết định trồng hoa thay cho trồng cây gia

Trang 10

vị, thì chi phí cơ hội của việc trồng hoa là lượng rau gia vị bị mất đi (không có được)

Ý nghĩa: Làm cơ sở cho việc xác định phương án sản xuất các loại sản phẩm

hàng hoá có lợi nhất, khai thác sử dụng nguồn lực đạt hiệu quả cao trong từng thời kỳ)

+ Bằng giá trị: Chi phí cơ hội là giá trị tốt nhất bị bỏ qua (hy sinh) khi sản xuất hoặc tiêu dùng mặt hàng này để chuyển sang sản xuất hoặc tiêu dùng mặt hàng khác

Thông thường chi phí cơ hội được xác định bằng giá thị trường của phương án lựa chọn tốt nhất có thể có mà người ta đã bỏ lỡ

Ví dụ: Có số liệu thể hiện khả năng sản xuất của một nền kinh tế khi sản xuất 2

hàng hóa là lương thực và phim ảnh như sau:

Bảng 1.1

Phương án A B C D E

Số đơn vị lương thực 25 19 13 7 0

Số đơn vị phim ảnh 0 9 17 24 30

Cách 1: Chi phí cơ hội để sản xuất thêm một đơn vi phim ảnh là số đơn vị

lương thực phải hy sinh (thứ tự từ A đến E): 6/9; 6/8; 6/7 và 7/6

Chẳng hạn: chuyển từ phương án A sang phương án B chúng ta nhận được thêm 9 đơn vị phim ảnh nhưng phải mất đi 6 đơn vị lương thực và vì vậy, để sản xuất thêm 1 đơn vị phim ảnh thì phải hy sinh 6/9 đơn vị lương thực

Tương tự, chi phí cơ hội của việc sản xuất thêm một đơn vị lương thực thì phải

hy sinh số lượng đơn vị phim ảnh là (từ E đến A): 6/7; 7/6; 8/6 và 9/6

Cách 2: Trong 5 phương án, mỗi phương án đạt tổng giá trị của số lượng lương

thực và số lượng của phim ảnh Khi giá cả hàng hoá đã xác định trên thị trường, thì xác định được giá trị của phương án đã chọn và phương án tốt nhất bị bỏ lỡ

Ngoài ra còn có cách khác: Xác định chi phí cơ hội của phương án được chọn đầu tư phát triển bằng giá trị lãi suất bình quân trên thị trường đã bị bỏ lỡ của đồng vốn đầu tư được tính theo

- Ý nghĩa: Căn cứ vào chi phí cơ hội, Nhà nước, doanh nghiệp, người tiêu dùng

lựa chọn và ra quyết định tối ưu trong hoạt động của mình nhằm tối đa hoá lợi ích kinh

tế, khai thác có hiệu quả nguồn lực khan hiếm Khi đó, người ta sẽ chọn phương án có chi phí cơ hội thấp nhất và chi phí cơ hội đó được tính vào chi phí kinh tế

2.2.3 Quy luật chi phí cơ hội tăng dần

Quy luật chi phí cơ hội tăng dần cho thấy để thu thêm được một số lượng hàng hoá bằng nhau, xã hội phải hy sinh ngày càng nhiều hàng hoá khác Quy luật này giúp chúng ta tính toán và lựa chọn sản xuất cái gì, bao nhiêu cho có lợi nhất

Đường giới hạn khả năng sản xuất (GHKNSX - PPF - Production Possibility

Frontier)

Ngày đăng: 08/04/2022, 14:19

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1. Mô hình nền kinh tế - GIÁO TRÌNH KINH TẾ HỌC VI MÔ
Sơ đồ 1.1. Mô hình nền kinh tế (Trang 5)
Bảng 1.1 - GIÁO TRÌNH KINH TẾ HỌC VI MÔ
Bảng 1.1 (Trang 10)
Hình 1.1. Đường giới hạn khả năng sản xuất - GIÁO TRÌNH KINH TẾ HỌC VI MÔ
Hình 1.1. Đường giới hạn khả năng sản xuất (Trang 11)
Hình 1.2. Sự dịch chuyển đường GHKNSX - GIÁO TRÌNH KINH TẾ HỌC VI MÔ
Hình 1.2. Sự dịch chuyển đường GHKNSX (Trang 12)
Bảng 2.1. Giá và lượng cầu về vải thiều - GIÁO TRÌNH KINH TẾ HỌC VI MÔ
Bảng 2.1. Giá và lượng cầu về vải thiều (Trang 18)
Q1 Q2 Q(D)  - GIÁO TRÌNH KINH TẾ HỌC VI MÔ
1 Q2 Q(D) (Trang 19)
Hình 2.2. Mối quan hệ giữa lượng cầu và giá20 - GIÁO TRÌNH KINH TẾ HỌC VI MÔ
Hình 2.2. Mối quan hệ giữa lượng cầu và giá20 (Trang 19)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN