1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

sáng kiến môn giáo dục thể chất lớp 5

43 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 2,22 MB
File đính kèm sáng kiến môn giáo dục thể chất lớp 5.rar (2 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là sáng kiến môn giáo dục thể chất lớp 5, đã đạt giải cao trong kì thi giáo viên giỏi. SÁng kiến đ viết theo cấu trúc khoa học, đúng cấu trúc. Đề tài đẫ xây dựng được một số biện pháp tạo hứng thú cho học sinh trong việc tổ chức trò chơi vận động môn giáo dục thể chất lớp 5. Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá tính khả thi của một số biện pháp đã xây dựng và đánh giá hiệu quả của việc vận dụng một số biện pháp trong dạy học trò chơi vận động môn giáo dục thể chất lớp 5 cho học sinh.

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN 1: MỞ ĐẦU 2

1 Lí do chọn đề tài 2

2 mục đích nghiên cứu 1

3.Giả thuyết khoa học 1

4 đối tượng nghiên cứu 1

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Phương pháp nghiên cứu 2

7 Đóng góp của sáng kiến 2

8 Cấu trúc của sáng kiến 2

PHẦN 2: NỘI DUNG 3

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỎ THỰC TIỄN 3

1.1 Đặc điểm tâm lí của học sinh tiểu học 3

1.2 Đặc điểm sinh lí vận động của hs tiểu học 4

1.3 Thực trạng 6

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC PHẦN ĐỘI HÌNH ĐỘI NGŨ TRONG MÔN GIÁO DỤC THỂ CHẤT LỚP 2 8

2.1 Dạy đội hình đội ngũ bằng phương pháp trực quan 8

2.2 Dạy đội hình đội ngũ bằng phương pháp dùng lời 9

2.3 Dạy đội hình đội ngũ bằng phương pháp luyện tập thực hành 10

2.4 Dạy đội hình đội ngũ bằng biện pháp ghi nhớ 11

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 13

3.1 Mục đích và nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 13

3.2 Xây dựng giáo án thực nghiệm 13

3.3 Tiến hành thực nghiệm 13

3.4 Kết quả thực nghiệm 13

KẾT LUẬN 15

Trang 2

PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Giáo dục thể chất là một trong những mục tiêu giáo dục toàn diện của Đảng

và Nhà nước, nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân Việc hình thành hứng thú họctập môn giáo dục thể chất sẽ góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy và học họctập môn học này, tăng thêm sự yêu thích, ý thức đối với việc tập luyện tăng cườngsức khỏe

Trong chương trình môn học giáo dục thể chất ở bậc tiểu học, là một trongnhững nội dung giảng dạy quan trọng là hoạt động tổ chức trò chơi vận động Tròchơi nói chung và trò chơi vận động nói riêng là những hoạt động rất bổ ích, lí thú

và có sức hấp dẫn mạnh nhất là đối với tuổi trẻ, đặc biệt là học sinh tiểu học với ưuthế đặc thù: “Học mà chơi, chơi mà học” Trò chơi vận động là một trong nhữngphương tiện giáo dục được sử dụng kết hợp với tài tập thể chất góp phần củng cố

và nâng cao sức khỏe con người Trò chơi có vai trò hết sức quan trọng trong mộttiết học nói chung và môn giáo dục thể chất nói riêng, góp phần khơi gợi sự hứngthú ban đầu trong phần khởi động, giúp cho học sinh sẵn sàng chuyển trạng thái cơthể từ trạng thái tĩnh sang trạng thái vận động một cách nhanh nhất giúp cho quátrình khởi động diễn ra một cách hưng phấn và hiệu quả nhất và góp phần rất lớntrong việc thả lỏng, hồi tĩnh sau bài học giúp cơ thể hồi phục tốt sau khi tập luyện.Trò chơi vận động là hoạt động bắt buộc trong giảng dạy môn giáo dục thể chất

Là giáo viên trực tiếp giảng dạy tại trường Tiểu học ABC đã được 8 năm.Trong quá trình giảng dạy cũng như tiếp xúc với các em ở đây tôi nhận thấy khinói đến giờ học Giáo dục thể chất thì nhiều học sinh ham thích học, ham thích tậpluyện Tuy nhiên vẫn còn bộ phận nhỏ học sinh do điều kiện sống của các em chưađược tốt hay sự phát triển tâm sinh lý của các em còn chậm chưa đáp ứng được vớikiến thức nội dung bài học hay tác phong chưa nhạy bén, chưa linh hoạt, ý thức tựtin trong học tập còn hạn chế dẫn đến khi thực hiện các trò chơi còn thụ động, íthứng thú Bên cạnh đó trong quá trình giảng dạy môn Giáo dục thể chất các đồdùng dạy học ở hoạt động trò chơi còn thiếu, đơn giản chưa thu hút các em tham

Trang 3

gia nhiệt tình Hơn thế, trong chương trình học môn Giáo dục thể chất cấp tiểu học,hoạt động trò chơi từ lớp 1 đến lớp 5 có sự trùng lặp, được tổ chức chơi đi chơi lạinhiều lần, học sinh các lớp không hứng thú khi tham gia vào trò chơi vận độngtrong giờ học.

