Dân tộc là một vấn đề mang tính chất thời sự đối với tất cả các quốc gia trên thế giới. Dựa trên quan điểm về mối quan hệ giữa dân tộc với giai cấp; kết hợp phân tích hai xu hướng khách quan trong sự phát triển của dân tộc; dựa vào kinh nghiệm của phong trào cách mạng thế giới và thực tiễn cách mạng Nga trong việc giải quyết vấn đề dân tộc đầu thế kỷ XX. V.I.Lênin đã khái quát thành Cương lĩnh dân tộc với nội dung sau: “Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng, các dân tộc được quyền tự quyết, liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc lại”. Vấn đề dân tộc luôn mang tính lý luận và thực tiễn sâu sắc. Đặc biệt, trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc đang có những biến đổi rất đa dạng và phức tạp trong bản thân mỗi quốc gia và trên toàn cầu. Đây cũng là vấn đề nhạy cảm mà các thế lực luôn tìm cách lợi dụng thực hiện âm mưu “diễn biến hoà bình” nhằm chống phá nhà nước, chống phá chính quyền và chia rẽ khối đoàn kết toàn dân tộc.Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc anh em, mỗi dân tộc có đặc trưng văn hoá, ngôn ngữ và trình độ phát triển khác nhau nhưng các dân tộc Việt Nam có truyền thống đoàn kết gắn bó lâu đời trong cộng đồng dân tộc – quốc gia thống nhất. Do đó, giải quyết vấn đề dân tộc và mối quan hệ dân tộc luôn là yêu cầu cấp thiết và là nhiệm vụ trọng tâm trong sự nghiệp cách mạng xây dựng và bảo vệ đất nước của Đảng và Nhà nước ta. Đặc biệt, trong giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội hiện nay, đất nước đang bước vào thời kì đổi mới dất nước toàn diện, nhiều vấn đề phức tạp nảy sinh đòi hỏi chúng ta phải phát huy cao độ khối đoàn kết dân tộc tăng cường sức mạnh nội sinh để đứng vững và phát triển. Trong đó, chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh chính là nền tảng lý luận cơ bản để Đảng Cộng sản Việt Nam xây dựng và thực hiện chính sách dân tộc.Bởi các lý do trên, em lựa chọn đề tài: “Dân tộc và quan hệ dân tộc ở Việt Nam hiện nay” để tiến hành nghiên cứu.
Trang 1MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU 1
B NỘI DUNG 1
I Cơ sở lý luận 1
1 Khái niệm dân tộc và đăc trưng cơ bản về dân tộc 1
2 Hai xu hướng khách quan phát triển dân tộc 3
3 Cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác-Lênin 3
II Vận dụng 5
1 Đặc điểm dân tộc Việt Nam 5
2 Quan điểm và chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta 6
3 Thực trạng quan hệ dân tộc, tộc người ở Việt Nam 8
3.1 Tích cực 8
3.2 Những hạn chế 10
4 Giải pháp thúc đẩy quan hệ giữa các dân tộc, tộc người ở nước ta hiện nay 12
C KẾT LUẬN 14
D TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 2A MỞ ĐẦU
Dân tộc là một vấn đề mang tính chất thời sự đối với tất cả các quốc gia trên thế giới Dựa trên quan điểm về mối quan hệ giữa dân tộc với giai cấp; kết hợp phân tích hai
xu hướng khách quan trong sự phát triển của dân tộc; dựa vào kinh nghiệm của phong trào cách mạng thế giới và thực tiễn cách mạng Nga trong việc giải quyết vấn đề dân tộc
đầu thế kỷ XX V.I.Lênin đã khái quát thành Cương lĩnh dân tộc với nội dung sau: “Các
dân tộc hoàn toàn bình đẳng, các dân tộc được quyền tự quyết, liên hiệp công nhân tất
cả các dân tộc lại” Vấn đề dân tộc luôn mang tính lý luận và thực tiễn sâu sắc Đặc biệt,
trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc đang có những biến đổi rất đa dạng và phức tạp trong bản thân mỗi quốc gia và trên toàn cầu Đây cũng
là vấn đề nhạy cảm mà các thế lực luôn tìm cách lợi dụng thực hiện âm mưu “diễn biến
hoà bình” nhằm chống phá nhà nước, chống phá chính quyền và chia rẽ khối đoàn kết
toàn dân tộc
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc anh em, mỗi dân tộc có đặc trưng văn hoá, ngôn ngữ và trình độ phát triển khác nhau nhưng các dân tộc Việt Nam có truyền thống đoàn kết gắn bó lâu đời trong cộng đồng dân tộc – quốc gia thống nhất Do
