CHUYÊN ĐỀ: CÁC BƯỚC DẠY HỌC THÍ NGHIỆM THEO NHÓM TRONG TIẾT DẠY VẬT LÍ LỚP 8 PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ Trong chương trình vật lí lớp 8, hầu hết các bài học đều có phần thí nghiệm. Vật lý là một bộ môn khoa học thực nghiệm, các định luật và tính chất vật lý được rút ra dựa trên cơ sở tiến hành thí nghiệm. Việc làm các thí nghiệm vật lí ở nhà trường là một trong các biện pháp quan trọng nhất để phấn đấu nâng cao chất lượng dạy và học Vật lí. Làm thí nghiệm Vật lí theo nhóm có tác dụng to lớn trong việc phát triển nhận thức của học sinh, giúp các em quen dần với phương pháp nghiên cứu khoa học, vì qua đó các em được tập quan sát, đo đạc, được rèn luyện tính cẩn thận, kiên trì, điều đó rất cần cho việc giáo dục kỹ thuật tổng hợp, chuẩn bị cho học sinh tham gia hoạt động thực tế. Do được tận mắt, tự tay tháo lắp các dụng cụ, thiết bị và đo lường các đại lượng,..., các em có thể nhanh chóng làm quen với những dụng cụ và thiết bị dùng trong đời sống và sản xuất sau này. Đặc biệt, việc thực hiện thí nghiệm Vật lí theo nhóm là rất phù hợp với đặc điểm tâm – sinh lí và khả năng nhận thức của học sinh, đồng thời tạo điều kiện rèn luyện cho học sinh các kỹ năng thực hành và thái độ ứng xử trong thực hành, cần thiết cho việc học tập Vật lí ở các cấp học trên. Trong đổi mới phương pháp dạy học ,việc dạy học thí nghiệm theo nhóm cũng là một phương pháp dạy học tích cực, nhằm giúp HS hiểu sâu hơn kiến thức cơ bản của môn vật lý. Mặt khác, nhằm tạo cho các em khả năng hợp tác trong quá trình học tập, rèn luyện các kỹ năng cơ bản để các em nâng cao chất lượng về học tập, tôi đã chọn chuyên đề “Các bước dạy học thí nghiệm theo nhóm” để làm chuyên đề vật lý. PHẦN II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. Cơ sở lý luận: Vật lí là một môn khoa học thực nghiệm, bởi vậy đòi hỏi giáo viên bộ môn phải sử dụng các phương pháp và kỹ thuật dạy học một cách hợp lí, linh hoạt, phù hợp với đặc trưng của cấp học, môn học; phù hợp với nội dung, tính chất của bài học, đặc điểm và trình độ HS; phù hợp với thời lượng dạy học và các điều kiện dạy học cụ thể của trường, địa phương, nhất là tăng cường việc sử dụng thí nghiệm và các phương tiện trực quan trong quá trình dạy học. Trong dạy học vật lí, giáo viên cần phát huy tính tích cực của học sinh bằng cách tạo hứng thú, kích thích tính tò mò, ham hiểu biết của học sinh. Rèn luyện cho học sinh kĩ năng thực hành; rèn luyện khả năng sử dụng và diễn đạt ngôn ngữ vật lí cho học sinh. Qua đó việc vận dụng kiến thức vào thực tiễn của học sinh sẽ được phát huy tối đa. II. Cơ sở thực tiễn: 1 Thực trạng tình hình việc dạy môn vật lý hiện nay: a Đối với người dạy: Nguyên nhân chủ quan của mỗi giáo viên đứng lớp: nhiều giáo viên chưa có sự chuẩn bị tốt nhất cho bài giảng. Giáo viên hạn chế khả năng dạy học thí nghiệm theo nhóm vì sợ mất thời gian .Do đó học sinh chưa được làm, chưa được tự mình nghiên cứu hiện tượng xảy ra dẫn đến không phát huy được tính sáng tạo của học sinh trong việc làm việc theo nhóm b Đối với người học: Còn ngại khó, chưa thực sự hứng thú tìm tòi khoa học. Điều kiện vật chất thiết bị, thời gian còn thiếu thốn, hạn hẹp khó có thể thực hiện những ý tưởng sáng tạo của mình. c Đối với chương trình học: Thiết bị dạy học đã xuống cấp do quá trình sử dụng và bảo quản, do thiết bị được trang cấp chất lượng không cao dẫn đến nhiều thí nghiệm làm không thành công. Do đó giáo viên chỉ làm những thí nghiệm biểu diễn hay chỉ giới thiệu dụng cụ thí nghiệm. Cách kiểm tra, đánh giá hiện nay chủ yếu tập trung vào nội dung kiến thức mà chưa chú ý đánh giá qua thực hành thí nghiệm. Đây cũng chính là một “khe hở” khá rộng, một nguyên nhân khá rõ để giải thích cho thực trạng nêu trên.
