1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI

12 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 106,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác – lênin, dân tộc là quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài người, trải qua các cộng đồng từ thấp đến cao gồm: Thị tộc, bộ lạc, bộ tộc, dân tộc. Sự biến đổi của phương thức lao động sản xuất chính là nguyên nhân quyết định sự biến đổi của cộng đồng dân tộc. Dân tộc là một vấn đề mang tính thời sự và nhạy cảm mà các thế lực luôn tìm cách lợi dụng nhằm chống phá nhà nước, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Vì vậy, V.I.Lênin đã khái quát Cương lĩnh dân tộc như sau: “Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng, các dân tộc được quyền tự quyết, liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc lại”. Vấn đề dân tộc, chính sách dân tộc có vai trò và vị trí đặc biệt trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Có thể khẳng định, chính sách dân tộc của Việt Nam đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn quán triệt nhất quán theo nguyên tắc: “bình đẳng, đoàn kết, tương trợ trên tinh thần tôn trọng, giúp đỡ lẫn nhau, hướng tới mục tiêu xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc”. Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ chương, chính sách phát triển kinh tế – xã hội, xóa đói, giảm nghèo vùng dân tộc và miền núi. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện nảy sinh nhiều thách thức, đòi hỏi cần phải được điều chỉnh, thay đổi cho phù hợp với tình hình mới.

Trang 1

1 Cơ sở lý luận về vấn đề dân tộc 1

1.1 Khái niệm, đăc trưng cơ bản về dân tộc 1

1.2 Nội dung chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề dân tộc 2

2 Chính sách dân tộc của Việt Nam thời kỳ đổi mới 5

2.1 Những thành tựu trong công tác xây dựng chích sách dân tộc ở Việt Nam thời ký đổi mới 5

2.2 Những hạn chế cần khắc phục 7

2.3 Nguyên nhân của những hạn chế 8

3 Giải pháp hoàn thiện các chính sách dân tộc ở Việt Nam hiện nay 9

4 Kết luận 10

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 2

1 Cơ sở lý luận về vấn đề dân tộc

1.1 Khái niệm, đăc trưng cơ bản về dân tộc

Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác - lênin, dân tộc là quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài người, trải qua các cộng đồng từ thấp đến cao bao gồm: Thị tộc, bộ lạc, bộ tộc, dân tộc Sự biến đổi của phương thức lao động sản xuất chính là nguyên nhân quyết định sự biến đổi của cộng đồng dân tộc Khái niệm dân tộc hiện nay thường được hiểu theo hai nghĩa [1, tr.104 - 107]:

Theo nghĩa rộng: Khái niệm dân tộc dùng để chỉ một cộng đồng người ổn

định, làm thành nhân dân của một quốc gia, có lãnh thổ riêng, nền kinh tế thống nhất, có ngôn ngữ chung và có ý thức về sựu thống nhất của mình, gắn bó với nhau bở quyền lợi chính trị, kinh tế, truyền thống văn hoá, và truyền thống đấu tranh chung trong suốt quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước Với cách hiểu này, khái niệm dân tộc dùng để chỉ một quốc gia Ví dụ như : dân tộc Việt Nam, dân tộc Lào…

Theo đó, dân tộc có một số đặc trưng cơ bản sau: (1) có chung một vùng lãnh thổ ổn định ; (2) có chung một phương thức sinh hoạt kinh tế ; (3) có chung một ngôn ngữ làm công cụ giao tiếp ; (4) có chung một nền văn hoá và tâm lý ; (5) có chung một nhà nước (nhà nước dân tộc) Các đặc trưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong một chỉnh thể

Theo nghĩa hẹp: Dân tộc là khái niệm dùng để chỉ một cộng đồng tộc

người cụ thể được hình thành trong lịch sử, có những mối liên hệ chặt chẽ và bền vững, có chung ý thức tự giác tộc người, ngôn ngữ và văn hoá Có nét đặc thù so với những cộng đồng khác thể hiện qua văn hoá, lối sống, ý thức tộc người, tâm lý; cộng đồng này xuất hiện sau cộng đồng bộ tộc, bộ lạc; có kế thừa

và phát triển hơn những nhân tố tộc người ở cộng đồng trước đó Theo cách hiểu này dân tộc là một bộ phận hay một thành tố của một quốc gia Ví dụ: Việt Nam

có 54 dân tộc tức Việt Nam có 54 cộng đồng tộc người

Trang 3

Theo đó, Dân tộc – tộc người có một số đặc trưng cơ bản sau : (1) Cộng đồng về ngôn ngữ (bao gồm ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết hoặc chỉ riêng ngôn ngữ nói) Đây là tiêu chí cơ bản để phân biệt các tộc người luôn được các dân tộc coi trọng giữ gìn; (2) Cộng đồng về văn hoá (bao gồm văn hoá vật thể và phi vật thể) Mỗi tộc người sẽ có truyền thống, lối sống, phong tục, tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo của tộc người đó Lịch sử phát triển của mỗi tộc người gắn với truyền thống văn hoá của họ (3) Ý thức tự giác tộc người Đây là tiêu chí quan trọng nhất để phân định một tộc người với tộc người khác và có vị trí quyết định đối với sự tồn tại, phát triển của mỗi tộc người

Thực chất, hai cách hiểu về khái niệm dân tộc, tuy hai khái niệm không đồng nhất với nhau nhưng chúng lại gắn bó mặt thiết và không thể tách rời Dân tộc – Quốc gia bao hàm cả dân tộc – tộc người và dân tộc – tộc người là một bộ phận hình thành nên dân tộc – quốc gia

1.2 Nội dung chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề dân tộc

Khi nghiên cứu về vấn đề dân tộc, V.I.Lênin đã phát hiện ra hai xu hướng khách quan trong sự phát triển của quan hệ dân tộc là [1, tr.107]:

Xu hướng thứ nhất, cộng đồng dân cư muốn tách ra để hình thành cộng đồng dân tộc độc lập Nguyên nhân dẫn đến xu hướng này là do sự thức tỉnh và

trưởng thành của ý thức về quyền sống, ý thức dân tộc, khi đó các cộng đồng dân cư muốn tách ra để thành lập các dân tộc độc lập Trong thực tế, xu hướng này được thể hiện qua các phong trào đấu tranh của các dân tộc bị áp bức, bóc lột muốn thoát ra khỏi các nước đế quốc và bọn thực dân để giành lại độc lập

Xu hướng thứ hai, các dân tộc trong từng quốc gia, thậm chí các dân tộc

ở nhiều quốc gia muốn liên hiệp lại với nhau Xu hướng này nổi lên trong quá

trình chủ nghĩa tư bản đang phát triển thành chủ nghĩa đế quốc Nhờ sự phát triển của lực lượng sản xuất, của khoa học – kỹ thuật, của giao lưu văn hoá và kinh tế trong xã hội tư bản đã thúc đẩy các dân tộc xích lại gần nhau hơn từ đó nhu cầu xóa bỏ hàng rào ngăn cách giữa các dân tộc xuất hiện

Trang 4

Trong xã hội ngày nay, hai xu hướng đang diễn ra với những biểu hiện rất phong phú và đa dạng Trong phạm vi một quốc gia, xu hướng thứ nhất được thể hiện trong sự nỗ lực của từng tộc người tiến tới bình đẳng Còn xu hướng thứ hai được thể hiện ở động lực thú đẩy các tộc người xích lại gần nhau Trong phạm

vi quốc tế, xu hướng thứ nhất được thể hiện trong phong trào đấu tranh chống lại

đế quốc và thực dân nhằm giải phóng dân tộc Còn xu hướng thứ hai được thể hiện ở việc các dân tộc muốn xích lại gần nhau, hợp tác thành liên minh trong khu vực hoặc thế giới Hai xu hướng này có sự thống nhất, tác động qua lại, biện chứng và hỗ trợ lẫn nhau Hiện nay, hai xu hướng này đang diễn ra khá phức tạp, thâm chí còn bị lợi dụng thực hiện “Diễn biến hoà bình”

Dựa trên quan điểm về mối quan hệ giữa dân tộc với giai cấp; kết hợp phân tích hai xu hướng khách quan trong sự phát triển của dân tộc và thực tiễn cách mạng Nga V.I.Lênin đã khái quát thành Cương lĩnh dân tộc với nội dung

sau: “Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng, các dân tộc được quyền tự quyết, liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc lại”

Thứ nhất, các dân tộc hoàn toàn bình đẳng

Đây là quyền thiêng liêng nhất của các dân tộc Không phân biệt dân tộc lớn hay nhỏ, trình độ phát triển cao hay thấp, các dân tộc đều có quyền và nghĩa

vụ ngang nhau trên tất cả các lĩnh vực, xoá bỏ hết mọi hình thức bóc lột, áp bức,

và phân biệt chủng tộc Không một dân tộc nào được giữ những đặc quyền, đặc lợi trong các quan hệ xã hội và quốc tế, không một dân tộc nào có quyền được đi

áp bức, bóc lột các dân tộc khác Trong một đất nước đa dân tộc, quyền bình đẳng giữa các dân tộc phải được thể hiện trên cơ sở pháp lý và phải được thực hiện trên thực tế

Để thực hiện được quyền bình đẳng giữa các dân tộc, trước hết các quốc gia phải tiêu diệt tình trạng áp bức giữa các giai cấp, từ đó xoá bỏ áp bức dân tộc; phải đấu tranh chống chủ nghĩa dân tộc cực đoan và sự phân biệt chủng tộc Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng là cơ sở để thực hiện quyền tự quyết của các dân tộc và xây dựng quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa các dân tộc

Trang 5

Thứ hai, các dân tộc được quyền tự quyết

Đây là quyền các dân tộc được làm chủ vận mệnh, được lựa chọn chế độ chính trị và hướng phát triển của dân tộc mình, bao gồm cả quyền tự do phân lập thành quốc gia riêng (không đồng nhất với quyền của các dân tộc thiểu số trong một quốc gia đa tộc) và quyền tự nguyện liên hiệp giữa các dân tộc trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng, phù hợp với lợi ích dân tộc và giai cấp, phải xuất phát từ thực tiễn đời sống và đứng trên lập trường của giai cấp công nhân, đảm bảo thống nhất giữa lợi ích của giai cấp công nhân và lợi ích của dân tộc Đồng thời cần đấu tranh chống mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thủ địch lợi dụng quyền “dân tộc tự quyết” để chia rẽ, phá hoại khối đoàn kết toàn dân tộc hoặc kích động đòi ly khai dân tộc

Ba là, liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc

Đây là cơ sở vững mạnh cho sự đoàn kết các giai cấp, tầng lớp trong phạm vi đất nước và toàn cầu Phản ánh sự thống nhất giữa sự nghiệp giải phóng giai cấp và giải phóng dân tộc, đồng thời phản ánh sự gắn bó chặt chẽ giữa tinh thần yêu nước và chủ nghĩa quốc tế chân chính, đảm bảo cho các phong trào giải phóng dân tộc có đủ sức mạnh tổng hợp và có khả năng để giành thắng lợi

Đoàn kết, liên hiệp công nhân là cơ sở quan trọng để thực hiện đoàn kết các tầng lớp nhân dân lao động của các dân tộc trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, chống chủ nghĩa đế quốc vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội Vì vậy, nội dung này là nội dung cốt lõi và là giải pháp quan trọng để liên kết các nội dung trong “Cương lĩnh dân tộc” thành một chỉnh thể hoàn chỉnh

“Cương lĩnh dân tộc” của chủ nghĩa Mác – Lênin là cơ sở lý luận quan trọng để các Đảng cộng sản vận dụng vào xây dựng và thực hiện các chính sách dân tộc trong quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc và tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội

Trang 6

2 Chính sách dân tộc của Việt Nam thời kỳ đổi mới

2.1 Những thành tựu trong công tác xây dựng chích sách dân tộc ở Việt Nam thời ký đổi mới

Trải qua hơn 90 năm xây dựng đất nước, dựa trên những cơ sở lý luận cơ bản về giải quyết vấn đề dân tộc của chủ nghĩa Mác – Lênin, các chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản và Nhà nước ta đã góp phần to lớn trong việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước phát triển và ổn định Đảng

và Nhà nước luôn chủ trương và triển khai thực hiện nhất quán quan điểm:

“Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ trên tinh thần tôn trọng, giúp đỡ lẫn nhau, hướng tới mục tiêu xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.” Đây vừa là mục

tiêu, vừa là nguyên tắc hoạt động của Đảng và Nhà nước trong triển khai thực hiện các chích sách về vấn đề dân tộc

Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa

xã hội năm 1991 (Bổ sung, phát triển năm 2011) đã khẳng định: “Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc cùng phát triển, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam…” Tổng kết hơn 30 năm thực hiện đổi mới toàn diện đất nước, Đại hội Đảng lần thứ XII nhấn mạnh hơn: “Đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta”[3].

Theo đó, các dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam đều có quyền bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết giúp đỡ nhau cùng phát triển; cùng thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ độc lập dân tộc gắn liền với xây dựng chủ nghĩa xã hội Gần đây nhất, tại Đại hội Đảng lần thứ XIII (2021), Đảng ta đã khẳng định các chính sách dân tộc ở Việt Nam phải

được xây dựng trên cơ sở “bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển” [2] Điều này, thể hiện sự quan tâm sát sao của Đảng

đối với vấn đề về dân tộc – một vấn đề thời sự mang tính chiến lược trong sự nghiệp cách mạng và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ đất nước

Trang 7

Để thực hiện nội dung “Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng” Đảng và Nhà

nước đã ban hành các chính sách phát triển kinh tế – xã hội chung cho cả nước

và những chính sách đặc thù cho từng dân tộc, từng vùng Tính đến năm 2020,

có 118 chính sách về dân tộc dành cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đang có hiệu lực thi hành, trong đó có 54 chính sách phát triển kinh tế – xã hội trực tiếp cho đồng bào, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số và miền núi; có

64 chính sách chung có ưu tiên cho đồng bào các dân tộc thiểu số [5] Hay mới đây nhất Quốc Hội đã thông qua Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh

tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030 (Quyết định số 1719/-QĐ-TTg ngày 14/10/20021) Trong các văn kiện Đại hội Đảng, Đảng ta tiếp tục thể hiện sự quan tâm sâu sắc đến vấn đề bình đẳng trong

khối đại đoàn kết các dân tộc: “Thực hiện tốt mục tiêu đoàn kết tôn giáo, đại đoàn kết dân tộc… Bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và bảo đảm quyền được thông tin và tiếp cận thông tin của nhân dân, đặc biệt ở các vùng sâu vùng

xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số”[2, tr.78]; “Từng bước thu hẹp khoảng cách

về hưởng thụ văn hóa giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, miền và giữa các giai tầng xã hội”[2, tr.115].

Có thể nói, hệ thống chính sách dân tộc ở Việt Nam thời kỳ đổi mới đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, tập trung chủ yếu vào các vấn đề sau: (1) Chính sách phát triển kinh tế vùng các dân tộc thiểu số phát huy thế mạnh của vùng đồng bào, gắn với phát triển chung cả nước; (2) Chính sách xã hội tập trung vào các vấn đề giáo dục, văn hóa, y tế nhằm thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc (3) Chính sách liên quan đến quốc phòng – an ninh, giải quyết tốt vấn đề đoàn kết dân tộc và mối quan hệ với các quốc gia trong xu thế toàn cầu hóa

Các chính sách dân tộc bao phủ toàn diện tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội, góp phần hỗ trợ đồng bào các dân tộc thiểu số phát triển kinh tế, giáo dục, y

tế, văn hóa đem lại những hiệu quả tích cực, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, thay đổi diện mạo vùng nông thôn,

Trang 8

quyền bình đẳng giữa các dân tộc được thể chế hoá và thực hiện trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội Từ năm 2003 đến năm 2020, Nhà nước tập trung bố trí đầu tư, hỗ trợ kinh phí phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số

và miền núi, với tổng kinh phí: giai đoạn 2011-2015 là 690.000 tỷ đồng, giai đoạn 2016-2020 là 998.000 tỷ đồng Tập trung vào xây dựng công trình kết cấu

hạ tầng (đường giao thông, công trình thủy lợi, hệ thống điện ); hỗ trợ phát triển kinh tế – xã hội cho các dân tộc thiểu số rất ít người cho hàng trăm nghìn

hộ đồng bào các dân tộc thiểu số Tỷ lệ hộ nghèo ở các thôn, bản, các xã đặc biệt khó khăn đã giảm trung bình còn 3,5%/năm cho thấy công tác xoá đói giảm nghèo đạt kết qua khả quan Điện đường trường trạm ở các vùng dân tộc thiểu

số được nâng cao so với trước kia Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong vùng dân tộc và miền núi có chuyển biến tốt, dịch vụ trợ giúp pháp lý đang tiếp cận gần hơn với người dân

2.2 Những hạn chế cần khắc phục

Trong nhưng năm Đảng và Nhà nước đã rất quan tâm đến xây dựng và thực thi chính sách dân tộc, khoảng cách chênh lệch giữa các dân tộc ở nước ta được thu hẹp, đất nước phát triển ổn định, bền vững Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng chính sách dân tộc vẫn còn tồn tại một số hạn chế, làm giảm hiệu quả của các chính sách dân tộc

Thứ nhất, Đảng và Nhà nước ban hành nhiều chính sách về dân tộc

nhưng chưa bảo đảm thống nhất giữa các chính sách phát triển dân tộc với các chính sách phát triển vùng, chưa đáp ứng được yêu thực tiễn ở các vùng dân tộc

và miên núi; việc huy động nguồn lực, ngân sách tổ chức thực hiện thấp hơn rất nhiều so với thực tế, gây khó khăn trong quá trình tổ chức thực hiện

Thứ hai, chính sách dân tộc còn chồng chéo về nội dung, địa bàn đầu tư

và đối tượng thụ hưởng Việc phối hợp giữa các bộ, ban ngành trong thực thi chính sách dân tộc chưa chặt chẽ, công tác chỉ đạo còn chồng chéo Công tác kiểm tra, đánh giá, tổng kết thực hiện chính sách dân tộc còn hạn chế, chưa được quan tâm chú trọng Công tác chỉ đạo, thực hiện chính sách dân tộc ở một số địa

Trang 9

phương còn yếu kém, lúng túng Công tác lập kế hoạch, rà soát đối tượng thụ hưởng chính sách chưa sát với thực tế

Thứ ba, chính sách dân tộc chưa bảo đảm tính công bằng cho mọi đối

tượng thụ hưởng trên cùng một địa bàn Những chính sách hỗ trợ được áp dụng chung cho vùng, địa phương dẫn đến cả đồng bào dân tộc đa số và thiểu số cùng sinh sống trên địa bàn đó đều được hưởng các chính sách hỗ trợ như nhau

Thứ tư, mặc dù Đảng va Nhà nước đã thay đổi tư duy trong xây dựng các

chính sách dân tộc từ cho không sang hỗ trợ cho điều kiện nhưng vẫn còn những chính sách chưa kích thích nội lực, sự tự vươn lên hướng tới sự phát triển lâu dài, bền vững của đồng bào Vẫn có những chính sách cấp gạo, hỗ trợ tiền điện hằng tháng… khiến một bộ phận đồng bào muốn là hộ nghèo để tiếp tục có những ưu đãi

