1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo mật thông tin trong quá trình hòa giải thương mại – so sánh pháp luật Việt Nam và luật mẫu UNCITRAL

13 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 364,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết cho thấy dù Việt Nam đã có bước tiến dài để hội nhập xu hướng chung của pháp luật thế giới, tuy nhiên chúng ta vẫn quy định khác biệt về một số vấn đề. Bài viết sẽ thực hiện hai nhiệm vụ: (1) Phân tích cách áp dụng điều luật và (2) làm rõ liệu những khác biệt trong pháp luật Việt Nam có hợp lý?

Trang 1

BẢO MẬT THÔNG TIN TRONG QUÁ TRÌNH HÒA GIẢI THƯƠNG MẠI – SO SÁNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ LUẬT MẪU UNCITRAL

Trần Quốc Thái*, Nguyễn Thị Kim Thanh

Khoa Luật Dân sự - Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh

*Tác giả liên lạc: quocthaihsv@gmail.com

(Ngày nhận bài: 24/7/2017; Ngày duyệt đăng: 30/9/2017)

TÓM TẮT

Bảo mật là nguyên tắc quan trọng của hòa giải với nội dung đề cập đến việc bảo đảm không để bất kỳ thông tin trong quá trình hòa giải được tiết lộ ra ngoài vòng kiểm soát của các bên tham gia và hòa giả viên (HGV) Lý do chính cho việc bảo vệ bí mật nhằm hướng đến tăng cường sự tin cậy của các bên trong tranh chấp và cả HGV Bằng phương pháp phân tích luật và so sánh quy định của Nghị định số 22/2017/NĐ-CP về Hòa giải thương mại (Nghị định số 22/2017/NĐ-CP) với Luật mẫu của Ủy ban pháp luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) về hòa giải thương mại năm 2002 (Luật mẫu UNCITRAL), bài viết cho thấy dù Việt Nam đã có bước tiến dài để hội nhập xu hướng chung của pháp luật thế giới, tuy nhiên chúng ta vẫn quy định khác biệt về một số vấn đề Bài viết sẽ thực hiện hai nhiệm vụ: (1) Phân tích cách áp dụng điều luật và (2) làm rõ liệu những khác biệt trong pháp luật Việt Nam có hợp lý?

Từ khóa: Hòa giải thương mại, bảo mật, thông tin, từ chối, tiết lộ, cung cấp, chứng cứ,

bên thứ ba

CONFIDENTIALITY IN COMMERCIAL MEDIATION –

A COMPARATIVE STUDY BETWEEN THE LAW OF VIETNAM AND

UNCITRAL MODEL LAW Tran Quoc Thai*, Nguyen Thi Kim Thanh

Faculty of Civil Law – HCMC University of Law

*Corresponding Author: quocthaihsv@gmail.com

ABSTRACT

Confidentiality is the mediation’s core rule, with content of preventing all of information provided by each party from being disclosed out of the parties and mediator’s control This characteristic makes medition procedure more effective than court one The purpose hereof is to enhance trust between parties, even so mediator By analysing and comparing regulations between the Decree No 22/2017/ND-CP on Commercial Mediation and UNCITRAL Model Law on International Commercial Conciliation 2002, this paper shall point out the fact that despite having made great strides to integrate into the world trend of law, Vietnam remains some different regulations Therefore, this paper shall handle two tasks: (1) To analyse how to apply the law of Vietnam on

mediation; and (2) To clarify whether the difference hereof is reasonable

Keywords: Commercial mediation, confidentiality, information, reject, disclosure,

provide, proof, third parties

TỔNG QUAN

Trong thương mại, tình hình hoạt động

kinh doanh ổn định là thước đo uy tín và

rủi ro mà đối tác xem xét khi quyết định

hợp tác Do vậy, bất kỳ thông tin cho biết

một doanh nghiệp đang có tranh chấp, kiện tụng sẽ dễ làm tăng thang độ đánh giá rủi

ro và khiến đối tác có xu hướng trì hoãn, thậm chí dừng hợp tác đầu tư kinh doanh Hành vi kiểm soát, không tiết lộ thông tin

Trang 2

doanh nghiệp đang có tranh chấp ra ngoài

không thể xem là lừa dối doanh nghiệp đối

tác, bởi lẽ tranh chấp là hiện tượng tất yếu

trong mối quan hệ cộng sinh, cần hiểu rằng

việc bảo mật này nhằm bảo vệ uy tín doanh

nghiệp trước rủi ro bị đối thủ cạnh tranh

gièm pha, hoặc doanh nghiệp đối tác hiểu

lầm gây ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ

thương mại

Tính bảo mật có khả năng được thể hiện

qua hai cấp độ: (1) Bảo mật giữa các bên

tranh chấp trong quá trình hòa giải và (2)

bảo mật với bên thứ ba sau khi hòa giải

diễn ra Ngoài ra, bảo mật thông tin không

là nguyên tắc tuyệt đối, bởi trong một số

trường hợp ngoại lệ, thông tin buộc bị tiết

lộ ngoài tầm kiểm soát của các bên tranh

chấp

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

Vật liệu

Nội dung bài viết chủ yếu sử dụng hai văn

bản pháp luật sau:

Thứ nhất, Luật mẫu UNCITRAL Thực

tiễn pháp lý cho thấy hòa giải đang ngày

càng được sử dụng phổ biến tại nhiều nơi

trên thế giới, kể cả những nơi mà cách đây

10 đến 20 năm phương thức giải quyết

tranh chấp này vẫn còn ít được biết đến

Đến năm 2002, UNCITRAL đã quyết định

xây dựng một luật mẫu nhằm tạo điều kiện

thuận lợi cho việc sử dụng thủ tục hòa giải

trong giải quyết tranh chấp Các quốc gia

trong quá trình nội luật hóa Luật mẫu

UNCITRAL có quyền sửa đổi, bổ sung

hoặc bỏ đi một số quy định cho phù hợp

với hoàn cảnh của nước mình Tại Việt

Nam, trình tự, thủ tục hòa giải trong Nghị

định số 22/2017/NĐ-CP về cơ bản được

xây dựng trên cơ sở tham khảo Luật mẫu

UNCITRAL Dựa vào cách quy định của

Luật mẫu và Nghị định số

22/2017/NĐ-CP, vấn đề bảo mật được đặt ra trong khi

tiến hành hòa giải và sau khi hòa giải đã kết

thúc

Thứ hai, Nghị định số 22/2017/NĐ-CP

được ban hành trong bối cảnh đất nước

đang phát triển toàn diện về kinh tế, chính

trị, xã hội, ngày càng hội nhập sâu hơn vào thị trường quốc tế, hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp đã và đang tạo ra một môi trường đầu tư kinh doanh hấp dẫn nhưng cũng không kém phần phức tạp và cạnh tranh gay gắt Các tranh chấp kinh tế, thương mại phát sinh với số lượng ngày càng nhiều và phức tạp hơn đòi hỏi phải có những cơ chế giải quyết tranh chấp linh hoạt, phù hợp với thông lệ quốc tế và nhu cầu thực tiễn của Việt Nam Theo Bộ Tư pháp (2015), trước tình hình nêu trên, nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc đa dạng hóa cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại, qua đó, tạo môi trường đầu tư, kinh doanh lành mạnh và ổn định, góp phần phát triển kinh tế-xã hội, đẩy mạnh hơn nữa công cuộc hội nhập quốc tế và việc thực hiện cam kết của Việt Nam với tư cách là thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) trong lĩnh vực dịch vụ hòa giải, Nghị định về hòa giải thương mại được xây dựng nhằm đáp ứng nhu cầu cần thiết và cấp bách trên

Ngoài ra, trong quá trình phân tích pháp luật Việt Nam, các quy định liên quan trong Bộ luật Tố tụng Dân sự (Luật số: 92/2015/QH13) ngày 25/11/2015 (BLTTDS 2015), Quy tắc Hòa giải năm

1980 của UNCITRAL sẽ được đề cập

Phương pháp

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài theo hai phương pháp:

Thứ nhất, phương pháp pháp lý truyền

thống: Phân tích các quy định pháp luật nhằm nghiên cứu tính đúng đắn, hợp lý, chỉ

ra các bất cập, từ đó có định hướng hoàn thiện phù hợp;

Thứ hai, phương pháp so sánh: Chúng tôi

tiến hành so sánh các quy phạm có liên quan đến hòa giải trong Luật mẫu UNCITRAL để hiểu rõ hơn pháp luật quốc gia mình Đồng thời, chúng tôi tìm hiểu các giải pháp hoặc các nhu cầu điều chỉnh pháp luật về hòa giải mà các nước đã thực hiện

Từ đó, chúng tôi đề xuất các kinh nghiệm phù hợp với thực tiễn tại Việt Nam

Trang 3

Tùy từng mục, mỗi phương pháp sẽ được

sử dụng kết hợp với các phương pháp khác

hoặc được sử dụng với vai trò chủ đạo phù

hợp nội dung nghiên cứu

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Bảo mật giữa các bên tranh chấp trong

quá trình hòa giải

Theo nguyên tắc chung, các thông tin trong

quá trình hòa giải sẽ được bảo mật, ngay cả

giữa các bên tranh chấp Tuy nhiên, mâu

thuẫn không thể hóa giải nếu các bên

không hiểu vấn đề, xung đột của nhau Do

vậy, pháp luật về hòa giải quy định cơ chế

để thông tin, dù về nguyên tắc sẽ được bảo

mật, vẫn có thể được cung cấp cho các bên

Chúng tôi sẽ làm rõ vấn đề này thông qua

hai khía cạnh: Khả năng công bố thông tin

và chủ thể được yêu cầu công bố thông tin

trong Luật mẫu và Nghị định số

22/2017/NĐ-CP

Khả năng công bố thông tin

Luật mẫu UNCITRAL tại Điều 8 quy định

về hoạt động công bố thông tin kèm điều

khoản bảo mật: “Khi nhận thông tin liên

quan đến tranh chấp từ một bên, HGV có

thể tiết lộ bản chất thông tin cho bất kỳ bên

nào khác trong hoà giải Tuy nhiên, khi

một bên đưa thông tin đến HGV kèm điều

kiện phải giữ bí mật, thông tin sẽ không

được tiết lộ cho bất kỳ bên nào khác”

Thông thường, mâu thuẫn chỉ được hóa

giải khi các bên tranh chấp hiểu vấn đề của

nhau Tuy nhiên, hoạt động này bị giới hạn

bởi chính bên đưa ra thông tin, trong

trường hợp chỉ muốn cung cấp sự kiện, tình

tiết cho riêng HGV thì họ có thể yêu cầu

thông tin đó phải được giữ bí mật

Theo UNCITRAL (2001), trong quá trình

soạn thảo, một số quốc gia cho rằng Điều

8 có cách tiếp cận lỗi thời và đề xuất sửa

đổi điều luật theo hướng: “Khi HGV, hội

đồng HGV hoặc một thành viên của ban

HGV nhận được thông tin liên quan đến

tranh chấp từ một bên, HGV hoặc hội đồng

HGV sẽ không tiết lộ thông tin đó cho bất

kỳ bên nào khác, trừ khi bên thông tin đồng

ý với sự tiết lộ đó” Phản hồi lập luận trên

và giải thích cho quy định tại Điều 8 Luật mẫu, UNCITRAL nhấn mạnh vào mục đích đảm bảo thông tin giữa các bên tham gia hoà giải được truyền đạt kịp thời và dễ dàng Theo đó, vai trò của HGV là thúc đẩy việc trao đổi thông tin liên quan đến tranh chấp để góp phần tăng cường lòng tin của các bên Đồng thời, HGV có quyền, chứ không có nghĩa vụ, tiết lộ thông tin cho bên kia Bởi vì, HGV không được công bố thông tin khi bên cung cấp thông tin đã đặt điều kiện rõ ràng rằng chúng phải được giữ

bí mật

Theo UNCITRAL (A/CN.9/506, 2002), không ít các quốc gia cũng thừa nhận cơ chế trao đổi thông tin này Vì vậy, nếu không muốn sự kiện, tình tiết của mình bị tiết lộ, ngay cả phạm vi chỉ giới hạn trong khuôn khổ hòa giải, thì một bên phải đưa

ra yêu cầu rõ ràng Đồng thời, theo UNCITRAL (2004), sau khi xem xét mong đợi tự nhiên và chính đáng của các bên về việc thông tin cung cấp cho HGV phải được giữ bí mật, HGV phải cho các bên biết rằng mọi thông tin mà họ cung cấp có thể được tiết lộ, trừ khi họ quyết định khác Khác biệt với Luật mẫu, Nghị định số 22/2017/NĐ-CP không dành một điều luật riêng biệt để quy định về việc hoà giải viên được gặp riêng một bên và cũng không quy định cụ thể vấn đề cung cấp thông tin cho bên còn lại Thay vì ghi nhận thống nhất tại một điều luật, Nghị định số

22/2017/NĐ-CP dường như điều chỉnh vấn đề bảo mật thông tin bằng cách lồng ghép vào các điều luật về quyền, nghĩa vụ và điều cấm đối với HGV Cụ thể tại Điểm b Khoản 1 Điều 9

về quyền của HGV thương mại “từ chối cung cấp thông tin liên quan đến vụ tranh chấp, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận bằng văn bản hoặc theo quy định của pháp luật”, và Điểm c Khoản 2 Điều 9 ghi nhận

về nghĩa vụ của HGV “bảo vệ bí mật thông tin về vụ tranh chấp mà mình tham gia hòa giải, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận bằng văn bản hoặc theo quy định của pháp luật”

Trang 4

Một điểm khác biệt tiếp theo đáng chú,

Luật mẫu quy định theo hướng cho phép

HGV tự quyết định rằng liệu thông tin có

nên cung cấp cho các bên hoặc giữ kín, trừ

khi các bên yêu cầu phải bảo mật Nghị

định số 22/2017/NĐ-CP ghi nhận ngược

lại theo hướng thông tin luôn phải được giữ

kín, trừ khi các bên cho phép được tiết lộ

Chúng ta có thể hiểu được ý định của nhà

làm luật thông qua cách sử dụng cấu trúc

“Từ chối cung cấp thông tin […], trừ […]”

tại Điểm b Khoản 1 Điều 9, thay vì “[…]

có thể tiết lộ thông tin, tuy nhiên […]” như

Luật mẫu

Chúng tôi đồng tình với cách quy định theo

Nghị định số 22/2017/NĐ-CP, bởi lẽ mức

độ về quyền tự quyết của các bên tranh

chấp phải lớn hơn HGV, tức chỉ những gì

các bên trao quyền hoặc cho phép thì HGV

mới được thực hiện Do đó, những thông

tin được cung cấp, dù không kèm theo ràng

buộc nào, nó cũng phải được giữ kín Chỉ

như vậy, từng bên tranh chấp mới thẳng

thắn trao đổi, cung cấp thông tin mà không

lo ngại trường hợp HGV tự ý tiết lộ với bên

còn lại Đồng thời, cách quy định như Nghị

định số 22/2017/NĐ-CP vẫn đảm bảo khả

năng thông tin giữa các bên tham gia hoà

giải được truyền đạt kịp thời và dễ dàng,

bởi lẽ chính HGV phải nỗ lực khuyến

khích các bên tranh chấp cởi mở trao đổi

để hiểu rõ về nhau hơn Không những vậy,

chính việc được bảo mật thông tin sẽ giúp

họ thoải mái cung cấp các sự kiện, tình tiết

liên quan Ngoài ra, Nghị định số

22/2017/NĐ-CP cho phép hòa giải được

tiến hành bởi nhiều HGV Vì thế, việc trao

quyền cho phép tiết lộ thông tin thuộc về

các bên tranh chấp là hợp lý, nhằm loại trừ

trường hợp có từ hai HGV tham gia giải

quyết, nhưng chỉ một HGV cảm thấy cần

phải cung cấp thông tin cho bên còn lại,

dẫn đến bất đồng trong chính hội đồng

HGV, gây gián đoạn quá trình giải quyết

xung đột

Chủ thể yêu cầu bảo mật thông tin

Luật mẫu quy định bên nào đưa ra thông

tin, chính bên đó sẽ quyết định có hạn chế

tiết lộ hay không: “Khi một bên đưa thông tin đến HGV kèm điều kiện phải giữ bí mật” (Điều 8 Luật mẫu) lúc này thông tin

sẽ không được tiết lộ cho bất kỳ bên nào khác Ngược lại, cả Điểm b Khoản 1 Điều

9 và Điểm c Khoản 2 Điều 9 Nghị định số

22/2017/NĐ-CP đều sử dụng cụm từ “trừ trường hợp các bên có thỏa thuận”, cụ thể

là: “Từ chối cung cấp thông tin liên quan

đến vụ tranh chấp, trừ trường hợp các bên

có thỏa thuận bằng văn bản hoặc theo quy

định của pháp luật” và “bảo vệ bí mật thông tin về vụ tranh chấp mà mình tham

gia hòa giải, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận bằng văn bản hoặc theo quy

định của pháp luật”

Có thể thấy, Luật mẫu quy định theo hướng

mở rộng khả năng công khai thông tin, bằng cách ghi nhận việc quyết định bảo mật hoặc chia sẻ do một bên quyết định Trong khi đó, Nghị định số

22/2017/NĐ-CP ghi nhận theo hướng ngược lại nhằm giới hạn khả năng tiết lộ thông tin, bằng cách buộc tất cả các bên thỏa thuận cho phép thì HGV mới được công khai thông tin hòa giải Vấn đề là, Nghị định số 22/2017/NĐ-CP lại giới hạn quyền quyết định của các bên tranh chấp đối thông tin của riêng mình, cụ thể nếu một bên muốn công khai thì theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 9 và Điểm c Khoản 2 Điều

9, bên này phải thỏa thuận được với bên còn lại, nếu không, mọi điều được hòa giải

sẽ được giữ kín

Bảo mật với bên thứ ba sau thủ tục hòa giải

Nội hàm thông tin được bảo mật

Luật mẫu xây dựng Điều 9 với nguyên tắc,

các thông tin liên quan đến buổi hòa giải sẽ được giữ kín, trừ hai trường hợp ngoại lệ:

“Trừ khi có thoả thuận của các bên, tất cả các thông tin liên quan đến thủ tục hoà giải phải được giữ bí mật, trừ trường hợp việc công bố thông tin phải được thực hiện theo yêu cầu luật pháp hoặc cho các mục đích thực hiện hoặc thi hành thỏa thuận hòa giải” Tại Điều 9, theo giải thích của

