1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề cương ôn tập giữa kì II văn 8

5 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 22,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề cương ôn tập giữa kì II Ngữ Văn 8 1/ Văn học: *Quê hương: a Tác giả: Tế Hanh 1921- 2009 b Hoàn cảnh ra đời: Trong phong trào thơ mới, in trong tập Nghẹn ngào 1939 c Thể loại, PTBĐ: -T

Trang 1

Đề cương ôn tập giữa kì II

Ngữ Văn 8

1/ Văn học:

*Quê hương:

a) Tác giả: Tế Hanh (1921- 2009)

b) Hoàn cảnh ra đời: Trong phong trào thơ mới, in trong tập Nghẹn ngào (1939) c) Thể loại, PTBĐ:

-Thơ tự do 8 chữ

- Biểu cảm

d) Nội dung: Vẻ đẹp của bức tranh làng quê và tình yêu quê hương trong sáng,

thiết tha của nhà thơ

e) Nghệ thuật:

- Sáng tạo hình ảnh cuộc sống lao động thơ mộng

- Liên tưởng, so sánh độc đáo

- Lời thơ bay bổng, đầy cảm xúc

f) Đoạn văn cảm nhận:

Quê hương có vị trí rất quan trọng trong lòng mỗi người chúng ta Nhưng có lẽ bài thơ” Quê hương” của Tế Hanh là một trong một bài thơ xuất sắc, tiêu biểu nhất về quê hương, đất nước trong văn học Việt Nam Mở đầu bài thơ, tác giả

đã dẫn dắt một cách tự nhiên,mộc mạc, giản dị nêu rõ nghề nghiệp chính và vị trí của làng Tiếp đó là một khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp, bức tranh lao động đầy sức sống và hứng khởi của người dân vùng biển., qua những câu thơ: “ Khi trời trong, mai hồng/ Dân trai tráng đánh cá/ Chiếc thuyền tuấn mã/ Cánh buồm hồn làng.” Đã nở ra một cảnh tượng buổi sớm mai đẹp trời, trong lành với hình ảnh trai tráng khoẻ khoắn, tràn đầy sức sống trên một đoàn thuyền sức mạnh mang màu sắc huyền thoại, cổ tích và cánh buồm ẩn dụ biểu trưng cho hồn cốt, thần thái của người dân miền biển Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã Hình ảnh con tuấn mã- 1 hoạt động từ mạnh diễn tả ấn tượng khí thế dũng mạnh của con thuyền ra khơi, tạo nên sức sống mạnh mẽ, vẻ đẹp hùng tráng đầy hấp dẫn “Cánh buồm hồn làng/ Rướn thân góp gió ” đã nói đến hình ảnh cánh buồm trắng căng phồng, no gió được so sánh hết sức độc đáo, bất ngờ tạo vẻ đẹp lãng mạn Qua những câu thơ trên, hình ảnh quen thuộc đã trở nên lớn lao, thiêng liêng và rất thơ mộng suy ra tác giả nhận ra đó là biểu tượng của linh hồn làng chài "Rướn thân trắng bao la thâu góp gió"- sự khoáng đạt, hiên ngang mạnh mẽ như chính tính cách của người dân miền biển, sẵn sàng đương đầu với thử thách Cánh buồm mang ý nghĩa tượng trưng cho hồn cốt, thần thái, tình cảm của người dân chài, nay đi vào thơ trở nên bay bổng, lãng mạn Tiếp đó, là cảnh thuyền cá về bến thể hiện qua: “Ngày hôm sau đỗ/Những thân bạc trắng” là bức tranh lao động náo nhiệt, đầy ắp niềm vui và sự sống, toát ra từ không khí ồn ào, tấp nập, đông vui, từ những chiếc ghe đầy cá, từ lời cảm tạ đất trời cho dân chài trở về an toàn, bình an, thắng lợi

