Như vậy điều tra phân loại là để biết chuẩn đoán đối tượng, hiểu sâu từng loại hình riêng lẻ trong hệ thống được xác định, hiểu cá thể trong quần thể để xác định tính chất, xác định tên
Trang 1MỞ ĐẦU
Đây là một tài nguyên luôn luôn gắn chặt với con người trong mọi hoạt động kinh tế văn hóa xã hội Vì vậy con người cần phải hiểu biết về đất – hiểu
về bản chất, về sự biến động của đất để nâng cao hiệu quả sử dụng đất
Hơn 40 năm qua, công tác điều tra phân loại đánh giá đất đã được tiến hành ở nước ta với đội ngũ cán bộ chuyên môn được đào tạo theo nhiều hình thức khác nhau và đã thu được những kết quả đáng kể Đến nay, do tình hình phát triển của nông nghiệp, việc khai thác sử dụng đất được mở rộng, trình độ thâm canh phát triển cao, việc đa dạng hóa cây trồng đang được tiến hành theo
cơ chế thị trường; mặt khác tình trạng xói mòn thoái hóa đất nhiều nơi đang ở mức độ nghiêm trọng, cho nên công tác khảo sát đất cần được phát triển một bước và cần có sự tham gia không chỉ của đội ngũ chuyên gia chuyên ngành mà còn của đông đảo cán bộ trong ngành nông nghiệp
Cuốn sách “Sổ tay điều tra phân loại đánh giá đất” ra đời nhằm trình
bày một cách cụ thể xúc tích, nêu rõ mục tiêu và cách làm từng việc trong hai chuyên ngành lớn là điều tra phân loại đất (soil survey, soilclassification) và đánh giá phân hạng đất đai (landevaluation) cho đông đảo cán bộ trong ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn thực hiện trong đó có người được đào tạo trong chuyên ngành thổ nhưỡng nông hóa
SỔ TAY ĐIỀU TRA PHÂN LOẠI ĐÁNH GIÁ ĐẤT ra đời chắc không tránh khỏi những tồn tại, thiếu sót, kính mong độc giả lượng thứ và phản ánh cho nhóm tác giả chúng tôi để chỉnh lý, sửa chữa, bổ sung cho những lần tái bản sau
Địa chỉ liên hệ: Hội Khoa Học Đất Việt Nam
61 Hàng Chuối – Hà Nội Điện thoại: (04) 8 210374
Tập thể tác giả
Trang 2PHẦN THỨ NHẤT ĐIỀU TRA PHÂN LOẠI ĐẤT
I NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT TRONG ĐIỀU TRA PHÂN LOẠI ĐẤT
I 1 SỰ CẦN THIẾT VỀ ĐIỀU TRA PHÂN LOẠI ĐẤT
Tuy hàng ngày chúng ta nhìn đất cũng đã có những nhận thức ít nhiều về từng loại hình đất Nông dân ta từ ngàn xưa đã biết phân biệt từng loại đất và đặc điểm sử dụng của chúng như đất phù sa, đất xám, đất đỏ, đất vàng, đất đen, đất mặn, đất phèn, đất cát, đất sét, đất sỏi đá Những nhận thức đó vô cùng quan trọng, nhưng chưa đủ:
- Do chưa nhận thức có cơ sở khoa học, một tài nguyên quan trọng đối với cuộc sống, một đối tượng lao động chủ yếu để nâng cao sản phẩm nông nghiệp
- Do chưa biết được phương pháp đối tượng cụ thể và thiếu công cụ để phân tích chuẩn đoán chính xác trong điều tra phân loại đất
- Cây trồng sử dụng cả một bề dày của đất, những cây lâu năm có bộ rễ phát triển tập trung ở độ sâu 1 – 2m (những rễ cái, rễ lớn còn sâu hơn nhiều tùy loại đất) Vì vậy không thể nhìn và xem xét trên mặt đất mà đủ
Như vậy biết điều tra phân hạng đất là để biết một cách tổng quát toàn bộ tính chất của một loại hình nào đó về đất để sử dụng tốt cho cây trồng và các ngành kinh tế quốc dân nói chung,
I.2 ĐỐI TƯỢNG ĐIỀU TRA PHÂN LOẠI ĐẤT
Đối tượng điều tra phân loại ở đây là đất Nên trước hết phải hiểu đất là gì? Sự hình thành phát triển thoái hóa của đất như thế nào?
Người chủ sử dụng đất phải biết tự đặt ra câu hỏi và trả lời về đất của mình: Tại sao đất tôi xám xịt lại? Tại sao lại có bạc trắng? Tại sao vạt đất của tôi
cứ rắn chặt lại? Tại sao ở chân đồi tôi đá cứ lớn lên
Từ mấy thế kỷ nay khoa học về đất đã không ngừng phát triển Ngoài những nghiên cứu riêng lẻ từng nước, từ những thập kỷ 30 của thế kỷ này đã có những họat động trên phạm vi toàn thế giới dưới danh nghĩa Hội Khoa học Đất Quốc tế 4 năm một lần Hội có một cuộc họp lớn tổng kết các kết quả điều tra nghiên cứu của cả thế giới và phổ biến cho cả thế giới để nâng cao hiểu biết về đất, về sử dụng, bảo vệ cải tạo tốt đất toàn hành tinh nhằm bảo đảm được chức năng của đất là nuôi sống nhân loại Ngoài ra có 2 trung tâm quốc tế họat động liên tục từ những năm 1960 để:
1 Nghiên cứu phân loại làm bản đồ đất tỉ lệ nhỏ toàn thế giới Hướng dẫn phân hạng đánh giá đất (FAO – UNESCO, ISRIC – Hà Lan)
2 Nghiên cứu hệ thống phân loại chi tiết phục vụ cho bản đồ đất các tỉ lệ trên một quan điểm khoa học riêng biệt (không hòa hợp) và có một hệ thống
Trang 3Như vậy điều tra phân loại là để biết chuẩn đoán đối tượng, hiểu sâu từng loại hình riêng lẻ trong hệ thống được xác định, hiểu cá thể trong quần thể để xác định tính chất, xác định tên đất và chấm đúng điểm điều tra phẫu diện đó lên đúng
vị trí trên bản đồ và ta có một bản đồ đất (bản đồ thổ nhưỡng) với ranh giới từng loại hình đất chi tiết theo tỉ lệ để sử dụng hiệu quả từng khoanh đất
II CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH ĐIỀU TRA PHÂN LOẠI ĐẤT
Qua kinh nghiệm tiến hành ở Việt Nam hơn 40 năm qua có thể quy gọn làm 3 bước:
- Chuẩn bị
- Điều tra thực địa
- Làm nội nghiệp
II.1 CHUẨN BỊ
Công tác chuẩn bị bao gồm:
- Chuẩn bị tài liệu
- Chuẩn bị vật tư dụng cụ
- Chuẩn bị hành trình
II.1.1 Chuẩn bị tài liệu
Muốn điều tra một vùng nào trước hết phải:
+ chuẩn bị một bản đồ địa hình có tỉ lệ phù hợp Trong giã ngoại phải có
tỉ lệ lớn gấp đôi như cần có bản đồ đất tỉ lệ 1/50.000 thì trong điều tra giã ngoại phải sử dụng bản đồ tỉ lệ 1/25.000 để giảm sai số khi thu lại
Trang 4Ngoài ra cần tham khảo những bản đồ tài liệu khác đã có như:
- Ảnh chụp máy bay, ảnh viễn thám (nếu có)
- Các loại bản đồ đất tỉ lệ nhỏ đã làm
- Các loại bản đồ địa chất, hiện trạng sử dụng đất (nếu có)
+ Các tài liệu khác:
- Các số liệu về khí tượng thủy văn trong vùng
- Các tài liệu về phát triển nông lâm nghiệp, các dự án quy hoạch tổng thể
có quan hệ đến vùng Các tài liệu đã nghiên cứu về hệ thống nông nghiệp Các điểm điều tra nông hộ và nghiên cứu thực nghiệm về phân bón cũng là tài liệu
vô cùng quý giá
Chuẩn bị tốt sẽ giảm bớt công sức trong xác định loại đất ở thực địa và có
cơ sở đề xuất đáp ứng yêu cầu sản xuất có hiệu quả
II.1.2 Chuẩn bị vật tư
Vật tư và dụng cụ đáp ứng yêu cầu điều tra như sau:
- Các bản tả đã in sẵn, bút bi, bút dạ
- Dụng cụ đào đất, lấy đất: xẻng, cuốc, xà beng, dao lấy mẫu
- Hộp lấy mẫu đất theo từng tầng (tốt nhất là hộp nhựa để bảo quản lâu hơn)
- Thuốc thử pH, CaCO3 ngoài đồng) đối với đất phù sa, đất glây, đất bị ảnh hưởng cacbonat đều rất cần)
- Địa bàn để giúp xác định vị trí trên bản đồ
- Máy đo độ cao cần thiết đối với vùng núi cao
- Máy ảnh để chụp phẫu diện đất và các yếu tố quan hệ đến hình thành và
sử dụng đất
II 1.3 Chuẩn bị hành trình
Với kiến thức điều tra thực địa và tài liệu đã thu thập ta vạch được các tuyến, các điểm phải làm phẫu diện và đoạn đường phải đi cho thuận lợi quan sát và đỡ gặp khó khăn trong đi lại Phẫu diện phải điểm đúng “huyệt”, nắm bản chất của loại hình chính phụ Ví dụ đối với đất phát triển tại chỗ (đồi núi) thì phải tránh những loại hình dốc tụ (deluvie), trước hết tìm điểm hình thành tại chỗ (cluvie) sau yếu tố hình thành khác Như vậy mới chuẩn đoán được loại hình chính: đơn vị và đơn vị phụ Những điểm phẫu diện dự kiến, những tuyến đi cũng để giải đáp có cơ sở cho những suy nghĩ sự đoán trước của người điều tra
Trang 5II.2 ĐIỀU TRA NGOÀI ĐỒNG
II.2.1.Chia khu vực điều tra
Khu vực điều tra cần được chia cho các nhóm theo sự đứt đoạn của địa hình, rõ nét về ranh giới Các nhóm điều tra phải khảo sát chớm ranh giới được phân chia 200m
II.2.2 Các bước điều tra ngoài đồng
II.2.2.1 Điều tra sơ bộ:
Theo tuyến, lát cắt để tìm hiểu điều kiện hình thành đất, phát hiện các loại đất, xác định nội dung điều tra
II.2.2.2 Điều tra tỉ mỉ:
Theo mạng lưới phẫu diện đã dự kiến, phát hiện các loại đất, xác định ranh giới của chúng và khoanh vẽ lên bản đồ
II.2.2.3 Sai số cho phép và khoanh đất nhỏ nhất:
Sai số cho phép về đường ranh giới các khoanh đất được xác định bởi tỉ lệ bản đồ, chất lượng bản đồ nền và mức độ biểu hiện của các loại đất khác nhau ngoài thực địa
Quy định 2 mức độ biểu hiện của đất:
+ Rõ ràng (ranh giới giữa các loại đất nằm kế cận có thể xác định dễ dàng bằng mắt thường thông qua các yếu tố hình thành đất)
+ Không rõ (ranh giới đất khó xác nhận ngoài đồng)
Sai số trên bản đồ (mm, tử số) và ngoài thực địa
(m, mẫu số) đối với các tỉ lệ
1 250.000
1 100.000
1 50.000
1 25.000
1 10.000
1000
6 -
1500
4 -
400
6 -
600
4 -
200
6 -
300
4 -
100
6 -
150
4 -
40
6 -
60
4 -
20
6 -
30
Trang 6Diện tích khoanh đất nhỏ nhất trên bản đồ (mm2, tử số)
và ngoài thực địa (ha, mẫu số) đối với các tỉ lệ
1 - 250.000
1 - 100.000
1 - 50.000
1 - 25.000
1 - 10.000
1 -
5000
Rõ ràng
Không rõ
50 -
312
400 -
2500
50 -
50
400 -
400
50 - 12,5
400 -
100
50 - 3,12
400 -
25
50 - 0,5
400 - 4,0
50 - 0,12
400 - 1,0 Diện tích khoanh đất nhỏ nhất (chỉ quy định cho các khoanh đất có hình dáng gọn không kéo dài quá) quy định chung cho các tỉ lệ bản đồ là 20 mm2
II.2.2.4 Mật độ phẫu diện:
Căn cứ vào tỉ lệ bản đồ mức độ khó khăn trong quá trình điều tra và yêu cầu của sản xuất chia ra những loại vùng cần điều tra với mật độ khác nhau:
A Đồi cao hoặc núi trung bình, núi cao bị chia cắt mạnh, độ dốc lớn hơn 250
D2 Địa hình bằng, đồi, núi dốc dưới 250, có cây trồng hoặc rừng cây che phủ
D3 Đồng bằng xen đồi, núi hoặc đồng bằng, bãi bằng đất phân bố xen kẽ, phức tạp
D4 Vùng đất cát, đất phèn, đất mặn ven biển
Trang 7Bảng 3 Diệu tích trung bình cần đào một phẫu diện chính hoặc phụ
II.2.2.5 Phẫu diện đất:
II.2.2.5.1 Chọn địa điểm đào phẫu diện:
Địa điểm đào phẫu diện phải thật đại diện cho khu vực điều tra cụ thể là:
- Trên các dạng địa hình chủ yếu
- Dưới các thảm thực vật tự nhiên và cây trồng chủ yếu
- Ở các vùng có phương thức sử dụng, cải tạo và bảo vệ đất khác nhau
- Ở đất đồi, núi phẫu diện đại diện phải được đào ở đỉnh đồi hoặc đỉnh núi
- Ở địa hình bằng và thung lũng phẫu diện đất phải đào ở giữa khu vực Không được đào ở gần bờ, gần đường, gần kênh mương và các khu vực lò gạch hoặc đang khai thác mỏ Không được đào phẫu diện nơi có ổ mối, hang kiến, nơi đất bi bom đạn hoặc hoạt động nhân tạo làm xáo trộn
Xác định vị trí phẫu diện từ thực địa vào bản đồ rất quan trọng, giúp cho việc nghiên cứu đất và khoanh ranh giới đất được chính xác Chúng ta thường dùng các phương pháp sau:
- Phương pháp giao hội (theo các mốc cố định dễ nhận biết)
- Phương pháp đo khoảng cách, ước lượng cự ly
+ Ghi ký hiệu phẫu diện
- Phẫu diện chính có phân tích
- Phẫu diện chính không phân tích
- Phẫu diện phụ
- Phẫu diện thăm dò
+ Đào phẫu diện
Trang 8Quy cách đào phẫu diện tùy theo quy định của nội dung và mục đích nghiên cứu Đối với đất dày trên 10cm chưa gặp tầng cứng rắng thường đào:
- Chiều rộng từ 70 – 90cm
- Chiều dài 120 – 150cm
- Chiều sâu trên 125 cm
Phẫu diện cần chụp ảnh, phải đào dài 2m
Khi đào phẫu diện cần chú ý:
- Mặt phẫu diện dùng để quan sát, mô tả hướng vào phía ánh sáng mặt trời
để dễ mô tả
- Khi đào, lớp đất mặt để riêng, lớp dưới để riêng Đất đào được không được đổ lên phía mặt phẫu diện mô tả Không được dẫm đạp lên phía mặt phẫu diện mô tả vì làm mất trạng thái tự nhiên của đất
- Phía mô tả đào thẳng góc với mặt đất
- Đối với đất trồng trọt đào xong phải lấp lại ngay Các lớp đất dưới lấp trước, lớp đất trên mặt lấp sau cùng
II.2.2.5.2 Phẫu diện chính
+ Đào đến tầng cứng rắn, đá mẹ hoặc đến độ sâu tối thiểu 125 cm, nếu chưa gặp tầng cứng rắn, chiều rộng 70 – 80 cm, chiều dài 1,2 – 2,0m Mặt thành phẫu diện để mô tả phải đối diện với hướng mặt trời Mặt đối diện với mặt mô tả đào thành hình bậc thang
+ Mô tả vào mẫu bản tả chính, ghi vị trí phẫu diện lên bản đồ
+ Thử pH, cácbonat và các chỉ tiêu mặn, phèn, độ dẫn điện khi cần thiết + Lấy tiêu bản đất
+ Lấy mẫu đất nơi cần phân tích
II.2.2.5.3 Phẫu diện phụ
+ Khi gặp loại đất giống đất ở phẫu diện chính gần đó thì đào phẫu diện phụ + Đào sâu đến 100cm
+ Tả vào bản tả phẫu diện phụ, ghi vị trí, số phẫu diện lên bản đồ
II.2.2.5.4 Phẫu diện thăm dò:
+ Đào sâu đến 70 – 100cm
+ Đánh dấu trên bản đồ dã ngoại
Mỗi khoanh đất tối thiểu phải có một phẫu diện đất chính, phụ hoặc thăm dò
II.2.2.5.5 Quy định về sai số vị trí phẫu diện:
Sai số vị trí phẫu diện trên bản đồ tối đa là 5mm
Trang 9II.2.2.5.6 Lấy mẫu đất để phân tích theo trình tự
+ Đầu tiên lấy mẫu đất ở đáy phẫu diện, sau đó lấy dần lên các tầng trên + Mẫu đất lấy ở tất cả các tầng phát sinh, lấy đều theo độ dày tầng đất + Tầng đất dày chưa đến 50cm lẫy một mẫu
+ Tầng đất dày 50 – 90cm lấy 2 mẫu
+ Tầng đất dày hơn 90cm lấy 3 mẫu
+ Mẫu đất phải lấy đủ trọng lượng 1kg
Ngoài túi vải phải ghi số phẫu diện, độ sâu tầng đất, bên trong phải có nhãn bằng giấy ghi số phẫu diện, địa điểm lấy, tầng lấy mẫu, ngày lấy mẫu và người lấy mẫu
Mỗi đơn vị phân loại đất thể hiện trên chú dẫn bản đồ đất tối thiểu phải lấy một phẫu diện đất phân tích
II.2.2.5.7 Lấy tiêu bản đất:
Lấy đất ở các tầng cho các ngăn của hộp bằng giấy, gỗ hoặc nhựa Đất cho vào hộp phải giữ được dạng tự nhiên và đặc trưng cho tất cả các tầng đất
Cách ghi tiêu bản đất: Bên cạnh mỗi ngăn tiêu bản ghi rõ độ dày tầng đất, đầu và nắp hộp ghi số phẫu diện, ký hiệu phẫu diện (chính, phụ, thăm dò ), ký hiệu tên đất, địa điểm đào phẫu diện và thực vật phổ biến
II.2.2.5.8 Mô tả phẫu diện đất:
Ghi chép và mô tả đầy đủ các mục đã ghi trong bản tả phẫu diện in sẵn: + Ghi số và địa điểm đào phẫu diện
+ Ghi đầy đủ ký hiệu tên địa phương, số phẫu diện, ký hiệu tờ bản đồ và tọa độ (nơi đào phẫu diện) là cần thiết giúp cho việc lưu trữ dữ liệu máy tính và ứng dụng tin địa lý
Trang 10mạch: VSMDE
Trang 11NST SST ST VST NPL SPL PL VPL
NST SST ST VST NPL SPL PL VPL
NST SST ST VST NPL SPL PL VPL
NST SST ST VST NPL SPL PL VPL
Trang 12BẢN TẢ PHẪU DIỆN ĐẤT PHỤ
ở phai Excel
Trang 13AA2: Canh tác đất bỏ hoang
AA3: Canh tác đất bỏ hóa
AA4: Canh tác nhờ mưa
AA5: Canh tác lúa nước
AP: Cây trồng lâu năm
AP1: Canh tác không có tưới
AP2: Canh tác có tưới
AT: Trồng cây gỗ và cây bụi
AT1: Canh tác cây gỗ không tưới
AT2: Canh tác cây gỗ có tưới
HE: Đồng cỏ tự nhiên
HE1: Dân cư
HE2: Bán du cư
HI: Đồng cỏ thâm canh
HI1: Sản phẩm cho chăn nuôi
HI2: Chăn nuôi gia súc lấy sữa
HI3: Chăn nuôi gia súc lấy thịt
Trang 14PD Điều khiển sự thoái hóa
PD1 Không có tác động của con người
PD2 Có tác động của con người
Các ký hiệu bổ sung để thể hiện các kiểu sử dụng đất đặc biệt Ví dụ: AA4 Canh tác nhờ mưa
AA4T Canh tác nhờ mưa truyền thống
AA4I Canh tác nhờ mưa truyền thống có cải tiến
AA4M Canh tác nhờ mưa truyền thống được cơ giới hóa
AA4C Sản xuất hàng hóa
Đối với đất canh tác cần nêu các cây trồng chủ yếu về quản lý đất, sử dụng đất,
sử dụng phân bón, thời gian bỏ hóa, hệ thống luân canh và năng suất
Ví dụ ký hiệu về các cây trồng:
Trang 15FX: Rừng vùng khô hạn S: Cây bụi
WE: Rừng gỗ thường xanh SS: Cây bụi bán rụng lá SE: Rừng bụi thường xanh WD: Rừng gỗ rụng lá
WS: Rừng gỗ bán bán rụng lá SD: Cây bụi rụng lá
HM: Đồng cỏ trung bình HS: Đồng cỏ thấp
Trang 16HƯỚNG DẪN MÔ TẢ PHẪU DIỆN
(Theo Guideliner for soil description FAO, 1990)
HI: Đồi núi thấp
MO: Núi trung bình cao
VO: Núi lửa
3 Độ dốc:
I: <6% = 30II: 6 – 14% = 3 - 80III: 14 – 27% = 8 - 150IV: 27 – 37% = 15 - 200V: 37 – 47% = 20 - 250VI: > 47% 250
4 Xói mòn: (1) Căn cứ dấu hiệu mặt đấtCây trồng bị phá hủy
5 Đá lộ đầu:
N: Không có F: Ít <15%
Trang 17SPL: Dẻo PL: Ít dẻo VPL: Rất dẻo
- Độ ẩm LO: Không chặt VFL: Rất bở
FR: Bở FI: Chặt VFI: Rất chặt EFI: Cực chặt
- Đất khô LO: Không chặt SO: Bở
SHA: Ít cứng HA: Cứng VHA: Rất cứng EHA: Cứng rắn
16 Thành phần cơ giới (Phân cấp cùng USDA): C: Sét
CL: Thịt pha sét Si: Limon
SiC: Sét pha limon SC: Sét pha cát SCL: Thịt pha sét, cát SL: Thịt pha cát
Trang 18f: Yếu, gần nhau về mầu sắc
(hue), độ sáng (Chroma), giá
US: Cát không phân loại
17 Kết von:
- Hình dạng R: Tròn F: Phiến dẹt I: Củ gừng, củ ấu
- Kích thước F: Mịn < 6mm M: Trung bình 6-20mm C: Thô >20mm
- Số lượng (% thể tích) F: Ít <5%
C: TB 5-15%
M: Nhiều 15-40%
A: Rất nhiều 40-80% D: Chủ yếu >80%
18 Cấu trúc
- Loại cấu trúc Pr: Lăng trụ Pl: Phiến Co: Cột Gr: Viên, hạt Ab: Cục, khối có góc cạnh
Trang 19đơn vị Sg: Hạt rời
Sb: Cục, khối nhẵn cạnh Ma: Tảng
- Kích thước cấu trúc:
Ký hiệu Loại
Kích thước Phiến Lăng trụ Cục Viên, hạt
Hiện tại đã ghi nhận 7 tầng và lớp chính và 7 tầng chuyển tiếp Các tầng chính tương ứng các lớp chính SSM trừ tầng H là một phần của tầng 0 trong SSM
Các tầng chính và các phân lớp của chúng biểu thị các lớp có sự thay đổi
