Phân tích và đánh giá tính hợp lý của các quy định pháp luật hiện hành về vai trò của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hành chính A MỞ ĐẦU Luật Tố tụng hành chính năm 2015 được Quốc hội khóa.
Trang 1Phân tích và đánh giá tính hợp lý của các quy định pháp luật hiện hành về vai trò của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm vụ án
hành chính
A MỞ ĐẦU
Luật Tố tụng hành chính năm 2015 được Quốc hội khóa XIII thông qua tại kỳhọp thứ 10, ngày 25/11/2015, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2016 So với LTTHCnăm 2010, LTTHC 2015 có nhiều sửa đổi, bổ sung quan trọng có tính khả thi cao, bảođảm dân chủ, công khai, công bằng, thuận lợi cho người tham gia tố tụng thực hiện cácquyền, nghĩa vụ của mình; đề cao trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng trongviệc bảo vệ công lý, bảo vệ pháp luật, tôn trọng, bảo đảm quyền con người, quyềncông dân; đảm bảo các bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật phải đượcthi hành
Có thể thấy rõ rằng, LTTHC năm 2015 đã có những thay đổi cụ thể và cần thiết
về vai trò, vị trí của Viện Kiểm sát nhân dân nói chung và Kiểm sát viên nói riêngtrong các giai đoạn của tố tụng hành chính Việc thay đổi như vậy có thể góp phầnnâng cao hiệu quả của công tác kiểm sát việc xét xử và tuân theo pháp luật của Tòa án,góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và cả cơ quan Nhànước khi tham gia vào tố tụng hành chính
Xét xử VAHC ở giai đoạn sơ thẩm là một giai đoạn tố tụng độc lập, phản ánhđầy đủ các đặc điểm của hoạt động tố tụng hành chính Hoạt động của kiểm sát viênviên tại phiên tòa sơ thẩm VAHC được pháp luật quy định rõ ràng, có vai trò rất quantrọng nhằm đảm bảo bình đẳng các chủ thể tham gia tố tụng, quyền con người, quyền
công dân được bảo vệ toàn diện Chính vì lý do đó, nhóm xin chọn đề tài “Phân tích
và đánh giá tính hợp lý của các quy định pháp luật hiện hành về vai trò của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hành chính” để tìm hiểu các quy định pháp luật hiện
hành về vai trò của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm VAHC và đánh giá tính hợp lýcủa các quy định trên Nêu ra thực tiễn hoạt động của Kiểm sát viên trên thực tế Từ
đó, tìm ra nguyên nhân và đưa ra kiến nghị giải pháp nhằm hoàn thiện các vai trò củaKiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hành chính của LTTHC trong tương lai
1
Trang 2B NỘI DUNG
I Một số vấn đề lý luận chung về xét xử sơ thẩm vụ án hành chính
1 Khái niệm và đặc điểm
Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, cá nhân, tổ chức thực hiệnquyền khởi kiện VAHC Sau khi đã thụ lý đơn khởi kiện của đương sự và xác định rõ
vụ án không thuộc trường hợp bị hoãn, đình chỉ hay tạm đình chỉ, Tòa án sẽ ra quyết
định đưa vụ án ra xét xử Phiên xét xử này được gọi là phiên tòa sơ thẩm VAHC.
Như vậy, xét xử sơ thẩm VAHC là việc Tòa án đưa vụ án thuộc thẩm quyền ra xét xử công khai tại phiên tòa lần đầu, khi có đủ căn cứ pháp luật, với mục đích là xác định rõ bản chất vụ án, đưa ra phán quyết pháp luật, với mục đích là xác định rõ bản chất vụ án, đưa ra phán quyết đúng pháp luật để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
cá nhân, tổ chức.
Phiên tòa sơ thẩm VAHC có các đặc điểm chung như sau:
Thứ nhất, phiên tòa sơ thẩm VAHC là phiên xét xử lần đầu của Tòa án có thẩm
quyền
Thứ hai, giai đoạn xét xử sơ thẩm VAHC có vị trí quan trọng trong thủ tục tố
tụng hành chính Có thể nói xét xử sơ thẩm nói riêng và xét xử nói chung là giai đoạntrọng tâm của hoạt động tố tụng hành chính Các hoạt động tố tụng trước đó: khởi kiện, xem xét đơn khởi kiện , thụ lý vụ án , điều tra đều nhằm phục vụ cho hoạt động xét
xử sơ thẩm Xét xử sơ thẩm còn là cơ sở phát sinh các hoạt động tố tụng hành chínhkhác như: kháng cáo, kháng nghị, xét xử theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, táithẩm…
Thứ ba, phiên tòa sơ thẩm VAHC cũng là nơi tập trung đầy đủ và cao độ nhất
các hoạt động tố tụng hành chính Các bên được phát biểu, tranh luận, đối đáp mộtcách bình đẳng, công khai trước Hội đồng xét xử Hội đồng xét xử thực hiện việc xét
xử thông qua việc nghe các bên đương sự phát biểu, tranh luận; kiểm tra, xác minh cáctài liệu, chúng cứ của vụ án một cách toàn diện và khách quan; trên cơ sở đó đưa ranhững nhận định, quyết định về chủ trưởng giải quyết vụ án được đúng đắn, chính xác
Thứ tư, kết quả của phiên tòa sơ thẩm quyết định trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ
của các bên đương sự (nếu như bản án, quyết định không bị kháng cáo, kháng nghị)
Trang 3Hoạt động xét xử giúp các bên đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liênquan và những người tham dự phiên Tòa hiểu biết về pháp luật nói chung và pháp luật
tố tụng hành chính nói riêng Phiên Tòa sơ thẩm được tiến hành tốt và khoa học khôngchỉ có ý nghĩa, tác dụng to lớn đối với VAHC cụ thể mà còn có tác dụng to lớn trongviệc tạo niềm tin đối với mọi người dân
Việc xét xử VAHC góp phần quan trọng vào việc ngăn ngừa những hành vi viphạm pháp luật từ phía cơ quan nhà nước, cán bộ công chức nhà nước, nêu cao tinhthần trách nhiệm của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước,giải quyết có hiệu quả hơn việc khiếu tố của cơ quan, tổ chức, cá nhân
II Đánh giá tính hợp lý của các quy định pháp luật hiện hành về vai trò của Kiểm sát viên tại toà án sơ thẩm vụ án hành chính
1 Quy định pháp luật về vai trò của Kiểm Sát viên tại phiên toà sơ thẩm
vụ án hành chính
1.1 Địa vị pháp lý của Kiểm sát viên trong phiên tòa sơ thẩm vụ án hành chính
Có ý kiến cho rằng VKS chỉ là cơ quan tham gia tố tụng Bởi lẽ có ý kiến trên
vì xuất phát từ bản chất của tố tụng hành chính là giải quyết các tranh chấp phát sinhgiữa một bên là cá nhân, tổ chức với một bên là cơ quan quản lý nhà nước hoặc người
có thẩm quyền trong bộ máy Nhà nước nên VKSND không khởi tố vụ án hành chính,không thực hành quyền công tố cũng như không chủ trì tiến hành bất kỳ một hoạt động
tố tụng nào như trong tố tụng hình sự VKS chỉ tham gia để kiểm sát việc tuân theopháp luật tố tụng của những người tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể
từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án Tuy nhiên, vị trí pháp lý củaVKSND đã được ghi nhận, thể hiện rất rõ và nhất quán trong Hiến pháp 2013 và cácquy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong Luật Tổ chức
3
Trang 4VKSND 2014 Theo đó, Khoản 1 Điều 107 Hiến pháp 2013 và Điều 2 Luật Tổ chức
VKSND (sửa đổi) 2014 quy định: "VKSND thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp".
Trong tố tụng hành chính, mặc dù VKSND không thực hành quyền công tố,song vẫn nhân danh quyền lực Nhà nước thực hiện chức năng "Kiểm sát hoạt động tưpháp"; cụ thể là kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổchức, cá nhân trong tố tụng hành chính, bảo đảm mọi vi phạm pháp luật trong tố tụng
hành chính phải được phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh Chính vai trò này phân định rất rõ vị trí pháp lý của VKSND là cơ quan tiến hành tố tụng; không phải là người tham gia tố tụng.
Khoản 1 Điều 36 Luật TTHC năm 20151 quy định VKSND là cơ quan tiến hành
tố tụng hành chính cùng với Tòa án nhân dân Như vậy, Luật TTHC năm 2015 vẫntiếp tục kế thừa quy định trước đây của Luật TTHC năm 2010 khi tiếp tục quy địnhVKSND là cơ quan tiến hành tố tụng hành chính Việc giữ nguyên quy định này là hợp
lý bởi lẽ trong tố tụng hành chính, VKSND nhân danh quyền lực Nhà nước thực hiệnchức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, cụ thể là kiểm sát tính hợp pháp về các quyếtđịnh và hành vi của người tiến hành tố tụng và hành vi của người tham gia tố tụng, bảođảm mọi vi phạm pháp luật trong tố tụng hành chính phải được phát hiện và xử lý kịpthời, nghiêm minh giúp cho việc giải quyết vụ án hành chính được đúng đắn và kháchquan
Ngoài ra, theo khoản 2 Điều 36 Luật TTHC năm 20152 quy định Viện trưởngViện kiểm sát, Kiểm sát viên (KSV), Kiểm tra viên là những người tiến hành tố tụnghành chính cùng với Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên,Thư ký Tòa án Như vậy, Luật TTHC năm 2015 đã bổ sung thêm Kiểm tra viên làngười tiến hành tố tụng hành chính, thể hiện sự đồng bộ, phù hợp với quy định củaLuật Tổ chức VKSND năm 2014; tiếp tục kế thừa các quy định trước đây của Luật
1 Điều 36 Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng
1 Các cơ quan tiến hành tố tụng hành chính gồm có:
a) Tòa án;
b) Viện kiểm sát.
2 Điều 36 Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng
2 Những người tiến hành tố tụng hành chính gồm có:
a) Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án;
b) Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên.
Trang 5TTHC năm 2010 khi quy định “Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong
tố tụng hành chính nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hành chính kịp thời, đúngpháp luật” Viện kiểm sát kiểm sát các vụ án hành chính từ khi thụ lý đến khi kết thúcviệc giải quyết vụ án; tham gia các phiên toà, phiên họp của Toà án; kiểm sát việc tuântheo pháp luật trong công tác thi hành bản án, quyết định của Toà án; thực hiện cácquyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật Thông qua việcthực hiện chức năng này, Viện kiểm sát giúp Tòa án kịp thời sửa chữa những thiếu sót,sai lầm trong hoạt động xét xử nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
So với Luật TTHC năm 2010, nhiệm vụ và quyền hạn của Viện trưởng VKSND
đã được bổ sung thêm quyền yêu cầu, kiến nghị tại Điều 42 Luật TTHC năm 2015.Ngoài ra, do Kiểm tra viên mới được bổ sung là người tiến hành tố tụng hành chínhnên trong nhiệm vụ và quyền hạn Viện trưởng VKSND đã bổ sung thêm một số quyđịnh liên quan đến chủ thể này, cụ thể là phân công Kiểm tra viên tiến hành tố tụng đốivới vụ án hành chính; quyết định thay đổi Kiểm tra viên
Đối với nhiệm vụ và quyền hạn của KSV, nếu như Điều 40 Luật TTHC năm
2010 trước đây chỉ quy định một cách chung chung thì Luật TTHC năm 2015 đã có sựliệt kê các nhiệm vụ, quyền hạn rõ ràng và chi tiết hơn Theo đó, Điều 43 quy định khiđược Viện trưởng phân công thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạtđộng tố tụng hành chính, KSV có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: Kiểm sát việctrả lại đơn khởi kiện; kiểm sát việc thụ lý, giải quyết vụ án; nghiên cứu hồ sơ vụ án;xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ theo quy định tại khoản 6 Điều 84 của Luật này;tham gia phiên tòa, phiên họp và phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết
vụ án theo quy định của Luật này; kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án; yêu cầu,kiến nghị Tòa án thực hiện hoạt động tố tụng theo quy định của Luật này; đề nghị vớiViện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án
có vi phạm pháp luật; kiểm sát hoạt động tố tụng của người tham gia tố tụng; yêu cầu,kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố tụng
vi phạm pháp luật; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Luật này.Với việc quy định cụ thể và chi tiết về nhiệm vụ và quyền hạn của KSV giúp cho KSVthuận lợi hơn trong quá trình thực hiện nhiệm vụ Nhiệm vụ của Kiểm tra viên đượcquy định tại Điều 44 Luật TTHC năm 2015 đều là các nhiệm vụ và quyền hạn mới,theo đó, Kiểm tra viên có các nhiệm vụ và quyền hạn sau: Nghiên cứu hồ sơ vụ án,
5
Trang 6báo cáo kết quả với Kiểm sát viên; lập hồ sơ kiểm sát vụ án hành chính theo sự phâncông của Kiểm sát viên hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát; giúp KSV kiểm sát việc tuântheo pháp luật theo quy định.
1.2 Sự có mặt của KSV tại các phiên tòa
Theo quy định tại khoản 4 Điều 166 Luật Tố tụng hành chính 2015 (sửa đổi, bổsung năm 2019) quy định: “Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng có quyềnđược xem biên bản phiên tòa, yêu cầu ghi những sửa đổi bổ sung vào biên bản phiêntòa và ký xác nhận” Khi đọc quy định này chúng ta có thể hiểu được rằng, Kiểm sátviên là người bắt buộc phải có mặt từ đầu đến cuối phiên tòa diễn ra để có yêu cầu sửađổi bổ sung vào biên bản và cuối cùng là ký xác nhận, bởi vì nếu như Kiểm sát viênkhông tham gia phiên tòa thì làm sao có thể thực hiện được chức năng trên Kiểm sátviên hay nói bao hàm hơn là Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân năm vai trò rất quantrọng trong việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án hànhchính Tại khoản 1, khoản 2 Điều 25 Luật Tố tụng hành chính 20153 (sửa đổi, bổ sungnăm 2019) cho ta thấy trong tố tụng hành chính, sự có mặt của người tiến hành tố tụngnói chung và của Kiểm sát viên nói riêng tại các phiên tòa, phiên họp có ý nghĩa quantrọng đối với quá trình giải quyết vụ án hành chính Sự có mặt của Kiểm sát viên tạiphiên tòa, phiên họp bảo đảm đúng thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật tố tụnghành chính tránh vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng dẫn đến trường hợp bản án bịhủy để xét xử lại Sự có mặt của Kiểm sát viên giúp Viện trưởng Viện Kiểm sát nhândân thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụnghành chính tại các phiên tòa sơ thẩm, phiên họp, thông qua đó phát hiện ra các sai sóttrong hoạt động tố tụng kịp thời đưa ra các quyết định kháng nghị theo thủ tục phúcthẩm
Sự có mặt của KSV tại phiên tòa sơ thẩm được quy định tại Điều 156 LuậtTTHC năm 2015, cụ thể như sau:
3 Điều 25 Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hành chính
1 Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hành chính nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ
án hành chính kịp thời, đúng pháp luật.
2 Viện kiểm sát kiểm sát vụ án hành chính từ khi thụ lý đến khi kết thúc việc giải quyết vụ án; tham gia các phiên tòa, phiên họp của Tòa án; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong công tác thi hành bản án, quyết định của Tòa án; thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Trang 71 Kiểm sát viên được Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp phân quyền cónhiệm vụ tham gia phiên tòa, nếu rời khỏi thì Hội đồng giám sát vẫn tiến hành kiểmtra.
2 Trường hợp KSV được thay đổi tại phiên tòa hoặc không thể tiếp tục thamgia phiên tòa xử lý, nhưng nếu có KSV dự khuyết thì người này được tham gia phiêntòa nhà xử lý tiếp vụ án nếu họ có mặt tại phiên tòa từ đầu
Theo quy định trên có thể thấy, Luật TTHC năm 2015 có điểm sửa đổi so vớiquy định của Luật TTHC năm 2010 là trong trường hợp KSV được Viện trưởng Việnkiểm sát (VKS) cùng cấp phân công kiểm sát vụ án hành chính nhưng vắng mặt tạiphiên tòa thì Hội đồng xét xử (HĐXX) vẫn tiến hành xử lý thay vì phải hoãn phiên tòanếu không có KSV dự khuyết thay thế ngay từ đầu như quy định trước đây của LuậtTTHC năm 2010 Việc sửa đổi này xuất phát từ lý do tránh phiên tòa xét xử sơ thẩm
có thể bị hoãn do vắng mặt KSV dẫn đến việc giải quyết vụ án hành chính bị kéo dài,ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, đồng thời tạo sự chủ động,độc lập cho Tòa án để thực hiện chức năng xét xử Ngoài ra, tại Điều 200 Luật TTHCnăm 2015 quy định về sự có mặt của đương sự, đại diện VKS tại phiên tòa đối với thủtục giải quyết khiếu kiện danh sách cử tri cũng có sự quy định tương đồng khi nêu rõ
“Kiểm sát viên Viện kiểm sat cùng cấp cùng cấp phải có mặt tại phiên tòa, nếu vắngmặt thì HĐXX vẫn tiến hành xét xử vụ án”
Ngoài ra, tại khoản 2 của Điều luật này cũng quy định trong trường hợp KSV bịthay đổi tại phiên tòa hoặc không thể tiếp tục tham gia phiên tòa nhưng có KSV dựkhuyết thay thế, thì người này được tham gia phiên tòa xét xử tiếp vụ án nếu họ có mặttại phiên tòa từ đầu Quy định này bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hành chính đượctiến hành liên tục, bảo đảm đúng thời hạn tố tụng, đồng thời cũng bảo đảm được chấtlượng của hoạt động kiểm sát tại phiên tòa vì chỉ có KSV dự khuyết “có mặt tại phiêntòa ngay từ đầu” mới được quyền thay thế.4
1.3 Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa, phiên họp giải quyết các vụ án hànhchính theo quy định của pháp luật là kết quả của quá trình nghiên cứu hồ sơ, tham giaphiên tòa của Kiểm sát viên, thể hiện vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trongcông tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính
4 Lê Việt Sơn, “Bất cập trong các quy định về sự có mặt của kiểm sát viên tại các phiên tòa, phiên họp theo luật
tố tụng hành chính năm 2015”, Tạp chí Kiểm sát, Số 7 tháng 4/2018
7
Trang 8Luật tố tụng hành chính năm 2010, quy định tại Điều 160 phát biểu của Kiểmsát viên tại phiên tòa sơ thẩm: Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranhluận và đối đáp xong, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tốtụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hànhpháp luật của người tham gia tố tụng hành chính, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trướcthời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
Luật tố tụng hành chính năm 2015, quy định tại Điều 190 phát biểu của Kiểmsát viên tại phiên tòa sơ thẩm: Sau khi những người tham gia tố tụng tranh luận và đốiđáp xong, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩmphán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quátrình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị
án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án
Như vậy, so sánh giữa hai Luật tố tụng hành chính nêu trên thì Luật tố tụnghành chính năm 2015 bổ sung một số điểm mới mở rộng phạm vi, nội dung phát biểu
ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thư ký phiên tòa; Kiểm sát viên phátbiểu ý kiến về việc giải quyết vụ án Do đó, khi tham gia phiên tòa sơ thẩm Kiểm sátviên phát biểu ý kiến phải đảm bảo các nội dung sau đây:
Thứ nhất, kiểm sát việc tuân theo pháp luật tố tụng Khi Kiểm sát viên phát biểu
ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Tòa án, cần nêu rõ việc tuân theo phápluật về thụ lý vụ án hành chính; việc xác minh thu thập chứng cứ; việc áp dụng biệnpháp KCTT; tạm đình chỉ; tổ chức đối thoại giữa các đương sự; những vi phạm phápluật của Hội thẩm nhân dân thông qua các hoạt động tố tụng tại phiên toà; vi phạm củaThư ký phiên tòa không chấp hành theo quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và biên bảnphiên tòa Trên cơ sở kiểm sát việc tuân theo pháp luật tố tụng cần đánh giá tóm tắt quá trình thụ lý, giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử có những vi phạm
gì nghiêm trọng, cụ thể: Trước khi mở phiên tòa sơ thẩm thì việc thụ lý; việc xácminh, thu thập chứng cứ; áp dụng các biện pháp áp dụng biện pháp KCTT, tổ chức đốithoại (nếu có); việc tạm đình chỉ; việc tống đạt các quyết định, văn bản tố tụng, việcchuyển hồ sơ, của Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án cũng như việcxét xử của Hội đồng xét xử tại phiên tòa có những vi phạm nghiêm trọng gì? Hậu quảcủa những vi phạm đó? (Nếu không phát hiện vi phạm gì cũng phải nêu rõ là qua côngtác kiểm sát không phát hiện vi phạm gì) Bên cạnh đó, khi phát biểu ý kiến về việc
Trang 9tuân theo pháp luật tố tụng của người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi vànghĩa vụ liên quan và những người tham gia tố tụng khác, nếu phát hiện những viphạm pháp luật thì Kiểm sát viên đối chiếu với các quy định trong Luật TTHC để phátbiểu Qua đó, đánh giá tóm tắt việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người thamgia tố tụng hành chính từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án cónhững vi phạm gì? (Nếu không phát hiện vi phạm gì cũng phải nêu rõ là qua công táckiểm sát không phát hiện vi phạm gì).5
Thứ hai, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án Đây là nội
dung mới được quy định trong luật tố tụng hành chính năm 2015, Kiểm sát viên phátbiểu ý kiến về việc giải quyết vụ án Việc sửa đổi này là hợp lý, bởi lẽ, KSV là ngườikiểm sát việc giải quyết vụ án ngay từ khi vụ án hành chính được khởi kiện, KSV cũngđược quyền nghiên cứu hồ sơ vụ án nên hơn ai hết KSV là người nắm rõ bản chất vụviệc Do đó, KSV phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án được xem như là kênhquan trọng để Hội đồng xét xử tham khảo đánh giá về tính hợp pháp của đối tượngkhiếu kiện Bên cạnh điểm mới như trên, Luật TTHC năm 2015 còn bổ sung thêm quyđịnh: “Ngay sau khi kết thúc phiên tòa, Kiểm sát viên phải gửi văn bản phát biểu ýkiến cho Tòa án để lưu vào hồ sơ vụ án” nhằm đảm bảo việc hoàn tất hồ sơ vụ việctheo đúng quy định của pháp luật
1.4 Kiểm sát hoạt động thu thập chứng cứ và chứng minh chứng cứ
Viện kiểm sát với chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụnghành chính góp phần giúp cho hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án, đương sựđược diễn ra theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định Vì vậy, Luật TTHCnăm 2015 tiếp tục dành một số điều khoản quy định về vấn đề này, trong đó chủ yếutập trung tại Chương VI về chứng cứ, chứng minh Đối với việc xác minh và thu thậpchứng cứ, khoản 6 Điều 84 Luật TTHC năm 2015 kế thừa quy định trước đây của LuậtTTHC năm 2010 khi quy định “Viện kiểm sát có quyền yêu cầu Tòa án xác minh, thuthập tài liệu, chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án Trường hợp kháng nghị bản ánhoặc quyết định của Tòa án theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm thì Việnkiểm sát có thể xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ để bảo đảm cho việc kháng nghị”;
5 “Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm theo luật tố tụng hành chính năm 2015”,
tham-theo-luat-to-tung-hanh-chinh-nam-2015-695/
http://vksquangngai.gov.vn/index.php/vi/news/Trao-doi-phap-luat/Phat-bieu-cua-Kiem-sat-vien-tai-phien-toa-so-9
Trang 10bên cạnh đó, việc kiểm sát hoạt động thu thập chứng cứ, chứng minh có những điểmmới sau:
Thứ nhất, đối với hoạt động trưng cầu giám định và yêu cầu giám định, khoản 5
Điều 89 Luật TTHC năm 2015 đã bổ sung quy định Viện trưởng VKSND tối cao đượcquyền yêu cầu giám định lại trong trường hợp đặc biệt
Thứ hai, đối việc bảo vệ chứng cứ, khoản 2 Điều 97 Luật TTHC năm 2015 quy
định “Trường hợp người làm chứng bị đe dọa, khống chế hoặc mua chuộc để khôngcung cấp chứng cứ hoặc cung cấp chứng cứ sai sự thật thì Tòa án có quyền quyết địnhbuộc người có hành vi đe dọa, khống chế hoặc mua chuộc phải chấm dứt hành vi đedọa, khống chế hoặc mua chuộc người làm chứng Trường hợp hành vi đó có dấu hiệutội phạm thì Tòa án yêu cầu Viện kiểm sát xem xét về trách nhiệm hình sự”, trong khi
đó theo quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật TTHC năm 2010 trước đây quy định “…Trường hợp hành vi đe doạ, khống chế hoặc mua chuộc có dấu hiệu tội phạm thì Toà
án chuyển cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền xem xét về trách nhiệm hình sự” Cóthể thấy, Luật TTHC năm 2015 đã có sự quy định cụ thể, rõ ràng và chi tiết hơn giúpcho Tòa án thuận lợi trong công tác xử lý các hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luậtnhằm đảm bảo việc giải quyết vụ án hành chính được kịp thời, đúng pháp luật
2 Đánh giá tính hợp lý của các quy định quy định pháp luật hiện hành về vai trò của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hành chính.
Được khẳng định trong Hiến pháp và cụ thể quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật tổchức Viện kiểm sát 2014, một chức năng quan trọng của ngành kiểm sát là chức năngkiểm sát hoạt động tư pháp Điển hình trong đó là việc tham gia kiểm sát việc xét xửtại các Phiên tòa trong đó có kiểm sát tại phiên tòa hành chính sơ thẩm Đây là hoạtđộng đặc thù của viện kiểm sát, vốn chỉ tồn tại ở các nước trong hệ thống xã hội chủnghĩa Có thể, sự cần thiết có một cơ quan độc lập, tập trung, đứng ra giám sát hoạtđộng của các cá nhân, tổ chức trong xã hội bắt nguồn từ nguyên lý tổ chức quyền lựcnhà nước ta
Với quy định về sự có mặt của Kiểm sát viên tại phiên tòa hành chính sơ thẩmquy định tại Điều 156 LTTHC năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2016, một điểm mới nổibật so với quy định tại các LTTHC trước đây là quy định Hội đồng xét xử được tiếnhành xét xử khi kiểm sát viên vắng mặt Với sự thay đổi này có hai quan điểm về tínhhợp lý của vấn đề