2.3 Nguyên nhân của những hạn chế

So với sự phát triển của đất nước hiện nay, vùng đồng bào các dân tộc thiếu số vẫn là vùng chậm phát triển nhất Các nguyên nhân chủ yếu dân đến điều đó là:

Thứ nhất, trình độ phát triển kinh tế – xã hội giữa các dân tộc, giữa các

vùng miền có sự chênh lệch không đồng đều Ở một số vùng đồng bào dân tộc thiểu số, còn gặp nhiều nhiều khó khăn trong việc tiếp nhận và ứng dụng những thành tựu khoa học – công nghệ, chưa sử dụng hiệu quả vốn đầu tư bỏ lỡ cơ hội

Thứ hai, Đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số ở một số nơi còn rất khó

khăn, nhiều vấn đề bức xúc của đồng bào chậm được phát hiện và giải quyết như: Tình trạng thiếu việc làm, công tác xoá đói giảm nghèo, thiên tai, bệnh tật vẫn đang là thách thức lớn Tỷ lệ hộ nghèo là người dân tộc thiểu số chiếm 52,7% số hộ nghèo của cả nước; Tỷ lệ người người dân tộc thiểu số trên 15 tuổi chưa đọc thông, viết thạo tiếng Việt chiếm khoảng 21% Số hộ thiếu đất ở hơn 58.000 hộ đang thiếu đất ở, hơn 223.000 hộ đang thiếu nước sạch sinh hoạt…

Trang 10

Thứ ba, việc hoạch định và thực hiện chính sách dân tộc còn bất cập, hạn

chế Một số chính sách đã ban hành còn thiếu tính cụ thể, khả thi, chưa phù hợp với thực tiễn vùng, cùng một nội dung thực hiện nhưng ở nhiều chương trình, dự

án khác nhau dẫn đến sự nhầm lần, khó thực hiện Chính sách dân tộc hiện nay hầu hết là các chính sách hỗ trợ trực tiếp ít chính sách là đầu tư, hỗ trợ có điều kiện, cung cấp công việc – kỹ năng, tự tạo sinh kế lau dài, bền vững cho đồng bào các dân tộc thiểu số miền núi Bởi vậy, trong vùng đồng bào dân tộc thiểu

số, nhiều người vẫn có tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước, không muốn vươn lên để xoá đói giảm nghèo Bộ máy tổ chức thực hiện còn thiếu đồng bộ, đội ngũ cán bộ còn thiếu về số lượng và yếu về chuyên môn

3 Giải pháp hoàn thiện các chính sách dân tộc ở Việt Nam hiện nay

Để khắc phục những hạn chế trong xây dựng chính sách dân tộc ở Việt Nam và góp phần thực hiện mục tiêu bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ lẫn nhau Đảng và Nhà nước cần tập trung vào một số giải pháp sau:

Một là, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, các chủ

trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn đề dân tộc, công tác dân tộc Đồng thời bồi dưỡng, nâng cao nhận thức cho đồng bào các dân tộc thiểu số tích cực thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về vấn đề dân tộc

và công tác dân tộc Đặc biệt quan tâm đến công tác động viên, khuyến khích đồng bào các dân tộc phát hiện những điểm chưa hợp lý, điểm bất cập để kịp thời kiến nghị góp phần xây dựng và hoàn thiện các chính sách dân tộc

Hai là, xây dựng, hoàn thiện các văn bản pháp luật về vấn đề dân tộc, ban

hành và thực hiện đồng bộ các chính sách đầu tư phát triển kinh tế – xã hội bám sát thực tế, phù hợp với từng vùng, từng miền, từng dân tộc phấn đấu năm 2030 thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa vùng dân tộc thiểu số với cả nước

Ba là, bảo đảm tỷ lệ chi ngân sách cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số

hợp lý để có đủ nguồn lực cho các chính sách dân tộc Đồng thời, có cơ chế hợp

lý để thu hút các nguồn lực của các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước

Ngày đăng: 21/03/2022, 14:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w