1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

KHOA HC k THUT THY LI VA MOI TRNG

6 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 1,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả tính toán chỉ số tổn thương tài nguyên nước cho thấy vùng BĐCM có nguy cơ suy thoái tài nguyên nước ở mức cao, đặc biệt liên quan đến các chỉ số về môi trường vì vậy cần nâng cao

Trang 1

BÀI BÁO KHOA HỌC

CHỈ SỐ TỔN THƯƠNG TÀI NGUYÊN NƯỚC NGỌT

KHU VỰC BÁN ĐẢO CÀ MAU

Nguyễn Đăng Tính 1 , Trịnh Công Vấn 2 , Phan Hữu Cường 3 , Bùi Hồng Nga 4

Tóm tắt: Bán đảo Cà Mau (BĐCM) có diện tích chiếm tới khoảng 43% diện tích Đông bằng Sông

Cửu Long (ĐBSCL) nhưng có vị trí xa nguồn nước ngọt của sông Hậu lại chịu tác động phức tạp của hai chế độ thủy triều Biển Đông và Biển Tây nên sử dụng tài nguyên nước (TNN) là vấn đề hết sức phức tạp Trong tương lai, với tác động tiêu cực từ việc sử dụng nước của các nước thượng lưu Mekong cũng như tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) và nước biển dâng (NBD) việc quản lý khai thác và sử dụng TNN ở khu vực này cần được đặt lên hàng đầu

Kết quả tính toán chỉ số tổn thương tài nguyên nước cho thấy vùng BĐCM có nguy cơ suy thoái tài nguyên nước ở mức cao, đặc biệt liên quan đến các chỉ số về môi trường vì vậy cần nâng cao năng lực quản lý để giảm nguy cơ suy thoái tài nguyên nước

Từ khóa: BĐCM, Tài nguyên nước, Tổn thương tài nguyên nước ngọt

Bán đảo Cà Mau (BĐCM) nằm ở phía Tây

Nam đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL),

giới hạn bởi phía Bắc là kênh Cái Sắn, phía

Đông Bắc là sông Hậu, phía Tây Nam là biển

Tây và phía Đông là biển Đông Diện tích tự

nhiên 16.780 km2, chiếm 43% diện tích

ĐBSCL, gồm: Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cà Mau,

Hậu Giang, T.p Cần Thơ và một phần của tỉnh

Kiên Giang

Nước mặt: Chế độ thuỷ văn ở BĐCM bị

chi phối bởi thuỷ triều biển Đông, biển Tây,

dòng chảy sông Mêkông, Lượng mưa trung

bình năm trong khu vực khoảng 2200mm,

trong đó lượng mưa trong mùa mưa chiếm

khoảng 95% tổng lượng mưa năm Nguồn

nước ngọt chủ yếu của vùng BĐCM là nguồn

nước của sông Hậu

Nước dưới đất: Kết quả tính toán trữ lượng

tiềm năng nước dưới đất vùng BĐCM là 16.106

m3/ngày, trong đó nước nhạt (tổng khoáng hoá

< 1g/l) là 11.106 m3/ngày (Bộ TNMT,2014)

Trữ lượng tĩnh gồm trữ lượng trọng lực và trữ

1

Cơ sở 2- Đại học thủy lợi,

2

Viện đổi mới công nghệ thủy lợi Mekong

3

Viện Thủy lợi và Môi trường, Đại học thủy lợi

4

Trung tâm quan trắc tài nguyên & MT tỉnh Bình Dương

lượng đàn hồi Đây là vùng có trữ lượng tiềm năng lớn, nhưng trữ lượng bảo đảm (trữ lượng động) lại hạn chế

Từ năm 2000, Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc và các đối tác trong hệ thống Liên Hiệp Quốc cùng với một số trường đại học và viện nghiên cứu ở Châu Phi và Châu Á đã hợp tác để đánh giá tính dễ bị tổn thương của nguồn nước ngọt đối với thay đổi môi trường tạo ra thông tin kịp thời và đáng tin cậy cho việc ra quyết định sáng suốt về Quản lý Tài nguyên nước Tổng hợp và đạt được các mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ (MDGs)

Tính dễ bị tổn thương: Trong quản lý tài

nguyên nước, tính dễ bị tổn thương có thể được định nghĩa là các điểm yếu và thiếu sót của hệ thống tài nguyên nước khiến cho hệ thống trở nên khó khăn khi đối mặt với thay đổi môi trường và kinh tế xã hội Do đó, tính dễ bị tổn thương cần được đo lường bởi một bên là (i) Tác động của những tác nhân gây căng thẳng ở quy mô lưu vực sông đối với hệ thống tài nguyên nước; với một bên kia là (ii) năng lực của hệ sinh thái và xã hội để đối phó với các mối đe dọa đến chức năng của một hệ thống nước tài nguyên nước

Trang 2

Hình 1 Sơ đồ tiếp cận quản trị Tài nguyên

nước trên cơ sở phân tích mức độ tổn thương

Mức độ tổn thương của tài nguyên nước

của một lưu vực sơng, một khu vực cĩ thể

được đánh giá từ hai khía cạnh: (a) các mối đe

dọa chính của tài nguyên nước và động lực

phát triển và sử dụng của tài nguyên nước; và

(b) những thách thức của khu vực trong việc

đối phĩ với các mối đe dọa này Theo phân

tích khung, các mối đe dọa cĩ thể được đánh

giá từ 3 thành phần khác nhau của tài nguyên

nước và khai thác sử dụng, gồm áp lực về

nước, xung đột giữa phát triển và sử dụng tài

nguyên nước và năng lực quản lý tài nguyên

nước của khu vực

2 CHỈ SỐ TỔN THƯƠNG NGUỒN

NƯỚC NGỌT TẠI BĐCM

Viện QHTLMN (2007) đã phân chia BĐCM

thành 8 tiểu sinh thái sản xuất dựa trên cơ sở tài

nguyên nước và mơ hình sản xuất:

Vùng A: gồm diện tích tiểu vùng Tây sơng

Hậu (TSH) của các tỉnh Kiên giang, Cần Thơ,

Hậu giang Đặc điểm chính của vùng này là cĩ

nước nguồn nước ngọt từ sơng Hậu cho nên

phần lớn diện tích được canh tác theo mơ hình

sinh thái nước ngọt: trồng lúa 2-3 vụ, rau màu,

cây ăn trái

Vùng B1: là vùng cửa sơng Hậu thuộc phạm vi

tỉnh Sĩc Trăng, chịu ảnh hưởng của xâm nhập

mặn nhưng vùng này vẫn cĩ thể khai thác nước

ngọt từ sơng Hậu cho sản xuất nơng nghiệp

Vùng B2 và B3: nằm trong tiểu dự án Quản

Lộ - Phụng Hiệp (QL-PH) với trục kênh dẫn

nước quan trọng là kênh QL-PH Vùng B2 được xác định cho khu vực chủ yếu cịn canh tác lúa (Sĩc Trăng) và tiểu vùng B3 là khu vực đã chuyển đổi sản xuất nước lợ (Bạc Liêu)

U Minh Thượ ng

Hồ U Minh Hạ

K Ca ùi S ắn

K.

 M

K Xa ô

K.

ộ -Hi

K. Ch ắc B g

K.Ca ø Mau -Bạc

Li êu

S.C ái L ớn

S.Cái Bé

K.L

ứ B ảy S.T rẹm R.T

ga n D ừa -B ạc K.P hư ng-V ĩnh M ỹ

K.C ạn

h Đ

ền-Ph ó S K.C Đe

o ä P g K.C án

S Ga ønh Hào S.Oâng Đốc

C C

C C a Tr ầm C Ho ình C Aùp Đ C M ỹ C.G iá R ai

C L

g T ròn

C Xo L g C So

á 3

C Ch ột N êu C.N o ạng

C C hủ hí C

ư S on C Ca ừa C Kh T ùo

C L án g

C Ca ø Ma u

C Bạch Ng ưu

So âng

SÓC TRĂ NG

Tân Hiệp

Vị Thanh

Thốt Nốt

Ô Môn

Gi ồng Riềng

Gò Qu ao

An Minh

U Minh

Thơ ùi B ình

Vĩnh Thuận

Trần Văn Thơ øi

Năm C ăn

Hồng Dân

Phước Long

BẠC LIÊU Phu ïng Hi ệp

BẢN ĐỒ PHÂN KHU THỦY VĂN VÙNG BÁN ĐẢO CÀ MAU

CÀ MAU

RẠCH GIÁ

BIEÅN Đ ÔNG

B T

C.Phu ù Lộ c

Gành Hào

Xẻo Rô

Mỹ Th anh Đại Ngã i

GHI CHÚ Khu A Khu B1 Khu B2 Khu B3 Khu C1 Khu C2 Khu D Khu E

CẦN T HƠ

C.T7 C.Mỹ Tu ù C.Mỹ Phư ớc

Ngã Năm

A

B3 C1

C2

D

E

S.C ửa L ớn

S Ba ùp

B2

B1

Hình 2 Bản đồ phân vùng thủy lợi BĐCM (Nguồn: Viện QHTLMN, 2007)

Vùng C1: Chính là tiểu vùng thủy lợi U

Minh Thượng đã được xác định bởi quy hoạch TNN qua nhiều thời kỳ Trước đây nhà nước cĩ chủ trương xây dựng hệ thống thủy lợi để ngọt hĩa vùng này với mục tiêu trồng lúa Trong thực

tế nhiều năm, người dân đã chuyển đổi mơ hình trồng lúa sang mơ hình luân canh: trồng lúa mùa mưa và nuơi tơm mùa khơ

Vùng C2: là Tiểu vùng thủy lợi U Minh Hạ,

với đặc điểm quan trọng là nguồn nước mưa từ rừng U Minh tạo ra nguồn nước ngọt cho trồng lúa nhiều năm nay Hiện nay một số diện tích ven biển cĩ khuynh hướng dịch chuyển sang nuơi tơm

Vùng D: là vùng ven biển của Bạc Liêu năm

phía nam quốc lộ 1, với đặc điểm quan trọng là nước mặn quanh năm

Vùng E: là các huyện nam Cà Mau như Năm

Căn, Ngọc Hiển đặc điểm chính vùng này là

Trang 3

nước mặn quanh năm Nước ngọt chỉ từ nguồn

duy nhất là do mưa, người dân trữ lại để sử

dụng cho ăn uống, sinh hoạt nhưng rất hạn chế

Chỉ số tổn thương (VI) tài nguyên nước được

tính toán theo công thức, theo hướng dẫn của

UNDP( 2009):

VI = f (RS, DP, ES, MC) (1)

 RS = f [áp lực về nước (RS) và sự biến

động của mưa (RSv)];

 DP = f [khai thác nước (DP) và mức độ

tiếp cận nước uống an toàn của người (DPd)];

 EH = f [ô nhiễm nguồn nước (EHp) và

suy thoái hệ sinh thái (EHe)];

 MC = f [sử dụng nước kém hiệu quả (MCe),

khả năng tiếp cận hệ thống vệ sinh được cải thiện

(MC), và khả năng quản lý xung đột (MCg)]

RS xác định nguồn nước sẵn có để đáp ứng

áp lực của nhu cầu nước cho dân số ngày càng

tăng có tính đến sự thay đổi lượng mưa Do đó,

nó bị ảnh hưởng bởi sự căng thẳng nguồn nước

tái tạo (RSs) và thông số biến động nước do sự

biến động lượng mưa dài hạn (RSv)

 Chỉ số căng thẳng về nguồn nước RSs được biểu thị bằng nguồn nước bình quân đầu người (R) và thường được so sánh với chỉ số quốc tế về nguồn nước bình quân đầu người (1700 m3/người/năm)

Nguồn nước ngọt giữa các vùng thay đổi lớn

từ vùng TSH (A) có nguồn nước từ sông Hậu, vùng Ven sông Hậu (B1) và phần diện tích đầu nguồn của hệ thống QL-PH (B2), trong khi khó khăn nhất nước ngọt là vùng nam Cà Mau (E), ven biển Bạc Liêu (D) và sau đó là các vùng thuộc tiểu vùng U Minh Thượng và phần hạ nguồn của QL-PH; tiểu vùng U Minh Hạ (C2)

có diện tích nhỏ và tận dụng được nguồn nước mưa trữ bởi rừng U Minh nên áp lực về nước ngọt không quá lớn

Bảng 1 Chỉ số căng thẳng về nước

 Chỉ số biến động lượng mưa dài hạn RSv

được ước tính bằng hệ số biến thiên (CV) của

bản ghi lượng mưa nhiều năm, lấy từ Trạm Khí

tượng trong khu vực BĐCM từ năm 1990 đến

2015 CV được ước tính bằng tỷ lệ độ lệch

chuẩn của bản ghi lượng mưa với lượng mưa

trung bình

Trên cơ sở số liệu thống kê mưa các trạm, các ch ỉ số b iến th iên về mưa cho 8 vùng như sau

Bảng 2 Biến thiên lượng mưa năm tại các vùng và chỉ số biến động mưa

Cv 0.160 0.167 0.195 0.130 0.186 0.140 0.175 0.145 R(Sv) 0.533 0.577 0.650 0.433 0.620 0.467 0.583 0.483

DP là chỉ số bao gồm việc khai thác quá

mức tài nguyên nước (DPs) và khả năng

tiếp cận n guồn cung cấp nước uống an toàn

(DPd)

 DPs được ước tính bằng tỷ lệ tổng nhu

cầu nước WRs (sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp) đến tổng tài nguyên nước tái tạo W

Trang 4

Bảng 3 Chỉ số khai thác nguồn nước

 DPd là cung cấp nguồn nước uống đầy

đủ để đáp ứng nhu cầu cơ bản cho xã hội,

liên quan đến cách các cơ sở phát triển nước

đáp ứng nhu cầu dân số Thiếu khả năng tiếp

cận nước an toàn được ước tính bằng tỷ lệ

phần trăm dân số thiếu khả năng tiếp cận với

quy mô dân số

Trong đó: P là tổng dân số; Pd là số dân không được tiếp cận nước an toàn

Bảng 4 Chỉ số tiếp cận nước sạch của người dân

EH được đo lường bằng mức độ ô nhiễm

nước (EHp) và thông số suy giảm hệ sinh thái

(EHe)

 EHp được ước tính bằng tỷ lệ của tổng

lượng nước thải không được xử lý trong hệ

thống tiếp nhận nước cho tổng nguồn nước tái

tạo Tuy nhiên, những thông tin này chưa được ghi nhận trong khu vực nghiên cứu, có thể tạm tính EHp=1

 EHe được xác định trong nghiên cứu này

là tỷ lệ diện tích đất không có thảm thực đến tổng diện tích đất của khu vực nghiên cứu

Bảng 5 Chỉ số mức độ bị mất thảm thực vật che phủ

MC đánh giá tính dễ bị tổn thương của tài

nguyên nước bằng cách đánh giá năng lực quản

lý hiện tại với ba vấn đề then chốt: hiệu quả sử

dụng tài nguyên nước; sức khỏe con người liên

quan đến khả năng tiếp cận với các dịch vụ vệ

sinh; và khả năng quản lý xung đột tổng thể Vì

vậy, MC được đo lường bằng thông số không

hiệu quả sử dụng nước (MCe), thông số không

thể tiếp cận vệ sinh được cải thiện (MCc), và

tham số năng lực quản lý xung đột (MCG)

 MCe được ước tính về đóng góp tài chính

cho tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của một mét

khối nước trong bất kỳ lĩnh vực tiêu thụ nước nào so với mức trung bình của nhóm số quốc gia Các nước Đông nam Á được ước tính hiệu quả sử dụng nước chỉ vào khoảng 0,44 đến 0,99 (Mukand and Shahriar, 2009), trong nghiên cứu này MCe tạm tính 0,50

 MCs được sử dụng như một giá trị tiêu biểu

để đo lường năng lực của hệ thống quản lý để đối phó với cải thiện sinh kế trong việc giảm mức độ ô nhiễm MCs được ước tính là tỷ lệ phần trăm dân

số không có khả năng tiếp cận với các cơ sở vệ sinh được cải thiện so với tổng dân số của khu vực

Bảng 6 Chỉ số mức độ không được tiếp cận vệ sinh cải thiện

 MCc thể hiện năng lực của một hệ thống

quản lý tài nguyên nước để đối phó với các

xung đột Một hệ thống quản lý tốt có thể được đánh giá bằng hiệu quả của nó trong việc sắp

Trang 5

xếp thể chế, xây dựng chính sách, cơ chế truyền

thông và hiệu quả thực hiện

Theo hướng dẫn tham khảo (UNDP,2009),

các trọng số trong công thức tính toán chỉ số tổn

thương được tính toán theo mức độ gia tăng tính

tổn thương của thành phần tham gia, tuy nhiên

do việc xác định các trọng số này khá phức tạp

nên trong khuôn khổ bài báo áp dụng trọng số

theo giá trị trung bình: trọng số 0,25 được phân

bổ trên tất cả các loại (RS, DP, EH và MC); Đối

với các tham số RS, RSv, DP, DPd, EHp và

EHe, trọng số 0,5 được áp dụng, và đối với các

tham số MCe, MC và MCg, trọng số của 0,33

được gán Tổng trọng số cho tất cả các thông số

trong mỗi danh mục phải bằng 1 và tổng trọng

số cho tất cả các danh mục phải bằng 1 Tổng trọng số được tính theo công thức 2 sau đây :

(2) Trong đó :

 n- số lượng nhóm tham số

 m- số lượng tham số của 1 nhóm;

 Xij Giá trị của tham số thứ j trong nhóm thứ I;

 Wij Trọng số cho tham số thứ j trong nhóm thứ I;

 Wi Trọng số cho nhóm thứ i ;

Bảng 7 Đánh giá lưu vực (vùng) qua chỉ số tổn thương nguồn nước (UNDP, 2009) Chỉ số

Thấp

(VI 0,2)

Tài nguyên lưu vực phát triển bền vững Các mặt hệ sinh thái và năng lực quản lý tốt

Trung bình

(0,2 VI 0,4)

Lưu vực có điều kiện tốt để quản lý bền vững tài nguyên nước xong vẫn phải đối mặt với sức ép về kỹ thuật cũng như chính sách quản lý Vì vậy buộc phải xây dựng chính sách quản lý mới để phù hợp với thách thức sử dụng tài nguyên nước

Cao

(0,4 VI 0,7)

Lưu vực chịu sức ép cao, cần thiết phải có sự đầu tư kỹ thuật cũng như cải cách trong quản lý tổng hợp, tạo điều kiện nâng cao dân trí cộng đồng để có

cơ hội hành động nhất quán đối phó với các thách thức đặt ra

Nguy cấp

(0,7 VI 1,0)

Lưu vực đang bị suy thoái nghiêm trọng về tất cả các mặt tài nguyên nước,

về trang bị kỹ thuật cũng như hệ thống quản lý Không thể thiếu sự hợp tác giữa nhân dân và nhà nước Cần một quá trình lâu dài để tái thiết lập lại sự

ổn định của lưu vực với cấp độ có tham vấn của nhà nước và các tổ chức quốc tế

Bảng 8 Kết quả tính toán chỉ số tổn thương tài nguyên nước BĐCM

7 Nam quốc lộ 1 (Bạc Liêu) D 0.64 0.50 0.63 0.53 0.57

Trang 6

3 KẾT LUẬN

Tính toán chỉ số tổn thương Tài nguyên nước

trong khu vực BĐCM cho thấy kết quả đều ở mức

tổn thương cao trừ khu vực TSH mức độ tổn

thương cũng xấp xỉ ngưỡng “tổn thương cao”

Sự căng thẳng về nước (water stress) các

vùng TSH và ven cửa sông Hậu do tiếp cận với

trục sông Hậu thuận tiện hơn nên chỉ số này ở

mức trung bình, các vùng còn lại đều có chỉ số

tổn thương cao, đặc biệt vùng Nam quốc lộ 1A

và Nam Cà Mau, chỉ số này xấp xỉ ngưỡng “tổn

thương rất cao”; vùng U Minh hạ nhờ nguồn

nước mưa trữ lại do rừng Uminh hạ nên chỉ số

tổn thương ở mức trung bình

Chỉ số tổn thương thể hiện áp lực phát triển

đều ở mức cao do nhu cầu nước cho sản xuất và dân sinh ở vùng BĐCM đều ở mức cao hơn khả năng có thể cung cấp Chỉ số tổn thương liên quan đến môi trường sinh thái đều ở mức độ cao, cảnh báo tài nguyên nước rất dễ bị suy thoái do quản lý chất thải trong các hoạt động phát triển kém; Chỉ

số tổn thương liên quan đến năng lực quản lý tài nguyên nước cảnh báo nếu không có các chính sách và quy chế phù hợp, tài nguyên nước khu vực BĐCM sẽ có nguy cơ suy thoái nghiêm trọng Bài báo là một phần kết quả nghiên cứu đề tài Nghiên cứu khoa học cấp nhà nước MS : KC08.08/16-20: Nghiên cứu các giải pháp giảm thiểu tác động, thích ứng với thiên tai hạn hán

và xâm nhập mặn vùng Bán đảo Cà Mau

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Bộ TNMT (2014): Số liệu quan trắc, dự báo NDĐ khu vực Nam Bộ, Trung tâm khảo sát quy hoạch

TNN, Bộ TNMT;

Viện QHTLMN (2007): Quy hoạch tài nguyên nước Bán đảo Cà Mau, Bộ NN&PTNT

Mukand S B and Shahriar M W.(2009): Vulnerability Assessment of Freshwater Resources to

Environmental Change Mekong River Basin, UNEP;

UNDP (2009) Methodologies guidlines, Vulnerability assessment of freshwater resources to

environment changes, Thailand

Abstract:

WATER VULNERABILITY INDEX IN THE CAMAU PENINSULA

The Camau Peninsula covers of about 43% of the Vietnam Mekong River Delta are, but is located far from the freshwater source of the Hau River and influenced by the East and the West Sea tides Water resources usage is a very complex matter in the area In the future, with the negative impacts from the water use of upper Mekong countries as well as the impacts of climate change and sea level rise, the management including exploitation and use of water resources in the area needs to be put on top priority

The vulnerability of water indice show that Camau Peninsula has a high risk of degradation of water resources, especially relating to environmental indicators Improved management capacity to reduce the risk of degradation of water resources is highly needed

Keywords: Camau Peninsula, water resources, vulnerability index

Ngày nhận bài: 15/11/2018 Ngày chấp nhận đăng: 21/12/2018

Ngày đăng: 07/02/2022, 20:24

w