Trang 1CHUYÊN ĐỀ: CÁC BƯỚC DẠY HỌC THÍ NGHIỆM THEO NHÓM TRONG
TIẾT DẠY VẬT LÍ LỚP 8
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong chương trình vật lí lớp 8, hầu hết các bài học đều có phần thí nghiệm
Vật lý là một bộ môn khoa học thực nghiệm, các định luật và tính chất vật lý được rút ra dựa trên cơ sở tiến hành thí nghiệm Việc làm các thí nghiệm vật lí ở nhà trường là một trong các biện pháp quan trọng nhất để phấn đấu nâng cao chất lượng dạy
và học Vật lí
Làm thí nghiệm Vật lí theo nhóm có tác dụng to lớn trong việc phát triển nhận thức của học sinh, giúp các em quen dần với phương pháp nghiên cứu khoa học, vì qua
đó các em được tập quan sát, đo đạc, được rèn luyện tính cẩn thận, kiên trì, điều đó rất cần cho việc giáo dục kỹ thuật tổng hợp, chuẩn bị cho học sinh tham gia hoạt động thực
tế Do được tận mắt, tự tay tháo lắp các dụng cụ, thiết bị và đo lường các đại lượng, , các em có thể nhanh chóng làm quen với những dụng cụ và thiết bị dùng trong đời sống
và sản xuất sau này
Đặc biệt, việc thực hiện thí nghiệm Vật lí theo nhóm là rất phù hợp với đặc điểm tâm – sinh lí và khả năng nhận thức của học sinh, đồng thời tạo điều kiện rèn luyện cho học sinh các kỹ năng thực hành và thái độ ứng xử trong thực hành, cần thiết cho việc học tập Vật lí ở các cấp học trên Trong đổi mới phương pháp dạy học ,việc dạy học thí nghiệm theo nhóm cũng là một phương pháp dạy học tích cực, nhằm giúp HS hiểu sâu hơn kiến thức cơ bản của môn vật lý
Mặt khác, nhằm tạo cho các em khả năng hợp tác trong quá trình học tập, rèn luyện các kỹ năng cơ bản để các em nâng cao chất lượng về học tập, tôi đã chọn chuyên
đề “Các bước dạy học thí nghiệm theo nhóm” để làm chuyên đề vật lý
PHẦN II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I Cơ sở lý luận:
- Vật lí là một môn khoa học thực nghiệm, bởi vậy đòi hỏi giáo viên bộ môn phải
sử dụng các phương pháp và kỹ thuật dạy học một cách hợp lí, linh hoạt, phù hợp với đặc trưng của cấp học, môn học; phù hợp với nội dung, tính chất của bài học, đặc điểm
và trình độ HS; phù hợp với thời lượng dạy học và các điều kiện dạy học cụ thể của trường, địa phương, nhất là tăng cường việc sử dụng thí nghiệm và các phương tiện trực quan trong quá trình dạy học
- Trong dạy học vật lí, giáo viên cần phát huy tính tích cực của học sinh bằng cách tạo hứng thú, kích thích tính tò mò, ham hiểu biết của học sinh Rèn luyện cho học sinh
kĩ năng thực hành; rèn luyện khả năng sử dụng và diễn đạt ngôn ngữ vật lí cho học sinh Qua đó việc vận dụng kiến thức vào thực tiễn của học sinh sẽ được phát huy tối đa
Trang 21- Thực trạng tình hình việc dạy môn vật lý hiện nay:
a- Đối với người dạy:
- Nguyên nhân chủ quan của mỗi giáo viên đứng lớp: nhiều giáo viên chưa có sự chuẩn bị tốt nhất cho bài giảng
- Giáo viên hạn chế khả năng dạy học thí nghiệm theo nhóm vì sợ mất thời gian Do đó học sinh chưa được làm, chưa được tự mình nghiên cứu hiện tượng xảy ra dẫn đến không phát huy được tính sáng tạo của học sinh trong việc làm việc theo nhóm
b- Đối với người học:
- Còn ngại khó, chưa thực sự hứng thú tìm tòi khoa học
- Điều kiện vật chất thiết bị, thời gian còn thiếu thốn, hạn hẹp khó có thể thực hiện những ý tưởng sáng tạo của mình
c- Đối với chương trình học:
- Thiết bị dạy học đã xuống cấp do quá trình sử dụng và bảo quản, do thiết bị được trang cấp chất lượng không cao dẫn đến nhiều thí nghiệm làm không thành công
Do đó giáo viên chỉ làm những thí nghiệm biểu diễn hay chỉ giới thiệu dụng cụ thí nghiệm
- Cách kiểm tra, đánh giá hiện nay chủ yếu tập trung vào nội dung kiến thức mà chưa chú ý đánh giá qua thực hành thí nghiệm Đây cũng chính là một “khe hở” khá rộng, một nguyên nhân khá rõ để giải thích cho thực trạng nêu trên
2- Những thuận lợi, khó khăn khi chọn thực hiện chuyên đề
* Thuận lợi:
- Bản thân giáo viên thường xuyên học hỏi qua rút kinh nghiệm các tiết dự giờ, hội giảng nên việc tiếp cận với phương pháp dạy học mới được ứng dụng có hiệu quả
- Học sinh ngoan, có ý thức học tập, tạo điều kiện cho giáo viên truyền thụ kiến thức trên lớp
- Số lượng học sinh trong một lớp đảm bảo, không quá đông khi phân nhóm
* Khó khăn:
- Tính chủ động của học sinh chưa cao, chưa sáng tạo, chủ yếu là làm theo yêu cầu của giáo viên
- Thiết bị qua nhiều năm sử dụng cũng bị mất, hư hao phần nào
PHẦN III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN.
Một số giải pháp chung về “Thí nghiệm theo nhóm”
Để nâng cao chất lượng và hiệu quả của thí nghiệm nhóm, bản thân tôi luôn cố gắng thực hiện tốt các nội dung sau:
1- Chuẩn bị tốt nội dung bài giảng đảm bảo theo chuẩn kiến thức kĩ năng và
có điều chỉnh nội dung dạy học (nếu bài có nội dung giảm tải ).
2 Chuẩn bị tốt dụng cụ thí nghiệm , đảm bảo đủ về số lượng, chất lượng Điều
này đòi hỏi giáo viên cần nghiên cứu kĩ chương trình các bài có thí nghiệm ngay từ đầu năm học, xác định cần dụng cụ gì, số lượng bao nhiêu, còn thiếu những gì để có kế
Trang 3hoạch giải quyết trong năm bằng cách mua thêm hoặc tự làm hoặc hướng dẫn học sinh
tự làm
* Trình tự tổ chức một thí nghiệm theo nhóm:
Quá trình tổ chức hoạt động thí nghiệm theo nhóm có thể chia thành 3 giai đoạn ( 3 bước) sau:
- Làm việc chung cả lớp, giao nhiệm vụ cho mỗi nhóm
- Làm việc theo nhóm
- Làm việc chung với cả lớp, trình bày kết quả của mỗi nhóm và đánh giá kết quả
a) Bước 1: Làm việc chung cả lớp, giao nhiệm vụ cho mỗi nhóm
Giai đoạn này thực hiện chung với cả lớp bao gồm các hoạt động chính sau đây:
- GV nêu vấn đề, xác định mục đích yêu cầu của thí nghiệm, xác định nhiệm vụ nhận thức cho học sinh
- Chia nhóm, giao nhiệm vụ cho mỗi nhóm
- GV tổ chức cùng HS xác định phương án thí nghiệm, dụng cụ thí nghiệm, cách
bố trí và tiến hành thí nghiệm (GV chỉ rõ những vấn đề cần lưu ý đối với HS trong quá trình thí nghiệm)
- Bố trí địa điểm làm việc cho mỗi nhóm
b) Bước 2: Làm việc theo nhóm
- Trong nhóm phân công nhiêm vụ cho từng thành thành viên của nhóm:
+ Trưởng nhóm: có vai trò hướng dẫn hoạt động của nhóm
+ Thư ký: Ghi chép lại kết quả các công việc của nhóm sau khi có sự thống nhất của cả nhóm