“Dân chài rám nắng/Cả xa xăm” là hình ảnh tả thực "làn da ngăm dám nắng" – vẻ đẹp rắn rỏi, chắc khỏe nói lên sự từng trải trong cuộc sống lao động vất vả

Trang 2

nắng gió của người đi biển "thân hình nồng thở vị xa xăm" → hình ảnh ẩn dụ chuyển đổi cảm giác, "thân hình" nay được cảm nhận bằng xúc giác - "mặn" Sự mặn mòi của biển cả ngấm vào từng hơi thở trong cuộc sống, sự hòa quyện giữa con người với biển cả- nơi ngọn nguồn nuôi dưỡng Bốn câu thơ cuối đã nêu lên nỗi nhớ làng quê chân thành, tha thiết Đây là bài thơ trực tình- miêu tả gián tiếp, trực tiếp Sáng tạo những hình ảnh thơ chân thực, man mác, bay bổng, phong phú Tình cảm sâu nặng của tác giả đối với cảnh vật, cuộc sống, con người thấm đượm trong từng câu chữ, xuyên suốt chiều dài của tác phẩm Hình ảnh quê hương miền biển luôn in đậm trong tâm trí của tác giả tạo nên mạch cảm xúc dâng trào thể hiện qua những hình ảnh thân thương: con thuyền, buồm vôi, biển, cá bạc… Nỗi nhớ quê tha thiết, tình cảm luôn hướng về quê hương nên từ đầu đến cuối vị mặn của biển ám ảnh khôn nguôi trong tâm trí nhà thơ

* Khi con tu hú

a) Tác giả: Tố Hữu (1920-2002)

b) Hoàn cảnh ra đời:

- Năm 1839, khi tác giả đang bị giam trong nhà lao Thừa Phủ

c) Thể loại, PTBĐ: lục bát, biểu cảm

d) Nội dung: Lòng yêu cuộc sống, niềm khát khao tự do cháy bỏng của người

chiến sĩ cách mạng trong cảnh tù đày gian khổ

e) Nghệ thuật:

- Thể thơ lục bát giản dị, giàu nhạc điệu, mượt mà, uyển chuyển

- Lời thơ đầy ấn tượng

- Các biện pháp tu từ linh hoạt

f) Đoạn văn cảm nhận:

Bài thơ “Khi con tu hú” được sáng tác vào tháng 7 năm 1939, khi nhà thơ trong bước đường hoạt động cách mạng đang bị địch bắt giam tại nhà lao Thừa Phủ -Huế, trong không gian chật hẹp và tối tăm của nhà tù Bài thơ thể hiện niềm tin yêu cuộc sống thiết tha và sự khao khát tự do mãnh liệt của người chiến sĩ trong cảnh tù đầy Tâm trạng ấy ngày càng trở nên bức xúc khi nhà thơ hướng tâm hồn mình đến với bầu trời tự do ở bên ngoài Đặc biệt giữa không gian tự do ấy bỗng từ đâu vang ngân lên tiếng chim tu hú gọi bầy Than ôi! Tiếng chim tu hú như tiếng gọi của sự tự do, tiếng gọi của cuộc sống đang hối hả, dồn dập, thúc giục niềm khao khát tự do, thoát khỏi chốn ngục tù! Tác động của âm thanh này đặt vào sâu xa hơn tâm hồn người chiến sĩ trẻ 1 khao khát đất nước được hòa bình độc lập đang cháy hừng hực mãi không nguôi Bài thơ có 10 câu, câu mở đầu và câu kết thúc là tiếng kêu của con tu hú Âm hưởng tiếng kêu xuyên suốt toàn bài, tiếng kêu liên hồi, liên tiếp, khắc khoải và da diết Tiếng kêu vang vào thế giới chật chội, tăm tối của nhà lao lạnh lẽo và tâm trạng nhà thơ cứ trở nên bức bối Xuất phát từ tình yêu quê hương tha thiết Nhà thơ khao khát một tình yêu với đầy Nỗi nhớ quê hương không nguôi tất cả như in đậm, như khắc sâu trong tâm trí nhà thơ Cái độc đáo cái hay của nhà thơ ở chỗ là Bài thơ khép lại nhưng là nghe tiếng tu hú “cứ kêu”, kêu hoài, kêu mãi Bài thơ cho ta hiểu thêm nét đẹp trong tâm hồn người cộng sản trẻ tuổi Người chiến sĩ gang thép

