Hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường trung học phổ thông Hoạt động GDĐĐ cho HS các trường THPT là quá trình tác động đến người học để hình thành cho họ ý thức, tình cảm và
Trang 1NGUYỄN THỊ TRUNG KIÊN
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
THỊ XÃ GIA NGHĨA, TỈNH ĐẮK NÔNG
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 8140114
Người hướng dẫn: PGS.TS NGUYỄN SỸ THƯ
Trang 2trong bất kỳ một công trình nào khác
Tác giả
Nguyễn Thị Trung Kiên
Trang 3dục đạo đức cho học sinh các trường trung học phổ thông thị xã Gia
Nghĩa, tỉnh Đăk Nông”, bản thân tôi nhận được sự giúp đỡ, hướng dẫn của
quý thầy cô, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn quý Thầy Cô trường Đại học Quy Nhơn, các đồng nghiệp, bạn bè thân hữu và gia đình đã hỗ trợ, tạo điều kiện, động viên tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Đặc biệt, tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Sỹ Thư đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ để tôi hoàn thành luận văn này
Đây là công trình nghiên cứu đầu tay, do thời gian ngắn, kiến thức còn hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong, quý thầy cô hướng dẫn, đóng góp ý kiến để luận văn được hoàn chỉnh
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Trung Kiên
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Phạm vi nghiên cứu 4
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Cấu trúc luận văn 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG 6
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 6
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 6
1.1.1 Các nghiên cứu ở ngoài nước 6
1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước 7
1.2 Các khái niệm cơ bản 10
1.2.1 Đạo đức 10
1.2.2 Giáo dục đạo đức 11
1.2.3 Hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường trung học
phổ thông 12
1.2.4 Quản lý 13
1.2.5 Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 14
1.2.6 Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường trung học
Trang 51.3.2 Nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông 19
1.3.3 Hình thức giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông 20
1.3.4 Phương pháp giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông 21
1.3.5 Sự phối hợp giữa nhà trường - gia đình - xã hội trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông 23
1.4 Lý luận về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông 24
1.4.1 Mục tiêu quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông 24
1.4.2 Quản lí nội dung, kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông 25
1.4.3 Quản lí hình thức giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông 25 1.4.4 Quản lí đổi mới phương pháp giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông 26
1.4.5 Quản lí sự phối hợp giữa nhà trường - gia đình - xã hội trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông 27
1.5 Các yếu tố tác động đến quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông 29
1.5.1 Các yếu tố khách quan 29
1.5.2 Các yếu tố chủ quan 32
Kết luận chương 1 35
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THỊ XÃ GIA NGHĨA, TỈNH ĐĂK NÔNG 36
2.1 Khái quát địa bàn nghiên cứu 36
Trang 6Đăk Nông 38
2.2 Khái quát về quá trình khảo sát 39
2.2.1 Mục tiêu khảo sát 39
2.2.2 Nội dung khảo sát 39
2.2.3 Khách thể khảo sát 39
2.2.4 Phương pháp khảo sát 39
2.2.5 Xử lí kết quả khảo sát 40
2.3 Thực trạng hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường trung học phổ thông thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông 40
2.3.1 Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh về vai trò của giáo dục đạo đức 40
2.3.2 Thực trạng về thực hiện nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông 41
2.3.3 Thực trạng về phương pháp, hình thức giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông 42
2.3.4 Thực trạng về sự phối hợp giữa nhà trường – gia đình – xã hội trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông 46
2.3.5 Thực trạng về kết quả giáo dục đạo đức cho học sinh trung học
phổ thông 47
2.4 Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường trung học phổ thông thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông 49
2.4.1 Thực trạng về quản lí nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông 49
2.4.2 Thực trạng về quản lí kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông 50
Trang 7xã hội trong việc đạo đức cho học sinh trung học phổ thông 53
2.5 Thực trạng về các yếu tố ảnh hưởng đến quản lí hoạt động đạo đức cho học sinh trung học phổ thông 54
2.5.1 Yếu tố khách quan 54
2.5.2 Yếu tố chủ quan 55
2.6 Đánh giá chung về thực trạng quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh các trường trung học phổ thông thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông.56 2.6.1 Ưu điểm 56
2.6.2 Hạn chế 57
2.6.3 Nguyên nhân của những hạn chế 58
Kết luận chương 2 59
CHƯƠNG 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THỊ XÃ GIA NGHĨA, TỈNH ĐĂK NÔNG 61
3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 61
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 61
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 61
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 61
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 62
3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 62
3.2 Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường trung học phổ thông thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông 63
3.2.1 Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức cho lực lượng giáo dục về công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh 63
3.2.2 Biện pháp 2: Xây dựng kế hoạch và tổ chức chỉ đạo triển khai kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh 65
Trang 8đình - xã hội trong việc đạo đức cho học sinh 75
3.2.5 Biện pháp 5: Xây dựng văn hóa nhà trường 79
3.2.6 Biện pháp 6: Tăng cường hoạt động kiểm tra, đánh giá, xử lí vi phạm, khen thưởng, động viên 82
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 86
3.4 Khảo nghiệm về tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp
đề xuất 87
3.4.1 Mục đích, nội dung, hình thức khảo nghiệm 87
3.4.2 Kết quả khảo nghiệm 88
Kết luận chương 3 92
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (bản sao)
Trang 9Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
Trang 102.1
2.2
Khảo sát về thực hiện nội dung GDĐĐ cho HS THPT
2.3
Khảo sát về phương pháp GDĐĐ cho HS THPT thị xã
46
2.6
Số liệu kết quả học lực HS 3 năm học 2015 – 2016,
2016 – 2017, 2017 – 2018 của 4 trường THPT trên địa bàn thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông
47
2.7
Số liệu kết quả hạnh kiểm HS 3 năm học 2015 – 2016,
2016 – 2017, 2017 – 2018 của 4 trường THPT trên địa bàn thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông
48
2.8
Khảo sát về quản lý nội dung GDĐĐ cho HS THPT
2.9
Khảo sát lập kế hoạch GDĐĐ cho HS THPT thị xã
2.10
Khảo sát thực trạng về công tác chỉ đạo đổi mới phương pháp, hình thức GDĐĐ cho HS THPT thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông
50
Khảo sát về quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà
Trang 112.12
Kết quả khảo sát về yếu tố khách quan ảnh hưởng đến
2.13
Kết quả khảo sát về yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến
3.1
Kết quả đánh giá tính khả thi của các biện pháp quản
lý hoạt động GDĐĐ cho HS THPT thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông
88
3.2
Kết quả đánh giá tính cần thiết của các biện pháp quản
lý hoạt động GDĐĐ cho HS THPT thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông
90
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, có vai trò quan trọng trong bất kỳ
xã hội nào từ trước đến nay Một xã hội kém phát triển về kinh tế có thể khắc phục được nhưng một xã hội không có đạo đức nhất định sẽ diệt vong Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó” Việc hình thành, rèn luyện và bồi dưỡng đạo đức phù hợp với chuẩn mực và thời đại cho con người luôn được các nhà lãnh đạo đất nước quan tâm, đặc biệt là thế hệ trẻ, những người chủ tương lai của đất nước
Đảng ta đã chủ trương: “Tăng cường giáo dục công dân, giáo dục tư tưởng, đạo đức, lòng yêu nước, chủ nghĩa Mác – Lê Nin, đưa việc giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh vào nhà trường phù hợp với từng lứa tuổi và bậc học ” Bởi vậy, tu dưỡng và rèn luyện bản thân để trở thành người có nhân cách, vừa
có đức vừa có tài là hết sức quan trọng đối với mỗi con người, là nhiệm vụ hàng đầu của thanh niên, học sinh (HS)
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW) với nội dung: Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế đã đưa ra mục tiêu “Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho HS Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống”
Nghị Quyết Đại hội Đảng lần thứ XI đã khẳng định: Đổi mới chương trình nhằm phát triển năng lực và phẩm chất người học, hài hòa đức, trí, thể,
Trang 13mỹ; dạy người, dạy chữ và dạy nghề Đổi mới nội dung giáo dục theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực, phù hợp với lứa tuổi, trình độ và ngành nghề; tăng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Chú trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống, tri thức pháp luật và ý thức công dân Tập trung vào những giá trị cơ bản của văn hóa, truyền thống và đạo lý dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, giá trị cốt lõi và nhân văn của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
Thực hiện các mục tiêu trên, trong thời gian qua, các trường phổ thông trong tỉnh đã đổi mới các hoạt động giáo dục đạo đức (GDĐĐ), lối sống văn hóa, giáo dục kỹ năng sống, đáp ứng yêu cầu phát triển toàn diện cho HS với nhiều hình thức phong phú, đa dạng Nội dung và hình thức tổ chức trong nhà trường thực hiện qua giảng dạy chính khóa môn giáo dục công dân; qua lồng ghép, tích hợp vào các môn học khác; qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp (NGLL) và ngoài nhà trường; qua các hoạt động ngoại khóa, có sự phối hợp vớicha mẹ học sinh (CMHS) và các đoàn thể, tổ chức xã hội
Tuy nhiên, hoạt động GDĐĐ, lối sống văn hóa, rèn luyện kỹ năng sống cho HS vẫn chưa thật sự hiệu quả, biểu hiện qua tình trạng còn một số HS vi phạm chuẩn mực đạo đức, vi phạm pháp luật như bạo lực học đường, sử dụng trái phép chất ma túy, chất gây nghiện,…
Trước thực trạng trên, cả xã hội đang lo lắng, ngành giáo dục đang trăn trở tìm giải pháp Đảng và Nhà nước đang chỉ đạo quyết liệt nhằm đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục nước nhà Trong đó vai trò của giáo dục phổ thông có tầm quan trọng đặc biệt Giáo dục phổ thông là vườn ươm để có những con người hoàn thiện; là nơi khởi đầu của sự nghiệp đào tạo con người, hình thành nhân cách Tất cả điều đó đặt ra yêu cầu bức thiết là đòi hỏi chúng
ta phải nhận thức đúng đắn vai trò của giáo dục và GDĐĐ cho HS, nhất là HS trung học phổ thông (THPT) Đây là giai đoạn của sự chuyển tiếp giữa thiếu
Trang 14niên và thanh niên, là giai đoạn tạo dựng nền móng nhân cách để trở thành sinh viên, trí thức, người lao động trong tương lai
Tuy nhiên, một thực trạng cho thấy rằng hoạt động GDĐĐ ở các trường THPT hiện nay nói chung vẫn còn tồn tại những hạn chế, và công tác quản lý hoạt động GDĐĐ cũng chưa mang lại hiệu quả Các trường THPT trên địa bàn thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông cũng không nằm ngoài thực tế đó Với những lý do và thực trạng như trên mà tôi đã lựa chọn và nghiên cứu đề tài:
“Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường trung học phổ thông thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng công tác quản lý GDĐĐ cho HS, đề xuất những biện pháp quản lý GDĐĐ cho HS các trường THPT thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho HS
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động GDĐĐ cho HS các trường THPT
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS các trường THPT thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông
4 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng cơ sở lý luận và đánh giá đúng thực trạng quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS các trường THPT thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông thì ta
có thể đề xuất được biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS một cách hợp lý và khả thi góp phần nâng cao kết quả giáo dục toàn diện cho HS các trường THPT
Trang 155 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS các trường THPT
5.2 Khảo sát thực trạng quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS các trường THPT thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông
5.3 Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS các trường THPT thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông
6 Phạm vi nghiên cứu
6.1 Đề tài tập trung khảo sát thực trạng quản lý hoạt động GDĐĐ cho
HS các trường THPT thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông và đề xuất biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS của Hiệu trưởng các trường THPT thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông
6.2 Khảo sát thực tế 04 trường THPT thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông: THPT Gia Nghĩa, THPT Chu Văn An, THPT DTNT N’Trang Lơng, THPT chuyên Nguyễn Chí Thanh
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Nghiên cứu các văn kiện, các
tài liệu lí luận quản lý, quản lý GDĐĐ HS, sách, báo, tạp chí và các công trình liên quan đến quản lý giáo dục, quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Thu thập ý kiến để đánh giá
thực trạng công tác GDĐĐ của nhà trường và khảo nghiệm tính cấp thiết, khả thi của các biện pháp đề xuất
7.2.2 Phương pháp quan sát: Thông qua các hoạt động của nhà trường,
thu thập các số liệu tìm ra các nét đặc thù của công tác GDĐĐ cho HS các trường THPT thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông
7.2.3 Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn các cá nhân để tìm hiểu
Trang 16những thuận lợi và khó khăn trong quá trình GDĐĐ và quản lý công tác GDĐĐ
7.2.4 Phương pháp tổng kết rút kinh nghiệm: Từ thực tế kết quả hoạt
động của nhà trường trong các năm học trước rút ra các bài học kinh nghiệm
để làm cơ sở đề xuất các biện pháp hợp lý
7.2.5 Phương pháp hỏi chuyên gia: Hỏi ý kiến một số CBQL giáo dục
7.3 Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng các công thức toán học
để xử lý các số liệu đã thu thập
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, phần nội dung của luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS các trường THPT
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS các trường THPT thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS các trường THPT thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông
Trang 17CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Các nghiên cứu ở ngoài nước
Ở phương Đông, Khổng Tử (551 - 479 TCN), nhà triết học lớn, nhà giáo dục lớn của Trung Quốc đã khai sinh ra Nho giáo với quan điểm bồi dưỡng người có “đức nhân”, người “quân tử” có đủ phẩm cách và năng lực thi hành
“đạo lớn” Ông đã viết tác phẩm bất hủ “Dịch, Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Xuân, Thu”, trong đó rất xem trọng việc GDĐĐ Quan niệm về đức của Khổng Tử
có nhiều ý tưởng sâu sắc và phong phú thể hiện lòng tin ở tính thiện của con người và chủ trương bồi dưỡng, phát huy thiện đức của con người, làm cơ sở cho đường lối đức trị của mình
Ở phương Tây, Nhà triết học Socrates (470-399 TCN) đã cho rằng đạo đức và sự hiểu biết quy định lẫn nhau Có được đạo đức là nhờ sự hiểu biết,
do vậy chỉ sau khi có hiểu biết mới trở thành có đạo đức Chú trọng đạo đức của Socrates là tri thức và đạo đức là một nghĩa, là muốn sống có tri thức về nhận thức là sống nhân đức
Nhà triết học Aristotle (384 -322 TCN) là một trong ba trụ cột của văn minh Hy Lạp cổ đại, là những người đặt nền móng cho triết học phương Tây cho rằng thượng đế không áp đặt để có công dân hoàn thiện về đạo đức, mà việc phát hiện nhu cầu trên trái đất mới tạo nên được con người hoàn thiện trong quan hệ đạo đức Ông khẳng định: “Trước tiên học đạo đức rồi sau đó
Trang 18Mác – Ăngghen - Lênin đặt nền móng và xây dựng học thuyết về đạo đức và giáo dục Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định nguồn gốc sâu xa của đạo đức chính là đời sống lao động và mỗi bản thân con người Hiện tượng chịu sự tác động của nguyên nhân kinh tế và xã hội, khẳng định nền kinh tế -
xã hội, xét đến cùng quyết định đặc trưng cơ bản của đạo đức và nội dung chủ yếu của nó Thực chất của mối quan hệ đạo đức là mối quan hệ giữa cá nhân
và xã hội, sản xuất phát triển làm cho tồn tại xã hội phát triển dẫn tới mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội cũng thay đổi theo, tức là nhu cầu đạo đức thay đổi Cho nên đạo đức có một quá trình lịch sử gắn liền với lịch sử sản xuất vật chất
1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một người đặc biệt chú trọng đến GDĐĐ Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh bắt nguồn từ truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam đã được hình thành, phát triển trong suốt quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước; là sự vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng đạo đức cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin Đó là sự tiếp thu có chọn lọc và phát triển những tinh hoa văn hóa, đạo đức của nhân loại, cả phương Đông và phương Tây, mà Người đã tiếp thu được trong quá trình hoạt động cách mạng đầy gian lao, thử thách và vô cùng phong phú vì mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nhấn mạnh đến giá trị đạo đức cách mạng là nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm và cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư Đạo đức cách mạng mà Hồ Chí minh quan tâm và đề cao không chỉ là đạo đức theo nghĩa thông thường mà là khẳng định những giá trị đạo đức truyền thống, đồng thời tiếp thu phát triển tinh hoa đạo đức của nhân loại
Trong giai đoạn hiện nay việc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ngoài việc nâng cao trình độ khoa học - kỹ thuật, rèn luyện tác
Trang 19phong công nghiệp cần phải coi trọng đạo đức lý tưởng Nghị quyết Hội nghị lần III Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII khẳng định: "Mục tiêu chủ yếu
là giáo dục toàn diện đức, trí, thể, mỹ ở tất cả các bậc học, hết sức coi trọng giáo dục chính trị, tư tưởng, nhân cách, khả năng tư duy sáng tạo và năng lực thực hành” [9]
Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương khóa IX (7/2004) Đảng
ta xác định nhiệm vụ cụ thể của thời kỳ đổi mới là: "Đẩy mạnh giáo dục xã hội chủ nghĩa, bồi dưỡng lòng yêu nước, tạo sự chuyển biến rõ rệt về bản lĩnh chính trị, đạo đức lối sống, năng lực trí tuệ con người Việt Nam, đủ sức thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ” [10]
Thấm nhuần tư tưởng của Bác, cùng với những sự thay đổi mang nét đặc trưng riêng của xã hội Việt Nam qua các thời kỳ còn có các công trình nghiên cứu của các tác giả về đạo đức và GDĐĐ, nổi bật là các nghiên cứu: "Giáo trình đạo đức" của Trần Đăng Sinh - Nguyễn Thị Thọ; Tác phẩm “Đạo hiếu- nhân cách của con người Việt Nam” của Phạm Khắc Chương; “Những vấn đề GDĐĐ trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta” của Nguyễn Quang Uẩn
và Nguyễn Văn Phúc; “Phương pháp giáo dục cho trẻ em hư” của Phạm Công Sơn - Tô Quốc Tuấn (1997),
Với định hướng chiến lược xây dựng đạo đức con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong những năm gần đây có nhiều công trình nghiên cứu được thực hiện theo hướng này, như “Giáo trình đạo đức học Mác – Lênin” của Vũ Trọng Dung (chủ biên), 2006; “GDĐĐ trong nhà trường” của Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt, 1988; “Giáo trình đạo đức học” của Phạm Khắc Chương, Hà Nhật Thăng, 2001; “ Quản lý trường học” của
Vũ Khiêu (chủ biên), 1974; “Giáo dục hệ thống giá trị đạo đức nhân văn” của
Hà Nhật Thăng, 1998; “ Quản lý trường học” của Hà Sĩ Hồ”, 1985; “Những
Trang 20trưng của quá trình quản lý giáo dục trong điều kiện hiện nay” của Trần Kiểm…
Tại Hội thảo “GDĐĐ cho HS, sinh viên ở nước ta hiện nay - Thực trạng và giải pháp” do Hội Khoa học tâm lý - Giáo dục Việt Nam tổ chức tại Đồng Nai năm 2009, Phạm Minh Hạc phát biểu: “Yếu tố quyết định là ý thức tự giáo dục thực sự nghiêm khắc - sự phấn đấu hướng thiện của từng
cá nhân, nhất là của HS các lớp cuối cấp trung học cơ sở (THCS), THPT và sinh viên, kết hợp chặt chẽ GDĐĐ trong nhà trường với gia đình và ngoài
xã hội, GDĐĐ cho tuổi trẻ, đặc biệt là HS, sinh viên đã và đang trở thành nhiệm vụ cấp bách, nhiệm vụ hàng đầu của các gia đình, nhà trường và toàn xã hội” Bài phát biểu này của Phạm Minh Hạc cũng đã nhấn mạnh việc GDĐĐ cho HS, sinh viên trong đó có HS trường THPT là một vấn đề nổi cộm và cấp thiết trong xã hội hiện nay
Ngoài ra để nâng cao hiệu quả GDĐĐ trong thời kỳ đổi mới, một số nhà quản lý giáo dục đã nghiên cứu đề tài về quản lý hoạt động GDĐĐ cho
HS như:
- Nhóm tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc - Đinh Kim Thoa - Trần Văn Tính
- Vũ Phương Liên: “Giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho HS THPT”
đã nghiên cứu giáo dục kỹ năng sống nhằm GDĐĐ cho HS THPT Đây là tài liệu rất quan trọng được GV nhiều trường THPT nghiên cứu và sử dụng [22]
- Tác giả Phạm Minh Huệ nghiên cứu “Quản lý hoạt động GDĐĐ HS
ở trường THPT thành phố Thái Bình” đã đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ HS tại các trường THPT thành phố Thái Bình được đánh giá cấp thiết khả thi; [16] tương tự như vậy, tác giả Nguyễn Văn Hà nghiên
Trang 21cứu “Quản lý hoạt động GDĐĐ HS tại trường THPT Quan Lạn, Quảng Ninh" [13]
1.2 Các khái niệm cơ bản
1.2.1 Đạo đức
Theo Từ điển bách khoa toàn thư: “Đạo đức là một trong những hình thái sớm nhất của ý thức xã hội bao gồm những chuẩn mực xã hội điều chỉnh hành vi của con người trong quan hệ với người khác và với cộng đồng (gia đình, làng xóm, giai cấp, dân tộc hoặc toàn xã hội)
Theo đạo đức học Mác – Lê Nin, đạo đức bao gồm ba yếu tố cơ bản là: Tri thức – ý thức đạo đức, tình cảm – niềm tin đạo đức, hành vi đạo đức và quan hệ đạo đức Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm, đạo đức là “Nhân – Nghĩa – Chí – Dũng – Liêm”, đó là đạo đức cách mạng, đạo đức vì lợi ích chung của dân tộc, của loài người
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: Đạo đức có thể được hiểu theo nghĩa hẹp
và nghĩa rộng, theo nghĩa hẹp "Đạo đức theo nghĩa hẹp là luân lý, những quy định, những chuẩn mực ứng xử trong quan hệ của con người với con người, với công việc với bản thân, kể cả với thiên nhiên và môi trường sống" [13, tr 56] Theo nghĩa rộng "khái niệm đạo đức liên quan chặt chẽ với phạm trù chính trị, pháp luật, lối sống, đạo đức là thành phần cơ bản của nhân cách, phản ánh bộ mặt nhân cách của cá nhân được xã hội hoá '' [13, tr.58]
Theo tác giả Trần Hậu Kiểm: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, bao gồm một hệ thống những quan điểm, quan niệm, những quy tắc, yêu cầu, chuẩn mực xã hội Nó ra đời, tồn tại và biến đổi từ nhu cầu của xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và sự tiến bộ của xã hội trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân với xã hội” [22]
Trang 22Theo tác giả Phạm Khắc Chương và Hà Nhật Thăng: "Đạo đức là một hình thái của ý thức xã hội, là tổng hợp những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với hạnh phúc của con người và tiến bộ xã hội giữa con người với con người, giữa cá nhân với xã hội" [9, Tr25]
Từ những quan niệm khác nhau ở trên, có thể khái quát đạo đức là một
hệ thống các qui tắc, các chuẩn mực nhằm điều chỉnh hành vi và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội để bảo vệ lợi ích cá nhân và của cộng đồng, chúng được đảm bảo thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống, tập quán và sức mạnh của dư luận xã hội
1.2.2 Giáo dục đạo đức
Theo từ điển bách khoa Việt Nam: “GDĐĐ (gọi tắt đức dục), bộ phận có tính chất nền tảng của giáo dục, có nhiệm vụ rèn luyện lý tưởng, ý thức, thói quen và hình thành ở HS các phẩm chất đạo đức như lòng nhân ái, yêu Tổ quốc, yêu lao động, tính trung thực, khiêm tốn, tự trọng, dũng cảm,… GDĐĐ gắn chặt với giáo dục tư tưởng – chính trị, giáo dục pháp luật và giáo dục trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, lao động hướng nghiệp Được thực hiện bằng hai con đường chủ yếu: 1) Dạy cho HS những tri thức về các chuẩn mực đạo đức 2)
Tổ chức các hoạt động và giao lưu qua đó hình thành hành vi và thói quen đạo đức Sự kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường – gia đình – xã hội tạo ra môi trường giáo dục tích cực đối với GDĐĐ” [14]
Theo Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt, “GDĐĐ là quá trình biến các chuẩn mực đạo đức từ những đòi hỏi bên ngoài của xã hội đối với cá nhân thành những đòi hỏi bên trong của bản thân, thành niềm tin, nhu cầu, thói quen của người được giáo dục” [27, Tr30]
GDĐĐ là quá trình hai mặt, mặt tác động của nhà sư phạm và mặt tiếp
Trang 23của xã hội thành những phẩm chất bên trong của cá nhân GDĐĐ được thực hiện trong gia đình, nhà trường và trong môi trường xã hội, với những hình thức đa dạng và những phương pháp phong phú, trong đó giáo dục trong nhà trường có một vị trí đặc biệt quan trọng GDĐĐ là bộ phận hợp thành của hoạt động giáo dục con người đạt tới nhân cách hài hòa, toàn vẹn, bao gồm: Giáo dục kiến thức đạo đức; Giáo dục thái độ đạo đức; Giáo dục kỹ năng - hành vi đạo đức
GDĐĐ là bộ phận quan trọng có tính nền tảng của giáo dục, có nhiệm vụ rèn luyện lý tưởng, ý thức, thói quen và hình thành ở người học các phẩm chất đạo đức như lòng nhân ái, yêu tổ quốc, yêu lao động, tính trung thực, khiêm tốn, tự trọng, dũng cảm, GDĐĐ gắn chặt với giáo dục tư tưởng chính trị, giáo dục pháp luật, giáo dục trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và lao động hướng nghiệp
Bản chất GDĐĐ là chuỗi tác động có định hướng của chủ thể giáo dục
và yếu tố tự giáo dục của HS, giúp HS nhận thức đúng, tạo lập tình cảm và thái độ đúng, hình thành những thói quen hành vi văn minh trong cuộc sống, phù hợp với chuẩn mực xã hội Trong cuộc sống, trong hoạt động, thông qua giao lưu nhân cách con người mới được hình thành và phát triển
Như vậy, GDĐĐ là những tác động sư phạm một cách có mục đích, có
hệ thống và có kế hoạch của nhà giáo dục tới người được giáo dục (HS) để bồi dưỡng cho họ những phẩm chất đạo đức (chuẩn mực, hành vi đạo đức) phù hợp với yêu cầu xã hội
1.2.3 Hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường trung học phổ thông
Hoạt động GDĐĐ cho HS các trường THPT là quá trình tác động đến người học để hình thành cho họ ý thức, tình cảm và niềm tin, hành vi, đích cuối cùng và quan trọng nhất là tạo lập cho HS những thói quen hành vi đạo đức Có
Trang 24thể hiểu hoạt động GDĐĐ là một hoạt động có tổ chức, có mục đích, có kế hoạch nhằm biến đổi những nhu cầu tư tưởng đạo đức, giá trị đạo đức, góp phần phát triển nhân cách của mỗi cá nhân và thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ của xã hội Đó là một quá trình giáo dục lâu dài được hình thành từ thấp đến cao từ những việc cụ thể trong cuộc sống đời thường đến những vấn đề to lớn của xã hội Giáo dục nhân cách hành vi đạo đức con người là một quá trình giáo dục cần phải đặc biệt coi trọng bởi vì quá trình đó làm cho con người nhận được những yếu tố sau: Làm chủ tập thể, yêu lao động, yêu chủ nghĩa xã hội,
có lòng yêu nước, biết đoàn kết giúp đỡ nhau, biết coi trọng mọi người
Ở nhà trường phổ thông nói chung, nhà trường THPT nói riêng, hoạt động GDĐĐ cho HS trong nhà trường THPT là những tác động với vai trò chủ đạo của người thầy có mục đích, được tổ chức có kế hoạch, có sự lựa chọn về nội dung, phương pháp và hình thức giáo dục đến HS nhằm giúp cho
HS phát triển nhân cách đúng đắn và có hành vi ứng xử đúng mực trong các mối quan hệ cá nhân với cá nhân, cá nhân với công việc, cá nhân với môi trường tự nhiên và với chính mình
1.2.4 Quản lý
Có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý: Winslow Taylor cho rằng, quản lý là biết được chính xác điều mà bạn muốn người khác và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất [11, Tr.89]; Theo Fayel: "Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanhnghiệp, chính phủ) đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát Quản lý chính là thực hiện kế hoạch,
tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát ấy” [9, Tr.3]; Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Quản lý với gốc từ Hán Việt lột tả được bản chất của vấn đề,
đó là hoạt động chăm sóc, giữ gìn (Quản) và sửa sang, sắp xếp lại (Lý) để cho cộng đồng theo sự phân công hợp tác hoạt động được ổn định và phát triển”
Trang 25[7] Tác giả Trần Kiểm quan niệm rằng quản lý là nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội Theo Nguyễn Ngọc Quang: "Quản lý là tác động có định hướng,
có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức" [28, Tr.1] Các định nghĩa trên tuy diễn đạt khác nhau nhưng có chung một thống nhất: Hoạt động quản lý được tiến hành trong một tổ chức, một nhóm xã hội; là những tác động phối hợp nỗ lực của nhiều cá nhân nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức
Từ các khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu: Quản lý là một quá trình đạt đến mục tiêu của một tổ chức bằng cách thực hiện các chức năng: kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra Chức năng quản lý là các hoạt động quản lý đặc biệt, là sản phẩm của quá trình phân công lao động và chuyên môn hóa trong quản lý Thông qua chức năng quản lý, chủ thể quản lý tác động có mục đích vào khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu nhất định
1.2.5 Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường
* Quản lý giáo dục (QLGD):
QLGD là sự vận dụng một cách cụ thể các nguyên tắc của quản lý nói chung vào lĩnh vực giáo dục Quản lý và giáo dục tồn tại song hành với nhau Với tư cách là hệ lớn phức tạp, hệ giáo dục cần có sự quản lý một cách khoa học Theo tác giả Trần Kiểm đưa ra khái niệm QLGD được xem xét trên hai cấp độ: Cấp độ vĩ mô (quản lý hệ thống giáo dục) và cấp độ vi mô (quản lý nhà trường)
Ở cấp độ vĩ mô: QLGD là quản lý mọi hoạt động giáo dục trong xã hội,
ở đây, giáo dục được hiểu theo nghĩa rộng nhất QLGD được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, mục đích, kế hoạch, hệ thống và hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các
Trang 26cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục[19] QLGD là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính trồi (emergence) của hệ thống;
sử dụng một cách tối ưu các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống nhằm đưa hệ thống đến mục tiêu một cách tốt nhất trong điều kiện đảm bảo sự cân bằng với môi trường bên ngoài luôn luôn biến động
Ở cấp độ vi mô: QLGD là một chuỗi tác động hợp lý mang tính tổ chức,
sư phạm của chủ thể quản lý đến tập thể GV và HS, đến lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm huy động họ cùng cộng tác, phối hợp tham gia vào mọi hoạt động của nhà trường nhằm làm cho quy trình này vận hành tới việc hoàn thành những mục tiêu dự kiến [19] Cũng có thể định nghĩa, QLGD thực chất là những tác động của chủ thể quản lý vào quá trình giáo dục (được tiến hành bởi tập thể GV và HS, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng
xã hội) nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách của HS theo mục tiêu đào tạo của nhà trường [20, tr.38]
Theo P.V.Khuđôminxky (nhà lý luận Xô Viết): “QLGD là tác động có
hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và có mục đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến các khâu của hệ thống (từ Bộ đến trường) nhằm mục đích bảo đảm việc giáo dục Cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, bảo đảm sự phát triển toàn diện và hài hoà của họ” [9]
Theo Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý giáo dục là quá trình thực hiện có định hướng và hợp quy luật các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra nhằm đạt tới mục tiêu giáo dục đã đề ra” [27, tr.15]
Từ các khái niệm như trên, chúng ta có thể hiểu: QLGD là sự tác động
có mục đích, có ý thức của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt được kết quả cao nhất
Trang 27* Quản lý nhà trường:
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng HS” [12, Tr.66]
Tác giả Hồ Văn Liên: “Quản lý, lãnh đạo nhà trường là quản lý, lãnh đạo hoạt động dạy của GV, hoạt động học của HS, hoạt động phục vụ việc dạy và việc học của cán bộ, nhân viên trong trường Nhà trường là đơn vị cơ sở trực tiếp giáo dục – đào tạo, là cơ quan chuyên môn của ngành giáo dục – đào tạo, hoạt động của nhà trường rất đa dạng, phong phú và phức tạp, nên việc quản
lý, lãnh đạo chặt chẽ, khoa học sẽ bảo đảm đoàn kết, thống nhất được mọi lực lượng, tạo nên sức mạnh đồng bộ nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục đích giáo dục” [25, tr.27]
Từ các quan niệm trên, quản lý nhà trường được hiểu là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (các cấp quản lý của hệ thống giáo dục) nhằm làm cho nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để đạt tới mục tiêu giáo dục đặt ra cho từng thời kỳ phát triển của đất nước
Quản lý nhà trường là quản lý giáo dục được thực hiện trong phạm vi xác định của một đơn vị giáo dục nhà trường, bao gồm quản lý tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo mục tiêu, chương trình giáo dục, tài chính, nhân lực nhằm thực hiện nhiệm vụ giáo dục theo yêu cầu của
Trang 28phận của hệ thống đảm bảo cho hệ thống vận hành tối ưu, bảo đảm sự phát triển mở rộng cả chất lượng cũng như số lượng để đạt được mục tiêu GDĐĐ Quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS bên cạnh việc quản lý xác định mục tiêu, lựa chọn nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức GDĐĐ, còn là một quá trình huy động các lực lượng giáo dục, các điều kiện phương tiện giáo dục, phù hợp các môi trường giáo dục, giúp HS có được tri thức đạo đức, tình cảm đạo đức và hình thành hành vi đạo đức phù hợp với yêu cầu của xã hội; các yếu tố đó phải được tiến hành một cách khoa học đồng bộ, phù hợp với nguyên tắc và chuẩn mực của xã hội
Từ những quan niệm trên, quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS ở các trường THPT được hiểu: Quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS THPT là những tác động của chủ thể quản lý có mục đích, có kế hoạch đến đối tượng quản lý
để thực hiện nội dung, phương pháp, hình thức GDĐĐ; đồng thời tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra đánh giá việc thực hiện kế hoạch đó nhằm đạt mục đích GDĐĐ
Có thể nói, quản lý công tác GDĐĐ cho HS THPT là quá trình tác động
có định hướng của hiệu trưởng tới các tổ chức, cá nhân tham gia vào hoạt động giáo dục nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu GDĐĐ của nhà trường
1.3 Lý luận về hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông
1.3.1 Mục tiêu giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông
Mục tiêu GDĐĐ trong nhà trường là nhằm trang bị cho HS những tri thức cần thiết về đạo đức nhân văn, văn hóa xã hội, tri thức về cuộc sống, giao tiếp ứng xử, học tập, lao động, hoạt động xã hội Thông qua hoạt động giáo dục này để hình thành ở HS thái độ đúng đắn, tình cảm, niềm tin đạo đức trong sáng đối với bản thân, mọi người xung quanh, hình thành thói quen tự giác thực hiện những chuẩn mực đạo đức xã hội, chấp hành quy định của
Trang 29pháp luật, nỗ lực học tập rèn luyện, tích cực cống hiến sức lực, trí tuệ vào sự nghiệp CNH - HĐH đất nước
Mục tiêu của giáo dục là trang bị cho HS những kiến thức về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống pháp luật, văn hóa, xã hội Hình thành ở mỗi HS thái
độ, hành vi ứng xử, đạo đức đúng đắn với bản thân và mọi người Định hướng cho HS nắm được các chuẩn mực đạo đức, giúp HS biết tránh xa những tác động tiêu cực từ môi trường ngoài, rèn luyện kỹ năng sống, kỹ năng ứng xử văn hóa Giáo dục lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, yêu lao động, yêu khoa học và những tiến bộ khoa học của nhân loại, biết gìn giữ và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc
- Về nhận thức: Cung cấp cho HS những tri thức cơ bản về các phẩm chất đạo đức và chuẩn mực đạo đức Giúp cho HS có nhận thức đúng đắn về bản chất, nội dung các chuẩn mực đạo đức của con người Việt Nam trong thời
kỳ mới, phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội Trên cơ sở đó giúp các em hình thành niềm tin đạo đức
- Về thái độ tình cảm: Giúp cho HS có thái độ tự trọng, tự tin vào khả năng của bản thân; có trách nhiệm với hành động của mình; yêu thương, tôn trọng con người; mong muốn đem lại niềm vui, hạnh phúc cho mọi người; yêu cái thiện, cái đúng, cái tốt, không đồng tình với cái ác, cái xấu Luôn luôn
tự hoàn thiện nhân cách bản thân; tôn trọng những giá trị đạo đức truyền thống và giá trị nhân cách phù hợp với thời đại, tôn trọng những qui định của nhà trường và pháp luật
- Về hành vi: Giúp cho HS tham gia tích cực các hoạt động phát huy truyền thống tôn sư trọng đạo, tương thân, tương ái giúp đỡ nhau cùng tiến bộ của bản thân và phát triển của dân tộc; có nghị lực thực hiện những tư tưởng, quan điểm, những yêu cầu đạo đức và pháp luật, đồng thời không vi phạm
Trang 30- Về kỹ năng: Hình thành kỹ năng nhận xét, đánh giá hành vi của bản thân và những người xung quanh theo các chuẩn mực đã học; hình thành kỹ năng lựa chọn và thực hiện các hành vi ứng xử phù hợp với chuẩn mực trong các mối quan hệ và tình huống đơn giản, cụ thể của cuộc sống
1.3.2 Nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông
Trong bối cảnh hiện nay, nội dung GDĐĐ cho HS rất đa dạng, phong phú mà tựu chung nhất là xoay quanh trục "chân-thiện-mỹ" và truyền thống văn hóa dân tộc, địa phương Từ đó, nội dung GDĐĐ căn cứ vào chuẩn mực đạo đức của xã hội, bám sát vào nội dung chương trình các môn học và tổ chức các hoạt động giáo dục khác theo nhiệm vụ của nhà trường kết hợp với giáo dục văn hóa, truyền thống dân tộc, địa phương Nội dung GDĐĐ cho HS THPT bao gồm 4 nhóm:
(1) Giáo dục về chính trị tư tưởng
(2) GDĐĐ trong các mối quan hệ với tập thể
(3) GDĐĐ trong mối quan hệ với bản thân
(4) Giáo dục thái độ đúng đắn đối với lao động, với môi trường sống Nội dung trong các nhóm được cụ thể thành nội dung về GDĐĐ cho HS THPT như sau:
- Trang bị những tri thức cần thiết về chính trị, đạo đức, văn hóa, xã hội
- Hình thành thái độ đúng đắn, tình cảm, niềm tin trong sáng với bản thân, với mọi người
- Giáo dục HS tự giác thực hiện các chuẩn mực đạo đức xã hội
- Giáo dục ý thức chấp hành các quy định của pháp luật, nội quy của Nhà trường
- Giáo dục ý thức phấn đấu trong học tập
- Giáo dục tinh thần cộng đồng, tích cực tham gia các hoạt động xã hội
- Giáo dục tình yêu, tình bạn đúng đắn
Trang 31- Giáo dục văn hóa sinh hoạt tập thể
- Giáo dục sức khỏe sinh sản, giới tính
- Giáo dục ý thức lao động
- Giáo dục truyền thống dân tộc
- Giáo dục lòng yêu Tổ quốc, yêu chế độ xã hội chủ nghĩa
1.3.3 Hình thức giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông
Cũng như tất cả các loại hình giáo dục khác, GDĐĐ đòi hỏi một hệ thống các hình thức giáo dục thống nhất và đa dạng Điều đó được quy định trước hết tính đa dạng của đối tượng giáo dục về mặt tuổi tác, nghề nghiệp, điều kiện sinh sống, học vấn và những đặc điểm xu hướng, tính cách Trong quá trình xã hội hóa giáo dục nói chung, xã hội hóa GDĐĐ nói riêng, đã và đang xuất hiện nhiều hình thức giáo dục cụ thể và hiệu quả Trường THPT nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân nên cũng có những hình thức GDĐĐ cho HS nói chung
Hình thức GDĐĐ cho HS THPT rất phong phú và đa dạng, không chỉ đóng khung trong các trường học với các giờ giảng trên lớp mà còn đưa các nội dung, chủ đề giáo dục vào mọi hoạt động thực tiễn của cá nhân và tập thể
HS tại trường lớp, ngoài xã hội qua các hoạt động NGLL như: sinh hoạt dã ngoại, lao động công ích, thể thao, văn nghệ, tham quan,
Hiện nay có nhiều hình thức GDĐĐ cho HS trường THPT được sử dụng, nhưng nhìn chung có thể chia thành 3 nhóm sau đây:
- GDĐĐ cho HS thông qua các môn học: Việc GDĐĐ cho HS thông qua các môn học là nhằm giúp các em có nhận thức đúng đắn về một số giá trị đạo đức cơ bản, về nội dung cơ bản của một số quyền và nghĩa vụ công dân trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, về tổ chức bộ máy nhà nước XHCN Việt Nam, về trách nhiệm của nhà nước trong việc bảo đảm thực hiện các quyền
Trang 32- GDĐĐ cho HS thông qua hoạt động NGLL: Các hoạt động NGLL rất phong phú về nội dung và hình thức tổ chức như các hoạt động tập thể, vui chơi sinh hoạt chủ điểm, văn nghệ, thể dục thể thao Các hoạt động NGLL giúp HS trải nghiệm và hình thành các quan hệ đạo đức, rèn luyện các hành vi đạo đức phù hợp với các chuẩn mực xã hội Thông qua hoạt động này, HS có điều kiện rèn luyện ý chí, nghị lực, tinh thần trách nhiệm, có cơ hội mở rộng và hài hòa các mối quan hệ khác nhau trong xã hội
- GDĐĐ cho HS thông qua sự giáo dục với gia đình và các lực lượng ngoài
xã hội: Sự phối hợp này thể hiện chức năng xã hội hóa trong vấn đề GDĐĐ và
có tầm quan trọng đặc biệt Nhiệm vụ của các CBQL và các nhà giáo dục là phải thường xuyên phối hợp, trao đổi thông tin kịp thời để tìm ra biện pháp tốt nhất trong việc GDĐĐ cho HS, tạo mối đồng thuận cao giữa nhà trường, gia đình và
xã hội
Ba nhóm hình thức GDĐĐ cho HS THPT này được chi tiết hóa thành 8 hình thức cụ thể sau:
(1) GDĐĐ HS thông qua việc học tập nội quy nhà trường
(2) GDĐĐ HS thông qua các buổi sinh hoạt chào cờ đầu tuần
(3) GDĐĐ HS thông qua giảng dạy môn GDCD và các môn học khác (4) GDĐĐ HS thông qua các giờ sinh hoạt chủ nhiệm lớp
(5) GDĐĐ HS thông qua hoạt động NGLL
(6) GDĐĐ HS thông qua hệ thống phát thanh tuyên truyền
(7) GDĐĐ HS thông qua hệ thống truyền thống Website, Facebook của Nhà trường
(8) GDĐĐ HS thông qua hình thức tự rèn luyện, tự giáo dục
1.3.4 Phương pháp giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông
Phương pháp GDĐĐ cho HS là cách thức tác động của các nhà giáo dục
Trang 33lên đối tượng giáo dục để hình thành cho đối tượng giáo dục những chuẩn mực và hành vi đạo đức cần thiết phù hợp với đạo đức xã hội hiện đại
Phương pháp GDĐĐ cho HS trường THPT rất phong phú, đa dạng, kết hợp giữa các phương pháp truyền thống và các phương pháp hiện đại, được thể hiện ở các phương pháp sau:
- Phương pháp đàm thoại: Là phương pháp tổ chức trò chuyện giữa GV và
HS về các vấn đề đạo đức, dựa trên một hệ thống câu hỏi được chuẩn bị trước
- Phương pháp nêu gương: Dùng những tấm gương của cá nhân, tập thể
để giáo dục, kích thích HS học tập và làm theo tấm gương mẫu mực đó Phương pháp nêu gương có giá trị to lớn trong việc phát triển nhận thức và tình cảm đạo đức cho HS, đặc biệt giúp HS nhận thức rõ ràng hơn về bản chất
và nội dung đạo đức mới Để phương pháp nêu gương phát huy tốt tác dụng
GV cần lựa chọn các gương sáng là chủ yếu, không lạm dụng gương phản diện vì dễ gây phản tác dụng
- Phương pháp đóng vai: Là tổ chức cho HS nhập vai vào nhân vật trong những tình huống đạo đức gia đình để các em bộc lộ nhận thức, thái độ, hành
vi ứng xử
- Phương pháp trò chơi: Tổ chức cho HS thực hiện những thao tác hành động, lời nói phù hợp với chuẩn mực hành vi đạo đức thông qua những trò chơi cụ thể
- Phương pháp dự án: Là phương pháp trong đó người HS thực hiện nhiệm vụ học tập tích hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn, giữa giáo dục nhận thức với giáo dục các phẩm chất nhân cách cho HS Thực hành nhiệm vụ này người học được rèn luyện tính tự lập cao, từ việc xác định mục đích, lập kế hoạch hành động đến việc thực hiện dự án với nhóm bạn bè, tự kiểm tra, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện
Trang 34Phương pháp GDĐĐ cho HS rất đa dạng Vì vậy, nhà giáo và CBQL giáo dục cần phải vận dụng linh hoạt phù hợp với mục đích, đối tượng và từng tình huống cụ thể
1.3.5 Sự phối hợp giữa nhà trường - gia đình - xã hội trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông
Phối hợp giữa nhà trường - gia đình - xã hội trong việc GDĐĐ cho HS THPT là sự tác động vào các đối tượng tạo ra mối liên hệ tác động hướng đích có tính thống nhất tập trung…để huy động sức mạnh tổng hợp của nhà trường với gia đình và xã hội nhằm GDĐĐ cho HS
Sự phối hợp chặt chẽ ba môi trường giáo dục trên, trước là để đảm bảo
sự thống nhất trong nhận thức cũng như hoạt động giáo dục cùng một hướng, một mục đích, một tác động tổ hợp, đồng tâm tạo sức mạnh kích thích, thúc đẩy quá trình phát triển nhân cách của trẻ, tránh sự tách rời mâu thuẫn, bài xích lẫn nhau gây cho các em tâm trạng nghi ngờ, hoang mang, dao động trong việc lựa chọn, định hướng các giá trị tốt đẹp của nhân cách Sự phối hợp gia đình, nhà trường, xã hội có thể diễn ra dưới nhiều hình thức Vấn đề cơ bản hàng đầu là tất cả các lực lượng giáo dục phải phát huy tinh thần trách nhiệm, chủ động tạo ra những mối quan hệ phối hợp vì mục tiêu giáo dục đào tạo thế hệ trẻ thành những người công dân hữu ích cho đất nước
Việc phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội nhằm tạo cho quá trình giáo dục được thống nhất và được tốt hơn Thực tiễn đã chứng minh ở đâu có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội, thì ở đó kết quả giáo dục sẽ tốt hơn, như Bác Hồ đã căn dặn: “Giáo dục trong nhà trường chỉ là một phần, còn cần có sự giáo dục ngoài xã hội và trong gia đình để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường được tốt hơn Giáo dục trong nhà trường dù tốt đến mấy nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn”
Trang 35Công tác GDĐĐ cho HS THPT đòi hỏi các chủ thể giáo dục phải chủ động phối kết hợp với nhau trong quá trình giáo dục Trong sự phối hợp đó nhà trường đóng vai trò là vị trí trung tâm, là cơ quan chuyên trách về giáo dục phải thực sự là hạt nhân của sự phối hợp, là điều kiện bảo đảm cho các chủ thể giáo dục thống nhất với nhau về mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục nhằm đat hiệu quả cao trong công tác GDĐĐ cho HS
Sự phối hợp giữa nhà trường - gia đình - xã hội tạo nên tác động tổ hợp phát huy được những tiềm năng phong phú của toàn xã hội tham gia vào quá trình GDĐĐ cho HS
1.4 Lý luận về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông
1.4.1 Mục tiêu quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông
Hoạt động quản lý bao giờ cũng phải xác định mục tiêu Mục tiêu quản
lý càng cụ thể, sát hợp với nguồn lực, với bối cảnh tác động thì mục tiêu càng
dễ thực hiện
Trong quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS THPT, Hiệu trưởng nhà trường phải xác định mục tiêu quản lý cho hoạt động này Mục tiêu quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS THPT là:
- Mục tiêu về mặt nhận thức: Làm cho mọi thành viên trong nhà trường
có được nhận thức đúng về tầm quan trọng của hoạt động GDĐĐ và từ đó nắm được các yêu cầu, nội dung, phương pháp, hình thức GDĐĐ cho HS
- Mục tiêu về thái độ, hành vi: Làm cho mọi thành viên có thái độ đúng đắn trước hành vi của bản thân, ủng hộ, bảo vệ những hành vi đúng, ngăn chặn những hành vi, thái độ trái với đạo lí, truyền thống của dân tộc và pháp luật Mặt khác, mọi thành viên có thái độ tích cực, cùng nhau xây dựng văn hóa đạo đức nhà trường
Trang 361.4.2 Quản lí nội dung, kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông
Thành lập bộ phận chuyên môn để lựa chọn những nội dung, xây dựng
kế hoạch, chương trình lồng ghép các nội dung GDĐĐ vào trong các môn văn hóa; thông báo kế hoạch, chương trình hành động, phân công các thành viên chỉ đạo, giám sát, kiểm tra đánh giá việc thực hiện các nội dung, tiến độ thực hiện chương trình và kế hoạch công tác GDĐĐ cho HS trong nhà trường
Quản lý về thực hiện kế hoạch là giám sát quá trình thực hiện kế hoạch, việc triển khai các hoạt động trong kế hoạch có thực sự thực hiện hiệu quả Quản lý việc thực hiện kế hoạch được thực hiện dựa trên các nội dung, thể hiện:
- GVCN báo cáo lên Ban Giám hiệu hàng tuần về tình hình lớp mình phụ trách
- Tổ chức Đoàn Thanh niên báo cáo hàng tuần về tình hình thực hiện nội quy của HS
- Có đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch trong tháng và đề ra phương hướng, nhiệm vụ tháng tiếp theo
- Khen thưởng biểu dương kịp thời gương người tốt việc tốt, xử lí nghiêm khắc những vi phạm về đạo đức trong HS
- Có sự bổ sung, điều chỉnh kế hoạch cho phù hợp với thực tế
- Biểu dương những gương điển hình, đồng thời phê bình những cá nhân chưa hoàn thành kế hoạch đề ra trong GV, nhân viên
- Sơ kết, tổng kết về công tác thực hiện kế hoạch GDĐĐ cho HS
1.4.3 Quản lí hình thức giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông
Chỉ đạo cho bộ phận chuyên môn trong nhà trường lựa chọn hình thức GDĐĐ cho HS THPT theo yêu cầu cần phải đa dạng, phù hợp tâm sinh lý lứa
Trang 37tuổi, phù hợp với thực tiễn nhà trường, địa phương Xây dựng kế hoạch chỉ đạo thực hiện, kiểm tra việc áp dụng các hình thức tổ chức GDĐĐ cho HS THPT thông qua các môn học, thông qua các hoạt động NGLL theo các chủ
đề, chủ điểm từng tháng, từng năm học Xây dựng được các tiêu chí đánh giá công tác GDĐĐ trên cơ sở mục tiêu GDĐĐ và thực tiễn công tác giáo dục của nhà trường, phù hợp với yêu cầu khách quan của xã hội
Hiệu trưởng cần chỉ đạo thực hiện tốt hai hình thức sinh hoạt là chào cờ đầu tuần và sinh hoạt chủ nhiệm Ngoài ra, tạo điều kiện để HS các lớp sinh hoạt theo từng chủ điểm, sinh hoạt Đoàn, dã ngoại, cắm trại, hội thi, công tác đền ơn đáp nghĩa, kỉ niệm các ngày lễ lớn…
1.4.4 Quản lí đổi mới phương pháp giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông
Trong đổi mới phương pháp GDĐĐ cho HS, GV là chủ thể có vai trò trực tiếp đến chất lượng giáo dục cũng như sự thành công của việc đổi mới phương pháp giáo dục Vì vậy, trọng tâm của quản lý đổi mới phương pháp GDĐĐ cho HS là quản lý hoạt động giảng dạy của GV Hiệu trưởng cần có các biện pháp quản lý thích hợp, tạo điều kiện thúc đẩy và đi tiên phong trong quá trình thực hiện đổi mới, GV phải được hướng dẫn và cung cấp phương tiện Quản lý thực hiện đổi mới phương pháp GDĐĐ cho HS bao gồm các nội dung sau đây:
- Xây dựng kế hoạch thực hiện đổi mới phương pháp GDĐĐ cho HS
- Tổ chức quán triệt cho GV về tinh thần đổi mới phương pháp GDĐĐ cho HS
- Tổ chức bồi dưỡng kĩ năng sử dụng phương tiện giáo dục mới, ứng dụng công nghệ thông tin trong GDĐĐ (từ khâu chuẩn bị bài, tổ chức giảng dạy trên lớp, kiểm tra đánh giá HS; lưu giữ sản phẩm giảng dạy) để người GV
có thể tạo nhiều cơ hội cho HS lĩnh hội, làm chủ được nhiều tri thức để phát
Trang 38triển và hoàn thiện cá nhân mình
- Tổ chức thực hiện đổi mới phương pháp GDĐĐ cho HS
- Thường xuyên giám sát, kiểm tra và đánh giá việc thực hiện đổi mới phương pháp GDĐĐ cho HS
1.4.5 Quản lí sự phối hợp giữa nhà trường - gia đình - xã hội trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông
Quản lý sự phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội là một trong những nội dung quản lý nhà trường của nhà quản lý, những tác động có ý thức của nhà quản lý nhằm định hướng, tổ chức, điều khiển và kiểm soát quá trình phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội trong giáo dục HS đúng với nguyên lý giáo dục, phương pháp giáo dục, đảm bảo nguyên tắc quản lý về giáo dục làm cho chất lượng giáo dục ngày càng được nâng cao Đó là hoạt động xây dựng kế hoạch, tổ chức, phân công, kiểm tra - đánh giá công tác phối hợp nhà trường -
gia đình - xã hội trong GDĐĐ cho HS
GDĐĐ cho HS THPT là một quá trình lâu dài, phức tạp, diễn ra mọi lúc, mọi nơi và chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố Đó là nhà trường, gia đình và xã hội, trong đó nhà trường đóng vai trò chủ đạo Mỗi lực lượng đều có vai trò, chức năng, nhiệm vụ đặc thù riêng của mình nhưng đều có sự thống nhất là đảm bảo tốt nhất sự phát triển toàn diện nhân cách cho người học Quản lý nội dung này, Hiệu trưởng cần có nghệ thuật sử dụng và phối kết hợp các lực lượng nhằm phát huy những ưu điểm của từng lực lượng nhằm mang đến kết quả giáo dục HS tốt nhất có thể; cần tổ chức các lực lượng thành một khối đoàn kết thống nhất để có tác động mạnh mẽ nhất đến HS tránh các tác động rời rạc, tùy tiện, vô hiệu hóa lẫn nhau; cần tổ chức, trao đổi, bàn bạc thống nhất, cải tiến về kế hoạch, nguyên tắc, nội dung, hình thức, phương pháp, kiểm tra đánh giá hoạt động GDĐĐ cho HS toàn trường Vì vậy, nhà trường cần phải xây dựng kế hoạch phối hợp các lực lượng khác để xây dựng môi trường giáo dục
Trang 39thống nhất, lành mạnh nhằm nâng cao chất lượng GDĐĐ cho HS
Chủ động xây dựng kế hoạch huy động phối hợp với các lực lượng khác
để GDĐĐ; xây dựng môi trường giáo dục thống nhất, lành mạnh để GDĐĐ cho HS Cung cấp thông tin về HS cho các lực lượng xã hội như: ban đại diện CMHS, các tổ chức xã hội, chính quyền địa phương, các cơ sở văn hóa, cơ sở sản xuất, các phương tiện thông tin đại chúng Tạo điều kiện cho GVCN, đoàn trường đi thăm hỏi các địa phương, gia đình HS để nắm thông tin về HS… Đồng thời định hướng cho các tổ chức đó nhận thức về công tác GDĐĐ cho HS
Để đạt được mục tiêu GDĐĐ toàn diện, cần phải kết hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong GDĐĐ cho GDĐĐ thành một quá trình thống nhất, liên tục và hoàn chỉnh, phải coi đó là một nguyên tắc cơ bản Nếu tách rời ba yếu tố trên thì việc GDĐĐ sẽ kém hiệu quả, gây nên sự chồng chéo hoặc mâu thuẫn nhau Sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội là sự phối hợp dựa trên cơ sở thực hiện thống nhất quan điểm, chủ trương, mục đích trong việc GDĐĐ cho HS Xây dựng mối quan hệ chặt chẽ giữa ba môi trường giáo dục này sẽ tạo điều kiện cho HS phát triển toàn diện, trở thành công dân có ích cho xã hội
Tổ chức quản lý tốt sự phối hợp lực lượng giáo dục thì việc GDĐĐ cho
HS sẽ đạt được những kết quả hết sức to lớn đó là: Làm cho mọi người có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng, tính cấp thiết của sự phối hợp nhà trường - gia đình - xã hội trong GDĐĐ, góp phần nâng cao chất lượng GDĐĐ
và giáo dục toàn diện của nhà trường, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội Nắm vững quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
về vấn đề phát triển con người toàn diện, gắn liền với sự nghiệp đổi mới đất nước; hăng hái tích cực tham gia công tác GDĐĐ cho HS trong nhà trường và
xã hội, ủng hộ những việc làm tốt, đấu tranh chống lại những việc làm xấu,
Trang 40trái pháp luật, trái qui định của xã hội, có thái độ đúng đắn với hành vi của bản thân đối với công tác tổ chức quản lý GDĐĐ Tự giác thực hiện những quy định chung, tích cực rèn luyện, tu dưỡng, tự hoàn thiện nhân cách, qua
đó, đáp ứng đúng và kịp thời yêu cầu ngày càng cao của xã hội
1.5 Các yếu tố tác động đến quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông
1.5.1 Các yếu tố khách quan
1.5.1.1 Tác động của các yếu tố về chủ trương, chính sách, cơ chế quản
lý của nhà nước với giáo dục THPT
Chủ trương, chính sách và cơ chế quản lý của nhà nước đối với loại hình trường THPT là yếu tố khách quan có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động giáo dục ở trường THPT trong bối cảnh đổi mới giáo dục Sự phát triển của trường THPT nói chung và các hoạt động giáo dục ở trường THPT nói riêng luôn gắn liền và chịu sự chỉ đạo trực tiếp từ các văn bản pháp quy của nhà nước,
Bộ Giáo dục và Đào tạo Hệ thống văn bản pháp quy về giáo dục THPT bao gồm các Thông tư về việc tổ chức và hoạt động ở trường THPT, các quy chế quản lý hoạt động, quản lý đội ngũ CBQL và GV, quy chế về GDĐĐ ở trường THPT và các Thông tư hướng dẫn về một số vấn đề về tài chính, sử dụng tài chính ở trường THPT Tất cả các văn bản quy chế, thông tư này đều mang tính pháp lý để các trường THPT tổ chức và thực hiện Các văn bản pháp lý của nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo có tác động, ảnh hưởng rất nhiều đến quá trình GDĐĐ ở trường THPT Thiếu các văn bản đó hoặc hiểu chưa đúng sẽ dẫn đến việc tổ chức hoạt động giáo dục nói chung và GDĐĐ nói riêng ở trường THPT đi không đúng hướng
1.5.1.2 Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh trung học phổ thông
Tuổi HS THPT là thời kì đạt được sự trưởng thành về mặt cơ thể Sự phát triển thể chất đã bước vào thời kì phát triển bình thường, hài hòa, cân