UNCITRAL (2004) thì phạm vi không

Trang 5

gian mà thông tin sẽ không được tiết lộ là

ngoài phiên hòa giải, trừ khi các bên cho

phép Đây là đặc điểm quan trọng cần phân

biệt với phạm vi tại Điều 8 Luật mẫu, nơi

thông tin sẽ được tiết lộ là trong phiên hòa

giải và giữa các bên tranh chấp: “Khi nhận

thông tin liên quan đến tranh chấp từ một

bên, HGV có thể tiết lộ bản chất thông tin

cho bất kỳ bên nào khác trong hoà giải

Tuy nhiên, khi một bên đưa thông tin đến

HGV kèm điều kiện phải giữ bí mật, thông

tin sẽ không được tiết lộ cho bất kỳ bên nào

khác”

Có thể minh họa hai quy định này qua tình

huống sau A và B cùng tham gia hòa giải

với HGV C về tranh chấp hợp đồng mua

bán hàng hóa, trong đó A đã không thanh

toán tiền hàng cho B A cho rằng B giao

hàng có một số sản phẩm bị lỗi, không thể

sử dụng được B sau khi kiểm tra đã phát

hiện dây chuyền có lỗi và đề nghị giảm giá

trị đơn hàng Các bên tiết lộ mà không yêu

cầu phải giữ bí mật, khi đó HGV được tự

quyết định sẽ cung cấp thông tin cho bên

còn lại hoặc không (Điều 8 Luật mẫu),

nhưng sẽ không được tiết lộ cho bất kỳ bên

nào khác ngoài các bên tranh chấp đang

hòa giải (Điều 9 Luật mẫu)

Như vậy, một khi thông tin được tiết lộ thì

nó phải được giữ kín Ngoại lệ duy nhất

trong trường hợp này xuất phát từ thỏa

thuận cho phép của tất cả các bên tranh

chấp Đồng nghĩa, đối với vụ việc có nhiều

hơn hai bên thì dù chỉ một bên phản đối,

mọi thông tin sẽ được bảo mật Vấn đề

quan trọng tiếp theo cần làm rõ là xác định

những thông tin thuộc đối tượng điều chỉnh

của Điều 9 Luật mẫu Bằng cách sử dụng

cụm từ: “Tất cả các thông tin liên quan đến

thủ tục hòa giải”, có thể nhận thấy phạm vi

thông tin rất rộng Theo giải thích của

UNCITRAL (2004), quy định trên không

chỉ bao trùm các thông tin được tiết lộ

trong quá trình hoà giải, mà còn cả diễn

biến và kết quả của các thủ tục trước đó,

cũng như các vấn đề liên quan đến hoà giải

xảy ra trước khi quá trình hòa giải bắt đầu

Ví dụ, các cuộc thảo luận liên quan đến

mong muốn hòa giải, các điều khoản thỏa thuận tham gia hòa giải, lựa chọn HGV, lời mời và chấp nhận hoặc từ chối lời mời hòa giải

Đối với Nghị định số 22/2017/NĐ-CP, có

một sự khác biệt về hình thức quy định Cụ thể, Nghị định số 22/2017/NĐ-CP sử dụng quy định về quyền, nghĩa vụ và điều cấm đối với HGV để ghi nhận các trường hợp ngoại lệ mà theo đó, thông tin tài liệu bí mật của các bên tranh chấp có thể bị công khai Tại Điểm b Khoản 1 Điều 9 về quyền

của HGV thương mại được “Từ chối cung cấp thông tin liên quan đến vụ tranh chấp, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận bằng văn bản hoặc theo quy định của pháp luật”,

và Điểm c Khoản 2 Điều 9 ghi nhận về

nghĩa vụ của HGV “Bảo vệ bí mật thông tin về vụ tranh chấp mà mình tham gia hòa giải, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận bằng văn bản hoặc theo quy định của pháp luật”, tiếp đó tại Khoản 1 Điều 10 về những

hành vi bị cấm đối với HGV thương mại:

“Tiết lộ thông tin về vụ việc, khách hàng

mà mình biết được trong quá trình hòa giải, trừ trường hợp được các bên tranh chấp đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật

có quy định khác” Rõ ràng tại Khoản 1

Điều 10, Nghị định số 22/2017/NĐ-CP sử

dụng cụm từ “tiết lộ thông tin về vụ việc, khách hàng […]”, ta cần hiểu tất cả các bên tranh chấp chính là “khách hàng” của

HGV, và điều luật này điều chỉnh việc bảo mật trong mối quan hệ giữa các bên tranh chấp, HGV với bên thứ ba ngoài hòa giải (kết hợp Điểm b Khoản 1 Điều 9, Điểm c Khoản 2 Điều 9 và Khoản 1 Điều 10 Nghị định số 22/2017/NĐ-CP)

Một khác biệt quan trọng giữa Luật mẫu và Nghị định số 22/2017/NĐ-CP chính là nội dung thông tin được bảo mật Trong khi

Điều 9 Luật mẫu ghi nhận đó là “tất cả các thông tin liên quan đến thủ tục hoà giải”,

Nghị định số 22/2017/NĐ-CP quy định giới hạn hơn, lần lượt trong 3 điều luật trên:

“Thông tin liên quan đến vụ tranh chấp”, hay “thông tin về vụ tranh chấp” hoặc

“thông tin về vụ việc, khách hàng” Có thể

Trang 6

hiểu, pháp luật Việt Nam chỉ cho phép

HGV tiết lộ thông tin được cung cấp trong

quá trình diễn ra hòa giải Mọi tài liệu hay

tình tiết, sự kiện được công khai trước hoặc

sau giai đoạn này sẽ không thuộc phạm vi

điều chỉnh của Điểm b Khoản 1 Điều 9,

Điểm c Khoản 2 Điều 9 và Khoản 1 Điều

10 Nghị định số 22/2017/NĐ-CP

Chúng tôi cho rằng 3 điều luật trên trong

pháp luật Việt Nam có lý khi chỉ giới hạn

lượng thông tin được bảo mật trong quá

trình hòa giải Bởi lẽ, chính thời điểm bắt

đầu hòa giải, các bên tranh chấp và HGV

sẽ hình thành mối quan hệ pháp lý, với

quyền và nghĩa vụ do Nghị định số

22/2017/NĐ-CP điều chỉnh Do vậy, thông

tin được tiết lộ trước và sau giai đoạn này

không được Nghị định số 22/2017/NĐ-CP

tác động

Bảo mật trong thủ tục tố tụng tòa án,

trọng tài

Về việc bảo mật thông tin hòa giải với bên

thứ ba thì vấn đề bảo mật trong các thủ tục

tại tòa án và trọng tài là điều rất đáng quan

tâm Bởi các bên có khả năng sẽ tiết lộ

thông tin sau hòa giải trong thủ tục giải

quyết tranh chấp tiếp theo (nếu tranh chấp

vẫn chưa được giải quyết) Thủ tục hòa giải

có thể kết thúc với một bản thỏa thuận hòa

giải thành hoặc không có bất kỳ thỏa thuận

nào Do đó sẽ có hai trường hợp xảy ra, nếu

hòa giải thành thì các bên tự nguyện thi

hành, nếu hòa giải không thành hoặc hòa

giải thành nhưng một trong các bên không

thi hành thì coi như có một tranh chấp dân

sự phát sinh và một bên có quyền khởi kiện

tại tòa án để được giải quyết theo thủ tục tố

tụng dân sự Theo đó, các bên phải cung

cấp và công khai chứng cứ phục vụ cho

mục đích giải quyết tranh chấp theo thủ tục

tố tụng Vậy, vấn đề quan trọng và được

các bên quan tâm nhất chính là liệu chứng

cứ đã tiết lộ trong hòa giải sẽ được sử dụng

như thế nào, HGV có thể bị triệu tập làm

người làm chứng không? Theo Luật mẫu,

khi quyết định chọn cơ chế hòa giải, các

bên tranh chấp mong muốn những quan

điểm, đề xuất và các thông tin khác được

trình bày sẽ không được tiết lộ ra ngoài khuôn khổ thủ tục hòa giải, đặc biệt sẽ không được sử dụng làm bằng chứng trong các phiên tòa, tố tụng trọng tài hoặc thủ tục tương tự tiếp theo Điều 10 Luật mẫu đã giải quyết nhu cầu thực tế đó:

“1 Các bên trong quá trình hòa giải, hoà giải viên và bất kỳ người thứ ba, bao gồm

cả những người liên quan trong việc quản

lý quá trình này, sẽ không phụ thuộc vào thủ tục tiến hành trọng tài hay tư pháp hoặc các thủ tục tương tự, để cung cấp bằng chứng hoặc xác thực hoặc bằng chứng liên quan đến bất kỳ những trường hợp dưới đây: (a) Lời đề nghị tham gia thủ tục hòa giải từ một bên tranh chấp hoặc

có căn cứ rõ ràng họ đã sẵn sàng cho một

sự tham gia; (b) Quan điểm hoặc những kiến nghị từ một bên trong hòa giải đối với một giải pháp cho tranh chấp; (c) Luận điểm hoặc những gì một bên thừa nhận trong suốt quá trình hòa giải; (d) Các đề xuất của hoà giải viên; (e) Căn cứ thể hiện một bên đã sẵn sàng chấp nhận đề xuất giải quyết của HGV; (f) Một tài liệu chuẩn

bị chỉ duy nhất cho mục đích hòa giải

2 Khoản 1 Điều này được áp dụng không phân biệt các kiểu dạng của thông tin hoặc chứng cứ được nêu trong đó

3 Không Hội đồng trọng tài, tòa án hoặc bất kỳ cơ quan nhà nước có thẩm quyền nào được yêu cầu công bố các thông tin được nêu tại khoản 1 Điều này, và nếu thông tin đó được yêu cầu cung cấp như là bằng chứng trái với khoản 1, nó sẽ không được chấp nhận Tuy nhiên, thông tin có thể được công bố hoặc thừa nhận là bằng chứng trong phạm vi được yêu cầu theo luật định hoặc cho các mục đích thực hiện hoặc

thi hành thỏa thuận giải quyết tranh chấp

4 Các thủ tục tư pháp, trọng tài hoặc cơ chế tương tự sẽ được áp dụng theo các quy định tại khoản 1, 2 và 3 Điều này, nếu tranh chấp thuộc đối tượng của quá trình hòa giải

5 Theo các giới hạn của khoản 1 Điều này, bằng chứng nếu không được chấp

Trang 7

nhận trong tố tụng trọng tài, tòa án hoặc

cơ chế tương tự sẽ không đương nhiên

không được chấp nhận với lý do đã được

sử dụng trong quá trình hòa giải”

Theo giải thích của UNCITRAL (2004),

trong quá trình hoà giải, các bên thường

đưa ra các đề xuất và quan điểm liên quan

đến phương án giải quyết tranh chấp, sự

thừa nhận một số vấn đề và thể hiện đã sẵn

sàng hòa giải Nếu sau đó, các bên không

thể thống nhất cách giải quyết, đồng thời

một bên bắt đầu tiến trình xét xử hoặc tố

tụng trọng tài, thì những quan điểm, đề

xuất, sự thừa nhận hoặc sẵn sàng giải quyết

có thể bị lợi dụng và gây thiệt hại đến bên

đã cung cấp Đây là điểm hạn chế, rủi ro

đáng kể khiến các bên không tích cực,

thẳng thắn trao đổi thông tin Vì vậy, Luật

mẫu quy định căn cứ để ngăn chặn các bên

sử dụng thông tin được tiết lộ trong hòa

giải khi tranh chấp được tiếp tục giải quyết

tại tòa án hoặc trọng tài Các chứng cứ này

không được chấp nhận và Hội đồng trọng

tài hay tòa án không thể ra quyết định công

bố chúng Nếu hai bên đã thỏa thuận đồng

ý tiết lộ thông tin theo Điều 9 thì tòa án,

trọng tài vẫn xem xét đó là chứng cứ: “Trừ

khi có thoả thuận của các bên, tất cả các

thông tin liên quan đến thủ tục hoà giải

phải được giữ bí mật”

Trước đó, để giải quyết vấn đề này, Điều

20 của Quy tắc Hòa giải năm 1980 đưa ra

một giải pháp là sử dụng điều khoản hợp

đồng, theo đó các bên cam kết không dựa

vào hoặc đưa ra làm bằng chứng các thông

tin được nêu cụ thể trong báo cáo của

HGV Giải pháp hợp đồng như vậy có thể

thỏa mãn lợi ích các bên, đặc biệt ở các

quốc gia chưa có luật về hòa giải thì đây là

cách bảo vệ khả thi nhất Tuy nhiên, hạn

chế của Điều 20 là không cung cấp một giải

pháp toàn diện trong mọi trường hợp và

mọi hệ thống pháp luật Theo Jernej

Sekolec và Michael B Getty (2003), bởi

chúng ta không hoàn toàn chắc chắn liệu

các tòa án ở tất cả hệ thống pháp luật sẽ

chấp nhận một thỏa thuận giới hạn sự thừa

nhận bằng chứng, do những thỏa thuận như

vậy có thể bị hạn chế hoặc thay thế bởi thẩm quyền của tòa nhằm tiếp cận bằng chứng, làm rõ các sự kiện của vụ án Nghị định số 22/2017/NĐ-CP thừa nhận quyền của các bên tranh chấp được khởi xướng một thủ tục giải quyết tranh chấp khác như trọng tài hoặc tòa án khi không đạt được kết quả hòa giải thành tại Khoản

4 Điều 15: “Trường hợp không đạt được kết quả hòa giải thành, các bên có quyền tiếp tục hòa giải hoặc yêu cầu Trọng tài hoặc Tòa án giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật” Theo đó, quyền khởi

kiện của các bên không hề bị mất đi khi các bên sử dụng hòa giải Khái niệm “không đạt được kết quả hòa giải thành” được giải thích tại Khoản 4 Điều 3 Nghị định số

22/2017/NĐ-CP là “kết quả hòa giải thành

là thỏa thuận giữa các bên tranh chấp về

việc giải quyết một phần hoặc toàn bộ

tranh chấp phát sinh” Như vậy, từ định

nghĩa về kết quả hòa giải thành ta có thể hiểu hòa giải không thành là: Các bên không thống nhất được việc giải quyết toàn

bộ tranh chấp; hoặc một phần tranh chấp bất kỳ mà các bên không đạt được sự đồng thuận

Tuy nhiên vấn đề không chỉ dừng lại ở quyền của các bên mà còn phải quan tâm đến nghĩa vụ bảo mật của các bên sau khi hòa giải không đạt và khởi kiện tại tòa án hoặc trọng tài? Đây được coi là vấn đề quan trọng trong thủ tục hòa giải và được ghi nhận trong pháp luật về hòa giải của các quốc gia phát triển trên thế giới Nếu các bên lo sợ rằng những điều mình tiết lộ

có thể gây bất lợi sau này thì họ sẽ không thoải mái và cởi mở khi tiến hành hòa giải, dẫn đến kết quả của việc hòa giải khó có thể đạt được

Do đó, đồng quan điểm với Nguyễn Mạnh Dũng và Đặng Vũ Minh Hà (2015), chúng tôi cho rằng quy định về hạn chế việc cung cấp hay viện dẫn chứng cứ đã được cung cấp trong quá trình hòa giải làm chứng cứ trong tố tụng trọng tài hoặc tòa án là cần thiết Nghị định số 22/2017/NĐ-CP không

có bất cứ quy định nào điều chỉnh vấn đề

Trang 8

này mà chỉ dừng lại ghi nhận quyền của các

bên khởi xướng tố tụng tòa án hoặc trọng

tài Điều này sẽ gây ra nhiều rắc rối và khó

khăn trong thực tiễn áp dụng Vấn đề phát

sinh là tại phiên hòa giải trong giai đoạn

chuẩn bị xét xử sơ thẩm, các bên sẽ cung

cấp chứng cứ để bảo vệ cho yêu cầu của

mình, nếu một bên không cung cấp nhưng

bên còn lại biết qua thủ tục hòa giải và cung

cấp cho cơ quan có thẩm quyền Vậy bên

đó có quyền cung cấp hay không? Tòa án

được chấp nhận không?

Đối chiếu với các quy định có liên quan

trong pháp luật tố tụng với Nghị định số

22/2017/NĐ-CP, chúng tôi nhận thấy việc

hạn chế cung cấp chứng cứ có mối quan hệ

với 2 nhóm chủ thể sau: HGV và các bên

trong tranh chấp

Thứ nhất, HGV bị tòa án yêu cầu cung cấp

chứng cứ BLTTDS 2015 đã có nhiều điểm

mới trong vấn đề yêu cầu cơ quan, tổ chức,

cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ Đầu

tiên là việc quy định thêm quyền yêu cầu

cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu,

chứng cứ của các đương sự tại Khoản 1

Điều 106 BLTTDS 2015 Tiếp theo là việc

bổ sung thêm thẩm quyền của tòa án trong

việc yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân

cung cấp tài liệu, chứng cứ Theo đó,

không chỉ khi đương sự có yêu cầu mà khi

xét thấy cần thiết, tòa án vẫn có thể ra quyết

định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân

đang quản lý, lưu giữ cung cấp tài liệu,

chứng cứ cho tòa án quy định tại Khoản 3

Điều 106 BLTTDS 2015

Dưới góc độ này thì tòa án hoàn toàn có

quyền yêu cầu HGV phải cung cấp thông

tin liên quan đến quá trình hòa giải để tòa

án giải quyết vụ tranh chấp Vậy HGV

buộc phải cung cấp hay được quyền từ

chối? Như đã phân tích, HGV có quyền từ

chối cung cấp thông tin, bảo vệ thông tin

liên quan đến vụ tranh chấp; đồng thời có

nghĩa vụ bảo vệ bí mật thông tin về vụ

tranh chấp mà mình tham gia hòa giải Tuy

nhiên nghĩa vụ này sẽ bị loại trừ nếu như

tòa án ra quyết định buộc họ phải cung cấp

thông tin Do vậy, pháp luật về hòa giải

thương mại phải có quy định chuyên biệt điều chỉnh loại trừ khả năng tiếp cận thông tin từ cơ quan tài phán

Thứ hai, HGV bị tòa án yêu cầu làm người làm chứng Theo Điều 77 BLTTDS 2015,

người biết các tình tiết có liên quan đến nội dung vụ việc được đương sự đề nghị, tòa

án triệu tập tham gia tố tụng với tư cách là

người làm chứng Với tiêu chí “biết các tình tiết liên quan đến nội dung vụ việc” thì

rõ ràng HGV là người biết và thậm chí biết rất rõ nội dung của vụ việc Tuy nhiên, Khoản 3 Điều 78 BLTTDS 2015 lại cho

phép người làm chứng “được từ chối khai báo nếu lời khai của mình liên quan bí mật nghề nghiệp” Vấn đề đặt ra ở đây là liệu

những thông tin mà HGV và các bên thứ

ba có được trong quá trình hòa giải có được coi là bí mật nghề nghiệp và họ có quyền

từ chối cung cấp những thông tin này? Pháp luật về hòa giải thương mại hiện hành không quy định cụ thể việc các thông tin, tài

liệu được các bên đưa ra trong quá trình hòa giải có được coi là bí mật nghề nghiệp

hay không? Tuy nhiên, HGV có quyền từ

chối cung cấp thông tin liên quan đến vụ tranh chấp, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận bằng văn bản hoặc theo quy định của pháp luật; và có nghĩa vụ bảo vệ bí mật thông tin về vụ tranh chấp mà mình tham gia hòa giải, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận bằng văn bản hoặc theo quy định của pháp luật Xem xét Điểm b Khoản 1 Điều

9 và Điểm c Khoản 2 Điều 9 Nghị định số 22/2017/NĐ-CP, tiêu đề của Điều 9 là

“Quyền, nghĩa vụ của HGV thương mại”,

mà không có cụm từ “trong quá trình hòa giải” như Điều 13 “Quyền, nghĩa vụ của các bên tranh chấp trong quá trình hòa giải” Do đó, Điều 9 ràng buộc HGV ngay

cả khi hòa giải đã kết thúc Vì vậy, nhóm nghiên cứu cho rằng dù không cấm HGV được làm người làm chứng, nhưng họ sẽ không được khai báo những thông tin bí mật, trừ trường hợp pháp luật quy định Vấn đề HGV bị yêu cầu làm người làm chứng cũng đã được giải thích với phán

Trang 9

quyết Farm Assist Ltd (in liq.) v The

Secretary of State for the Environment,

Food and Rural Affairs (EWHC 1102

(TCC), 6 May 2009) Ở đây, các bên có

tranh chấp và đã tiến hành hòa giải, nhưng

nguyên đơn đã bắt đầu quá trình tố tụng để

làm vô hiệu thoả thuận hòa giải thành

Trong thỏa thuận hòa giải có điều khoản

bảo mật thông tin, quy định rằng các bên

trong hòa giải phải giữ kín thông tin liên

lạc, miễn là không bên nào yêu cầu HGV

làm người làm chứng cho bất cứ thủ tục tố

tụng tòa án hoặc trọng tài nào và HGV sẽ

không tự nguyện làm chứng mà không có

sự đồng ý bằng văn bản của tất cả các bên

Tuy nhiên nguyên đơn cho rằng thỏa thuận

đó được ký kết dưới áp lực kinh tế nên

không chấp nhận sự ràng buộc bởi điều

khoản bảo mật đó Nguyên đơn đã yêu cầu

HGV làm chứng tại phiên tòa Bị đơn đã

không phản đối Tuy nhiên, HGV từ chối

làm và đã áp dụng quy định trong thỏa

thuận hòa giải để chứng minh cho hành

động từ chối của mình Thẩm phán Ramsey

J bác bỏ sự từ chối của HGV và cho rằng

HGV đã phải làm chứng tại tòa án về

những gì đã xảy ra trong quá trình hòa giải

Thứ ba, các bên tranh chấp sử dụng chứng

cứ trong hòa giải trong thủ tục tố tụng khác

Các bên tranh chấp có nghĩa vụ như thế nào

về vấn đề cung cấp chứng cứ tại tòa án hay

không? Bởi nếu khởi kiện theo thủ tục tố

tụng dân sự thì các bên phải cung cấp

chứng cứ bảo vệ cho yêu cầu của mình và

công khai cho phía bên kia biết Do đó vấn

đề xảy ra là một bên biết được những thông

tin, tài liệu thông qua quá trình hòa giải,

nhất là những thông tin có lợi cho mình và

bất lợi cho bên còn lại trong tranh chấp và

cung cấp cho tòa án thì có vi phạm nghĩa

vụ bảo mật hay không? Luật mẫu quy định

rõ ràng rằng các thông tin liên quan đến

hòa giải phải được bảo mật dù các bên khởi

xướng tố tụng tòa án hay trọng tài Trong

khi đó, Nghị định số 22/2017/NĐ-CP hiện

nay không giải quyết triệt để và rõ ràng vấn

đề này bởi chỉ quy định đơn giản rằng: Từ

chối cung cấp hay phải bảo vệ thông tin

liên quan đến vụ tranh chấp, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận bằng văn bản hoặc theo quy định của pháp luật

Các trường hợp ngoại lệ của bảo mật

Cả Luật mẫu và Nghị định số

22/2017/NĐ-CP đều cho rằng vấn đề bảo mật trong hòa giải không mang tính tuyệt đối, nó có thể

bị phá vỡ trong một số trường hợp ngoại lệ Thực tiễn tòa án cũng theo hướng trên, cụ

thể trong vụ Farm Assist Ltd (in liq.) v The

Secretary of State for the Environment, Food and Rural Affairs (No 2), nguyên

đơn yêu cầu HGV làm chứng tại Tòa nhưng HGV từ chối với lý do tuân theo nguyên tắc bảo mât, thẩm phán Ramsey J bác bỏ lập luận của HGV có thể được tóm tắt như sau:

Thứ nhất, quy tắc bảo mật yêu cầu không

tiết lộ tài liệu hoặc thông tin hòa giải trong quá trình kiện tụng, nhưng tòa án chỉ buộc tiết lộ nếu xét thấy cần thiết cho việc giải quyết hợp lý vụ án Do đó, chỉ dựa vào các quy định mà các bên đã đưa ra trong bản thỏa thuận hòa giải thì không tự ngăn cản một bên đưa ra bằng chứng về những vấn

đề trong hòa giải tại tòa, cũng không ngăn cản tòa ra lệnh cho một bên phải tiết lộ bằng chứng

Thứ hai, nghĩa vụ bảo mật không chỉ được

tuân thủ bởi một bên trong tranh chấp đối với bên kia mà cũng có thể được tuân thủ bởi các bên tranh chấp đối với HGV (nghĩa

vụ bảo mật gồm: Bảo mật giữa các bên tranh chấp với nhau và nghĩa vụ bảo mật giữa các bên tranh chấp với HGV) Do đó, ngay cả khi tất cả các bên trong tranh chấp

từ bỏ bảo mật, thì HGV có thể tự bảo đảm

về sự bảo mật của mình Do đó việc từ bỏ bảo mật của các bên không làm mất đi quyền bảo vệ sự bảo mật của HGV Tuy nhiên, nghĩa vụ bảo mật không phải là tuyệt đối Bởi các bằng chứng vẫn có thể được sử dụng tại tòa án nếu tòa án cho rằng

vì sự công bằng và công lý cho các bên

Từ phán quyết trên cũng như thực tiễn, nhóm nghiên cứu thấy rằng nghĩa vụ bảo mật trong hòa giải luôn có những ngoại lệ nhất định, một trong đó là HGV có thể trở

Trang 10

thành người làm chứng nếu việc làm chứng

đó đảm bảo sự công bằng cho các bên theo

như vụ tranh chấp trên

Trong Luật mẫu tại Điều 9 ghi nhận ba

trường hợp thông tin có thể được tiết lộ,

bao gồm: Các bên tranh chấp đồng thuận,

theo yêu cầu của pháp luật, vì mục đích

thực hiện hoặc thi hành thỏa thuận hòa giải

Trong quá trình soạn thảo, UNCITRAL dự

định ghi nhận một danh sách các trường

hợp ngoại lệ cụ thể, nhưng ban soạn thảo

cho rằng việc liệt kê có thể tạo ra nhiều vấn

đề khó giải thích, đặc biệt là không có khả

năng bao quát tất cả trường hợp Sau cùng,

UNCITRAL chấp nhận phương án quy

định một danh sách mang tính minh hoạ và

không đầy đủ các ngoại lệ về bảo mật, đồng

thời tiến hành giải thích cách hiểu về ba

trường hợp liệt kê trong hướng dẫn áp

dụng Đối với Nghị định số

22/2017/NĐ-CP chỉ quy định hai trường hợp ngoại lệ,

bao gồm: Các bên tranh chấp đồng thuận;

hoặc theo yêu cầu của pháp luật Dưới đây,

chúng tôi sẽ xem xét quy định của hai văn

bản luật trên theo từng ngoại lệ

Thứ nhất, ngoại lệ do các bên tranh chấp

đồng ý cho phép Theo Luật mẫu, các bên

tranh chấp đương nhiên có quyền định đoạt

khả năng giữ kín hoặc công khai thông tin

của mình Liệu việc tiết lộ có cần tất cả các

bên đồng thuận hay không? Trong trường

hợp chỉ một bên đồng ý công khai thì họ có

được tiết lộ thông tin của riêng mình

không? Điều 9 quy định “các bên” (parties)

chứ không phải “một bên” (the party), có

thể thấy Luật mẫu chỉ cho phép thông tin

được công khai khi tất cả các bên đồng ý

Đối với Nghị định số 22/2017/NĐ-CP, như

đã trình bày phía trên, cả Điểm b Khoản 1

Điều 9, Điểm c Khoản 2 Điều 9 Nghị định

số 22/2017/NĐ-CP đều sử dụng cụm từ

“[…], trừ trường hợp các bên có thỏa

thuận […]”

Ở đây, cụm từ “thỏa thuận” thể hiện phải

có từ hai chủ thể trở lên, không thể một bên

lại có quyền thỏa thuận với chính mình

Đồng thời cũng không thể một bên thỏa

thuận với HGV bởi đây là đặc quyền của

các bên tranh chấp Như vậy điều luật ghi nhận theo đúng tinh thần của Luật mẫu Có thể thấy, quy định này trước hết thể hiện nguyên tắc tự chủ, quyền tự quyết thuộc về các bên tranh chấp tồn tại xuyên suốt trong hòa giải Do vậy, việc buộc tất cả các bên phải đồng thuận giữ kín thông tin là hợp lý, bởi lẽ khi không tồn tại thỏa thuận chung, tức bên nào cũng có quyền giữ bí mật hoặc công khai tài liệu thì bất kỳ bên nào sử dụng tài liệu này và tiết lộ ra ngoài sẽ gây thiệt hại cho bên cung cấp thông tin đó Tuy nhiên đối với vấn đề cung cấp chứng

cứ tại tòa án hay trọng tài, liệu quy định của Nghị định số 22/2017/NĐ-CP có hợp lý hay không? Vì cung cấp chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình là nguyên tắc quan trọng và là quyền tố tụng cơ bản của đương sự Nghị định số 22/2017/NĐ-CP hiện nay không giải quyết triệt để vấn đề này

Thứ hai, ngoại lệ do theo yêu cầu của pháp

luật Theo giải thích của UNCITRAL

(A/CN.9/514, 2002), hai trường hợp pháp luật có thể quy định buộc các bên tiết lộ thông tin khi: Việc giữ kín thông tin có thể dẫn đến nguy cơ đe dọa tính mạng hoặc tổn hại sức khỏe đáng kể của con người; hoặc yêu cầu tiết lộ đó xuất phát từ lợi ích công cộng, ví dụ như để cảnh báo cho công dân biết nguy cơ về sức khoẻ, môi trường hoặc

an toàn Đối với Nghị định số

22/2017/NĐ-CP tại Điểm b Khoản 1 Điều 9, Điểm c

Khoản 2 Điều 9 đều quy định “[…], trừ trường hợp theo quy định của pháp luật”

Đây là cách quy định chung chung và rất khó xác định nội hàm cụ thể

Qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy có một quy định tương tự với Luật mẫu, buộc công khai thông tin bí mật của khách hàng trong lĩnh vực tín dụng Trong nghiên cứu của Nguyễn Thanh Tú (2004), đó là trường hợp hai trường hợp: (i) Tổ chức tín dụng cung cấp thông tin theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong quá trình thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án theo quy định của pháp luật Việc cung cấp thông tin này là bắt buộc do luật

Ngày đăng: 10/03/2022, 09:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w