Trang 3

đó có một thế giới nội tâm rất mực phong phú, rung động mãnh liệt với nhịp đập của cuộc sống, gắn bó thiết tha với quê hương ruộng đồng, và một niềm khát khao tự do cháy bỏng trong lòng vẫ không phai dần

* Ngắm trăng

a) Tác giả: Hồ Chí Minh( 1890-1969)

b) Hoàn cảnh ra đời: Năm 1942, trong nhà tù của Tưởng Giới Thạch

c) Thể loại, PTBĐ: Thất ngôn tứ tuyệt, biểu cảm

d) Nội dung:

Tình yêu thiên nhiên say mê và phong thái ung dung của Bác ngay trong cảnh lao tù ngục, cực khổ, tối tăm

e) Nghệ thuật:

- Lời thơ giản dị mà hàm súc

- Sự đối sánh, tương phản

f) Đoạn văn cảm nhận:

Bài thơ “Ngắm trăng” Hồ Chí Minh đã cho thấy tình yêu thiên nhiên đến say

mê và phong thái ung dung của Bác ngay cả trong cảnh ngục tù cực khổ, tối tăm Thật vậy, hai câu thơ đầu chính là tình yêu thiên nhiên mãnh liệt của Người Trong tù "không rượu cũng không hoa" nhằm nói lên cảm giác thiếu thốn hoa của người tù, nhớ tới rượu và hoa là muốn thưởng thức trọn vẹn cái đẹp Thi nhân khi gặp cảnh trăng đẹp hay đem rượu ra để thưởng thức hay viết nên 1 bài thơ về trăng một cách sống động Nhưng Bác được ngắm trăng trong cảnh lao tù chật chội, tù túng khác với thú vui tao nhã ngắm trăng của người xưa phải ở nơi khoáng đạt, tâm hồn thư thái, an nhàn, thanh tĩnh Tuy nhiên, Bác vẫn khẳng định là "Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ" cho thấy tình yêu thiên nhiên cùng sự hưởng thụ thiên nhiên của Bác Nếu như hai câu thơ trên là tình yêu thiên nhiên của Bác thì hai câu thơ cuối còn là cuộc vượt ngục tinh thần của Bác "Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ" là một tư thế chủ động giao hòa với thiên nhiên của Bác Từ "ngắm" cho thấy một sự hưởng thụ thiên nhiên thoải mái tuyệt đối Tư thế ngắm trăng của Bác cho thấy sự ung dung, không chút sợ hãi và tinh thần thép của Người trong hoàn cảnh ngục tù khó chịu như thế Đáp lại tình yêu của Bác, dường như trăng cũng "nhòm khe cửa ngắm nhà thơ" Hình ảnh trăng lúc này hết sức gắn bó, thân thiết, trở thành tri ân tri kỉ, tình cảm song phương bất chấp hoàn cảnh Cả hai đều chủ động tìm đến nhau Ở đây Bác

đã sử dụng nghệ thuật đối sánh, tương phản( câu 3) vừa có tác dụng thể hiện sức hút những vẻ đẹp khác nhau ở bài thơ này,vừa thể hiện sự hô ứng, cân đối thường thấy trong thơ truyến thống; nhân hoá (câu 4) để đối ý giũa 2 câu thơ, 2 chủ thể ( người ngắm trăng- trăng ngắm người), nhân hoá ( trăng vượt qua song sắt tìm đến với nhà thơ Hai câu thơ cho ta thấy sức mạnh tinh thần kỳ diệu của người chiến sĩ- thi sĩ Phía này là nhà tù đen tối, là hiện thực tàn bạo, còn ngoài kia là vầng trăng thơ mộng, là thế giới tự do, lãng mạn say lòng người; giữa hai thế giới đối cực ấy là cửa sắt của nhà tù Dường như nhà tù chỉ giam giữ được thân xác của Bác chứ không hề giam giữ được tinh thần của Bác Tâm trí của Bác dành trọn cho thiên nhiên, cho vầng trăng tươi đẹp Phải chăng đây chính là

Trang 4

cuộc vượt ngục tinh thần của người tù cách mạng? Hai câu thơ với cấu trúc sánh đôi cho thấy sự giao hòa tuyệt đối, song phương của Bác và thiên nhiên, trong

đó hình ảnh của Bác hiện lên vĩ đại, không chút sợ hãi và chan chứa tình yêu thiên nhiên Tác phẩm thể hiện sự tôn vinh cái đẹp của tự nhiên, của tâm hồn con người bất chấp hoàn cảnh ngục tù Tóm lại, bài thơ thể hiện tình yêu thiên nhiên đặc biệt sâu sắc, mạnh mẽ, vừa cho thấy một tinh thần thép, mà biểu hiện

ở đây là sự tự do nội tại, phong thái ung dung, vượt hẳn lên trên sự tàn bạo của ngục tù

2/ Tiếng Việt:

*Câu nghi vấn:

a) Đặc điểm hình thức và chức năng chính:

- Là câu có những từ nghi vấn (ai, gì, nào, sao, tại sao, đâu, bao giờ, bao nhiêu,

à, ư, hả, chứ, (có) không, (đã) chưa, ) hoặc có từ hay ( nối các vế có quan hệ lựa chọn)

-Có chức năng chính là dùng để hỏi

-Khi viết, câu nghi vấn kết thúc bằng dấu chấm hỏi

b) Những chức năng khác:

Đặc điểm hình thức và chức năng:

-Trong nhiều trường hợp, câu nghỉ vấn không dùng để hỏi mà dùng để câu khiến, khẳng định, phủ định, đe doa, bộc lộ tình cảm, cảm xúc, và không yêu cầu người đối thoại trả lời

-Nếu không dùng để hỏi thì trong một số trường hợp, câu nghi vấn có thể kết thúc bằng dấu chấm, dấu chấm than hoặc dấu chấm lửng

Vd:

Bác ăn cơm rồi à?

U đã đỡ đau chân chưa?

Món quà này đẹp nhỉ?

*Câu cầu khiến:

Đặc điểm hình thức và chức năng:

-Câu cầu khiến là câu có những từ cầu khiến như: hãy, đừng, chớ, đi, thôi, nào, hay ngữ điệu cần cầu khiến; dùng để ra lệnh, yêu cầu, đề nghị, khuyên bảo,

-Khi viết, câu cầu khiến thường kết thúc bằng dấu chấm than, nhưng khi ý cầu khiến không được nhấn mạnh thì có thể kết thúc bằng dấu chấm

VD:

-Hãy mở cửa sổ ra cho thoáng nào !

-Đừng nên hút thuốc là có hại cho sức khỏe

-Mở sách ra!

- Hãy đập trứng vào tô

* Câu cảm thán:

Đặc điểm hình thức và chức năng:

-Câu cảm thán là câu có những từ ngữ cảm thán như : ôi, than ôi, hỡi ơi, chao

ơi (ôi), trời ơi ; thay, biết bao, xiết bao, biết chừng nào, dùng để bộc lộ trực

Trang 5

tiếp cảm xúc của người nói (người viết) ; xuất hiện chủ yếu trong ngôn ngữ nói hằng ngày hay ngôn ngữ văn chương

-Khi viết, câu cảm thán thường kết thúc bằng dấu chấm than

VD:

-Than ôi! bệnh corona làm ảnh làm cha con mất việc rồi

-Tuyệt vời! Đó thực sự là cú sút đẹp

-Đẹp vô cùng Tổ quốc ta ơi!

Ngày đăng: 31/03/2022, 15:19

w