Xuất phát từ những lí do trên, tôi đã tiến hành thực hiện nghiên cứu sáng

kiến “Một số biện pháp tạo hứng thú cho học sinh trong việc tổ chức trò chơi

vận động môn giáo dục thể chất lớp 5”.

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu về hứng thú trong dạy học và hoạt động tổ chức trò chơi vận độngtrong môn giáo dục thể chất lớp 5 nhằm tạo hứng thú cho học sinh

3 Giả thuyết khoa học

Nếu xây dựng và vận dụng một số biện pháp mới trong việc tổ chức trò chơi

vận động môn giáo dục thể chất lớp 5 thì sẽ tạo được sự hứng thú cho học sinh

trong học tập

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu của sáng kiến

Hoạt động dạy học trò chơi vận động trong môn giáo dục thể chất lớp 5

* Phạm vi nghiên cứu sáng kiến

Hoạt động dạy học trò chơi vận động trong môn giáo dục thể chất lớp 5 tạitrường tiểu học ABC

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về hứng thú trong dạy học

- Nghiên cứu cơ sở lí luận về trò chơi vận động trong môn giáo dục thể chất

- Tìm hiểu thực trạng về hoạt động dạy học trò chơi vận động trong môn giáo dụcthể chất lớp 5

- Xây dựng một số biện pháp tạo hứng thú cho học sinh trong việc tổ chức trò chơivận động môn giáo dục thể chất lớp 5

Trang 4

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá tính khả thi của một số biện pháp đãxây dựng và đánh giá hiệu quả của việc vận dụng một số biện pháp trong dạy họctrò chơi vận động môn giáo dục thể chất lớp 5 cho học sinh.

6 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện các nhiệm vụ trên tôi sử dụng phối hợp các phương pháp nghiêncứu sau:

- Phương pháp nghiên cứu lí luận

- Phương pháp điều tra, quan sát thực tiễn

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm

7 Đóng góp của sáng kiến

Xây dựng được 4 biện pháp tổ chức trò chơi vận động làm tăng hứng thú chohọc sinh trong môn giáo dục thể chất lớp 5 và vận dụng các biện pháp đó vào dạyhọc một số bài trong môn Giáo dục thể chất lớp 5

8 Cấu trúc sáng kiến

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, cấu trúc đềtài gồm có ba chương:

Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn về tổ chức trò chơi vận động trong môn

giáo dục thể chất cho học sinh tiểu học

Chương 2 Xây dựng một số biện pháp tạo hứng thú cho học sinh trong việc

tổ chức trò chơi vận động môn giáo dục thể chất lớp 5

Chương 3 Thực nghiệm sư phạm

Trang 5

PHẦN 2: NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.1 Hứng thú là gì?

Hứng thú là một thuộc tính tâm lí - nhân cách của con người Hứng thú cóvai trò rất quan trọng trong học tập và làm việc, không có việc gì người ta khônglàm được dưới ảnh hưởng của hứng thú Cùng với tự giác, hứng thú làm nên tínhtích cực của nhận thức, giúp học sinh học tập đạt kết quả cao, có khả năng khơidậy mạch nguồn của sự sáng tạo

1.2 Đặc điểm tâm lí của HS tiểu học

HS tiểu học thuộc lứa tuổi từ 6 - 11 tuổi Ở lứa tuổi này các em có nhữngbiến đổi quan trọng trong cuộc sống, lao động, học tập, do đó các đặc điểm tâm lýthể hiện qua các hoạt động về nhận thức, tình cảm, cảm xúc có những thay đổi cơbản

• Sự say mê học tập chủ yếu là từ các động cơ mang ý nghĩa tình cảm nhưđược thầy cô, ông bà, bố mẹ, anh chị khen ngợi và động viên

• HS các lớp đầu cấp, có khuynh hướng ghi nhớ một cách máy móc, ít cókhả năng phân tích tự giác

- Khả năng phân tích các hiện tượng còn kém, nên dễ bị động khi được nhắcnhở, sai bảo, dẫn đến biểu hiện kém tự tin, kém khả năng kiềm chế hành vi, thái

• Ở các lớp cuối cấp (lớp 4,5), việc ghi nhớ được hình thành và phát triển

- Tư duy của các em vẫn còn mang tính chất hình ảnh cụ thể

- Các em sẽ tiếp thu dễ dàng và nhanh chóng hơn đối với các khái niệm cókèm theo minh hoạ (hình ảnh trực quan)

Trang 6

• Hoạt động vui chơi nói chung là một yêu cầu hết sức cần thiết, đây là nhucầu tự nhiên và rất cấp thiết không thể thiếu được trong cuộc sống và trong học tậpcủa trẻ

• Về mặt tình cảm, thái độ cư xử trong sinh hoạt, học tập của HS tiểu họcchưa ổn định Các em thường thay đổi tâm trạng, hay xúc động, sự vui-buồnthường gặp trong cùng một hoạt động, một thời điểm

• Các phẩm chất tâm lý, như tính độc lập, sự tự kiềm chế, tự chủ còn thấp

Trong hoạt động GDTC nói chung và giảng dạy TDTT nói riêng, GV cần

có những phương pháp sư phạm thích hợp, có những biện pháp tổ chức tập luyệnhợp lý để động viên kịp thời và phát huy tính tự giác- tích cực tập luyện của HS tạocho các em sự tin tưởng vào GV và vào chính bản thân mình để sẵn sàng đón nhậncác yêu cầu mới của bài tập và các hiểu biết khác

Các thủ thuật về phương pháp cần áp dụng trong giảng dạy TDTT cho HS tiểu họclà:

- Mô tả chính xác động tác bằng lời nói

- Làm mẫu động tác chính xác, đẹp, có sức lôi cuốn

- Tích cực vận dụng phương pháp trò chơi trong tập luyện

Bên cạnh đó, GV phải luôn luôn là tấm gương tốt về phẩm chất, hành động,lời nói, việc làm để các em theo đó học tập và củng cố lòng tin đối với thầy- côgiáo, bạn bè, gia đình và xã hội

1.3 Đặc điểm sinh lý vận động của HS tiểu học

1.3.1 Đặc điểm hệ cơ- xương

a) Hệ cơ

- Ở lứa tuổi HS tiểu học, cơ của các em có chứa nhiều nước, tỉ lệ các chất đạm, mỡcòn ít, nên khi hoạt động chóng mệt mỏi

- Sức mạnh cơ ở lứa tuổi này còn rất hạn chế

- Các nhóm cơ to phát triển sớm hơn các nhóm cơ nhỏ

- Lực cơ của HS tiểu học được tăng dần theo lứa tuổi

b) Hệ xương

Trang 7

- Tốc độ phát triển của xương nhanh hơn so với các bộ phận khác của cơ thể, đặcbiệt là xương ở tay và chân

- Cấu trúc xương và khớp chưa được phát triển hoàn chỉnh, vững chắc

- Các đốt xương ở cột xương sống có độ dẻo cao, do còn nhiều sụn nên chưa thànhxương hoàn toàn và còn ở trong giai đoạn hình thành đường cong sinh lý

1.3.2 Đặc điểm hệ tuần hoàn

- Nhịp tim nhanh (mạch đập thông thường là: 85 - 90 lần/phút) Khi hoạt động vậnđộng hoặc có trạng thái lo lắng thì nhịp tim đập nhanh hơn, dồn dập hơn

- Lượng máu mỗi lần tim co bóp đưa vào động mạch (LLTT) được tăng dần:

1.3.3 Đặc điểm hệ hô hấp

- Ở lứa tuổi HS tiểu học, hệ hô hấp đang ở thời kỳ hoàn thiện, các em đang dần dầntạo nên thói quen chuyển từ thở kiểu bụng sang thở kiểu ngực Lồng ngực pháttriển chưa hoàn thiện - Độ giãn nở của các phế nang (túi phổi) còn thấp, nên nhịpthở còn nông Số lượng phế nang tham gia mỗi lần hô hấp còn ít, nên lượng ôxyđược đưa vào máu không cao

- Lượng không khí chứa đựng trong phổi còn thấp (ở trẻ 8 tuổi là: 1,699 lít, ởngười trưởng thành là: 4 lít

- Về lượng không khí phổi, dung tích sống được tăng dần theo sự phát triển lứatuổi của trẻ

- Tần số hô hấp của HS tiểu học tương đối cao

1.3.4 Đặc điểm hệ thần kinh

Trang 8

- Ở lứa tuổi HS tiểu học, hoạt động phân tích và tổng hợp của HS kém nhạy bén,nhận thức các hiện tượng biến đổi của xã hội còn mang tính chủ quan, cảm tính, bịđộng

- Khả năng bắt chước một cách máy móc, khả năng phân biệt, tính sáng tạo cònhạn chế

- Ở lứa tuổi HS tiểu học, thường có một số loại hình thần kinh sau:

1.4.1 Nguồn gốc và bản chất xã hội của trò chơi

Trò chơi vận động là một trong những hoạt động của con người nó nẩy sinh

từ lao động sản xuất Nói cách khác: những hoạt động tự nhiên, xã hội của conngười là nguồn gốc phát sinh ra trò chơi Qua từng thời kỳ lịch sử- xã hội loàingười, khi phương thức và lực lượng sản xuất phát triển thì nội dung, cấu trúc củatrò chơi cũng thay đổi theo để đảm bảo sự hoà nhập, yêu cầu ngày càng cao của xãhội loài người Từ đó trò chơi được phát triển rất đa dạng và ngày càng phong phú,tác dụng của nó đối với đời sống xã hội cũng được con người chú ý nhiều hơn Tròchơi luôn luôn mang tính chất hiện thực của xã hội loài người Ở mức độ nhấtđịnh, trò chơi phản ánh sự phát triển của các phương thức sản xuất và các sinh hoạtvăn hoá, giáo dục của xã hội đương thời Dưới chế độ xã hội phong kiến, một sốtrò chơi như “Khênh kiệu”, “Chơi ô ăn quan”… nhằm đề cao và củng cố quyềnhành của giai cấp thống trị Trong thời kỳ kháng chiến, trẻ em thường chơi tập trậngiả, trò chơi “Bắn máy bay”, “Bắt giặc lái nhảy dù”… Những trò chơi này đã thểhiện được một số mặt của cuộc sống sản xuất và chiến đấu của nhân dân ta trong

Trang 9

từng thời kỳ Mỗi thời kỳ phát triển lịch sử của Đất nước, trò chơi có những thayđổi nhất định để phù hợp với yêu cầu giáo dục của xã hội Ngày nay trò chơi đượcphân loại và sử dụng trong giáo dục, văn hoá, nghệ thuật, rèn luyện nâng cao sứckhoẻ cho con người và các trò chơi vận động được những người làm công tác giáodục thể chất hết sức quan tâm Trò chơi vận động là một trong những phương tiệngiáo dục thể chất mà trong hoạt động của nó có tính quy tắc và diễn ra trong mộtgiới hạn không gian, thời gian được xác lập

1.4.2 Một số đặc điểm của trò chơi

a Hầu hết những trò chơi vận động được sử dụng trong giáo dục thể chất ở trường tiểu học đã mang sẵn tính mục đích một cách rõ ràng.

b Tổ chức hoạt động trò chơi trên cơ sở chủ đề có hình ảnh hoặc là những quy ước nhất định để đạt mục đích nào đó, trong điều kiện và tình huống luôn thay đổi hoặc thay đổi đột ngột

c Để đạt mục đích (giành chiến thắng) thì có nhiều cách thức (phương pháp) tổ chức trò chơi khác nhau

d Trò chơi mang tính tư tưởng rất cao

Trong quá trình chơi HS tiếp xúc với nhau, cá nhân phải hoàn thành nhiệm

vụ của mình trước tập thể ở mức độ cao, tập thể có trách nhiệm động viên, giúp đỡ

cá nhân hoàn thành nhiệm vụ của mình, vì vậy tình bạn, lòng nhân ái, tinh thần tậpthể v.v… được hình thành Cũng trong quá trình chơi, đã xây dựng cho HS tácphong khẩn trương, nhanh nhẹn, tính kỷ luật, sự sáng tạo để hoàn thành nhiệm vụvới chất lượng cao v.v…góp phần giáo dục đạo đức và hình thành nhân cách cho

Trang 10

hướng dẫn hay không, các em vẫn tìm mọi cách và tranh thủ mọi thời gian và điềukiện để chơi Khi được chơi, các em đã tham gia hết sức tích cực và chủ động

f Trò chơi vận động mang đặc tính thi đua rất cao

Trong quá trình tham gia vào trò chơi, các em biểu lộ tình cảm rất rõ ràng,như niềm vui khi thắng lợi và buồn khi thất bại, vui mừng khi thấy đồng đội hoànthành nhiệm vụ, bản thân thấy có lỗi khi không làm tốt phần việc của mình v.v…

Vì tập thể mà các em phải khắc phục khó khăn, phấn đấu hết khả năng để mang lạithắng lợi cho đội trong đó có bản thân mình Mỗi trò chơi thường có những qui tắc,luật lệ nhất định, nhưng cách thức để đạt được đích lại rất đa dạng, trong khi đóbản thân trò chơi lại mang tính thi đua và sự tự giác rất cao Vì vậy, khi đã thamgia trò chơi, HS thường vận dụng hết khả năng sức lực, sự tập trung chú ý, tríthông minh và sự sáng tạo của mình

g Khả năng định mức và điều chỉnh lượng vận động khi thực hiện trò chơi vận động bị hạn chế

Để tránh các em ham chơi quá, chơi đến mức độ quên cả ăn, học, chơi đếnmức quá sức dẫn đến mệt mỏi, trong trường hợp như vậy không những không cólợi về mặt sức khoẻ mà ngược lại còn có hại cho sức khoẻ Đây là một đặc điểmquan trọng theo khía cạnh không hay, mà GV phải rất chú ý khi tổ chức cho các

em chơi ở trường và hướng dẫn cho các em chơi ở gia đình sao cho hợp lý

1.4.3 Phân loại trò chơi

Có thể chia trò chơi ra làm ba nhóm chính:

+ Trò chơi sáng tạo

+ Trò chơi vận động

+ Trò chơi thể thao (các môn bóng)

Nhóm trò chơi vận động cũng rất phong phú đa dạng, vì vậy có nhiều cáchphân loại khác nhau căn cứ trên những quan điểm khác nhau Dưới đây là một sốcách phân loại trò chơi vận động:

a Các loại trò chơi được phân loại theo căn cứ vào những động tác cơ bản của quá trình chơi