rõ rệt và một số lớp thì lại không Hầu hết là các tầng phát sinh, phản ánh sự đánh giá chất lượng về loại thay đổi xảy ra Các tầng phát sinh không tương đương với tầng chuẩn đoán (xem mục 2.1.3.), mặc dù chúng có thể là đồng nhất (giống hệt) trong các phẫu diện đất Tầng chuẩn đoán được xác định một cách định lượng theo các đặc điểm dùng trong phần phân loại
Các tầng H
Lớp chủ yếu là các chất hữu cơ, tạo thành từ sự tích lũy các chất hữu cơ chưa phân hủy hoặc phần nào đã phân hủy ở trên mặt đất Chúng có thể ngập nước Tất cả các tầng H bão hòa nước trong thời gian dài hoặc đã có lần ngập
Trang 20nước nhưng nay đã cạn kiệt Tầng H có thể ở trên cùng của đất khoáng hoặc ở
độ sâu nào đó bên dưới bề mặt nếu nó bị vùi lấp
Tầng O
Lớp chủ yếu là các chất hữu cơ gồm các mẫu rác chưa phân hủy hoặc phân hủy một phần như lá, lá kim, cành con, rêu, địa y, chúng tích tụ trên bề mặt; có thể ở phần trên cùng của đất khoáng hoặc chất hữu cơ Các tầng O không bị bão hòa nước trong thời kỳ kéo dài Các chất khoáng có trong đó chỉ chiếm tỷ lệ % rất nhỏ và nhìn chung là ít hơn nhiều so với nửa trọng lượng
Lớp O có thể ở bề mặt của đất khoáng hoặc ở độ sâu bất kỳ bên dưới lớp mặt nếu nó bị vùi lấp Lớp tạo bởi sự bồi tích của các nguyên liệu hữu cơ tạo thành lớp đất khoáng bên dưới không phải là tầng 0, dù một số tầng được tạo theo cách này chứa nhiều chất hữu cơ
Tầng A
Tầng khoáng được tạo ở bề mặt hoặc ngay dưới tầng 0, tại đó tất cả hoặc hầu hết cấu trúc đá ban đầu không còn và đặc trưng bởi một hoặc nhiều đặc tính sau:
- Tích tụ chất hữu cơ dạng mùn lẫn với hạt khoáng và không mang đặc trưng tính chất của tầng E hoặc B (xét phần dưới)
- Mang các đặc tính do có sự canh tác, đồng cỏ hoặc các loại xáo trộn tương tự
- Có hình thái khác với tầng B hoặc C bên dưới, do quá trình liên quan đến bề mặt
Nếu tầng mặt (epipedon) có tính chất của cả 2 tầng A và E nhưng đặc điểm bao trùm lại là sự tích tụ chất hữu cơ được humic hóa, thì nó là tầng A Ở vài nơi có khí hậu khô nóng, tầng bề mặt không bị xáo trộn ít sẫm hơn tầng sát bên dưới và chỉ chứa lượng nhỏ chất hữu cơ Nó mang hình thái khác biệt với lớp
C, mặc dù là phần khoáng không bị thay đổi hoặc chỉ thay đổi ít do khí hậu Tầng như vậy được coi là tầng A vì nó là ở bề mặt Các ví dụ epipedon mà chúng có thể
có cấu trúc hoặc hình thái khác bởi các quá trình ở bề mặt là vertisols, các loại đất trũng và đất ở các vùng hoang mạc Tuy nhiên phù sa hoặc lớp mới bồi lắng vẫn giữ thể mịn không được coi là tầng, trừ khi nó đã được canh tác
Tầng E
Tầng khoáng trong đó đặc điểm chủ yếu là: mất đi silicat, sắt, nhôm, hoặc hợp chất nào đó, để lại chủ yếu các hạt cát và limon, và trong đó tất cả hoặc phần lớn trúc đá gốc không còn nữa
Tầng E thường nhưng không phải nhất thiết có màu sáng hơn tầng B ở
Trang 21dưới Ở một số loại đất có màu là màu của các hạt cát và limon, nhưng ở nhiều loại đất lớp ôxit sắt hoặc các hợp chất khác che đi màu các hạt gốc (chính) Tầng
E thường được phân biệt với tầng dưới B trong cùng một phẫu diện đất bởi trị số màu vàng mạnh hay yếu, hoặc kết hợp các đặc tính đó Tầng E thường gần bề mặt, bên dưới tầng O hoặc A và ở trên tầng B, nhưng ký hiệu E có thể dùng mà không cần xét tới vị trí trong phẫu diện cho bất kỳ tầng nào thỏa mãn các yêu cầu và nó là sản phẩm của sự phát sinh đất
Tầng B
Dưới tầng A,E,O hoặc H và trong đó các đặc điểm chính là tất cả hoặc phần lớn cấu trúc đã bị xóa Cùng với một hoặc có kết hợp của những đặc điểm sau:
- Bồi tích tập trung, riêng nó hoặc kết hợp với sét silicat sắt, nhôm, humic, cacbonát, thạch cao hoặc silic
- Có dấu vết (bằng chứng) của sự chuyển rời cacbonat
- Tập trung sesquioxide còn sót lại
- Lớp vỏ sesquixide làm cho tầng này rõ ràng có giá trị thấp hơn và màu vàng mạnh hơn, hoặc là đỏ hơn các tầng trên và dưới mà thiếu sự bồi tích rõ rệt của sắt
- Có sự biến đổi tạo thành sét silic hoặc làm mất đi các oxit hoặc cả hai và tạo ra cấu trúc hạt, tảng, hoặc cấu trúc lăng trụ nếu thay đổi thể tích kèm theo với thay đổi về độ ẩm
- Có tính giòn
Tất cả mọi kiểu tầng B là tầng dưới hoặc lúc đầu đã là tầng bên dưới Tầng B là tầng tích tụ cácbonat, thạch cao, hoặc silic mà chúng là kết quả của các quá trình phát sinh thổ nhưỡng (những lớp này có thể hoặc không bị đông cứng) và những lớp giòn đã bị biến đổi, chẳng hạn như là có cấu trúc lăng trụ hoặc tích tụ sét
Hoặc cả 2 bởi thành phần cấp hạt
Các lớp không phải là tầng B là những lớp ở đó màng mỏng sét hoặc bọc
đá trầm tích hoặc là ở trầm tích chưa rắn chắc (còn rời) xếp lớp mịn, những lớp mỏng đó được tạo tại chỗ hoặc do bồi tụ, những lớp bồi tụ cacbonat nhưng không giáp tầng phát sinh bên trên và những lớp glây nhưng không có thay đổi khác về phát sinh thổ nhưỡng
Tầng C:
Là tầng hoặc lớp không bao gồm đá nền thô mà những đá này đã bị tác động chút ít bởi các quá trình phát sinh thổ nhưỡng mà không có các tính chất của các tầng H, O, A, E, B Chúng hầu hết là các lớp khoáng, nhưng một số lớp
Trang 22bị lilic và vôi hóa như vỏ sò, san hô, diatonit Chất liệu của lớp C rất có thể tạo nên đất Lớp C có thể bị thay đổi cả khi không có dấu vết của sự phát sinh thổ nhưỡng Rễ cây có thể xuyên qua tầng C nơi cung cấp môi trường sinh trưởng quan trọng
Tầng C bao gồm trầm tích, saprolit (đất đang phong hóa), đá nền còn chưa rắn chắc và các vật liệu địa chất khác mà nếu ta thả một mẩu khô (khô không khí hoặc được làm khô) vào nước thì thường hút tới no nước (tôi) trong vòng 24h và ta có thể đào bằng mai dễ dàng khi chúng ẩm Một số các loại đất hình thành trong những vật liệu chịu tác động lớn của thời tiết (nắng, mưa) và những vật liệu chịu tác động đáp ứng các yêu cầu của tầng A,E hoặc B thì cũng được coi là tầng C Những thay đổi không được coi là phát sinh thổ nhưỡng là những thay đổi không liên quan tới các tầng trên Các lớp tích tụ silic, cácbonát, hoặc thạch cao, thậm chí còn chưa lâu, có thể được coi là tầng C, trừ khi lớp đó
