Tái thẩm là một thủ tục đặc biệt của tố tụng dân sự nhằm xét lại bản án hoặc quyết định của Tòa án cấp dưới đã có hiệu lực pháp luật nhưng phát hiện thấy những tình tiết mới quan trọng liên quan trực tiếp đến việc xem xét và giải quyết vụ án mà Tòa án hoặc đương sự trước đó không thể biết.
Trang 1A.MỞ ĐẦU
Hiện nay, các vụ án dân sự ở nước ta diễn ra hết sức phức tạp và không
hề được giải quyết một cách đơn giản Một số vụ án sau khi đã có bản án và quyết định có hiệu lực pháp luật thì đã được xem xét lại và bị kháng nghị vì
đã phát hiện thêm những tình tiết mới Những tình tiết mới này rất quan trọng,
có thể làm thay đổi cả bản án Hoặc trong trường hợp có cơ sở chứng minh kết luận của người giám định, lời dịch của người phiên dịch không đúng sự thật hoặc có giả mạo chứng cứ; hay là việc Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án hoặc cố ý kết luận trái pháp luật khiến cho bản án phải được xét lại Đây được gọi là thủ tục tái thẩm trong vụ
án dân sự Tái thẩm là một thủ tục đặc biệt của tố tụng dân sự nhằm xét lại bản án hoặc quyết định của Tòa án cấp dưới đã có hiệu lực pháp luật nhưng phát hiện thấy những tình tiết mới quan trọng liên quan trực tiếp đến việc xem xét và giải quyết vụ án mà Tòa án hoặc đương sự trước đó không thể biết Để hiểu rõ hơn về việc một vụ án dân sự được giải quyết theo thủ tục tái thẩm như thế nào thì chúng em sẽ đưa ra một tình huống dân sự để có thể làm rõ hơn và có cái nhìn tổng quát về vấn đề này
B.NỘI DUNG
I Lý thuyết
1 Khái quát về thủ tục tái thẩm
1.1 Khái niệm về thủ tục tái thẩm
Theo Điều 351 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015, “Tái
thẩm là xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Tòa án, các đương sự không biết được khi tòa án ra bản án, quyết định đó.”
1.2 Bản chất của thủ tục tái thẩm
Thứ nhất, đây là một thủ tục đặc biệt nhằm kiểm tra tính hợp pháp và có
căn cứ của bán án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị
Trang 2Thứ hai, thủ tục tái thẩm chỉ có thể được áp dụng trong trường hợp sau
khi bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì mới phát hiện được có những tình tiết mới mà có thể làm thay đổi nội dung cơ bản của bán án hoặc quyết định đó
Thứ ba, trong thủ tục tái thẩm, Tòa án không tiến hành xét xử lại vụ án
mà chỉ tiến hành xem xét, đối chiếu bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án với những tình tiết khách quan của vụ án và quy định của pháp luật để xem xét bản án hoặc quyết định bị kháng nghị đó có căn cứ và hợp pháp hay không
1.3 Thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm
Theo quy định tại Điều 354 BLTTDS 2015, những người có quyền
kháng nghị theo thủ tục tái thẩm gồm có:
- Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm bản án, quyết định đã
có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao; bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án khác khi xét thấy cần thiết, trừ quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
- Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ
- Ngoài ra, người đã kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật có quyền quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định đó cho đến khi có quyết định tái thẩm
1.4 Thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm
Theo Điều 355 BLTTDS năm 2015, thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái
thẩm là 01 năm, kể từ ngày người có thẩm quyền kháng nghị biết được căn cứ
để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm
1.5 Thẩm quyền của Hội đồng xét xử tái thẩm
Trang 3Theo Điều 356 BLTTDS năm 2015, Hội đồng xét xử thẩm quyền như
sau:
Thứ nhất, không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định
đã có hiệu lực pháp luật;
Thứ hai, hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực của pháp luật để xét xử sơ
thẩm lại theo thủ tục do Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định;
Thứ ba, hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ giải
quyết vụ án
1.6 Ý nghĩa của thủ tục tái thẩm
Tái thẩm là việc xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì những tình tiết mới phát hiện có thể làm thay đổi nội dung cơ bản của bản án, quyết định Việc xem xét lại theo thủ tục tái thẩm giúp Tòa án khắc phục được những thiếu sót trong những bản án, quyết định
đã có hiệu lực pháp luật không phụ thuộc vào thời gian bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật được thi hành từ bao giờ
2 Căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm
BLTTDS 2015 đã kế thừa quy định tại Điều 305 BLTTDS 2004 quy định về căn cứ kháng nghị tái thẩm tại Điều 352 như sau:
Thứ nhất, mới phát hiện được tình tiết quan trọng của vụ án mà đương
sự đã không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án Việc kháng nghị
tái thẩm sẽ dựa trên những phát hiện về các tình tiết, sự kiện mà trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án và ngay cả đương sự cũng không hề biết về tình tiết, sự kiện đó dẫn đến việc vụ án bị giải quyết sai hướng, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích mà đáng lẽ ra đương sự sẽ được hưởng Tình tiết mới được phát hiện phải là những tình tiết biết được sau khi đã có bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật Nếu tình tiết này đã được biết trong quá trình giải quyết vụ án đến trước khi Tòa án ra quyết định hoặc bản án đã có hiệu lực pháp luật không được coi là các tình tiết mới hoặc những tình tiết đã không được Tòa án áp dụng dẫn đến việc ra quyết định hoặc bản án không
Trang 4đúng pháp luật thì đây không phải là căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm
Thứ hai, có cơ sở chứng minh kết luận của người giám định, lời dịch của người phiên dịch không đúng sự thật hoặc có giả mạo chứng cứ Ở căn cứ
này, những tình tiết, sự kiện được Tòa án dựa vào đó để giải quyết đã bị giả mạo hoặc kết luận không đúng sự thật do lỗi của người giám định hoặc người phiên dịch, và có đầy đủ cơ sở để chứng minh cho việc kết luận, lời dịch đó là không đúng sự thật Lúc này, chủ thể có thẩm quyền kháng nghị sẽ thực hiện việc kháng nghị tái thẩm theo quy định của pháp luật
Thứ ba, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án hoặc cố ý kết luận trái pháp luật Xét căn cứ thứ ba này ta có
thể thấy rằng đây không thể là sai lầm về sự việc của Tòa án do yếu tố ngoại cảnh tác động được mà là do sự cố ý của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên trong việc kết luận sai lệch về sự việc, về pháp luật Cho nên, không thể xếp trường hợp này vào căn cứ để kháng nghị tái thẩm do nhưng sai lầm của Tòa án có nguồn gốc từ chính sự nhận thức, đánh giá không đúng
về sự việc hoặc về pháp luật bởi sự ngộ nhận hoặc thiếu cẩn trọng của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên1 Quy định này nhằm đảm bảo hơn quyền tiếp cận công lý của công dân trong tố tụng dân sự
Thứ tư, bản án, quyết định hình sự, hành chính, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của Tòa án hoặc quyết định của
cơ quan nhà nước mà Tòa án căn cứ vào đó để giải quyết vụ án đã bị hủy bỏ.
Khi các bản án, quyết định hình sự, hành chính, dân sự, hôn nhân và gia đình, thương mại, lao động của Tòa án hoặc những quyết định của cơ quan nhà nước mà Tòa án dùng đó làm căn cứ để giải quyết đã bị hủy bỏ vì bất cứ lý do nào đó thì chủ thể có thẩm quyền vẫn có thể làm thủ tục kháng nghị tái thẩm
2 Phân biệt giữa tái thẩm và giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự
Tiêu
chí
Tính Tái thẩm là xét lại bản án, quyết Giám đốc thẩm là xét lại bản
1 PGS.TS Trần Anh Tuấn, Giáo trình luật tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb Giáo dục Việt Nam, tr 254.
Trang 5chất định đã có hiệu lực pháp luật
nhưng bị kháng nghị vì có tình
tiết mới được phát hiện có thể
làm thay đổi cơ bản nội dung của
bản án, quyết định mà Tòa án,
các đương sự không biết được
khi Tòa án ra bản án, quyết định
đó
án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị giám đốc thẩm khi
có căn cứ: tồn tại những sai phạm của Tòa án trong quá trình xét xử, giải quyết vụ việc trước đó (các căn cứ quy định tại Điều 326 BLTTHS 2015)
Căn
cứ
kháng
nghị
Bản án, quyết định của Tòa án đã
có hiệu lực pháp luật bị kháng
nghị theo thủ tục tái thẩm khi có
một trong những căn cứ sau đây:
-Mới phát hiện được tình tiết
quan trọng của vụ án mà đương
sự đã không thể biết được trong
quá trình giải quyết vụ án;
-Có cơ sở chứng minh kết luận
của người giám định, lời dịch
của người phiên dịch không
đúng sự thật hoặc có giả mạo
chứng cứ;
-Bản án, quyết định hình sự,
hành chính, dân sự, hôn nhân và
gia đình, kinh doanh, thương
mại, lao động của Tòa án hoặc
quyết định của cơ quan nhà nước
mà Tòa án căn cứ vào đó để giải
quyết vụ án đã bị hủy bỏ
-Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân,
Kiểm sát viên cố ý làm sai lệch
Bản án, quyết định của Tòa án
đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm khi có một trong những căn cứ sau đây:
- Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự;
- Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng làm cho đương sự không thực hiện được quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình, dẫn đến quyền, lợi ích hợp pháp của
họ không được bảo vệ theo đúng quy định của pháp luật;
- Có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật dẫn đến việc ra bản
án, quyết định không đúng, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích
Trang 6hồ sơ vụ án hoặc cố ý kết luận
trái pháp luật; (ở đây là lỗi cố ý)
của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba.(ở đây là lỗi vô ý)
Điều
kiện
để
kháng
nghị
Để được kháng nghị theo thủ tục
tái thẩm thì chỉ cần thỏa mãn 01
yếu tố: Có căn cứ kháng nghị
Để được kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm thì phải thỏa mãn 02 yếu tố:
(1) Có căn cứ kháng nghị;
(2) Có một trong hai điều kiện sau:
-Có đơn đề nghị của đương sự, người đại diện hợp pháp đề nghị xem xét bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm
(khoản 1 Điều 327).
-Hoặc có kiến nghị, thông báo của phía Tòa án hoặc Viện kiểm sát đề nghị xem xét bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục
giám đốc thẩm (khoản 2,3 Điều 327).
Lưu ý: Có trường hợp ngoại lệ
không cần điều kiện “có đơn
đề nghị”, đó là: trường hợp
xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba thì không cần phải
có đơn đề nghị (khoản 2 Điều 326)
Thời Thời hạn kháng nghị theo thủ tục Người có thẩm quyền kháng
Trang 7kháng
nghị
tái thẩm là 01 năm, kể từ ngày
người có thẩm quyền kháng nghị
biết được căn cứ để kháng nghị
theo thủ tục tái thẩm
nghị theo thủ tục giám đốc thẩm có quyền kháng nghị trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật Trừ trường hợp: đã hết thời hạn kháng nghị theo quy định trên nhưng có các điều kiện sau đây thì thời hạn kháng nghị được kéo dài thêm 02 năm, kể từ ngày hết thời hạn kháng nghị: -Đương sự đã có đơn đề nghị
theo quy định tại khoản 1 Điều
328 của Bộ luật này và sau khi
hết thời hạn kháng nghị quy
định tại khoản 1 Điều này
đương sự vẫn tiếp tục có đơn đề nghị;
-Bản án, quyết định của Tòa án
đã có hiệu lực pháp luật có vi phạm pháp luật theo quy định
tại khoản 1 Điều 326 của Bộ
luật này, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, của người thứ ba, xâm phạm lợi ích của cộng đồng, lợi ích của Nhà nước và phải kháng nghị để khắc phục sai lầm trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật đó
Trang 8quyền
của
Hội
đồng
xét xử
Hội đồng xét xử tái thẩm có
thẩm quyền sau đây:
1.Không chấp nhận kháng nghị
và giữ nguyên bản án, quyết định
đã có hiệu lực pháp luật
2.Hủy bản án, quyết định đã có
hiệu lực pháp luật để xét xử sơ
thẩm lại theo thủ tục do Bộ luật
này quy định
3.Hủy bản án, quyết định đã có
hiệu lực pháp luật và đình chỉ
giải quyết vụ án
Hội đồng xét xử giám đốc thẩm
có thẩm quyền sau đây:
1.Không chấp nhận kháng nghị
và giữ nguyên bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật;
2.Hủy bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
và giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Tòa án cấp dưới đã bị hủy hoặc bị sửa; 3.Hủy một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định của Tòa án
đã có hiệu lực pháp luật để xét
xử lại theo thủ tục sơ thẩm hoặc xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm;
4.Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ giải quyết vụ án;
5.Sửa một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định của Tòa án
đã có hiệu lực pháp luật
II Giải quyết tình huống
Phân tích đề như sau:
Thứ nhất, về thời hạn kháng cáo, kháng nghị bản án cấp sơ thẩm trong
tình huống:
Theo khoản 1 Điều 273 BLTTDS 2015:
“Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày,
kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá
Trang 9nhân khởi kiện không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án
mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Đối với trường hợp đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện đã tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt khi Tòa án tuyên án mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày tuyên án.”
Theo khoản 1 điều 280 BLTTDS 2015:
“Thời hạn kháng nghị đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm của Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 01 tháng, kể từ ngày tuyên án Trường hợp Kiểm sát viên không tham gia phiên tòa thì thời hạn kháng nghị tính từ ngày Viện kiểm sát cùng cấp nhận được bản án.”
Như vậy, xét trong tình huống trên, thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đã hết
Thứ hai, bản án cấp sơ thẩm có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng
cáo kháng nghị:
Theo khoản 2 Điều 282 BLTTDS 2015 về hậu quả của việc kháng cáo,
kháng nghị: “Bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm hoặc
những phần bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.”
Do đó, bản án sơ thẩm về việc phân chia di sản có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị
Hướng giải quyết của nhóm dựa vào những căn cứ như sau:
Tái thẩm là xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có tình tiết mới, những tình tiết mới này có thể làm thay đổi
Trang 10quyết định, bản án Thủ tục kháng nghị theo thủ tục tái thẩm được quy định như sau:
Thứ nhất, căn cứ kháng nghị theo thủ tục tái thẩm:
Theo khoản 1 Điều 352 BLTTDS 2015 về căn cứ kháng nghị theo thủ
tục tái thẩm: “Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị
kháng nghị theo thủ tục tái thẩm khi có một trong những căn cứ sau đây: 1 Mới phát hiện được tình tiết quan trọng của vụ án mà đương sự đã không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án;”
Theo đó, việc phát hiện ra di chúc là tình tiết mới quan trọng làm thay đổi bản chất của vụ án Trong quá trình giải quyết vụ án chia di sản thừa kế mọi người không biết được ông An và bà Bình đã lập di chúc phân chia khối tài sản nên vụ án đã được giải quyết theo pháp luật Bản án nếu so với di chúc thì khác nhiều và kết luận của bản án đã làm thiệt hại đến lợi ích của thừa kế được chỉ định trong di chúc Đây là tình tiết quan trọng để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm
Thứ hai, thông báo xác minh tình tiết mới được phát hiện cho người có
thẩm quyền
Theo khoản 1 Điều 353 BLTTDS 2015 về thông báo xác minh tình tiết
mới được phát hiện: “1 Đương sự hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có
quyền phát hiện tình tiết mới của vụ án và thông báo bằng văn bản cho người
có thẩm quyền kháng nghị quy định tại Điều 354 của Bộ luật này.”
Trong tình huống trên, anh Cường là người phát hiện di chúc ông An và
bà Bình để lại anh Cường có quyền thông báo bằng văn bản cho người cho người có thẩm quyền kháng nghị, đó là: Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tiến hành kháng nghị theo thủ tục tái thẩm bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp huyện X,
tỉnh Y căn cứ theo khoản 2 Điều 354 BLTTDS 2015: