SKKN Vật lý hạt nhân: Đề tài này không phải là một đề tài mới vì đã có rất nhiều giáo viên đã thực hiện. Nhưng đặc thù của trường tôi là trường bán công chuyển lên thành công lập nên số lượng học sinh giỏi hầu như rất ít, chứ không giống như các trường chuyên hay các trường lớn trong tỉnh số học sinh giỏi nhiều. Để có thể đào tạo được học sinh giỏi tham gia kì thi cấp tỉnh và đạt giải là cả một khoảng thời gian dài đầu tư nghiên cứu. Qua nhiều năm giảng dạy kết hợp với đổi mới phương pháp dạy học theo chủ trương của ngành, đồng thời học hỏi ở đồng nghiệp tôi đã rút cho mình một số kinh nghiệm để bồi dưỡng học sinh giỏi chuẩn bị kiến thức cho học sinh tham gia kì thi học sinh giỏi cấp tỉnh phù hợp với trình độ học sinh của trường mình.
Trang 1Tôi là giáo viên được phân công giảng dạy bồi dưỡng HS giỏi của trường Trước đây tôi thực
sự rất lo lắng vì điểm số đầu vào của trường rất thấp, số lượng học sinh giỏi hầu như rất ít và học sinh thường không thích tham gia thi học sinh giỏi Để có thể hoàn thành nhiệm vụ của mình tôi luôn phải sưu tầm các tài liệu bồi dưỡng học sinh giỏi của các trường trong tỉnh và của các trường tỉnh khác qua internet, đồng thời học hỏi ở đồng nghiệp, bạn bè về phương pháp dạy bồi dưỡng học sinh giỏi và từ đó tôi đã rút ra cho mình những kinh nghiệm giảng dạy cũng như biên soạn chomình một tài liệu giảng dạy phù hợp với đối tượng học sinh của trường mình nhằm đáp ứng đủ yêu cầu của kỳ thi học sinh giỏi hằng năm của tỉnh
Đó là lí do tôi chọn đề tài: “Phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi và nội dung bồi dưỡng học sinh giỏi phần Vật lý hạt nhân.” cho sáng kiến kinh nghiệm của mình
II Lịch sử đề tài:
Đề tài này không phải là một đề tài mới vì đã có rất nhiều giáo viên đã thực hiện Nhưng đặc thù của trường tôi là trường bán công chuyển lên thành công lập nên số lượng học sinh giỏi hầu như rất ít, chứ không giống như các trường chuyên hay các trường lớn trong tỉnh số học sinh giỏi nhiều Để có thể đào tạo được học sinh giỏi tham gia kì thi cấp tỉnh và đạt giải là cả một khoảng thời gian dài đầu tư nghiên cứu
Qua nhiều năm giảng dạy kết hợp với đổi mới phương pháp dạy học theo chủ trương của ngành, đồng thời học hỏi ở đồng nghiệp tôi đã rút cho mình một số kinh nghiệm để bồi dưỡng học sinh giỏi chuẩn bị kiến thức cho học sinh tham gia kì thi học sinh giỏi cấp tỉnh phù hợp với trình
độ học sinh của trường mình
III Phạm vi nghiên cứu : Đề tài sáng kiến kinh nghiệm cấp tỉnh.
IV Đối tượng: Là học sinh các trường THPT
V Mục đích nghiên cứu:
- Với đối tượng là những học sinh của các trường chuyển từ hệ bán công sang công lập nên đầu vào còn thấp hơn rất nhiều so với các trường công lập Do đó nhiệm vụ của giáo viên đặt ra là phải dạy như thế nào để cho học sinh có thể nắm vững kiến thức cơ bản từ đó mở rộng và nâng cao kiến thức để giúp các em đủ khả năng đi thi học sinh giỏi
- Nhằm phát động phong trào học tập của học sinh trong trường, giúp học sinh nâng cao
Trang 2GV: Đinh Thị Nhã Phương
kiến thức, kỹ năng tìm ra phương pháp học bộ môn từ đó yêu thích học bộ môn Vật lý hơn nữa
- Giúp cho giáo viên nâng cao trình độ chuyên môn cũng như phương pháp dạy học và có một tài liệu phù hợp hỗ trợ trong quá trình giảng dạy bộ môn
- Tăng cường trao đổi học tập kinh nghiệm với đồng nghiệp trong đơn vị và các trường bạn trong tỉnh
VI Tổ chức thực hiện đề tài:
1 Nội dung của đề tài:
PHẦN I : PHƯƠNG PHÁP BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI MÔN VẬT LÝ
PHẦN II: TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI MÔN VẬT LÝ PHẦN “VẬT LÝ HẠT NHÂN” LỚP 12
CHƯƠNG I: TÓM TẮT GIÁO KHOA.
CHƯƠNG II : CÁC DẠNG TOÁN VẬT LÍ HẠT NHÂN
CHƯƠNG III : CÁC BÀI TOÁN KIỂM TRA CUỐI KỲ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI.
2 Biện pháp thực hiện đề tài:
- Theo kế hoạch của trường, giáo viên vạch ra cho mình kế hoạch bồi dưỡng học sinh giỏi bộ môn trong năm học Trong kế hoạch cần thể hiện chi tiết những công việc cũng như phương pháp dạy học cần làm trong việc bồi dưỡng Từ đó giáo viên bắt đầu sắp xếp công việc thực hiện theo đúng kế hoạch, tiến trình đã đưa ra
- Để có thể giảng dạy tốt thì một trong những công cụ không thể thiếu đó là tài liệu học tập Giáo viên phải biết chọn lựa sách tham khảo, bám sát cấu trúc đề thi học sinh giỏi và biên soạncho mình một tài liệu phù hợp cho đối tượng học sinh của mình
- Trong quá trình giảng dạy, giáo viên cần dạy theo chủ đề Mỗi chủ đề cần tóm tắt những kiến thức trọng tâm cho học sinh GV lưu ý kỹ cho HS điều kiện vận dụng các kiến thức và lưu ý cho HS biết cách tránh các lỗi sai thường gặp
- Giáo viên cho học sinh vận dụng ngay bài tập sau mỗi chủ đề vừa dạy và làm những đề thi của các năm trước
- Cuối kỳ bồi dưỡng giáo viên cho làm các đề kiểm tra thử bám theo cấu trúc của Sở GD & ĐT
B NỘI DUNGPHẦN I : PHƯƠNG PHÁP BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI MÔN VẬT LÝ
Trang 3- Đầu vào của trường còn thấp nên tỉ lệ học sinh giỏi của trường rất ít.
- Hoàn cảnh gia đình học sinh còn khó khăn, nhà xa nên việc đi lại ảnh hưởng đến thời gian học
- Học sinh thường quan tâm nhiều hơn cho việc thi Đại học nên sợ mất nhiều thời gian khi đầu tư cho thi học sinh giỏi
- Tài liệu bồi dưỡng học sinh giỏi còn thiếu thốn, phần lớn giáo viên dạy bồi dưỡng phải tự mua,
tự nghiên cứu và biên soạn để bồi dưỡng
II Phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi :
Trước những điều kiện thuận lợi và khó khăn trên, bản thân người giáo viên phải cố gắng nghiên cứu nhiều biện pháp khắc phục khó khăn để có thể hoàn thành nhiệm vụ của mình Từ đó tôi đã rút ra được một số kinh nghiệm trong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi
Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi là quá trình mang tính khoa học cần phải có sự đầu tư trong suốt 3 năm học chứ không phải chỉ có một vài tháng Với khoảng thời gian này thì giáo viên mới cung cấp tương đối đầy đủ kiến thức cần thiết cho học sinh, đồng thời mới phát hiện chính xác khảnăng học tập của học sinh
Do đó để có thể bồi bưỡng một cách hiệu quả thì ta phải chia quá trình bồi dưỡng thành nhiều giai đoạn ở từng cấp lớp:
+ Giai đoạn 1: Giảng dạy học sinh nắm vững kiến thức cơ bản, làm được các bài tập đơn giản,
từ đó giúp học sinh yêu thích môn học
+ Giai đoạn 2: Phân loại học sinh, lựa chọn những học sinh có năng lực vào đội tuyển học sinhgiỏi của trường Nâng cao kiến thức cho học sinh: phân loại các dạng toán, luyện tập thường xuyên để rèn luyện kỹ năng làm bài cho học sinh
+ Giai đoạn 3: Giáo viên đưa tài liệu và giao nhiệm vụ cho học sinh
+ Giai đoạn 4: Hoàn thiện kiến thức và kiểm tra kết quả học tập của học sinh
- Để quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi có hiệu quả thì giáo viên cần phải phát hiện sớm các
em có tố chất để bồi dưỡng, tốt nhất là từ lớp 10
- Giáo viên phát hiện học sinh dựa vào năng khiếu, sự nhạy bén của học sinh Đồng thời quan sát xem ở các học sinh có sự hứng thú khi học vật lí không? Vì khi ham thích môn
Trang 4GV: Đinh Thị Nhã Phương
học nào đó học sinh sẽ cố gắng để đạt được kết quả
- Học sinh có thể có sự nhạy bén nhưng chưa yêu thích môn học thì người giáo viên đóng vaitrò quan trọng để làm tăng sự hứng thú trong học tập của bộ môn
- Biệp pháp tốt nhất giúp các em yêu thích môn học là dẫn dắt các em đạt được những thành công từ thấp đến cao
- Khi giải quyết được vấn đề đó học sinh sẽ không sợ môn vật lí nữa mà cảm thấy yêu thích môn học, từ đó sẽ tích cực học tập và nghiên cứu
- Giáo viên cần phải nắm vững phương châm: “dạy chắc cơ bản rồi mới nâng cao” Những bài toán thi học sinh giỏi tổng hợp rất nhiều kiến thức khi nắm vững kiến thức cơ bản sẽ giúp học sinh dễ dàng nhận dạng được bài toán Biết chia bài toán ra nhiều phần, mỗi phần dùng kiến thức, phương pháp nào
- Đặc thù của môn vật lí là bài tập có thể phân ra thành 2 kiểu bài:
+ Kiểu bài tập có thể làm dựa theo quy tắc giải
+ Kiểu bài tập không theo quy luật
Trong quá trình dạy ta phải tập trung những bài có quy luật là chính Vì dựa theo cấu trúc đề và đề thi các năm trước ta thấy đa số các câu trong đề đều là những dạng toán có quy luật Như vậy nếu nắm chắc phương pháp giải, quy luật của nó thì khi gặp những bài toán dù có chi tiết khác nhau nhưng học sinh vẫn làm được vì giống nhau ở điểm cốt lõi
- Còn những loại có tính đơn lẻ, không theo quy luật thì chúng ta sẽ dạy cho học sinh sau khi
đã học kỹ các loại trên vì những loại bài tập này chỉ vận dụng có một bài mà không áp dụngcho nhiều bài khác được
- Nếu chúng ta nôn nóng bỏ qua các bước cơ bản làm ngay bài tập khó hay những bài có tínhđơn lẻ, học sinh không vững kiến thức sẽ không nhận ra dạng toán sẽ cảm thấy rối, hoang mang từ đó trở nên chán nản và không hứng thú với bộ môn nữa
- Bên cạnh đó một trong những phần không thể thiếu trong quá trình bồi dưỡng là tài liệu tham khảo Như đã nói ở trên, đây là một vấn đề khó khăn đặt ra cho những giáo viên bồi dưỡng vì thực tế ở các trường phổ thông chưa có một tài liệu chuẩn nào cho việc bồi dưỡnghọc sinh giỏi Do đó, người giáo viên phải tự nghiên cứu, sưu tầm, biên soạn cho mình một tài liệu bồi dưỡng tương đối đầy đủ và phù hợp với học sinh
- Trong tài liệu giáo viên cần đưa ra đầy đủ tóm tắt lý thuyết và phân rõ các dạng toán, giáo viên hướng dẫn cho học sinh một hay hai bài ví dụ rồi cho thêm một số bài tương tự để học sinh làm cho thành thạo Vì một dạng toán làm nhiều lần sẽ giúp các em khắc sâu kiến thức hơn
- Sau mỗi chương giáo viên cho học sinh kiểm tra để rèn kĩ năng làm bài và tâm lý chịu áp lực thi cử cho học sinh Qua bài làm sẽ giúp giáo viên biết học sinh hạn chế mặt nào, từ đó
sẽ bồi dưỡng thêm cho các em
- Mỗi lần kiểm tra giáo viên lưu ý nên sửa bài thật chi tiết và rút kinh nghiệm cho học sinh những phần học sinh bị sai và nhấn mạnh vào phương pháp của bài toán một lần nữa
- Giáo viên cho học sinh làm quen với đề thi các năm trước Đây cũng là cách giáo viên giúp cho học sinh tổng hợp được, khái quát các kỹ năng kiến thức yêu cầu đối với học sinh giỏi
Từ đó tạo điều kiện trang bị cho các em kỹ năng hoàn thiện, và sự phản xạ với các đề, kiểu
đề từ đòi hỏi thấp đến đòi hỏi cao Khi đó học sinh có khả năng phát huy năng lực tư duy,
Trang 5GV: Đinh Thị Nhã Phương
đến bỡ ngỡ mất phương hướng hoang mang làm sai khi đọc đề
- Giáo viên hướng dẫn học sinh làm sổ tay ghi chép bao gồm các công thức vật lí, các dạng toán, các công thức toán liên quan, các bài tập hay, các kết luận sau một quá trình nghiên cứu để làm tư liệu Qua sổ tay này học sinh có thể hệ thống lại các kiến thức cần nhớ, sẽ giúp học sinh nâng cao kiến thức của mình
- Dạy bồi dưỡng học sinh giỏi môn vật lí là một công việc rất vất vả vì tốn rất nhiều công sức
và thời gian để nghiên cứu bồi dưỡng cũng như biên soạn tài liệu, lựa chọn những bài tập nâng cao phù hợp cho học sinh và giúp các em có đủ kiến thức tham gia trong các kì thi họcsinh giỏi Để làm việc này thì người giáo viên phải có lòng quyết tâm, phải tận tụy với côngviệc, từ đó sẽ truyền lòng nhiệt huyết của mình cho các em gây được sự ham thích khám phá kiến thức Khi đó sẽ giúp các em quyết tâm học tập để đạt được kết quả tốt nhất
PHẦN II: TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI MÔN VẬT LÝ PHẦN “VẬT
LÝ HẠT NHÂN” LỚP 12
Theo đặc điểm của kì thi học sinh giỏi ở tỉnh ta thì thời gian thi học sinh giỏi cấp tình vòng 1
và vòng 2 chỉ cách nhau khoảng một tháng Đặc biệt trong đề thi vòng 2 có cả phần cơ học vật rắn của lớp 12 nâng cao và phần vật lý hạt nhân ở học kì 2 của lớp 12
Với khoảng thời gian ngắn đó, giáo viên cần phải hệ thống lại những dạng toán lớp 10, lớp 11
và dạy thêm kiến thức của 2 chương mới Để đảm bảo được điều đó và không phải tốn nhiều thời gian thì giáo viên phải chuẩn bị tài liệu chi tiết cho hai chương mới để giúp các em dễ dàng tiếp nhận kiến thức, nhận dạng được các bài tập đủ và tự tin bước vào kì thi học sinh giỏi cấp tỉnh vòng2
Sau đây tôi xin giới thiệu tài liệu bồi dưỡng học sinh giỏi phần vật lí hạt nhân
CHƯƠNG I: TÓM TẮT GIÁO KHOA.
Kiến thức cơ bản:
I Cấu tạo hạt nhân:
- Hạt nhân mang điện dương, được cấu tạo từ những hạt nhỏ hơn – gọi là các Nuclon.
Trang 6GV: Đinh Thị Nhã Phương
- Có hai loại Nuclon là Proton và nơtron:
+ Proton: kí hiệu là p, q p =e; m p =1,007276u=1,672.10− 27kg
+ Nơtron: kí hiệu là n, q n =0; m n =1,008665u=1,674.10−27kg
Trong đó u là đơn vị khối lượng nguyên tử, với 1u = 1,66055.10-27kg
II Kí hiệu hạt nhân: A X
10.2,
1H T Trong đó T và D là thành phần của nước nặng
Trang 7GV: Đinh Thị Nhã Phương
- Nguyên tử Cacbon có 4 đồng vị: C11 đến C14 Trong đó C12 có nhiều trong tự nhiên – chiếm99%
IV Đơn vị khối lượng nguyên tử: Khối lượng hạt nhân rất lớn so với khối lựơng của êlectron, vì
vậy khối lượng nguyên tử gần như tập trung toàn bộ ở hạt nhân
- Đơn vị u có giá trị bằng 1/12 khối lượng nguyên tử của đồng vị 12
6C
1u = 1,66055.10−27 kg = 931,5 MeV/ c2
Khối lượng của 1 nuclon ≈ 1u
Do vậy, một nguyên tử co số khối A thì khối lượng của nó ≈ Au.
V Hệ thức Anhxtanh giữa khối lượng và năng lượng: E=mc2
Với c = 3.108 m/s là vận tốc ánh sáng trong chân không
m : khối lượng của hạt nhân;
E: năng lượng nghỉ của hạt nhân
*Chú ý: Khi hạt nhân chuyển động với vận tốc v thì khối lượng sẽ tăng lên
2
2
1
c v
Trang 8GV: Đinh Thị Nhã Phương
m , p m n là khối lượng của các Nuclơn riêng rẽ.
2 Năng lượng liên kết hạt nhân: Kí hiệu Wlk hay ∆E
+ W r đặc trưng cho tính bền vững của hạt nhân.
*Chú ý: Năng lượng liên kết riêng càng lớn thì hạt nhân càng bền vững Hạt nhân cĩ số khối trung
2 1
Z
A Z
A Z
A
Trong số các hạt này cĩ thể là hạt sơ cấp như nuclơn, eletrơn, phơtơn
b Các định luật bảo tồn
+ Bảo tồn số nuclơn (số khối): A1 + A2 = A3 + A4
+ Bảo tồn điện tích (nguyên tử số): Z1 + Z2 = Z3 + Z4
+ Bảo tồn động lượng: p1+ p2 = p3+ p4
+ Bảo tồn năng lượng(gồm năng lượng nghỉ và động năng): K1 +K2 +W =K3 +K4
Trong đĩ: W là năng lượng phản ứng hạt nhân
2
K = m v là động năng chuyển động của hạt X
Lưu ý: - Khơng cĩ định luật bảo tồn khối lượng, số nơ tron và số prơtơn
- Mối quan hệ giữa động lượng pX và động năng KX của hạt X là: p X2 =2m K X X
c Năng lượng phản ứng hạt nhân: W= (mtrướ c - msau).c2 ≠0
Trong đĩ: mtrước là tổng khối lượng các hạt nhân trước phản ứng
msau là tổng khối lượng các hạt nhân sau phản ứng
W > 0 ⇔ mtrước > msau : Tỏa năng lượng (dưới dạng động năng của các hạt tạo thành
hoặc phơtơn γ Các hạt sinh ra cĩ độ hụt khối lớn hơn nên bền vững hơn.)
W < 0 ⇔ mtrước < msau : Thu năng lượng (dưới dạng động năng của các hạt ban đầu hoặc phơtơn γ Các hạt sinh ra cĩ độ hụt khối nhỏ hơn nên kém bền vững.)
2 Hiện tượng phĩng xạ - HT phân rã hạt nhân.
a Định nghĩa: Hiện tượng phĩng xạ: là quá trình phân hủy tự phát của một hạt nhân khơng
Trang 9GV: Đinh Thị Nhã Phương
- Hạt nhân tự phân hủy gọi là hạt nhân mẹ, hạt nhân được tạo thành sau khi phân hủy gọi là hạt
- Phóng xạ γ : Tia γ là sóng điện từ Phóng xạ γ là phóng xạ đi kèm phóng xạ β- và β+ Tia γ
đi được vài mét trong bêtông và vài cm trong chì
c Quy tắc dịch chuyển của sự phóng xạ
So với hạt nhân mẹ, hạt nhân con tiến 1 ô trong bảng tuần hoàn và có cùng số khối
Thực chất của phóng xạ β- là một hạt nơtrôn biến thành một hạt prôtôn, một hạt electrôn và một hạt nơtrinô: n→−0e+p+v
1
- Hạt nơtrinô (v) không mang điện, không khối lượng (hoặc rất nhỏ) chuyển động với vận tốc
của ánh sáng và hầu như không tương tác với vật chất
→
So với hạt nhân mẹ, hạt nhân con lùi 1 ô trong bảng tuần hoàn và có cùng số khối
Thực chất của phóng xạ β+ là một hạt prôtôn biến thành một hạt nơtrôn, một hạt pôzitrôn và mộthạt nơtrinô: p→+0e+n+v
ln
T λ : Hằng số phóng xạ(s−1)
d2 Số nguyên tử chất phóng xạ còn lại sau thời gian t
Trang 10GV: Đinh Thị Nhã Phương
T t o T t o
N e
N
N
2
2
Khối lượng chất phóng xạ còn lại sau thời gian t
T t o T t o
m e
m
m
2
2
693,02ln
)1.(
t o
t
N N
N = − = − − = − −
Khối lượng chất bị phóng xạ sau thời gian t
)21.(
)1.(
t o
t
m m
m= − = − − = − −
d4 Độ phóng xạ H:
Là đại lượng đặc trưng cho tính phóng xạ mạnh hay yếu của một lượng chất phóng xạ, đo bằng
số phân rã trong 1 giây
T t o T t o
H e
H
H
2
2
H0 = λN0 là độ phóng xạ ban đầu
H = λN là độ phóng xạ tại thời điểm t
Đơn vị: Becơren (Bq); 1Bq = 1 phân rã/giây
Curi (Ci); 1 Ci = 3,7.1010 Bq
* Chú ý: Khi tính độ phóng xạ H, H0 (Bq) thì chu kỳ phóng xạ T phải đổi ra đơn vị giây(s)
3 Các hằng số và đơn vị thường sử dụng:
* Số Avôgađrô: NA = 6,022.1023 mol-1
* Đơn vị năng lượng: 1eV = 1,6.10-19 J; 1MeV = 1,6.10-13 J
* Đơn vị khối lượng nguyên tử (đơn vị Cacbon): 1u = 1,66055.10-27kg = 931,5 MeV/c2
* Điện tích nguyên tố: |e| = 1,6.10-19 C
* Khối lượng prôtôn: mp = 1,0073u
* Khối lượng nơtrôn: mn = 1,0087u
* Khối lượng electrôn: me = 9,1.10-31kg = 0,0005u
Trang 11GV: Đinh Thị Nhã Phương
CHƯƠNG II : CÁC DẠNG TOÁN VẬT LÍ HẠT NHÂN
I Một số dạng toán cơ bản:
Loại 1: Bài tập về hiện tượng phóng xạ.
Dạng 1: Xác định số Proton, Nơtron (N), Nuclon của hạt nhân A X
Giải:
+ Ta có độ hụt khối là: ∆m=(8.1,007276+8.1,008665+8.0,000549−15,994910)=0,137u
+ Wlk = Δm.c2 = 0,137uc2 = 0,137.931,5 = 127,6 MeV
Bài 4 Tính năng lượng liên kết riêng của sắt 56Fe
26 Biết mn = 1,00866u; mp = 1,00728u; mFe =55,9349u
Trang 1256 26
14
7 , , ,
u m
u m
u m
u m
u m
u
m N =13,9992 , D =2,0136 , Fe =55,9207 , n =1,0087 , U =238,0002 , p =1,0073
ĐS: 7,5MeV/nuclon; 8,8MeV/nuclon; 7,6 MeV/nuclon; 1,1178MeV/nuclon
Bài 6: Hạt nhân hêli có khối lượng 4,0015u Tính năng lượng tỏa ra khi tạo thành 1 mol hêli ĐS: 2,73.10 12 J
Bài 7: Cần tốn bao nhiêu năng lượng (tính ra kWh) để tách các hạt nhân trong 1g 4He
Trang 13+ Số nguyên tử Hidrô NH = N 2 = 1 472 1023 nguyên tử
+ Số nguyên tử Ôxy NO = N 1 = 0 , 736 1023 nguyên tử
Bài 9: Pôlôni là nguyên tố phóng xạ α , nó phóng ra một hạt α và biến đổi thành hạt nhân con
X Chu kì bán rã của Pôlôni là T = 138ngày
1 Xác định cấu tạo, tên gọi của hạt nhân con X?
2 Ban đầu có 0,01g Tính độ phóng xạ của mẫu phóng xạ sau 3chu kì bán rã?
Trang 14210 84
84
4210
Z
A Z
A
Pb
X 206 82
Bài 10: Một chất phóng xạ Côban 2760Co có chu kì bán rã là 5,33 năm, ban đầu nhận được 1kg
1 Hỏi sau 15 năm chất Côban còn lại là bao nhiêu?
2 Biết rằng sau khi phân rã phóng xạ Côban biến thành Nicken2860Ni, hãy tính khối lượng Ni đượctạo thành trong khoảng thời gian đó?
3 Sau bao lâu khối lượng côban chỉ còn bằng 10g?
A Ni Co
t T o
m
N A A
Trang 15ρ
=
= =
Bài 12:Tỡm số nguyờn tử trong 1 gam chất 4
2He Cho NA = 6,022.1023/mol (ĐS: 1,5.10 23 ) Bài 13: Tớnh soỏ nguyeõn tửỷ trong 1 gam khớ O2 Cho NA = 6,022.1023/mol; O = 15,995
ĐS: 30h
Bài 18 Một lượng chất phúng xạ Radon(222Rn) cú khối lượng ban đầu là m0 = 1mg Sau 15,2ngàythỡ độ phúng xạ của nú giảm 93,75% Tớnh chu kỡ bỏn ró và độ phúng xạ của lượng chất phúng xạcũn lại
ĐS : T = 3,8 ngày; H = 3,578.10 11
Baứi 19: Côban 60
27Co là đồng vị phóng xạ phát ra tia β− và γ với chu kì bán rã
Trang 161 Cho chu kỳ bán rã của Pôlôni T=138 ngày Giả sử khối lợng ban đầu
2 Tính độ phóng xạ ban đầu của Pôlôni Cho NA=6,023.1023nguyêntử/mol
ĐS: 69 ngày; 1,69.10 14 Bq
Baứi 21: Gọi ∆t là khoảng thời gian để số hạt nhân của một lợng chất phóngxạ giảm đi e lần (e là số tự nhiên với lne=1), T là chu kỳ bán rã của chất phóngxạ Chứng minh rằng
ln 2
T t
Baứi 22: Hạt nhân 224
Z Rn
nguồn còn lại là 2,24g Hãy tìm :
90 xung trong một phỳt ( trong cựng một điều kiện ) Bỏ qua tỏc dụng của trọng lực
a) Xỏc định chu kỡ bỏn ró của chất phúng xạ đú
b) Cỏc hạt β −phúng ra được hướng vào một điện trường đều của tụ điện phẳng:
+ Tỡm phương trỡnh quỹ đạo của hạt β − trong điện trường đú
Trang 17- Gọi : n : số xung đếm được
Δt: thời gian phân rã
t : thời gian giữa 2 lần đếm
b) Tìm phương trình quỹ đạo của hạt:
- Chuyển động của hạt là ném ngang
- V0-
Trang 182
ln
H H N
T ∆ = −
⇒
s N
H
H
T ln2 600
2 1
Bài 25: Để xác định lượng máu trong bệnh nhân người ta tiêm vào máu một người một lượng
nhỏ dung dịch chứa đồng vị phĩng xạ Na24 (chu kỳ bán rã 15 giờ) cĩ độ phĩng xạ 2µCi Sau 7,5giờ người ta lấy ra 1 cm3 máu người đĩ thì thấy nĩ cĩ độ phĩng xạ 502 phân rã/phút Thể tích máu
Trang 19=> 8,37 V = 7,4.104.2-0,5
=> V =
37,8
2.10
Bài 26: Để đo chu kỳ bán rã của 1 chất phĩng xạ, người ta dùng máy đếm xung Ban đầu
trong 1 phút máy đếm được 14 xung, nhưng sau 2 giờ đo lần thứ nhất, máy chỉ đếm được 10 xungtrong 1 phút Tính chu kỳ bán rã của chất phĩng xạ Lấy 2 =1,4
ĐS: T = 2t = 4 giờ
Bài 27: Để xác định chu kỳ bán rã T của một đồng vị phĩng xạ, người ta thường đo khối
lượng đồng vị phĩng xạ đĩ trong mẫu chất khác nhau 8 ngày được các thơng số đo là 8µg và2µg.Tìm chu kỳ bán rã T của đồng vị đĩ?
ln
t t
m m
−
=
(8 0) ln 28ln2
Theo bài ra: T
2 1
1 1