rõ ràng bị tác động bởi các quá trình phát sinh thổ nhưỡng thì nó sẽ là tầng B
Tầng R
Lớp đá nền rắn nằm dưới lớp đất Gramit, bazan, quarzite và đá vôi chưa được phong hóa hoặc đá cát là những ví dụ của đá nền – được gọi là R Những mẩu khô (không khí hoặc khô hơn) của tầng R nếu được thả vào nước sẽ không
có sự no nước trong vòng 24 giờ
Cấu kết của tầng R đủ chắc dù là ẩm vẫn không thể đào bằng mai, mặc dù
nó có thể có các vết nứt rạn, nhưng chúng quá ít và quá nhỏ đến nỗi chỉ vài rễ có thể xuyên qua Các vết rạn có thể bị che hoặc phủ đầy bởi sét hoặc các chất khác
Tầng chuyển tiếp
Có 2 loại tầng chuyển tiếp: Một loại có các đặc tính của 2 tầng đan xen
và một loại có hai tính chất riêng biệt
Những tầng bao trùm bởi các tính chất của một tầng chủ nhưng có các tính chất phụ của tầng khác thì được ký hiệu bằng 2 chữ cái hoa, như là AB, EB,
BE, BC, ký hiệu tầng chủ được đặt trước chỉ rõ loại tầng có tính chất bao quát tầng chuyển tiếp Chẳng hạn tầng AB có các đặc tính của cả tầng A bên trên và tầng B bên dưới nhưng nó giống A nhiều hơn B
Ở một số trường hợp, một tầng có thể được coi như là tầng chuyển tiếp ngay cả khi không có mặt một trong số các tầng chủ mà nó chuyển tiếp với
Có thể nhận ra tầng BE ở đất bị cắt xén nếu các đặc tính của nó tương tự với đặc tính của tầng BE ở chỗ đất mà tầng E bên trên chưa bị di chuyển bởi xói mòn Tầng AB hoặc BA có thể được nhận thấy ở nơi mà tầng đá nền (Bedrock) nằm dưới tầng chuyển tiếp Tầng BC có thể được nhận ra thậm chí khi không có mặt tầng C bên dưới; nó là chuyển tiếp vật liệu gốc (parent)
Tầng CR có thể dùng cho tầng đá nền đã phong hóa mà có thể đào nó
Trang 23bằng mai, mặc dù rễ không thể xuyên qua ngoại trừ dọc theo những mặt gẫy
Các tầng mà các phần riêng biệt trong đó có các đặc tính dễ nhận biết của
cả 2 loại tầng chủ được chỉ ra ở phần trên, nhưng 2 chữ cái hoa được tách bởi dấu (/), như là E/B, B/E, B/C hoặc C/R Thông thường hầu hết các phần riêng biệt của một thành phần (tầng đất) được bao quanh bởi tầng khác
Những ký hiệu được đưa ra ở đây cho ta các chỉ dẫn đơn giản với sự giải thích đầy đủ trong tài liệu
Sự kết von (concretion) hay cục nhỏ (nodules): Chỉ sự tích tụ đáng kể của các kết von hay cục nhỏ Bản chất và mật độ của các hạt được chỉ rõ bởi những đuôi chữ khác
h Tích lũy chất hữu cơ
Trang 24s Sự tích tụ bồi tích của sesquioxide
t Sự tích lũy sét silicat
u (không sử dụng)
v Sự xuất hiện tầng sét loang lổ
w Sự phát triển màu sắc hay cấu trúc
Dãy các ký hiệu và thuật ngữ đưa ra ở trên được giải thích tiếp dưới đây:
f Đất đóng băng: Chỉ những tầng hoặc lớp chứa băng vĩnh cửu hoặc là thường lạnh dưới 00c Ký hiệu này không dùng cho các lớp đóng băng theo mùa hoặc các lớp đá nền (R)
g Glây nặng: Đặt cho những tầng mà trong đó có nhiều đốm gỉ rõ ràng xuất hiện – nó phản ánh sự thay đổi các điều kiện nội tại của sự oxy hóa và sự khử sesquioxide (gây ra bởi sự úng ngập theo mùa)
h Tích tụ chất hữu cơ: Chỉ sự tích tụ chất hữu cơ ở các tầng khoáng Sự tích tụ này có thể xảy ra ở tầng mặt hoặc tầng dưới do sự bồi tích
j Đốm jarosite: Chỉ sự hiện diện của các vết jarosite
k Tích lũy cácbonát: Chỉ sự tích tụ của cácbonat kiềm thổ mà thông thường là canxi cacbonat
m Sự gắn kết (kết chặt) hoặc sự đông cứng: Chỉ sự kết gắn liên tục hay gần như liên tục và chỉ dùng với các tầng mà hơn 90% bị xi măng hóa (kết gắn), mặc dù chúng có thể bị rạn gẫy; Tầng loại này chặt và rễ không thể xuyên qua trừ những chỗ dọc theo vết rạn Tác nhân gây kết dính đơn trội hoặc cùng trội (condominant) có thể được chỉ ra khi dùng đủ chữ cái xác định đơn lẻ hay theo cặp Nếu tầng bị kết gắn bởi cacbonat thì ký hiệu bằng km, bởi silica: qm, bởi sắt: sm; thạch cao: ym; cả vôi và silica: kqm, bởi muối hoặc những chất dễ tan hơn thạch cao: zm;
n Sự tích lũy natri: Chỉ rõ sự tích tụ của natri trao đổi
o Sự tích lũy sesquyoxide: Chỉ ra sự tích tụ của các sesquioxide và ký
Trang 25hiệu này khác với việc sử dụng ký hiệu S chỉ ra sự bồi tích của phức hệ hữu cơ
và sesquioxide
p Sự cày bừa và xáo trộn khác: Chỉ rõ sự xáo trộn của lớp đất mặt bị cày, xới Tầng hữu cơ bị xáo trộn được ký hiệu là Op hay Hp Tầng đất khoáng trên mặt được cày sới sâu xuyên đến tầng E, tầng B hay tầng C đều được ký hiệu là Ap
q Sự tích lũy silicat: Chỉ rõ sự tích tụ silic thứ sinh Nếu silica làm thành lớp kết dính kéo dài liên tục thì dùng ký hiệu qm
r Sự khử mạnh: Chỉ ra sự khử của sắt trong quá trình hình thành đất hay trong môi trường bão hòa và ứ đọng nước Nếu tầng B có sắt bị khử ký hiệu là
Br, tầng C có sắt bị khử ký hiệu là Cr
s Sự bồi tích của sesquioxide: Ký hiệu này dùng cho tầng B để chỉ sự tích
tụ của phức hệ sesquioxide hữu cơ phân tán nếu giá trị và cường độ màu (theo thang màu munsell) đều lớn hơn 3 Nếu chất hữu cơ và sesquioxide đều có vai trò quan trọng ở tầng B cần thể hiện mà giá trị và cường độ màu của chúng đều xấp xỉ hoặc nhỏ hơn 3 thì dùng ký hiệu Bhn
t Sự tích lũy sét silicat: Ký hiệu này dùng cho tầng B hoặc C để chỉ sự tích tụ của sét silicat được hình thành hoặc di chuyển đến các tầng này Dấu hiệu nhận biết về sự tích tụ sét silicat là các màng hoặc lớp sét trên bề mặt cấu trúc đất hoặc trên mặt các mao quản, khe hở