Trang 11

Theo cách này, ta có: Trò chơi về chạy, trò chơi về nhảy, ném, leo trèo,mang vác… và những trò chơi phối hợp hai hay nhiều hoạt động trên với nhau.Mục đích của cách phân loại này là dể cho người dạy dễ chọn lọc và sử dụng trongviệc rèn luyện những kỹ năng vận động cơ bản cho HS

b Căn cứ vào sự phát triển các tố chất thể lực trong quá trình chơi

Ta có: Trò chơi rèn luyện sức nhanh, trò chơi rèn luyện sức mạnh, trò chơirèn luyện sức bền.v.v… Tuy nhiên, cách phân loại này đôi khi không được chínhxác, mà chỉ là tương đối, bởi một trò chơi không chỉ rèn luyện một tố chất cơ bản,

mà có khi hai, ba tố chất

c Các loại trò chơi được phân loại theo căn cứ vào khối lượng vận động

Căn cứ vào mức độ yêu cầu và sự tác động của lượng vận động (chủ yếu làkhối lượng vận động), ta có thể phân ra các loại sau:

• Trò chơi “tĩnh”: Các trò chơi có khối lượng vận động không đáng kể, vídụ: Trò chơi : “Bịt mắt bắt dê”, “Tìm người chỉ huy”.v.v…

• Trò chơi "động": Các trò chơi có khối lượng vận động ở mức trung bình vàcao, ví dụ: Các trò chơi “chạy tiếp sức” “Bỏ khăn”, “Lò cò tiếp sức” Tuy nhiên,cách phân loại này cũng chỉ là tương đối, bởi vì: khối lượng và cường độ vận độngcủa một trò chơi có thể tăng, giảm do cách tổ chức và tài nghệ điều khiển củangười điều khiển trò chơi

d Các loại trò chơi được phân loại theo căn cứ vào yêu cầu về công tác tổ chức thực hiện trò chơi

Ta có: Trò chơi chia thành đội, không chia đội và trò chơi có một nhómchuyển tiếp ở giữa

• Trò chơi chia thành đội được tiến hành chơi với điều kiện số người chơicủa các đội phải ngang nhau, thậm chí số lượng các em nữ, các em nam cũng phảibằng nhau ở các đội chơi, ví dụ: “Kéo co”, “Lò cò tiếp sức”… Luật lệ của nhữngtrò chơi này thường nghiêm và chặt chẽ hơn Như trò chơi “kéo co” phải quy định

từ cách đặt chân ở vạch phân chia, cách cầm dây.v.v… Mỗi đội phải hành độngđồng loạt với sự phối hợp chính xác, vì đôi khi sự thắng - thua là kết quả của sự

Trang 12

hợp đồng chặt chẽ ở mức khác nhau của mỗi đội Những trò chơi này có tác dụnggiáo dục tinh thần tập thể, tính tổ chức kỷ luật rất tốt.

• Trò chơi không chia đội lại có thể chia ra:

- Trò chơi có người điều khiển

- Trò chơi không có người điều khiển

• Loại trò chơi có nhóm phụ ở giữa là những trò chơi vừa mang tính chất cánhân, nhưng khi cần thiết có thể hợp thành những nhóm, tuy nhiên sự kết hợp ởđây không thường xuyên mà là ngẫu nhiên Ví dụ như trò chơi “Chim về tổ”,

“Người thừa thứ 3”.…

1.4.4 Ý nghĩa và tác dụng của trò chơi vận động

Trò chơi vận động là một trong những phương tiện giáo dục thể chất nóđược sử dụng kết hợp với bài tập thể chất và rèn luyện trong tự nhiên góp phầncủng cố và nâng cao sức khoẻ của con người Thông qua trò chơi vận động gópphần giáo dục khả năng nhanh nhẹn, khéo léo, thông minh, đức tính thật thà, tínhtập thể nhằm giáo dục các mặt đức, trí, thể, mỹ v.v… đào tạo con người phát triểnmột cách toàn diện Trò chơi vận động còn là một phương tiện vui chơi giải trí,một hình thức nghỉ ngơi tích cực, một hoạt động có tính văn hoá góp phần nângcao đời sống tinh thần cho con người Về phương diện sinh lý vận động: Trò chơivận động giải toả tâm lý tạo nên sự lạc quan yêu đời, vui tươi thoải mái góp phầngiảm các căng thẳng thần kinh, giảm và chống đỡ được một số bệnh tật Với tácdụng to lớn của trò chơi vận động nên đã được nhân dân ta sử dụng phục vụ trongnhững ngày hội, ngày tết, ngày lễ và đặc biệt trong các dịp trại hè của HS các cấp.Trong trường học, trò chơi được sử dụng kết hợp với bài tập thể chất, nó là mộttrong những nội dung của chương trình thể dục ở cả ba cấp học Căn cứ vào đặcđiểm của từng trò chơi được sử dụng vào các phần khởi động, phần cơ bản hay hồitĩnh của mỗi tiết học môn Giáo dục thể chất, hoặc những giờ chính khoá chuyên vềtrò chơi vận động Trò chơi có sức lôi cuốn người học, người tham gia chơi thựchiện một cách tự nguyện, tạo không khí vui tươi, lành mạnh, hào hứng có khi quên

Trang 13

cả sự mệt nhọc Tuy nhiên, do khối lượng và cường độ vận động khó định lượngmột cách chính xác, nên trò chơi vận động cũng có những mặt hạn chế nhất định

1.4.5 Các trò chơi vận động cho HS tiểu học

a Vị trí, tính chất của trò chơi vận động cho HS tiểu học

Các hình thức giáo dục thể chất đều có sự quan hệ mật thiết với nhau Vì vậytrong giáo dục thể chất nói chung và cho HS tiểu học nói riêng, trò chơi vận động

là một phương pháp tập luyện, hoạt động phối hợp một cách hữu cơ với việc rènluyện thân thể Căn cứ vào đặc điểm phát triển cơ thể, tâm lý và sinh lý khác nhaucủa lứa tuổi, trình độ rèn luyên thân thể và các điều kiện khách quan khác của HStrong từng cấp học, lớp học cụ thể mà trò chơi vận động có vị trí nhất định của nó.Trong mỗi nội dung chương trình cấp học, trò chơi vận động có nội dung và tínhchất khác nhau, tức là có hình thức tổ chức và phương pháp giảng dạy khác nhau.Trò chơi nói chung và trò chơi vận động nói riêng là một hình thức giáo dục thểchất được vận dụng rộng rãi trong gia đình, trong các cấp học phổ thông cũng như

ở các trường chuyên nghiệp Trong các trường tiểu học, trò chơi vận động chiếmmột vị trí quan trọng trong chương trình giảng dạy GDTC, nó phù hợp với đặcđiểm phát triển tâm- sinh lý lứa tuổi thiếu niên- nhi đồng, góp phần tích cực vàoviệc đẩy mạnh sự phát triển toàn diện cơ thể HS Trò chơi vận động được sử dụngrộng rãi trong các giờ học GDTC, trong các hoạt động nội khoá và ngoại khoá,trong những thời gian rảnh rỗi và trước giờ lên lớp hàng ngày Trong trường tiểuhọc ở một góc độ nào đó, trò chơi vận động là một biện pháp giáo dục chính đểphát triển thể lực cho các em, các nội dung thể dục khác chỉ là bổ trợ Phần nhiềucác trò chơi vận động ở bậc tiểu học là những trò chơi đơn giản, còn ở bậc THCS

và PTTH thì áp dụng các trò chơi phức tạp hơn, mang nhiều tính chất thi đua hơn

so với các trò chơi ở bậc tiểu học Trò chơi cũng được áp dụng rộng rãi trong cáchoạt động Đội, trong tham quan hay sinh hoạt của Đội thiếu niên tiền phong Căn

cứ vào mục đích, nhiệm vụ giáo dục thể chất và các điều kiện cụ thể, đặc điểm tâm

- sinh lý của từng đối tượng khác nhau để biên soạn và giảng dạy trò chơi chophù hợp, góp phần tích cực vào việc nâng cao sức khoẻ cho HS

Trang 14

b Đặc điểm của trò chơi vận động cho HS tiểu học

Đối với HS tiểu học, trò chơi vận động được sử dụng tích cực để giảng dạynhững động tác (kỹ năng vận động cơ bản): Đi, chạy, nhảy, ném, vượt chướng ngạivật Nội dung trò chơi ở các lứa tuổi (các lớp) có khác nhau Ở các lớp đầu cấphọc trò chơi theo xu hướng hình thành thói quen vận động, khả năng giao tiếp, cácmối quan hệ cá nhân với tập thể tạo cho HS môi trường hoạt động tự nhiên, kíchthích và đảm bảo sự phát triển thể chất một cách bình thường Với HS các lớp caohơn (cuối bậc tiểu học) trò chơi vận động có đặc điểm mang nhiều ý nghĩa đến sựphát triển các tố chất thể lực, khối lượng vận động tăng, thời gian chơi kéo dài hơn,cần huy động nhiều các nhóm cơ toàn thân tham gia Qua đó củng cố, tăng cườngsức khoẻ cho HS

1.5 Chương trình môn giáo dục thể chất cấp tiểu học

Trong chương trình học môn Giáo dục thể chất cấp tiểu học, hoạt động tròchơi vận động từ lớp 1 đến lớp 5 có sự trùng lặp, được tổ chức chơi đi chơi lạinhiều lần Cụ thể nội dung chương trình trò chơi vận động từ khối lớp 1 đến khốilớp 5 như sau:

T

T

Trang 15

Y

Bảng 1.1 Thống kê các trò chơi trong chương trình

(Y là trò chơi học mới, X là trò chơi học lại)

Qua bảng thống kê cho thấy nội dung chương trình trò chơi vận động từ khốilớp 1 đến khối lớp 5 có sự trùng lặp nhiều, dẫn đến tình trạng học sinh càng ở lớpcao hơn càng chán nản, không hứng thú khi được giáo viên tổ chức cho chơi lạicác trò chơi vận động này Bởi vì, theo kết quả nghiên cứu đặc điểm tâm sinh lícủa học sinh lớp 5, ở lứa tuổi này, khả năng chú ý có chủ định và nhận thức củacác em đã cao hơn rất nhiều so với các lớp dưới Vì thế các em có thể chơi và hứngthú chơi các trò chơi dài và khó hơn, thích sự mới mẻ hơn

1.6 Thực trạng giảng dạy môn giáo dục thể chất tại trường tiểu học ABC

Khi nói đến giờ học Giáo dục thể chất thì nhiều học sinh ham thích học, hamthích tập luyện Tuy nhiên vẫn còn bộ phận nhỏ học sinh do điều kiện sống của các

em chưa được tốt hay sự phát triển tâm sinh lý của các em còn chậm chưa đáp ứngđược với kiến thức nội dung bài học hay tác phong chưa nhạy bén, chưa linh hoạt,

ý thức tự tin trong học tập còn hạn chế dẫn đến khi thực hiện các trò chơi còn thụđộng, ít hứng thú

Trang 16

Bên cạnh đó trong quá trình giảng dạy môn Giáo dục thể chất các đồ dùngdạy học ở hoạt động trò chơi còn thiếu, đơn giản chưa thu hút các em tham gianhiệt tình Ví dụ: Mô hình ngựa trong Trò chơi “Đua ngựa”; Tín gậy trong trò chơi

“Trao tín gậy”; Cọc đích trong trò chơi “Tung vòng vào đích”

Khảo sát học sinh khối lớp 5 tại trường tiểu học ABC về mức độ hứng thúkhi tham gia chơi các trò chơi vận động trong giờ học môn thể dục, kết quả nhưsau:

Bảng1.2Kết quả điều tra mức độ hứng thú của HS trước khi thực hiện biện pháp

Nhìn vào bảng khảo sát trên, ta thấy khoảng hơn 40% học sinh các lớpkhông hứng thú khi tham gia vào trò chơi vận động trong giờ học

Trang 17

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Đối với các em HS tiểu học, tập luyện TDTT có hệ thống, hợp lí và đúngphương pháp sẽ thúc đẩy sự phát triển cuả cơ thể Các hệ thống cơ, xương, hệ tuầnhoàn, hệ hô hấp, hệ thống thần kinh được phát triển tốt, cơ quan bài tiết hoạt độngtốt hơn, lực co bóp của tim mạnh lên, năng lực hoạt động của phổi được tăng lênmạnh, cơ thể có khả năng thích ứng với hoàn cảnh luôn luôn thay đổi của mọi thờitiết bên ngoài, nâng cao hơn năng lực đề kháng với bệnh tật Tập luyện TDTTtrong đó có tham gia tích cực vào các trò chơi vận động còn có tác dụng tốt đến sựphát triển của các kĩ năng thực dụng như: đi, chạy, nhảy, ném, bắt, leo trèo, mangvác v.v Đây là cơ sở chuẩn bị vốn tri thức vận động cho HS tham gia lao động,học tập tốt hơn, đồng thời cũng bồi dưỡng tính tích cực, tính kỉ luật, tính chủ độngsáng tạo và những hành vi đạo đức tốt

Trong chương trình học môn Giáo dục thể chất cấp tiểu học, hoạt động tròchơi từ lớp 1 đến lớp 5 có sự trùng lặp, được tổ chức chơi đi chơi lại nhiều lầnkhiến HS lớp 5 không hứng thú khi tham gia chơi các trò chơi này; đồ dùng dạyhọc ở hoạt động trò chơi còn thiếu, đơn giản chưa thu hút các em tham gia nhiệttình Do đó, giáo viên cần áp dụng một số biện pháp để nâng cao chất lượng giờhọc, tạo được hứng thú cho học sinh khi tham gia vào các trò chơi vận động trongcác giờ học môn giáo dục thể chất lớp 5

Trang 18

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP TẠO HỨNG THÚ CHO HỌC SINH TRONG TỔ CHỨC TRÒ CHƠI VẬN ĐỘNG MÔN GIÁO DỤC

THỂ CHẤT LỚP 5 2.1 Tạo không khí vui tươi, sôi nổi ngay từ đầu tiết học

2.1.1 Tạo không khí qua thái độ, cử chỉ, lời nói của giáo viên

Để có một giờ học GDTC thật thoải mái mà không bị căng thẳng thì người giáoviên luôn tạo ra không khí vui vẻ,nét mặt tươi tắn, cử chỉ điệu bộ nhanh nhẹn vàlời nói nhẹ nhàng, tác phong chuẩn mực và ăn mặc trang phục gọn gàng Giáoviên luôn tạo cho các em sự gần gũi thân thiện và có thể nói với các em một cáchthân mật, hóm hỉnh để thu hút các em học sinh

2.1.2 Giới thiệu dẫn dắt trò chơi ấn tượng

Ở bước giới thiệu trò chơi giáo viên có thể linh hoạt một hoặc nhiều phươngpháp để giới thiệu Chẳng hạn như phương pháp sử dụng lời nói, giáo viên có thểtrò chuyện, dẫn dắt ngắn gọn đến nhân vật gắn với trò chơi mà mình sắp đượcchơi Giáo viên có thể kết hợp dùng phương pháp trực quan như tranh ảnh minhhọa để học sinh dễ hình dung được động tác Tóm lại khi tổ chức trò chơi để gâyhứng thú cho các em thì giáo viên phải biết lựa chọn phương pháp giới thiệu, dẫndắt vào trò chơi ngắn gọn, dễ hiểu, ấn tượng và hấp dẫn khơi gọi sự tò mò muốnđược tìm hiểu khám phá của học sinh

Ví dụ 1: Bài 30: Bài thể dục phát triển chung - Trò chơi “ Thỏ nhảy”

Ở trò chơi “ Thỏ nhảy” này giáo viên sử dùng lời nói dẫn dắt vào trò chơi.Thầy hỏi học sinh “ Con gì có cái tai dài dài, thích ăn cà rốt” Đố bạn nào biết conthỏ nó nhảy như thế nào? Và cuối cùng giáo viên dẫn vào trò chơi, đây là trò chơi “Thỏ nhảy” Tiết học này thầy trò mình cùng chơi trò chơi này nhé

Ví dụ 2: Bài 37: Trò chơi “ Đua ngựa”

Trò chơi “ Đua ngựa” giáo viên sử dụng phương pháp trực quan và phươngpháp dùng lời nói như làm động tác phi ngựa Sau đó thầy hỏi học sinh đây là điệuchạy của con vật nào? Thầy trò mình cùng chơi trò chơi “ Đua ngựa” nhé

Trang 19

2.2 Chuẩn bị và làm bổ sung đồ dùng phục vụ việc tổ chức trò chơi vận động

Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học là yếu tố quan trọng Nó cótác dụng phụ trợ đắc lực cho người giáo viên khi tiến hành dạy học và tổ chức tròchơi vận động trong môn giáo dục thể chất Đồ dùng dạy học dùng để minh họa,làm rõ hơn, cụ thể hơn nội dung của bài học Để có hiệu quả tốt trong các giờ họcthì việc sử dụng và khai thác đồ dùng dạy học có hiệu quả là một trong những nhân

tố quan trọng góp phần không nhỏ giúp cho tiết học thành công, lớp học trở nênsinh động hơn, học sinh sẽ thích học hơn và điều quan trọng là các em sẽ tiếp thukiến thức tốt hơn, vì đối với học sinh tiểu học là lứa tuổi hiếu động, thích quan sát,

tò mò khám phá những điều mới mẻ qua những hình ảnh, vật dụng, mô hình sinhđộng xung quanh Tuy nhiên, các đồ dùng dạy học trong môn giáo dục thể chất vẫncòn hạn chế về mặt số lượng và chất lượng Mặt khác, trong chương trình hiệnhành chưa có sách giáo khoa nên học sinh không có các tư liệu và mô hình môphỏng tìm hiểu về trò chơi Do vậy, trong quá trình dạy học, giáo viên gặp phảikhó khăn trong việc hướng dẫn, tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh; họcsinh khó tiếp cận nội dung bài học

Để đáp ứng yêu cầu đổi mới trong quá trình dạy học, nâng cao chất lượngdạy học bộ môn giáo dục thể chất, tạo hứng thú cho học sinh, tôi đã thực hiện việcchuẩn bị đầy đủ và khai thác hiệu quả đồ dùng hiện có đồng thời tự làm để bổ sungthêm các đồ dùng dạy học còn thiếu Sau đây là một số đồ dùng tôi tự làm bổ sungvào trong hoạt động tổ chức trò chơi vận động cho học sinh lớp 5:

+ Về tranh ảnh trong các trò chơi vận động:

Cách 1: Phóng to ảnh về các trò chơi trong sách giáo viên dạng khổ lớn

Hình 2.1 Tranh phóng to trò chơi “Đua ngựa”

Cách 2: Vẽ hình mô phỏng về các trò chơi

Hình 2.2 Tranh vẽ mô phỏng trò chơi “Nhảy ô tiếp sức”

Trang 20

Cách 3: Quay/sưu tầm video minh họa về trò chơi

Hình 2.3 Video hướng dẫn chơi trò chơi “Chuyển đồ vật”

+ Về dụng cụ, mô hình: Có thể tự làm mô hình, dụng cụ từ các vật liệu tái chế, dễ

tìm, thân thiện với môi trường Ví dụ: mô hình ngựa làm từ giấy bìa cứng, gỗ hoặctre; tín gậy có thể làm từ gỗ hoặc tre, cọc đích có thể làm từ giấy bìa cứng và tre,gỗ

Trang 21

Hình 2.4 Mô hình ngựa – Trò chơi “Đua ngựa”

Hình 2.5 Bảng đích – Trò chơi “Tung vòng vào đích”

Ngày đăng: 28/03/2022, 15:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w