đó, giải quyết vấn đề dân tộc và mối quan hệ dân tộc luôn là yêu cầu cấp thiết và là nhiệm vụ trọng tâm trong sự nghiệp cách mạng xây dựng và bảo vệ đất nước của Đảng và Nhà nước ta Đặc biệt, trong giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội hiện nay, đất nước đang bước vào thời kì đổi mới dất nước toàn diện, nhiều vấn đề phức tạp nảy sinh đòi hỏi chúng ta phải phát huy cao độ khối đoàn kết dân tộc tăng cường sức mạnh nội sinh để đứng vững và phát triển Trong đó, chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh chính là nền tảng lý luận cơ bản để Đảng Cộng sản Việt Nam xây dựng và thực hiện chính sách dân tộc
Bởi các lý do trên, em lựa chọn đề tài: “Dân tộc và quan hệ dân tộc ở Việt Nam hiện nay” để tiến hành nghiên cứu
B NỘI DUNG
I Cơ sở lý luận
1 Khái niệm dân tộc và đăc trưng cơ bản về dân tộc
Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác - lênin, dân tộc là quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài người, trải qua các cộng đồng từ thấp đến cao bao gồm: Thị tộc, bộ lạc, bộ tộc, dân tộc Nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi của cộng đồng dân tộc là do sự biến đổi của phương thức lao động sản xuất Ở phương Tây, dân tộc xuất hiện khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được xác lập thay thế phương thức sản xuất phong kiến Còn ở phương Đông dân tộc được hình thành trên cơ sở một nền văn hoá, một tâm lý dân tộc đã phát triển tương đối chín muồi và một cộng đồng kinh tế tuy đã đath tới một mức độ nhất định, nhìn chung còn kém phát triển và ở trạng thái phân tán Do đó, khái niệm dân tộc hiện nay thường được hiểu theo hai nghĩa:
Trang 3Thứ nhất, theo nghĩa rộng: Dân tộc (nation) hay quốc gia dân tộc dùng để chỉ một
cộng đồng chính trị – xã hội ổn định Ví dụ như : dân tộc Việt Nam, dân tộc Lào, dân tộc Thái Lan…
Theo đó, dân tộc có một số đặc trưng cơ bản sau và các đặc trưng đó có mối quan
hệ chặt chẽ với nhau trong một chỉnh thể
(1) Có chung phương thức sinh hoạt kinh tế: Đây là đặc trưng quan trọng nhất của dân tộc và là cơ sở liên kết các bộ phận, các thành viên của dân tộc, tạo nên nền tảng vững chắc của dân tộc
(2) Có lãnh thổ chung ổn định không bị chia cắt, là địa bàn sinh tồn và phát triển của cộng đồng dân tộc Khái niệm lãnh thổ bao gồm cả vùng đất, vùng biển, hải đảo, vùng trời thuộc chủ quyền của quốc gia dân tộc và thường được thể chế hoá thành luật pháp quốc gia và luật pháp quốc tế Vận mệnh dân tộc một phần rất quan trọng gắn với việc xác lập và bảo vệ lãnh thổ quốc gia dân tộc
(3) Có sự quản lý của một nhà nước, nhà nước – dân tộc độc lập
(4) Có ngôn ngữ chung của quôc sgia làm công cụ giao tiếp trong xã hội và trong cộng đồng (bao gồm cả ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết)
(5) Có nét tâm lý biểu hiện qua nền văn hóa dân tộc và tạo nên bản sắc riêng của nền văn hóa dân tộc Đối với các quốc gia có nhiều tộc người thì tính thống nhất trong đa dạng văn hóa là đặc trưng của nền văn hoá dân tộc
Thứ hai, theo nghĩa hẹp: Dân tộc – tộc người (ethnies) là một cộng đồng người
được hình thành lâu dài trong lịch sử Ví dụ: Dân tộc Tày, H’Mông, Thái ở Việt Nam
Theo đó, Dân tộc – tộc người có một số đặc trưng cơ bản sau :
(1) Cộng đồng về ngôn ngữ (bao gồm ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết hoặc chỉ riêng ngôn ngữ nói) Đây là tiêu chí cơ bản để phân biệt các tộc người khác nhau và là vấn để luôn được các dân tộc coi trọng giữ gìn Tuy nhiên, trong quá trình phát triển tộc người vì nhiều nguyên nhân khác nhau, có những tộc người không còn ngôn ngữ mẹ đẻ mà sử dụng ngôn ngữ khác làm công cụ giao tiếp
(2) Cộng đồng về văn hoá Văn hóa bao gồm văn hóa vật thể và phi vật thể ở mỗi tộc người phản ánh truyền thống, lối sống, phong tục, tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo của tộc người đó Lịch sử phát triển của các tộc người gắn liền với truyền thống văn hóa của
họ Ngày nay, cùng với xu thế giao lưu văn hóa vẫn song song tồn tại xu thế bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của mỗi tộc người