v Sự xuất hiện tầng sét loang lổ: Ký hiệu này chỉ sự xuất hiện của vật liệu nghèo mùn, giàu sắt Vật liệu này bám chặt khi ẩm và bám đến mức không thay đổi được nếu đem phơi nó ngoài không khí Trạng thái này chúng ta gọi là
đá ong
w Sự phát triển của màu sắc hay cấu trúc: Ký hiệu này dùng cho tầng B
để chỉ sự phát triển của màu sắc hay cấu trúc, hoặc cả hai Không nên dùng nó
để chỉ tầng chuyển tiếp
x Tính dễ vỡ L: Ký hiệu này chỉ độ chặt, giòn hay tỷ trọng cao
v Tích tụ thạch cao: ký hiệu này chỉ sự tích tụ thạch cao
z Tích lũy muối: Ký hiệu này chỉ sự tích tụ muối hoặc các chất dễ tan hơn thạch cao
Quy ước dùng các hậu tố
Nhiều tầng và lớp chủ được ký hiệu bằng một chữ cái với một hoặc hai chữ thường kèm theo Ít khi dùng đến trên 3 hậu tố Áp dụng quy tắc sau: Các chữ thường kèm theo được viết vào bên phải của chữ cái Ví dụ: Bt, BTC, Bkm,
và Bsv Chú ý các trường hợp đặc biệt: viết Bhs hoặc Crt có nghĩa là vai trò của hữu cơ và sesquioxide ở tầng B hoặc vai trò của sự khử sắt và tích tụ sét silicat ở
Trang 26tầng C đều quan trong ngang nhau Tầng B có sự tích tụ đáng kể của sét và có sự phát triển rõ về màu sắc hoặc cấu trúc được ký hiệu là Bt (t được ưu tiên viết trước của w,s và h) Tầng B bị glây hóa hoặc có sự tích tụ cácbonat, natri, silic, thạch cao, muối hoặc các chất dễ tan hơn thạch cao, hoặc có sự tích tụ các sesquioxide thì mang các ký hiệu tương ứng là g, k, n, q, y, z, o
Nếu có mặt sét bồi tích thì t sẽ đứng trước ký hiệu khác: Bto
Các chữ đuôi tiếp là h, s và w thường không dùng với k, n, q, y, z, o., trừ khi cần để giải thích
Loại trừ một số trường hợp ngoại lệ, thường thì các hậu tố được viết theo thứ tự a, b, c
Chia các tầng phụ theo chiều sâu
Các tầng phát sinh chủ yếu thể hiện bằng ký hiệu các chữ cái Các tầng phụ ký hiệu bằng các chữ viết thường Các lớp phụ của từng tầng thể hiện bằng các số Ả rập viết bên phải ký hiệu tầng phát sinh Thí dụ: C1-C2-C3-, C1-C2-Cg1-Cg2 hoặc C-Cg1-Cg2-R
Trang 27Cũng như trên các tầng H, O, C gồm có lớp mỏng, lớp cát hoặc các lớp phủ không bền khác chúng làm thay đổi độ sâu Ghi chú chính xác theo cm khi ranh giới là đột ngột hay rõ ràng Số đo dao động gần 5 cm khi ranh giới là từ từ hoặc lan rộng, tránh đưa ra các mức chính xác giả
Hầu hết các tầng không có độ sâu cố định Sự đa dạng hoặc không đều của bề mặt ranh giới được mô tả theo địa hình, dùng các từ: bằng, lượn sóng, không đều và gẫy Nếu cần thiết dãy độ sâu được đưa ra thêm vào độ sâu trung bình chẳng hạn 28 (25-31)cm tới 45 (39-51) cm
D Lan rộng (khuyếch tán) trên 15 cm
II.2.2.5.9 Các tầng chuẩn đoán và tính chất
Quan sát thực địa để xác minh hoặc đánh giá mỗi tầng đất, các đặc tính chuẩn đoán áp dụng vào hệ thống phân loại Một danh sách các tầng chuẩn đoán và các tính chất dưới đây sắp xếp với trình tự thể hiện theo chú dẫn bản đồ đất thế giới
Trang 28Những vật liệu đất hữu cơ
Permaost (băng vĩnh cửu)
Với các mô tả thông thường, nên xác định màu đất không có ánh sáng mặt trời trực tiếp và bằng cách so sánh các mẫu đất (mặt vết vỡ) với ô màu của thang màu Munsell Với các mục đích riêng, như để phân loại đất, có thể cần đến màu của vật liệu được xử lý hoặc chà xát
Sự xuất hiện các màu tương phản liên quan đến cấu trúc đất, như thể hiện
bề mặt cần được ghi lại
Nếu có thể, nên đo màu sắc đất dưới những điều kiện giống nhau Đo màu
Trang 29vào sáng sớm và chiều tối thì không chính xác Hơn nữa việc xác định màu sắc bởi các cá nhân khác nhau, cho thấy là thường trái ngược nhau Vì màu đất có ý nghĩa đối với các đặc tính đất khác nhau, bao gồm: Hàm lượng chất hữu cơ, lớp phủ, trạng thái ôxy hóa hoặc khử và để phân loại đất, nên tổ chức kiểm tra chéo
là cần thiết và trở thành thông lệ (thói quen) Các màu trung gian có thể ghi lại khi muốn phân biệt giữa 2 tầng đất với các mục đích là để phân loại và giải thích (thể hiện) (interpretation) phẫu diện đất
Các màu trung gian (quan trọng với các tầng chromue, canbic B, rhodie )
có thể được dùng 3,5 YR, 4 YR, 6 YR, 6,5 YR, 8,5 YR và 9 YR Nếu chẳng hạn 3,5 YR hơn với 5 YR; 4 YR nghĩa là gần hơn với 5 YR, và tương tự Nếu trị số
và cường độ (màu sắc) gần giới hạn chuẩn đoán, thì không nên dùng các số liệu
để làm tròn số, mà nên ghi lại chính xác bằng cách dùng cả trị số trung gian hoặc bằng cách thêm dấu +
Một số trị số và cường độ chuẩn đoán quan trọng là:
Trị số 4 và 5 Các tầng Albic và đặc tính Hydromorphic (thủy thành) Trị số 3,5 và 5,5 Các tầng Mollic và Umbric
Vết đốm của hỗn hợp đất được mô tả theo kích cỡ, số lượng (abundance),
độ tương phản, ranh giới và màu sắc Thêm vào đó có thể ghi lại hình dạng, vị trí và đặc tính nào khác Màu rỉ sắt quanh rễ thường không được coi là đốm
Trang 30D: Khác biệt
Mặc dù không gây chú ý, nhƣng có thể dễ dàng nhận thấy các vết đốm Màu sắc, độ sáng hoặc trị số của hỗn hợp dễ dàng phân biệt với các đốm vết Chúng có thể khác nhau tới 2,5 đơn
vị màu sắc hoặc vài đơn vị về độ sáng và trị số
P: Nổi bật
Có thể dễ dàng nhận thấy các đốm vết và là một trong các đặc tính nổi bật của tầng Riêng màu sắc, độ sáng và trị số hoặc kết hợp của chúng cách nhau ít nhất vài đơn vị
Trang 31Hoàn toàn đầy đủ nếu ta mô tả màu của đốm vết theo các thuật ngữ chung, tương ứng với thang màu đất Munsell Nếu cần có thể dùng đến toàn bộ
hệ thống ký hiệu của thang màu Munsell Các mã và tên màu sau đây được đưa
ra (tương tự như màu của các hạt khoáng)
RB: Nâu – đỏ nhạt BB: Đen – xanh nhạt
Tên các loại cơ giới của chất liệu đất (có kết hợp với loại cỡ) là giống với tên các loại SSM, được ký hiệu như sau:
C:
L:
Clay: Sét Loam: Thịt
Trang 32Sandy clay: Sét pha cát Sandy clay loam: Thịt pha cát Samdy loam: Thịt pha cát Fine sandy loam: Thịt pha cát mịn Coarse Sandy loam: Thịt pha cát thô Loamy sand: Cát pha thịt
Loamy very fine sand: Cát rất mịn pha thịt Loamy fine sand: Cát mịn pha thịt
Loamy coarse sand: Cát thô pha thịt Very fine sand: Cát rất mịn
Fine sand: Cát mịn Medium sand: Cát trung bình Coarse sand: Cát thô
Sand unsorted: Cát, chưa phân loại Sand, unspecified: Cát chưa được định rõ
Ngoài các loại cơ giới ra còn có sự ước lượng % sét tại đồng ruộng Ước lượng này cần thiết để xem xét các hàm lượng sét trong các loại cơ giới tăng hay giảm, và để so sánh ước lượng ngoài ruộng với kết quả phân tích Mối quan hệ giữa các loại cơ giới và hàm lượng phần trăm của sét, limon và cát được chỉ ra ở biểu đồ tam giác
Phân cấp (chia nhỏ) của thành phần các hạt phân tán
Cát, cát limon và limon cát (loam) được chia nhánh tùy thuộc vào những
tỷ lệ của cát rất thô tới thô, trung bình, mịn và rất mịn, trong thành phần cát (fraction) Các tỷ lệ này được tính từ phân bố cỡ hạt, coi tổng thành phần hạt phân tán là 100%
Định nghĩa các phân lớp cát được sửa đổi từ ấn bản Guidelines (hướng dẫn) trước đây
Dưới đây là các định nghĩa (khóa)
Cát rất mịn: 50% hoặc hơn là cát rất mịn (và dưới 25% là cát thô hoặc rất thô)
Trang 33Cát mịn: Cát rất mịn và mịn chiếm 50% hoặc hơn (và cát thô và rất thô
chiếm ít hơn 25%)
Cát thô: Cát thô hoặc rất thô chiếm > 25% và cát trung bình chiếm ít hơn
50% và cát mịn và rất mịn chiếm ít hơn 50%
Cát trung bình: hoặc > 50% là cát trung bình; hoặc > 25% là cát trung
bình với < 25% là cát thô và rất thô và 50% cát mịn và rất mịn
Cát chƣa phân loại: Các tỷ lệ khác
ĐÁ MẢNH (FRAGMENTS)
Các mẫu khoáng và đá lớn (>2mm) đƣợc mô tả theo số lƣợng, kích cỡ,
dạng, tình trạng phong hóa và bản chất của chúng
2 – 6cm
6 – 20cm
20 – 60cm
> 60cm Kết hợp các loại cỡ và ký hiệu đƣợc viết nhƣ sau:
FM: Sỏi vừa và nhỏ
MC: Sỏi vừa và thô
SB: Đá và đá cuội
Trang 34Hình dạng: Hình dạng chung hay độ tròn có thể được mô tả theo các từ sau:
S: Bị phong hóa mạnh: Ngay cả những khoáng bền cũng bị phong hóa, bị mất màu mạnh và biến đổi, chúng có xu hướng phân rã ngay cả dưới áp suất trung bình
Bản chất: Bản chất đá và những mẫu khoáng ban đầu được mô tả theo những thuật ngữ như cho mô tả dạng đá Vài ví dụ:
Các mẫu khoáng dễ bị phong hóa (Fenspar hoặc Mica) có thể có đường kính < 2mm Tuy nhiên, nếu tồn tại ở một lượng đáng kể thì chúng cần được đề cập tới trong bản tả
II.2.2.5.13 Cấu tạo các thành phần đất (cấu thành đất)
Mục này mô tả cấu tạo vật lý cơ bản hay là sự sắp xếp các thành phần của đất Cấu tạo ban đầu được coi như là sắp xếp tổng thể của đất mà không có sự dồn nén điều chỉnh lại hay sự tham gia của sinh vật Không phải lúc nào ta cũng
có thể phân biệt rõ ràng giữa các yếu tố (phân tử) cơ bản và các yếu tố thứ cấp của cấu tạo này (cơ cấu) Những lỗ rỗng (voids) liên quan tới cấu trúc đất được
mô tả ở mục II.2.2.5.1.4
CẤU TRÚC
Cấu trúc đất là cấu thành tự nhiên của các hạt đất vào từng đơn vị (peds) đất riêng rẽ mà chúng tách biệt nhau bởi sự tồn tại của các bề mặt không bền Ta
Trang 35thường mô tả cấu trúc khi đất khô hoặc ẩm ít Ở điều kiện ẩm hoặc ướt, thì nên tiến hành mô tả cấu trúc vào thời điểm khác – khi đất khô
Để mô tả cấu trúc đất, nên lấy tảng đất lớn từ phẫu diện, từ các phần khác nhau của tầng nếu cần, hơn là quan sát cấu trúc đất chỉ theo bề mặt phẫu diện
Cấu trúc đất được mô tả theo cấp, hạng và kiểu của đoàn lạp (agregate – sỏi, đá vỡ) Khi một tầng đất chứa đoàn lạp của nhiều hơn 1 cấp, loại, kiểu thì những loại đoàn lạp khác nhau nên được mô tả riêng rẽ và phải chỉ ra mối quan
Đất khối chắc (massive) (MA) thường có độ chặt (chắc) lớn hơn và cấu kết chặt hơn Vật liệu đất khối (massive) có thể được định nghĩa theo độ chặt (II.2.2.5.13.2) và độ xốp
Các mức độ cấu trúc của chất liệu đất có cấu trúc (pedal) được định nghĩa như sau:
Yếu: Khó tìm thấy mầu đất tại chỗ quan sát và chỉ có sự xắp xếp yếu (rời
rạc) của các bề mặt tự nhiên không bền Khi xáo trộn nhẹ, đất vỡ thành hỗn hợp
mà chỉ có mẩu nguyên vẹn, nhều mẩu đã bị vỡ và phần lớn không còn có hình dạng của mẩu đất nữa
Trung bình: Dễ (nhận) thấy các mẩu đất tại chỗ và có sự xắp xếp rõ ràng
của các bề mặt tự nhiên không bền Khi xáo trộn, vật liệu đất vỡ thành nhiều mẩu nguyên vẹn vài mẩu bị vỡ và một ít không còn là mẩu đất nữa Bề mặt mẩu đất thường khác biệt rõ ràng với bên trong mẩu đất
Mạnh: Lượng các mẩu đất là đáng kể (rất dễ thấy) và có sự sắp xếp nổi
bật của các bề mặt tự nhiên không bền Khi xáo trộn, đất tách chủ yếu thành các mẩu Bề mặt mẩu đất nhìn chung khác hẳn với bên trong
Trang 36Các loại sau có thể dùng để mô tả cấu trúc:
Các dạng cấu trúc chính được định nghĩa như sau: Hạt (granular) là khối
đa diện hoặc khối cầu, có bề mặt cong hoặc không đều mà bề mặt này không giống những mặt bao quanh mẩu đất
Khối: Khối hoặc khối đa diện, gần đều, có bề mặt phẳng hoặc khá tròn –
có sắc thái (dáng dấp) của các mặt bao quanh mẩu đất Có thể chia nhỏ thành dạng góc nhọn có các mặt cắt nhau ở các góc tương đối nhọn và những mặt khối góc không nhọn mấy (subangular - tù) cắt nhau ở góc tù
Lăng trụ: Các chiều giới hạn theo mặt ngang và kéo dài dọc theo mặt phẳng đứng (dọc); các mặt thẳng đứng dễ xác định, có bề mặt phẳng hoặc hơi tròn – có hình dạng của các mặt bao quanh cục đất Các mặt thường cắt nhau ở