+ Báo cáo viên: Thay mặt nhóm để báo cáo kết quả
+ Các thành viên khác có trách nhiệm tham gia tích cực mọi hoạt động của nhóm
- Thảo luận kế hoạch và cách thức làm việc của nhóm
- Tiến hành thực hiện nhiệm vụ:
+ Sắp xếp, bố trí thí nghiệm
+ Tiến hành thí nghiệm
+ Thảo luân ghi kết quả, thông tin cần báo cáo
- Thu xếp đồ dùng thiết bị, chuẩn bị báo cáo kết quả làm việc trước lớp
c) Bước 3: Trình bày kết quả của mỗi nhóm và đánh giá kết quả
- Đại diện của mỗi nhóm trình bày kết quả của nhóm trước toàn lớp
- GV tổ chức cho cả lớp nhận xét, đánh giá kết quả và rút ra kết luận
Trang 4Tơi xin đưa ra một số giải pháp với chuyên đề “ thí nghiệm theo nhĩm” cho bài
dạy “Dẫn nhiệt “ mơn vật lí 8 – tiết 26 – tuần 27 như sau:
Trong bài dạy này HS cần thực hiện thí nghiệm nhĩm để biết được sự dẫn nhiệt và tính dẫn nhiệt của các chất rắn, lỏng và khí, yêu cầu HS thực hiện theo
các bước như sau:
Bước 1: Làm việc chung cả lớp, giao nhiệm vụ cho mỗi nhĩm
-GV nêu vấn đề, xác định mục đích yêu cầu của thí nghiệm là biết được
sự dẫn nhiệt , tính dẫn nhiệt của các chất rắn, lỏng , khí để từ đĩ cho được ví dụ về dẫn nhiệt , vận dụng tính dẫn nhiệt giải thích được một số hiện tượng đơn giản trong thực tế -Chia 4 nhĩm, giao nhiệm vụ cho mỗi nhĩm
-GV đưa ra 3 phương án thí nghiệm, cho HS nêu dụng cụ thí nghiệm, cách bố trí và tiến hành thí nghiệm : đèn cồn, giá thí nghiệm, kẹp vạn năng , các đinh, 3 thanh gồm : đồng ,nhơm và thủy tinh , ống nghiệm , sáp, nước / nhĩm
-Tổ chức phân chia thành 4 nhĩm, phân chia 2 bàn học thành 1 nhĩm thí nghiệm (khoảng 8 hs )
Bước 2: Làm việc theo nhĩm
- Trong nhĩm phân cơng nhiêm vụ cho từng thành thành viên của nhĩm: Các nhĩm tự phân trưởng nhĩm, thư ký và báo cáo viên
- Các nhĩm thảo luận kế hoạch và cách thức làm việc của nhĩm
- Tiến hành thực hiện nhiệm vụ:
+ Sắp xếp, bố trí thí nghiệm
+ Tiến hành thí nghiệm
Giáo viên theo dõi và uốn nắn HS trong quá trình thí nghiệm
+ Thảo luận, ghi kết quả thơng tin cần báo cáo
- Thu xếp đồ dùng thiết bị, chuẩn bị báo cáo kết quả làm việc trước lớp
Bước 3: Trình bày kết quả của mỗi nhĩm và đánh giá kết quả
- Gv thu báo cáo thí nghiệm của các nhĩm HS
- GV tổ chức cho cả lớp nhận xét, đánh giá kết quả và rút ra kết luận.
C5 Đồng dẫn nhiệt tốt nhất Thủy tinh dẫn nhiệt kém nhất
C6 Chất lỏng dẫn nhiệt kém
C7 Chất khí dẫn nhiệt kém
PHẦN IV : MỘT SỐ THUẬN LỢI VÀ NHỮNG KHĨ KHĂN KHI THỰC HIỆN CHUYÊN ĐỀ:
1) Thuận lợi:
Trang 5- Bản thân mỗi giáo viên đã được tham gia các lớp tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ để nâng cao về mặt nhận thức, kiến thức, kỹ năng về đổi mới phương pháp dạy học nói chung và quá trình dạy học thí nghiệm vật lý nói riêng
- Việc dạy học bằng thí nghiệm vật lý tạo cho HS có hứng thú trong học tập, yêu thích bộ môn hơn
- Đồ dùng thiết bị phần nào đã đáp ứng đồng bộ cho quá trình giảng dạy
- Học sinh lĩnh hội kiến thức chủ động
2) Khó khăn:
- Việc bố trí bàn học thực hiện hoạt động nhóm còn nhiều bất cập.
- Sự phối hợp của các thành viên trong hoạt động nhóm và việc phân công trách nhiệm cho từng thành viên trong nhóm chưa được HS chú ý
- Kỹ năng thực hành thí nghiệm của HS còn chậm nên ảnh hưởng thời lượng của tiết dạy
Trang 6* BÀI DẠY MINH HỌA: Tuần 27 – tiết 26
Trang 7BÀI 22 DẪN NHIỆT
Tích hợp : Sự tương đồng về tính dẫn điện và tính dẫn nhiệt của kim loại
Tính dẫn điện (Vật lí 7 Bài Chất dẫn điện và chất cách điện)
Nối kim loại với nguồn điện, các electron tự do trong kim loại chuyển động thành dòng
Nhiệt độ của kim loại càng cao thì tính dẫn điện của kim loại càng giảm Hiện tượng này được giải thích như sau: ở nhiệt độ cao, tốc độ dao động của các ion dương kim loại càng lớn, sự chuyển động của dòng electron tự do càng bị cản trở
Những kim loại khác nhau có tính dẫn điện khác nhau là do mật độ electron tự do của chúng không giống nhau Kim loại dẫn điện tốt nhất là Ag, sau đó đến Cu, Al, Fe…
Tính dẫn nhiệt (vật lí 8)
Đốt nóng một đây kim loại, những electron tự do ở đây di chuyển nhanh hơn Trong quá trình chuyển động, những electron này truyền năng lượng cho các ion dương ở vùng có
nhiệt độ thấp hơn, vì vậy kim loại dẫn nhiệt được
Nói chung những kim loại nào dẫn điện thì dẫn nhiệt tốt
Những kim loại khác nhau có khả năng dẫn nhiệt không giống nhau Thí dụ tính dẫn nhiệt của các kim loại giảm theo thứ tự Ag, Cu, Al, Zn, Fe,…
HĐ1: Tổ chức tình huống học tập
GV làm thí nghiệm nhỏ :Bỏ 1 thìa nhôm, 1 thìa nhựa
vào cốc nước nóng Yêu cầu HS sờ vào 2 thìa và nhận
xét Thìa nóng lên là do có sự dẫn nhiệt Vậy dẫn nhiệt
l gì Đó là nội dung bài học ta sẽ tìm hiểu sau đây
HĐ 2: Nghiên cứu sự dẫn nhiệt
Thí nghiệm:
GV: cho 4 nhóm làm thí nghiệm hình 22.1
HS:Lm TN - quan sát (các định a, b, c, d được gắn
bằng sáp vào thhanh đồng AB Dùng đèn cồn đun
nóng đầu A của thanh đồng) thảo luận nhóm trả lời câu
C1, C2 C3
Các nhóm trình bày kết quả Nhận xét.
C 1 : Nhiệt đã truyền đến sáp, làm cho sáp nóng lên và
chảy ra.
C 2 : Các đinh rơi xuống theo thứ tự từ A đến B tức là
từ a, b, c, d, e.
C 3 : Nhiệt được truyền từ đầu A đến đầu B của thanh
đồng Hay nói cách khác nhiệt năng được truyền từ
phần nóng hơn sang phần ít nóng hơn Đó là truyền
DẪN NHIỆT
I Sự dẫn nhiệt:
1 Thí nghiệm :
Trang 8
khác được gọi là gì? (sự dẫn nhiệt) Vậy sự dẫn nhiệt
là gì?
HĐ 3: Nghiên cứu tính chất dẫn nhiệt của các chất.
Sau dy ta sẽ tiến hành làm thí nghiệm đối với các chất
rắn – lỏng - khí để từ đó vận dụng tính dẫn nhiệt của
chúng vào giải thích hiện tượng thực tế
*TN 1: Tìm hiểu tính dẫn nhiệt của chất rắn:
GV: Giới thiệu dụng cụ thí nghiệm: dụng cụ dẫn nhiệt,
đèn cồn, các thanh đồng, nhôm, thuỷ tinh, có đinh gắn
bằng sáp ở đầu.
Cách làm: Dùng đèn cồn đun nóng đồng thời các
thanh đồng, nhôm thuỷ tinh có gắn bằng sáp các đinh
ở đầu.
GV:Yêu cầu HS dự đoán trả lời C4
HS dự đoán có thể:
(+ Không rơi cùng một lúc vì các chất khác nhau
dẫn nhiệt khác nhau.
+ Rơi cùng một lúc các chất khác nhau dẫn nhiệt
giống nhau )
GV: Yêu cầu HS 4 nhĩm làm thí nghiệm, nhóm quan
sát thảo luận trả lời C4, C5 Các nhóm trình bày kết
quả Nhận xét.
C 4 : các đinh gắn ở đầu thanh không rơi xuống cùng
một lúc.
Hiện tượng này chứng tỏ các chất rắn khác
nhau dẫn nhiệt khác nhau.
C 5 : Đồng dẫn nhiệt tốt nhất Thuỷ tinh dẫn nhiệt kém
nhất.
* Trong chất rắn, kim loại dẫn nhiệt tốt.
TN 2: Tìm hiểu tính dẫn nhiệt của chất lỏng:
GV: Giới thiệu dụng cụ (hình 22.3) đèn cồn, ống
nghiệm thuỷ tinh sáp nước.
GV cho 4 nhóm làm thí nghiệm: dùng đèn đun
nóng miệng một ống nghiệm trong có đựng nước dưới
đáy có cục sáp.
HS: Làm theo nhóm, quan sát thí nghiệm thảo luận -
trả lời câu C6.
C 6 : Khi nước ở trên miệng ống sôi cục sáp ở đáy ống
không nóng chảy Từ đó rút ra kết luận chất lỏng dẫn
nhiệt kém
*TN 3: Tìm hiểu tính dẫn nhiệt của chất khí :
GV: Giới thiệu dụng cụ (hình 22.4) đèn cồn, ống
nghiệm có không khí có nút đậy và một cục sáp.
Cch lm :Dùng đèn cồn đun nóng đáy ống nghiệm
Dẫn nhiệt là sự truyền nhiệt năng từ phần này sang phần khác của một vật hoặc từ vật này sang vật khác
II Tính dẫn nhiệt của các chất:
1 Thí nghiệm :
a Đối với chất rắn :
b Đối với chất lỏng :
c Đối với chất khí :
Trang 9trong có không khí ở nút có gắn 1 cục sáp.
Yêu cầu 4 nhóm HS dự đoán.
HS :Các nhóm thảo luận - trả lời câu C7.
C 7 : Miếng sáp gắn ở nút ống nghiệm không bị nóng
chảy Từ đó rút ra kết luận chất khí dẫn nhiệt kém.
Qua 3 thí nghiệm yêu cầu HS so sánh tính dẫn nhiệt
của các chất rắn, lỏng , khí? (rút ra kết luận).
(Chất rắn dẫn nhiệt tốt nhất, chất lỏng và chất khí
dẫn nhiệt kém).
GV : Giới thiệu bảng dẫn nhiệt của một số chất.
* GV có thể liên hệ về tính dẫn điện và dẫn nhiệt
của kim loại để khắc sâu kiến thức.
HĐ 4: Vận dụng
GV :Yêu cầu HS vận dụng trả lời.
C 8 : Tìm 3 ví dụ về 3 hiện tượng dẫn nhiệt.
C 9 : Tại sao nồi xoong thường làm bằng kim loại, còn
bát, đĩa thường làm bằng sứ?
C 10: Tại sao về mùa đông mặc nhiều áo mỏng ấm
hơn mặt một áo dày?
2 Kết luận :
Chất rắn dẫn nhiệt tốt nhất Trong chất rắn, kim loại dẫn nhiệt tốt nhất.
Chất lỏng và chất khí dẫn nhiệt kém.
II Vận dụng:
C 8 : Tuỳ HS nêu, có thể:
_ Dùng thanh sắt dài đưa một đầu vào bếp than đang cháy đỏ Một lúc sau cầm vào đầu còn lại ta thấy nóng, thanh sắt đã dẫn nhiệt từ bếp than sang tay.
_ Khi đun nóng trong ấm, nước sẽ nóng lên nếu thò 1 ngón tay vào nước ta thấy ấm.
_ Nhúng 1 đầu thìa vào cốc nước sôi
ta có cảm giác tay bị nóng lên.
C 9 : Vì kim loại dẫn nhiệt tốt, còn sứ dẫn
nhiệt kém.
C 10 : Vì không khí ở giữa các lớp áo
mỏng dẫn nhịêt kém.
Trên đây là phần báo cáo chuyên đề các bước dạy học thí nghiệm theo nhóm trong tiết dạy vật lí 8, chắc không tránh khỏi nhiều thiếu sót Kính mong quý thầy cô giáo, quý đồng nghiệp góp ý bổ sung để chuyên đề hoàn thiện hơn