(3) Ý thức tự giác tộc người Đây là tiêu chí quan trọng nhất để phân định một tộc người và có vị trí quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi tộc người Đặc trưng nổi bật là các tộc người luôn tự ý thức về nguồn gốc, tộc danh của dân tộc mình; đó còn
là ý thức tự khẳng định sự tồn tại và phát triển của mỗi tộc người dù cho có những tác động làm thay đổi địa bàn cư trú, lãnh thổ, hay tác động ảnh hưởng của giao lưu kinh tế, văn hóa Sự hình thành và phát triển của ý thức tự giác tộc người liên quan trực tiếp đến các yếu tố của ý thức, tình cảm, tâm lý tộc người
Ba tiêu chi này tạo nên sự ổn định trong mỗi tộc người trong quá trình phát triển Đồng thời căn cứ vào ba tiêu chí này để xem xét và phân định các tộc người ở Việt Nam hiện nay
Trang 4Trong một quốc gia có nhiều tộc người, căn cứ vào số lượng của mỗi cộng đồng người ta phân thành tộc người đa số và tộc người thiểu số Cách gọi này không căn cứ vào trình độ phát triển của mỗi cộng đồng
Như vậy, khái niệm dân tộc cần phải được hiểu theo hai nghĩa khác nhau Tuy hai cách hiểu này không đồng nhất với nhau nhưng chúng lại gắn bó mặt thiết và không thể tách rời Dân tộc – Quốc gia bao hàm cả dân tộc – tộc người và dân tộc – tộc người là một bộ phận hình thành nên dân tộc – quốc gia
2 Hai xu hướng khách quan phát triển dân tộc
Khi nghiên cứu về vấn đề dân tộc, V.I.Lênin đã phát hiện ra hai xu hướng khách quan trong sự phát triển của quan hệ dân tộc là:
Xu hướng thứ nhất, cộng đồng dân cư muốn tách ra để hình thành cộng đồng dân tộc độc lập Nguyên nhân dẫn đến xu hướng này là do sự thức tỉnh và trưởng thành của ý
thức về quyền sống, ý thức dân tộc, khi đó các cộng đồng dân cư muốn tách ra để thành lập các dân tộc độc lập Trong thực tế, xu hướng này được thể hiện qua các phong trào đấu tranh của các dân tộc bị áp bức, bóc lột muốn thoát ra khỏi các nước đế quốc và bọn thực dân để giành lại độc lập
Xu hướng thứ hai, các dân tộc trong từng quốc gia, thậm chí các dân tộc ở nhiều quốc gia muốn liên hiệp lại với nhau Xu hướng này nổi lên trong quá trình chủ nghĩa tư
bản đang phát triển thành chủ nghĩa đế quốc Nhờ sự phát triển của lực lượng sản xuất, của khoa học – kỹ thuật, của giao lưu văn hoá và kinh tế trong xã hội tư bản chủ nghĩa đã thúc đẩy các dân tộc xích lại gần nhau hơn do nhu cầu xóa bỏ hàng rào ngăn cách giữa các dân tộc xuất hiện
Trong xã hội ngày nay, hai xu hướng đang diễn ra với những biểu hiện rất phong phú và đa dạng Trong phạm vi một quốc gia, xu hướng thứ nhất được thể hiện trong sự
nỗ lực của từng tộc người tiến tới bình đẳng Còn xu hướng thứ hai được thể hiện ở động lực thúc đẩy các tộc người xích lại gần nhau Trong phạm vi quốc tế, xu hướng thứ nhất được thể hiện trong phong trào đấu tranh chống lại đế quốc và thực dân nhằm giải phóng dân tộc của các dân tộc bị áp bức nhằm xoá bỏ ách đô hộ của thực dân đế quốc, khẳng định quyền tự quyết dân tộc; hoặc đấu tranh để thoát khỏi sự kỳ thị dân tộc, phân biệt chủng tộc; hoặc đấu tranh thoát khỏi tình trạng bị đồng hoá cưỡng bức của các dân tộc nhỏ dưới ách áp bức của các nước tư bản chủ nghĩa Ví dụ phong trào này diễn ra mạnh
mẽ vào những năm 60 của thế kỷ XX và kết quả là khoảng 100 quốc gia đã giành được độc lập dân tộc Còn xu hướng thứ hai được thể hiện ở việc các dân tộc muốn xích lại gần nhau, hợp tác thành liên minh các dân tộc trong khu vực hoặc thế giới trên cơ sở lợi ích chung về kinh tế, về chính trị, văn hoá, quân sự, hình thành các hình thức liên minh đa dạng, như liên minh khu vực ASEAN, EU Hai xu hướng này có sự thống nhất, tác động qua lại, biện chứng và hỗ trợ lẫn nhau Hiện nay, hai xu hướng này đang diễn ra khá phức tạp, thâm chí còn bị lợi dụng thực hiện “Diễn biến hoà bình”
3 Cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác-Lênin
Dựa trên quan điểm về mối quan hệ giữa dân tộc với giai cấp; kết hợp phân tích hai xu hướng khách quan trong sự phát triển của dân tộc; dựa vào kinh nghiệm của phong trào cách mạng thế giới và thực tiễn cách mạng Nga trong việc giải quyết vấn đề dân tộc
Trang 5đầu thế kỷ XX V.I.Lênin đã khái quát thành Cương lĩnh dân tộc với nội dung sau: “Các
dân tộc hoàn toàn bình đẳng, các dân tộc được quyền tự quyết, liên hiệp công nhân tất
cả các dân tộc lại”
Thứ nhất, các dân tộc hoàn toàn bình đẳng
Đây là quyền thiêng liêng nhất của các dân tộc Không phân biệt dân tộc lớn hay nhỏ, trình độ phát triển cao hay thấp, các dân tộc đều có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, xoá bỏ hết mọi hình thức bóc lột, áp bức, và phân biệt chủng tộc Không một dân tộc nào được giữ những đặc quyền, đặc lợi về kinh
tế, chính trị, văn hoá trong các quan hệ xã hội và quốc tế, không một dân tộc nào có quyền được đi áp bức, bóc lột các dân tộc khác Trong một đất nước đa dân tộc, quyền bình đẳng giữa các dân tộc phải được thể hiện trên cơ sở pháp lý và phải được thực hiện trên thực tế
Để thực hiện được quyền bình đẳng giữa các dân tộc, trước hết các quốc gia phải tiêu diệt tình trạng áp bức giữa các giai cấp, từ đó xoá bỏ áp bức dân tộc; phải đấu tranh chống chủ nghĩa dân tộc cực đoan và sự phân biệt chủng tộc Quyền bình đẳng giữa các dân tộc là cơ sở để thực hiện quyền tự quyết của các dân tộc và xây dựng quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa các dân tộc
Thứ hai, các dân tộc được quyền tự quyết
Đây là quyền các dân tộc được làm chủ vận mệnh của dân tộc mình, được lựa chọn chế độ chính trị và hướng phát triển của dân tộc mình, bao gồm cả quyền tự do phân lập thành quốc gia dân tộc độc lập (không đồng nhất với quyền của các dân tộc thiểu số trong một quốc gia đa tộc) và quyền tự nguyện liên hiệp giữa các dân tộc trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng, phù hợp với lợi ích dân tộc và giai cấp, phải xuất phát từ thực tiễn đời sống và đứng trên lập trường của giai cấp công nhân, đảm bảo thống nhất giữa lợi ích của giai cấp công nhân và lợi ích của dân tộc Đồng thời cần đấu tranh chống mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thủ địch lợi dụng quyền “dân tộc tự quyết” để chia rẽ, phá hoại khối đoàn kết toàn dân tộc hoặc kích động đòi ly khai dân tộc
Ba là, liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc
Đây là cơ sở vững mạnh cho sự đoàn kết các giai cấp, tầng lớp trong phạm vi đất nước và toàn cầu Phản ánh sự thống nhất giữa sự nghiệp giải phóng giai cấp và giải phóng dân tộc, đồng thời phản ánh sự gắn bó chặt chẽ giữa tinh thần yêu nước và chủ nghĩa quốc tế chân chính, đảm bảo cho các phong trào giải phóng dân tộc có đủ sức mạnh tổng hợp và có khả năng để giành thắng lợi
Đoàn kết, liên hiệp công nhân là cơ sở quan trọng để thực hiện đoàn kết các tầng lớp nhân dân lao động của các dân tộc trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, chống chủ nghĩa đế quốc vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội Vì vậy, nội dung này là nội dung cốt lõi và là giải pháp quan trọng để liên kết các nội dung trong “Cương lĩnh dân tộc” thành một chỉnh thể hoàn chỉnh
“Cương lĩnh dân tộc” của chủ nghĩa Mác – Lênin là cơ sở lý luận quan trọng để các Đảng cộng sản vận dụng vào xây dựng và thực hiện các chính sách dân tộc trong quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc và tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội
Trang 6II Vận dụng
1 Đặc điểm dân tộc Việt Nam
Việt Nam là một quốc gia đa tộc người có những đặc điểm nổi bật sau đây:
Thứ nhất: Có sự chênh lệch về số dân giữa các tộc người
Việt Nam có 54 dân tộc, trong đó, dân tộc người Kinh có 73.594.341 người chiếm 85.7% dân số cả nước; 53 dân tộc thiểu số có 12.252.656 người, chiếm 14.3% dân số, tỷ
lệ dân số giữa các dân tộc cũng khôg đồng đều, có dân tộc với số dân lớn hơn 1 triệu người (Tày, Thái, Mường, Khơ me, Mông…), những có dân tộc với ố dân chỉ vài ba trăm (Si la, Pu Péo, Rơ Măm, Brâu, Ơ Đu) Thực tế cho thấy nếu một dân tộc mà số dân chỉ có hàng trăm sẽ gặp nhiều khó khăn cho việc tổ chức cuộc sống, bảo tồn tiếng nói và văn hoá dân tộc, duy trì và phát triển giống nòi Do vậy, việc phát triển số dân hợp lý cho các dân tộc thiểu số, đặc biệt đối với những dân tộc thiểu số rất ít người đang được Đảng và Nhà nước Việt Nam có những chính sách quan tâm đặc biệt
Thứ hai: Các dân tộc cư trú xen kẽ nhau
Việt Nam vốn là nơi chuyển cư của nhiều dân tộc ở khu vực Đông Nam Á Tính chất chuyển cư như vậy đã tạo nên bản đồ cư trú của các dân tộc trở nên phấn tán, xen kẽ
và làm cho các dân tộc ở Việt Nam không có lãnh thổ tộc người riêng Vì vậy, không có một dân tộc nào ở Việt Nam cư trú tập trung và duy nhất trên một địa bàn
Đặc điểm này mộ mặt tạo điều kiện thuận lợi để các dân tộc tăng cường hiểu biết lẫn nhau, mở rộng giao lưu giúp đỡ nhau cùng phát triển và tạo nên một nền văn hoá thống nhất trong đa dạng Mặt khác, do có nhiều tộc người sống xen kẽ nên trong quá trình sinh sống cũng dễ nảy sinh mâu thuẫn, xung đột, tạo kẽ hở để các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc phá hoại an ninh chính trị và sự thống nhất của đất nước
Thứ ba: Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam phân bổ chủ yếu ở địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng
Mặc dù chỉ chiếm 14.3% dân số, nhưng 53 dân tộc thiểu số Việt Nam lạ cư trú trên % diện tíc lãnh thổ và ở những vị trí trọng yếu của quốc gia cả về kinh tế, an ninh, quốc phòng, môi trường sinh thái – đó là vùng biên giới, hải đảo, vùng sâu vùng xa của đất nước Một số dân tộc có quan hệ dòng tộc với các dân tộc ở các nước láng giềng và khu vực Ví dụ: dân tộc Thái, dân tộc Mông, dân tộc Khơme, dân tộc Hoa… Do vậy, các thế lực phản động thường lợi dụng vấn đề dân tộc để chống phá cách mạng Việt Nam
Thứ tư: Các dân tộc ở Việt Nam có trình độ phát triển không đều
Các dân rộc ở nước ta còn có sự chênh lệch khá lớn về trình độ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội Về phương diện xã hội, trình độ tổ chức đời sống, quan hệ xã hội của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam khác nhau Về phương diện kinh tế, có thể phân loại các dân tộc thiểu số Việt Nam ở những trình độ phát triển rất khác nhau: Một số ít các dân tộc còn duy trì kinh tế chiếm hữu, dựa vào khai thác tự nhiên; tuy nhiên, đại bộ phận các dân tộc ở Việt Nam đã chuyển sang phương thức sản xuêta tiến bộ, tiến hành công nghiện hoá, hiện đại hoá đất nước Về văn hoá, trình độ dân trí, trình độ chuyên môn kỹ thuật của nhiều dân tộc thiểu số còn thấp
Muốn thực hiện bình đẳng dân tộc, phải từng bước giảm, tiến tới xoá bỏ khoảng cách phát triển giữa các dân tộc về kinh tế, văn hoá, xã hội Đây là nội dung quan trọng
Trang 7trong đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam để các dân tộc thiểu số phát triển nhanh và bền vững
Thứ năm: Các dân tộc Việt Nam có truyền thống đoàn kết gắn bó lâu đời trong cộng đồng dân tộc – quốc gia thống nhất
Đặc trưng này được hình thành do yêu cầu của quá trình cải biến tự nhiên và nhu cầu phải hợp sức, hợp quần để cùng đấu tranh chống ngoại xâm nên dân tộc Việt Nam đã hình thành từ rất sớm và tạo ra độ kết dính cao giữa các dân tộc
Đoàn kết dân tộc trở thành truyền thống quý báu của các dân tộc ở Việt Nam, là một trong những nguyên nhân và động lực quyết định mọi thắng lợi của dân tộc trong các giai đoạn lịch sử, đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược để giành độc lập thống nhất Tổ quốc Ngày nay, để thực hiện thắng lợi chiến lược xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam, các dân tộc thiểu số cũng như đa số phải ra sức phát huy nội lực, giữ gìn và phát huy truyền thống đoàn kết dân tộc, nâng cao cảnh giác, kip thời đập tan mọi âm mưu và hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc
Thứ sáu: Mỗi dân tộc có bản gốc văn hoá riêng góp phần tạo nên sự phong phú,
đa dạng của nền văn hoá Việt Nam thống nhất
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc Trong văn hoá của mỗi dân tộc đều có những sắc thái độc đáo riêng góp phần làm cho nền văn hoá Việt Nam thống nhất trong
đa dạng Sự thống nhất đó, suy cho cùng là bởi, các dân tộc đều có chung một lịch sử dựng nước và giữ nước đều sớm hình thành ý thức về một quốc gia độc lập, thống nhất
Xuất phát từ đặc điểm cơ bản của dân tộc Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn quan tâm đến chính sách dân tộc, xem đó là vấn đề chính trị – xã hội rộng lớn và toàn diện gắn liền với các mục tiêu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta
2 Quan điểm và chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta
Đảng Cộng sản Việt Nam ngay từ khi ra đời đã thực hiện nhất quán những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin về dân tộc Căn cứ vào thực tiễn lịch sử đấu tranh cách mạng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam cũng như dựa vào tình hình thế giới trong giai đoạn hiện nay, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng vấn đề dân tộc và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc có tầm quan trọng đặc biêt Trong mỗi thời kỳ cách mạng, Đảng và Nhà nước ta coi việc giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc là nhiệm vụ có tính chiến lược nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp, cũng như tiềm năng của từng dân tộc và đưa đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội Đại hội XII khẳng định: “Đoàn kết các dân tộc
có vị trí chiến lược trọng sự nghiệp cách mạng của nước ta Tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách, bảo đảm các dân tộc bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết giải quyết hài hoà quan hệ giữa các dân tộc, giúp nhau cùng phát triển, tạo chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh
tế, văn hoá, xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số…” Tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện các chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ở các cấp Chống kỳ thị dân tộc, nghiêm trị những âm mưu hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc1
Tóm lại, quan điểm cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề dân tộc được thể hiện ở các nội dung sau:
1 Đảng Cộng sản Việt Nam, văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb.CTQG, H 2016, tr.164 - 165
Trang 8Thứ nhất, vấn đề dân tộc và vấn đề đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam
Thứ hai, các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển, cùng nhau phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu chia rẽ dân tộc
Thứ ba, phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và an ninh – quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện tốt chính sách dân tộc; quan tâm phát triển, bồi dưỡng nguồn nhân lực; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tôc thiểu số; giữ gìn và phát huy những giá trị, bản sắc văn hoá truyền thống các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam thống nhất
Thứ tư, ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế - xã hội các vùng dân tộc và miền núi, trước hết tập chung vào phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng, xoá đói, giảm nghèo; khai thác có hiệu quả tiềm nnagw, thế mạnh của từng vùng, đi đôi với bảo vệ bền vững môi trường sinh thái; phát huy nội lực, tinh thần tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc, đồng thời tăng cường sự quan tâm hỗ trợ của Trung ương và sự giúp đỡ của các địa phương trong cả nước
Thứ năm, công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành và toà bộ hệ thống chính trị
Chính sách dân tộc cơ bản của Đảng, Nhà nước được thể hiện ở những điểm sau:
Về chính trị, thực hiện bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển giữa các dân tộc Chính sách dân tộc góp phần nâng cao tính tích cực chính trị của công dân; nâng cao nhận thức của đồng bào các dân tộc thiểu số về tầm quan trọng của vấn đề dân tộc, đoàn kết các dân tộc, thống nhất mục tiêu chung là độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
Về kinh tế, nội dung, nhiệm vụ kinh tế trong chích sách dân tộc là các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội miền núi, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số nhằm phát huy tiềm năng phát triển, từng bước khắc phục khoảng cách chênh lệch giữa các vùng, giữa các dân tộc Thực hiệ các nội dung kinh tế thông qua các chương trình, dự án phát triển kinh tế ở các vùng dân tộc thiểu số, thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế thị trường định hưỡng xã hội chủ nghĩa Thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng căn cứ địa cách mạng
Về văn hoá, xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc giữ gìn và phát huy giá trị văn hoá truyền thống của các tộc người, phát triển ngôn ngữ, xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở, nâng cao trình độ văn hoá chi nhân dân các dân tộc Đào tạo cán bộ văn hóa, xây dựng môi trường, thiết chế văn hoá phù hợp với điều kiện của các tộc người trong quốc gia đa dân tộc Đồng thời, mở rộng giao lưu văn hoá với các quốc gia, các khu vực và toàn thế giới Đấu tranh chống tệ nạn xã hội, chống diễn biến hoà bình trên mặt trận tư tưởng – văn hoá ở nước ta hiện nay
Về xã hội, thực hiện chính sách xã hội, đảm bảo an sinh xã hội trong vùng đồng bò dân tộc thiểu số Từng bước thực hiện bình đẳng xã hội, công bằng thông qua việc thực
Trang 9hiện chính sách phát triển kinh tế – xã hội, xoá đói giảm nghèo, dân số y tế, giáo dục trên
cơ sở chú ý đến tính đặc thù mỗi vùng, mỗi dân tộc Phát huy vai trò của hệ thống chính trị cơ sở và các tổ chức chính trị - xã hội ở miền núi, vùng dân tộc thiểu số
Về an ninh quốc phòng, tăng cường sức mạnh bảo vệ tổ quốc trên cơ sở đảm bảo
ổn định chính trị, thực hiện tốt an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Phối hợp chặt chẽ các lực lượng trên từng địa bàn Tăng cươngừ quan hệ quân dân, tạo thế trận quốc phòng toàn dân trong vùng đồng bào dân tộc sinh sống
Thực hiện đúng chính sách dân tộc hiện nay ở Việt Nam là phải phát triển toàn diện về chính trị, kinh tế, văn hía, an ninh – quốc phòng các địa bàn vùng dân tộc thiểu
số, vùng biên giới, rừng núi, hải đảo của tổ quốc
Như vậy, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta mnag tính chất toàn diện, tổng hợp, bao trùm tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, liên quan đến mỗi dân tộc và quan hệ giữa các dân tộc trong cuộc sống cộng đồng quốc gia Phát triển kinh tế - xã hội của các dân tộc là nền tảng để tăng cường đoàn kết và thực hiện quyền bình đẳng dân tộc,
là cơ sở để từng bước khắc phục sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa các dân tộc Do vậy, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta mang tính cách mạng và tiến bộ, đồng thời còn mnag tính nhân văn sâu sắc Bởi vì, chính sách đó không bỏ sót bất kỳ dân tộc nào, không cho phép bất cứ tư tưởng kỳ thị, chia rẽ dân tộc nào; đồng thời nó còn nhằm phát huy nội lực của mỗi dân tộc kết hợp với sự giúp đỡ hiệu quả của các dân tộc anh em trong cả nước
3 Thực trạng quan hệ dân tộc, tộc người ở Việt Nam
3.1 Tích cực
Trải qua hơn 35 năm thực hiện đổi mới đất nước toàn diện, dựa trên những cơ sở
lý luận cơ bản về giải quyết vấn đề dân tộc của chủ nghĩa Mác – Lênin, các chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản và Nhà nước ta đã góp phần to lớn trong việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước phát triển và ổn định Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm đến quan hệ dân tộc thể hiện qua những chủ trương, chính sách dân tộc
luôn triển khai thực hiện nhất quán quan điểm: “Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ trên tinh
thần tôn trọng, giúp đỡ lẫn nhau, hướng tới mục tiêu xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc ; giải quyết hài hoà quan hệ giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc” Đây vừa là mục tiêu, vừa là nguyên tắc hoạt động của Đảng và Nhà
nước trong triển khai thực hiện các chích sách về vấn đề dân tộc Nhìn chung, các tộc người ở Việt Nam hiện nay đều phát triển về mọi mặt, xu hướng cố kết các tộc người được phát huy, tính thống nhất giữa các tộc người trong một quốc gia, dân tộc được củng
cố, tăng cường
Tổng kết hơn 30 năm thực hiện đổi mới đất nước, Đại hội Đảng lần thứ XII nhấn
mạnh hơn: “Đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng
nước ta” 2 Theo đó, các dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam đều có quyền bình đẳng, tôn
trọng, đoàn kết giúp đỡ nhau cùng phát triển; cùng thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ độc lập dân tộc gắn liền với xây
2 Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội
Trang 10dựng chủ nghĩa xã hội Gần đây nhất, tại Đại hội Đảng lần thứ XIII (2021), Đảng ta đã
khẳng định các chính sách dân tộc ở Việt Nam phải được xây dựng trên cơ sở “bảo đảm
các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển”3 Điều này, thể hiện sự quan tâm sát sao của Đảng đối với vấn đề về dân tộc, qua hệ dân tộc – một vấn đề thời sự mang tính chiến lược trong sự nghiệp cách mạng và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ đất nước
Để thực hiện nội dung “Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng” Đảng và Nhà nước đã
ban hành các chính sách phát triển kinh tế – xã hội chung cho cả nước và những chính sách đặc thù cho từng dân tộc, từng vùng Tính đến năm 2020, có 118 chính sách về dân tộc dành cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đang có hiệu lực thi hành, trong
đó có 54 chính sách phát triển kinh tế – xã hội trực tiếp cho đồng bào, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số và miền núi; có 64 chính sách chung có ưu tiên cho đồng bào các dân tộc thiểu số Hay mới đây nhất Quốc Hội đã thông qua Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030 (Quyết định số 1719/-QĐ-TTg ngày 14/10/20021) Trong các văn kiện Đại hội Đảng, Đảng ta tiếp tục thể hiện sự quan tâm sâu sắc đến vấn đề bình đẳng trong khối đại đoàn
kết các dân tộc: “Thực hiện tốt mục tiêu đoàn kết tôn giáo, đại đoàn kết dân tộc… Bảo
đảm công khai, minh bạch thông tin và bảo đảm quyền được thông tin và tiếp cận thông tin của nhân dân, đặc biệt ở các vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số”4;
“Từng bước thu hẹp khoảng cách về hưởng thụ văn hóa giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, miền và giữa các giai tầng xã hội”5
Các chính sách dân tộc bao phủ toàn diện tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội, góp phần hỗ trợ đồng bào các dân tộc thiểu số hoà nhập với miền xuôi phát triển kinh tế, giáo dục, y tế, văn hóa đem lại những hiệu quả tích cực, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, thay đổi diện mạo vùng nông thôn, quyền bình đẳng giữa các dân tộc được thể chế hoá và thực hiện trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội Từ năm 2003 đến năm 2020, Nhà nước tập trung bố trí đầu tư, hỗ trợ kinh phí phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, với tổng kinh phí: giai đoạn 2011-2015 là 690.000 tỷ đồng, giai đoạn 2016-2020 là 998.000 tỷ đồng Tập trung vào xây dựng công trình kết cấu hạ tầng (đường giao thông, công trình thủy lợi, hệ thống điện ); hỗ trợ phát triển kinh tế – xã hội cho các dân tộc thiểu số rất ít người cho hàng trăm nghìn hộ đồng bào các dân tộc thiểu số Tỷ lệ hộ nghèo ở các thôn, bản, các xã đặc biệt khó khăn đã giảm trung bình còn 3,5%/năm cho thấy công tác xoá đói giảm nghèo đạt kết quả khả quan Điện đường trường trạm ở các vùng dân tộc thiểu số được nâng cao
so với trước kia nhờ đó đời sống người dân đã được cải thiện đáng kể, nền kinh tế vùng đồng bào thiểu số từng bước chuyển sang kinh tế hàng hoá, hoà nhập vào sự phát triển chung của đất nước Nhiều vùng đã hình thành những hợp tác xã nông nghiệp với quy mô
3 Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.78.
4 Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội
5 Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nhà xuất bản Chính trị Quốc