Trang 37các góc tương đối nhọn Cấu trúc lăng trụ có các đầu tròn được coi là dạng cột (columar)
Phẳng: Phẳng với chiều thẳng đứng bị giới hạn; thường định hướng trên mặt ngang và thường là gối lên nhau (lấp lên – overlap)
Cấu trúc đá: Bao gồm sự xếp lớn mịn ở trầm tích không rắn chắc và những dạng giả (pseudomorphs) của các khoáng bị phong hóa vẫn giữ các vị trí của chúng liên quan với nhau với các khoáng chưa bị phong hóa ở khối đá rắn
Nên cần, các trường hợp đặc biệt hoặc các tổ hợp cấu trúc có thể được tách ra, chúng là các phân nhánh của các cấu trúc cơ bản Sử dụng các ký hiệu sau:
Nếu có mặt cấu trúc thứ 2, thì phải mô tả mối liên quan của nó với cấu trúc thứ nhất Cả cấu trúc thứ nhất và thứ hai có thể cùng tồn tại (chẳng hạn cấu trúc cột và lăng trụ) Cấu trúc cơ sở có thể phá vỡ thành cấu trúc thứ hai (thứ cấp) (chẳng hạn, lăng trụ vỡ thành khối nhọn) Cấu trúc thứ nhất có thể hòa lẫn vào cấu trúc thứ 2 (chẳng hạn cấu trúc phẳng hòa vào cấu trúc lăng trụ)
Thí dụ
CO + PR: Cả 2 cấu trúc tồn tại
PR - AB: Cấu trúc đầu (sơ cấp) phá vỡ thành cấu trúc thứ cấp
PL/PR: Cấu trúc này hòa trộn vào cấu trúc kia
ĐỘ BỀN
Với bản tả tham khảo (Status1) cần ghi độ bền ở các trạng thái khô, ẩm, ướt (độ dính và dẻo) Nếu thích hợp, có thể ghi lại độ bền (thixotropy) và độ lỏng Với các bản tả thông thường, có thể mô tả độ bền đất ở điều kiện ẩm tự nhiên của phẫu diện Độ bền khi ướt có thể luôn được mô tả, và nếu cần điều kiện ẩm mà đất lại khô thì làm ướt đất
Độ bền khi khô: Được xác định bằng cách phá vỡ một cục đất khô không
Trang 38khí bằng ngón tay và ngón trỏ hoặc nắm lại
Chịu lực nén cao (áp lực), rất khó vỡ khi bóp bằng tay Cực bền với áp lực, không thể bóp vỡ bằng tay
Các ký hiệu thêm để phân biệt giữa 2 tầng hoặc 2 lớp là:
FR Bở: Đất nát dễ dàng dưới lực nhẹ tới trung bình bằng cách
dùng ngón tay cái và ngón trỏ, và dính khi ép lại
FI Chắc: Đất nát dưới lực trung bình, giữa ngón cái và ngón trỏ,
Độ bền khi ướt: Độ dính cực đại và độ dẻo cực đại
Độ dính đất phụ thuộc vào khả năng giãn dài mà tới đó cấu trúc đất bị phá
vỡ và phụ thuộc vào lượng nước có mặt Độ dính phải được xác định dưới các điều kiện tiêu chuẩn trên một mẫu đất mà cấu trúc bị phá hủy hoàn toàn và mẫu
đó chưa đủ nước để có độ dính cực đại của nó Theo cách đó, độ dính cực đại của đất sẽ được xác định và việc so sánh giữa các mức độ dính của các loại đất
Trang 39khác nhau sẽ thực hiện được Các nguyên tắc tương tự được áp dụng tính dẻo của đất
Độ dính là chất lượng dính của đất vào các vật thể khác Nó được xác định bằng cách ghi lại sự dính bám của đất khi nó bị ép giữa ngón cái và ngón trỏ NST Không dính: Khi thôi ép, thực tế không có đất dính vào ngón tay
STT Dính ít
Sau khi ép, đất dính cả 2 ngón nhưng rơi sạch khỏi ngón nào đó Nó không giãn ra đáng kể khi các ngón tách ra
NPL Không dẻo Không thể tạo thành dây được
SPL Dẻo ít Dây có thể tạo nhưng ngay lập tức bị phá vỡ nếu uốn
cong thành vòng; đất bị biến dạng bởi lực rất nhẹ
PL Dẻo Tạo được dây nhưng bị phá đi nếu uốn vòng để làm
biến dạng khối đất cần lực nhẹ tới trung bình
VPL Rất dẻo Có thể tạo dây và có thể uốn nó thành vòng: để làm
biến dạng khối đất cần lực khá mạnh tới lực rất mạnh Các ký hiệu bổ sung:
là gần tương đương với từ “pore” (rỗ, xốp), nhưng từ thứ 2 thường dùng theo lối
Trang 40chặt chẽ hơn, chẳng hạn không bao gồm các vết tách nứt hoặc mặt phẳng (planes)
Các lỗ được mô tả theo kiểu, cỡ và lượng dư Hơn nữa, tính liên tục, định hướng hoặc bất cứ đặc điểm nào khác đều có thể ghi lại
Kiểu: Có nhiều dạng và nguồn gốc lỗ rỗng xốp Không thực tế và không cần thiết để mô tả toàn diện tất cả các loại lỗ rỗng khác nhau Nên chú trọng đánh giá các lỗ rỗng liền và thon dài Các kiểu xốp chủ yếu có thể phân loại một cách đơn giản hóa như sau:
A Kẽ hở
Quy định bởi kết cấu, hoặc sự sắp xếp của các loại đất, hầu như gọi là rỗng cơ giới Có thể chia nhỏ thành tập hợp các lỗ rỗng đơn giản mà liên quan tới tập hợp các hạt cát và thành các tập hợp rỗng phức tạp – kết quả của tập hợp các mẫu đất lổn nhổn, (non accommodating) Không đều và nối liền với nhau, không thể xác định số lượng ở ngoài đồng
B Lỗ hổng (túi – vesicles):
Là các lỗ rộng dạng hình cầu gián đoạn (không liên tục) hoặc hình elip của gốc trầm tích hoặc tạo bởi không khí nén, chẳng hạn các bóng khi trong các lớp đất ngầm sau trận mưa to Tương đối không quan trọng đối với sự sinh trưởng thực vật
V Hố: Các lỗ hổng đa phần bất quy tắc, không đồng đều là kết quả của sự cày cấy hoặc xáo trộn làm cho chúng không liên tục không nối liền nhau Có thể định lượng các trường hợp đặc biệt
C Rãnh ống: Các lỗ rỗng thon dài có nguồn gốc động vật hoặc thực vật Phần lớn có hình dạng và liên tục, nhưng rất khác nhau về đường kính Khi rộng hơn vài cm (lỗ hang) chúng được mô tả kỹ hơn trong phần hoạt động của sinh vật
P Mặt phẳng: Phần lớn mặt phẳng là những lỗ rỗng extra-pedat (đất có cấu trúc) liên quan tới các bề mặt đồng đều hoặc các kiểu nứt gãy Chúng thường không bền và khác nhau về kích thước, hình dạng và số lượng phụ thuộc vào điều kiện ẩm của thực vật Các vết trống này có thể ghi lại, kèm theo mô tả
độ rộng và tần số xuất hiện
Trong hầu hết các trường hợp ta chỉ mô tả kích cỡ và số lượng của các rãnh – lỗ rỗng dài liên tục (hình tube) Còn với các dạng rỗng khác thì phân loại thích hợp cho xây dựng
Kích thước: Đường kính của các lỗ rỗng thon dài hay hình trụ (ống tube) được mô tả theo các loại sau: